TÓM TẮTLuận án được thực hiện nhằm mục tiêu phân tích tác động của tiếp xúc đa thị trườnglên cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Namcùng v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
HỒ THỊ NGỌC TUYỀN
TÁC ĐỘNG CỦA TIẾP XÚC ĐA THỊ TRƯỜNG LÊN CẠNH TRANH, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
HỒ THỊ NGỌC TUYỀN
TÁC ĐỘNG CỦA TIẾP XÚC ĐA THỊ TRƯỜNG LÊN CẠNH TRANH, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 9.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Chí Đức
TS Đào Lê Kiều Oanh
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2020
Trang 3TÓM TẮT
Luận án được thực hiện nhằm mục tiêu phân tích tác động của tiếp xúc đa thị trườnglên cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Namcùng với các yếu tố có liên quan đến các ngân hàng thương mại Nghiên cứu được tiến hànhtrong giai đoạn từ 2008 – 2017 với phương pháp nghiên cứu định lượng gồm các bước phântích như sau:
(i) Đo lường tác động của tiếp xúc đa thị trường và các yếu tố liên quan tác động đếncạnh tranh của các ngân hàng thương mại thông qua chỉ số LERNER
(ii) Đánh giá và đo lường mức độ tác động của tiếp xúc đa thị trường đến rủi ro tín dụngcủa các ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua chỉ số NPL, MMC1
(iii) Đo lường tác động tiếp xúc đa thị trường đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàngthương mại Việt Nam, thông qua việc ước tính chỉ số tiếp xúc đa thị trường MMC1,MMC2 đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại được đo lường bằng lợinhuận điều chỉnh rủi ro (RAROA)
(iv) Áp dụng phương pháp GMM cho dữ liệu bảng không cân bằng, phân tích tác động củatiếp xúc đa thị trường, cạnh tranh và rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của cácngân hàng thương mại Việt Nam
Kết quả nghiên cứu cho thấy tiếp xúc đa thị trường có tác động đến cạnh tranh, rủi rotín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam; Thông qua MMC1
và MMC2 cho thấy sự hiện diện ngày càng tăng của các ngân hàng ở các khu vực khác nhau
đã gây ra sự sụt giảm chung về thị phần và hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Trang 4CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thứ nhất, tác động của cạnh tranh ngân hàng đối với rủi ro về tài chính luôn là vấn đề
tranh luận cả về mặt học thuật và chính sách, đặc biệt là vấn đề rủi ro tín dụng
Thứ hai, việc đẩy mạnh mở rộng hợp tác kinh tế, hội nhập với thế giới đã tạo ra nhiều
cơ hội nhưng cũng tồn tại nhiều thách thức, và HQHĐ trở thành một tiêu chí quan trọng đểđánh giá sự phát triển nền tài chính của Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Thứ ba, có thể nói có nhiều nghiên cứu đánh giá các yếu tố tác động đến cạnh tranh, rủi
ro tín dụng và HQHĐ ở trong ngoài nước không ít, tuy nhiên, các nghiên cứu về Tiếp xúc đathị trường (TXĐTT) tại Việt Nam chưa nhiều, cụ thể là các nghiên cứu TXĐTT đến cạnhtranh, RRTD và HQHĐ
Bối cảnh nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài về cạnh tranh, RRTD và HQHĐ đã đặt
ra hai vấn đề cần xem xét:
+ Một là, kết quả nghiên cứu chưa đồng nhất sẽ nảy sinh nhiều tranh luận khác nhau, và
tồn tại những hạn chế hay khoảng trống nghiên cứu mà các tác giả trước chưa xem xét tới.+ Hai là, ở trong nước các nghiên cứu về TXĐTT chưa nhiều, cụ thể là các nghiên cứu
TXĐTT đến cạnh tranh, RRTD và HQHĐ nên chưa thể hình thành được cơ sở tham khảo chocác nhà hoạch định chính sách để có định hướng xây dựng phát triển ngành ngân hàng trongnước phát triển ổn định và bền vững theo thực tế hiện nay là các ngân hàng cùng cạnh tranhvới nhau trong cùng một địa bàn
Do đó, việc nghiên cứu tác động của TXĐTT lên cạnh tranh, RRTD và HQHĐ của cácNHTM cùng các yếu tố có liên quan tác động đến HQHĐ của ngân hàng là vấn đề hết sứcquan trọng và cần thiết với các NHTMVN trong giai đoạn hiện nay Cho nên tác giả đã chọn
đề tài: “Tác động của tiếp xúc đa thị trường lên cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả
hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam”.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu tác động của TXĐTT lên cạnh tranh, RRTD và
HQHĐ của các NHTM Việt Nam
Trang 5- Mục tiêu cụ thể:
(1) Đo lường mức độ tác động của TXĐTT đến cạnh tranh của các NHTM Việt Nam.(2) Đo lường mức độ tác động của TXĐTT đến RRTD của các NHTM Việt Nam
(3) Đo lường tác động TXĐTT đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam
(4) Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cho nhà quản trị ngân hàng và nhà hoạch định chínhsách nhằm nâng cao HQHĐ của các NHTM, tạo sự ổn định cho hoạt động của các ngânhàng trong bối cảnh cạnh tranh và rủi ro ngày càng gia tăng hiện nay của các NHTM VN
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để làm rõ các mục tiêu trên, các câu hỏi nghiên cứu bao gồm:
(1) Mức độ tác động và chiều hướng tác động của TXĐTT đến cạnh tranh của các NHTMnhư thế nào?
(2) Mức độ tác động và chiều hướng tác động của TXĐTT và các yếu tố liên quan tácđộng đến RRTD của các NHTM ra sao?
(3) Yếu tố TXĐTT và các yếu tố nào có tác động đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam?Chiều hướng và mức độ tác động của TXĐTT và các yếu tố liên quan tác động đếnHQHĐ của các NHTM Việt Nam như thế nào?
(4) Các giải pháp góp phần nâng cao sự ổn định cho hoạt động của các NHTM trong bốicảnh TXĐTT, cạnh tranh và rủi ro ngày càng gia tăng hiện nay của các NHTM VN?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tác động của TXĐTT lên cạnh tranh, RRTD, HQHĐ
cùng một số các yếu tố kiểm soát khác như Qui mô ngân hàng (SIZE), Vốn CSH/Tổng Tàisản (CAP), Tổng cho vay/Tổng tài sản (TLTA), Tổng tiền gửi/tổng tài sản (DEPOTA); Thunhập ngoài lãi/tổng thu nhập (DIV), Tỷ lệ sở hữu nhà nước trong tổng sở hữu (SOCB), Tổngchi phí hoạt động/Tổng tài sản (OETA), Tốc độ tăng trưởng của GDP hàng năm (GDP); Lạmphát (INF) đến HQHĐ của các NHTM VN
Phạm vi nghiên cứu: Gồm các NHTM trong giai đoạn 2008-2017 tại Việt Nam Nghiên
cứu loại trừ các ngân hàng có cơ chế riêng, đặc thù như ngân hàng chính sách xã hội ViệtNam, ngân hàng hợp tác xã, các quỹ tín dụng, các ngân hàng có 100% vốn nước ngoài và cácngân hàng liên doanh
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, với phương pháp ước lượng GMMđối với cả 3 mục tiêu nghiên cứu
Trang 61.6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Về mặt khoa học, nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm mối quan hệ về TXĐTT tronglĩnh vực ngân hàng mà hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này, ít nhất làtại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng cho các nghiên cứu sau này khôngnhững ở phần cập nhật cơ sở lý thuyết mà còn có thể so sánh kết quả thu được Bên cạnh đó,đây là một nghiên cứu với mục đích kiểm nghiệm lại các kết quả nghiên cứu trước đây, đồngthời từ những tồn tại mà mở ra các hướng tiếp theo cho các nghiên cứu sau này Theo khảosát của NCS, rất ít các nghiên cứu về TXĐTT ở các nước đang phát triển, chỉ có nghiên cứucủa Coccorese và Pechellia, (2009, 2013) và Degl’Innocenti và cộng sự (2014) là nghiên cứu
ở các nước phát triển
Về khía cạnh thực tiễn, đây sẽ là cơ sở tham khảo nghiêm túc hỗ trợ các nhà quản lý cácNHTM đưa ra những quyết định linh động, hợp lý theo tình hình biến động của thị trườngtrong quá trình cạnh tranh gay gắt hiện nay Hơn nữa, TXĐTT là khía cạnh mới của cạnhtranh, giúp bổ sung thêm hiểu biết về việc các ngân hàng có nhiều chi nhánh và có tiếp xúcvới nhau thì cạnh tranh trong ngân hàng tăng hay giảm, hiệu quả và rủi ro tín dụng tăng haygiảm, đặc biệt là trong thời buổi hội nhập
1.7 NHỮNG PHÁT HIỆN MỚI TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả nghiên cứu cho thấy TXĐTT có tác động đến cạnh tranh, RRTD và HQHĐ củacác NHTM Việt Nam, cụ thể:
(i) Các biến TXĐTT, quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tài sản, lạm phát có tácđộng cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến cạnh tranh của các NHTM VN
(ii) TXĐTT có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến RRTD, nghĩa là cànggia tăng TXĐTT thì sẽ làm tăng RRTD Điều này cho thấy nếu các NHTM gia tăng việc cạnhtranh trên cùng một thị trường với các NHTM khác sẽ có xu hướng giảm chất lượng cáckhoản cho vay nhằm gia tăng khách hàng và lợi nhuận, việc này đồng nghĩa với RRTD ngàycàng gia tăng
(iii) TXĐTT có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến RRTD, nghĩa là cànggia tăng TXĐTT thì sẽ làm tăng RRTD Điều này cho thấy nếu các NHTM gia tăng việc cạnhtranh trên cùng một thị trường với các NHTM khác sẽ có xu hướng giảm chất lượng cáckhoản cho vay nhằm gia tăng khách hàng và lợi nhuận, việc này đồng nghĩa với RRTD ngàycàng gia tăng
Trang 7Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG, CẠNH TRANH, TIẾP XÚC ĐA THỊ TRƯỜNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Các khái niệm về rủi ro, rủi ro tín dụng, cạnh tranh và hiệu quả hoạt động
2.1.2 Cạnh tranh và tiếp xúc đa thị trường
Cạnh tranh: là việc giành lấy thị phần của các ngân hàng nhằm bán được nhiều sản phẩm vàdịch vụ, cũng như chi phối được thị trường nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thịtrường có lợi nhất
TXĐTT: xảy ra khi hai hoặc nhiều doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau tại cùng một thờiđiểm và trong các thị trường khác nhau (sản phẩm hoặc địa điểm) Khi các doanh nghiệp nàytiếp xúc nhiều lần và ở nhiều nơi, cuộc TXĐTT này có thể dẫn tới một hiện tượng đặc biệtgọi là "nhượng bộ lẫn nhau" Các doanh nghiệp phải đối mặt với TXĐTT khi họ cạnh tranhvới nhau cùng một lúc ở một số thị trường khác nhau Người đầu tiên đưa ra ý tưởng làEdwards (1955), nghĩa là khi một nhóm lớn cạnh tranh với nhau, họ có khả năng gặp nhau ởmột số thị trường đáng kể và việc tiếp xúc nhiều lần có thể làm giảm cạnh tranh
Trang 82.1.3 Hiệu quả và HQHĐ của các NHTM
Hiệu quả là biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra
để có kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao
HQHĐ của ngân hàng là sự phản ánh việc các ngân hàng sử dụng các nguồn lực để đạt đượcmục tiêu, thể hiện mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào để đạt được hiệu quả đặt ra, đồngthời giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác
2.2 Các lý thuyết có liên quan đến cạnh tranh, rủi ro và hiệu quả hoạt động
2.2.1 Giả thuyết Cấu trúc- Thực hiện - Hiệu quả (SCP)
Khái niệm: Giả thuyết về quyền lực thị trường truyền thống khẳng định rằng thị phần của
ngân hàng tăng lên là một biểu hiện cho quyền lực trên thị trường Thị phần cao hơn và thịtrường tập trung cao (ít đối thủ cạnh tranh) tạo điều kiện cho các ngân hàng định giá các sảnphẩm và dịch vụ của họ cao hơn, trong khi đặt ra lãi suất gửi tiền thấp hơn Việc gia tăng giátrên mức giá mang tính cạnh tranh sẽ dẫn đến lợi nhuận cao hơn cho các ngân hàng
Tác động: sẽ tác động đến cạnh tranh của các NHTM, cụ thể là về chi phí hoạt động, vốn chủ
sở hữu cũng như tổng tài sản của ngân hàng, các chiến lược huy động vốn (tiền gửi) và cấptín dụng (cho vay và các khoản nợ xấu) cũng như các dịch vụ đem lại thu nhập từ lãi và thunhập ngoài lãi
2.2.2 Giả thuyết cuộc sống yên tĩnh (Quiet Life -QL)
Khái niệm: Giả thuyết cuộc sống yên tĩnh lập luận rằng sức mạnh thị trường càng cao thì nỗ
lực tối đa hóa HQHĐ càng thấp Sức mạnh thị trường có thể giúp che giấu bớt những dấuhiệu để các chủ sở hữu không thể phát hiện sự tồn tại của các hành vi thiếu năng lực quản lýhoặc phi hiệu quả Giả thuyết này trái ngược với mô hình SCP được phát triển bởi Hicks(1935) và nó có thể dẫn đến lợi nhuận thấp hơn do các yếu tố không liên quan đến hiệu quả
Tác động: Thứ nhất, nếu các ngân hàng cạnh tranh trong một thị trường tập trung cao hơn có
thể đặt giá cao hơn chi phí biên, các nhà quản lý không phải nỗ lực làm việc để giữ chi phítrong tầm kiểm soát; Thứ hai, quyền lực thị trường có thể cho phép các nhà quản lý theo đuổicác mục tiêu khác ngoài việc tối đa hoá lợi nhuận hoặc tối đa hóa giá trị doanh nghiệp; Thứ
ba, trong trường hợp không cạnh tranh, các nhà quản lý nếu dành nguồn lực để giành và duytrì thị trường sẽ làm tăng chi phí và làm giảm hiệu quả một cách không cần thiết; Thứ tư, nếucác ngân hàng hưởng lợi từ quyền lực thị trường, các nhà quản lý kém có thể tồn tại màkhông cần gắng làm việc hiệu quả hơn
Trang 92.2.3 Giả thuyết nhượng bộ lẫn nhau
Khái niệm: Theo lý thuyết về độc quyền, các công ty hoạt động đa thị trường sẽ không cạnh
tranh mạnh mẽ với các đối thủ của mình tại một thị trường nhất định nếu họ sợ bị trả đũa tạitất cả các thị trường còn lại (Edwards, 1955; Sorenson, 2007) Điều này là do nếu số lượngthị trường mà các doanh nghiệp cạnh tranh nhau càng nhiều, thì có thể xảy ra hành động trảđũa trên các thị trường, điều này sẽ gây ra những tổn thất đáng kể Trong tình huống như vậy,mức độ cạnh tranh trên tổng thể sẽ giảm để tránh tổn thất quá lớn trên toàn bộ thị trường
Tác động: Bernheim và Whinston (1990) đã cho thấy, khi xảy ra TXĐTT, các doanh nghiệp
sẽ có các thỏa thuận ngầm với nhau và duy trì sự hợp tác thay vì cạnh tranh nếu có bất cânxứng giữa các thị trường mà các công ty tương tác hoặc giữa các công ty trên nhiều thị trường.Ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng việc TXĐTT làm tăng cạnh tranh Solomon (1970)cho rằng nếu ngân hàng đã cạnh tranh gay gắt ở những thị trường nhất định trong một khuvực nào đó, số mối liên kết đa thị trường trong cùng khu vực càng cao có thể dẫn đến tăngmức cạnh tranh, và làm giảm lợi nhuận ngân hàng
2.2.4 Lý thuyết về tác động của cạnh tranh đến rủi ro của các NHTM
Khái niệm: Giả thuyết này cho rằng cạnh tranh quá mức giữa các ngân hàng có thể đe doạ
đến khả năng trả nợ của các tổ chức cụ thể và cản trở sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngânhàng (Keeley, 1990)
Tác động: Cạnh tranh giữa các ngân hàng phát sinh từ việc tự do hóa hệ thống ngân hàng sẽ
làm giảm giá trị của vốn điều lệ ngân hàng bằng cách giảm lợi ích từ vị thế độc quyền, vàkhuyến khích ngân hàng chọn lựa những chính sách rủi ro hơn nhằm duy trì lợi nhuận trước
đó (Keeley, 1990) Tuy nhiên, Boyd và De Nicoló (2005) lại cho thấy sự cạnh tranh giữa cácngân hàng ít hơn tạo điều kiện thuận lợi cho việc định lãi suất cho vay kinh doanh cao hơn,dẫn tới tăng nguy cơ tín dụng của người vay do các vấn đề về đạo đức, và có thể dẫn đến tỷ lệ
nợ xấu cao và tăng khả năng mất ổn định của ngân hàng
2.2.5 Lý thuyết về đa dạng hóa
Khái niệm: Đa dạng hóa có thể được hiểu rằng việc một công ty mở rộng phạm vi sản phẩm
hoặc lĩnh vực hoạt động vì mục đích gia tăng hiệu quả kinh doanh qua việc gia tăng tỷ suấtsinh lợi hoặc giảm thiểu rủi ro hoặc cả hai
Tác động: Quan điểm thứ nhất cho rằng đa dạng hóa sản phẩm có thể giúp ngân hàng giảm
nguy cơ phá sản do ngân hàng đã phân bổ nguồn lực cho các sản phẩm khác nhau (Haugen,
Trang 102001); Quan điểm thứ hai cho rằng ngân hàng nên tập trung phát triển tốt ở một loại hình sảnphẩm, dịch vụ là chính sách tốt hơn so với việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ.
2.2.6 Lý thuyết Lý thuyết quá lớn để sụp đổ “Too-big-to-fail”
Khái niệm: Lý thuyết quá lớn để sụp đổ “Too-big-to-fail” đề cập đến mối quan hệ giữa quy
mô và rủi ro ngân hàng Lý thuyết này cho rằng các ngân hàng hay định chế tài chính có quy
mô lớn, hoạt động rộng và liên kết với nhiều thành phần kinh tế khác, có tầm ảnh hưởng rấtlớn đến nền kinh tế của một quốc gia nên trước nguy cơ phá sản của họ sẽ là thảm họa cho cảnền kinh tế, do đó cần được hỗ trợ bởi Chính phủ khi họ phải đối mặt với khó khăn
Tác động: Sự bảo hộ của Chính phủ đối với các ngân hàng và định chế tài chính quy mô lớn
có thể làm gia tăng hành vi chấp nhận rủi ro của họ (Mishkin, 1999)
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh, RRTD và hiệu quả hoạt động của NHTM 2.3.1 Nhân tố chủ quan: Năng lực tài chính, Năng lực quản trị điều hành
2.3.2 Nhân tố khách quan: Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội
2.4 Các nghiên cứu có liên quan về tác động của RRTD, TXĐTT đến HQHĐ của các NHTM
Có nhiều nghiên cứu về cạnh tranh, RRTD và HQHĐ của các NHTM trong và ngoàinước, tuy nhiên các yếu tố này có sự ảnh hưởng khác nhau đến cạnh tranh, RRTD và HQHĐ
vì sự khác nhau về nguồn số liệu thu thập được, quy mô, phương pháp nghiên cứu
Những năm gần đây, các ngân hàng đã nhận thức được tầm quan trọng của rủi ro cũngnhư mối liên hệ giữa rủi ro và lợi nhuận Một ngân hàng quản lý rủi ro tốt sẽ có sức đề khángtốt hơn và ít bị ảnh hưởng bởi những tác động không lường trước, có khả năng đưa ra nhữnghành động kịp thời để hạn chế thấp nhất những tổn thất cho ngân hàng Trong xu thế hội nhậpquốc tế các NHTM phải cạnh tranh gay gắt với nhau nhằm đem lại lợi nhuận, thì rủi ro cũngđồng thời gia tăng và ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động
Ho và Saunders (1981) cho rằng lợi nhuận mà các ngân hàng đưa ra khi thiết lập lãisuất tiền gửi và lãi suất tín dụng phụ thuộc vào (i) độ e ngại rủi ro của ngân hàng, (ii) cơ cấuthị trường mà ngân hàng hoạt động, (iii) quy mô giao dịch, (iv) biến động lãi suất Ho vàSaunder (1981) cho rằng các ngân hàng vẫn có lãi ngay cả khi ngân hàng hoạt động ở thịtrường có sự cạnh tranh cao Các nghiên cứu trước đây đều cho thấy tác động tích cực củaTXĐTT đối với việc nâng cao hiệu quả, chất lượng dịch vụ, đổi mới và cạnh tranh quốc tế(Claessens & Laeven, 2004) Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng mối quan hệ giữacạnh tranh và hiệu quả hoạt động chưa được rõ ràng trong ngành tài chính so với các ngành
Trang 11khác (Akins và cộng sự, 2016) Nhiều nghiên cứu cho thấy TXĐTT đang làm thay đổi mốiquan hệ này với hiệu quả và sự ổn định của ngân hàng (Maudos và cộng sự, 2004).
Trong vài thập kỷ qua, các ngân hàng đã chú trọng hơn về việc củng cố vị trí và khảnăng cạnh tranh của mình trong bối cảnh tiến bộ kỹ thuật không ngừng, toàn cầu hóa và cácquy định về độc quyền dần được bãi bỏ Hiện tượng này có thể có những tác động đáng kểđến sự thay đổi về mức độ cạnh tranh, bởi vì ở các thị trường tập trung hơn, các thông tin sẽđược doanh nghiệp nắm bắt nhanh và sự so sánh về mức lãi suất sẽ được chú ý hơn Bên cạnh
đó, việc sáp nhập và mua lại (M & A) đã dẫn đến sự trùng lắp nhiều hơn giữa các chi nhánh,
do đó tăng số lượng các thị trường mà các ngân hàng sẽ phải cạnh tranh lẫn nhau Các vấn đềliên quan đến TXĐTT đã được phân tích trong các lý thuyết lẫn nghiên cứu thực nghiệmtrong nhiều thập niên qua và phần lớn các nghiên cứu này được thực hiện tại các nước pháttriển Theo lý thuyết về độc quyền (oligopoly theory), các công ty hoạt động đa thị trường sẽkhông cạnh tranh mạnh mẽ với các đối thủ của mình nếu họ sợ bị trả đũa tại các thị trườngkhác Vì nếu số lượng thị trường mà các doanh nghiệp hoạt động cùng nhau càng nhiều, thìhành động trả đũa trên các thị trường này rất có thể xảy ra, điều này sẽ gây ra những tổn thấtđáng kể Trong tình huống như vậy, mức độ cạnh tranh trên tổng thể sẽ giảm Bernheim vàWhinston (1990) đã cho thấy, khi TXĐTT xảy ra, các doanh nghiệp sẽ có các thỏa thuậnngầm với nhau và duy trì sự hợp tác thay vì cạnh tranh nếu có bất cân xứng giữa các thịtrường mà các công ty tương tác hoặc giữa các công ty trong và trên nhiều thị trường Tuynhiên, có một số nghiên cứu không ủng hộ lý thuyết này, thậm chí cho thấy thực tế cạnh tranhtrên thị trường mạnh mẽ hơn khi các DN có TXĐTT (Degl’Innocenti và cộng sự, 2014)
Một số tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của TXĐTT đối với khả năng sinh lời của cácdoanh nghiệp ngành sản xuất chế biến, và các nghiên cứu chỉ ra TXĐTT tạo điều kiện chodoanh nghiệp tăng khả năng sinh lời (Scott, 1982; Hughes và Oughton, 1993) Gimeno (2002)nghiên cứu các hãng hàng không Mỹ và Busse (2000) nghiên cứu ngành công nghiệp điệnthoại di động tại thị trường Mỹ, trong khi Fu (2003) cũng xem xét các doanh nghiệp báo chítại Trung Mỹ Các nghiên cứu này đều cho thấy TXĐTT có tác động tích cực đối khả năngsinh lời của các doanh nghiệp, do đó ủng hộ cho giả thuyết nhượng bộ lẫn nhau “mutualforbearance hypothesis”
Trong lĩnh vực ngân hàng, đã có một số nghiên cứu thực nghiệm và kết quả khôngnhất quán về ảnh hưởng của TXĐTT đối với hiệu quả hoạt động Coccorese và Pellecchia(2009) cho thấy TXĐTT làm tăng khả năng sinh lời của các ngân hàng Ý
Trang 12Sử dụng dữ liệu các ngân hàng của Ý trong giai đoạn 1997-2009, Coccorese và Pellecchia(2013) cho thấy các công ty hoạt động trên nhiều thị trường sẽ có nhiều khả năng cấu kếtcùng với nhau Fuentelsaz và Gomez (2006) nghiên cứu thị trường ngân hàng tiết kiệm TâyBan Nha, lại cho thấy mối liên hệ chữ U ngược của TXĐTT với việc gia nhập ngành.
Một số nghiên cứu đã phân tích tác động của đa dạng hóa trong lĩnh vực ngân hàng lênrủi ro và lợi nhuận Một số nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng đa dạng hóa các nguồn thunhập làm tăng rủi ro (De Young và Roland, 2001; Stiroh, 2004; Stiroh và Rumble, 2006;Lepetit và cộng sự, 2008; Demirgüc-Kunt và Huizinga, 2010); Gallo và cộng sự (1996);
Rogers và Sinkey (1999) và Ashraf và cộng sự (2016) thì lại cho kết luận ngược lại
Sự đa dạng hoá thu nhập được cho là có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận trong Stiroh vàRumble (2006), Chiorazzo và cộng sự (2008), Lepetit và cộng sự (2008), Demirgüc-Kunt vàHuizinga (2010) và Elsas và cộng sự (2010) Tuy nhiên, kết quả được tìm thấy là tiêu cực đốivới lợi nhuận trong các nghiên cứu của DeYoung và Roland (2001); Stiroh (2004), DeYoungand Rice (2004), Stiroh (2004), Baele và cộng sự (2007), Berger và cộng sự (2010) vàFiordelisi và cộng sự (2011)
Đối với ngành ngân hàng, kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm chắc chắn còn mơ hồhơn, do đó không thể đưa ra phán quyết dứt khoát về vai trò của liên hệ đa thị trường đối vớicạnh tranh và lợi nhuận Trong các nghiên cứu này, liên hệ thường được đo bằng các biếnđược xây dựng dựa trên số lượng liên kết giữa một nhóm ngân hàng nhất định (tất cả cácngân hàng hoạt động trên thị trường hoặc tập hợp con của các tổ chức hàng đầu) hoặc sốlượng tiền gửi liên quan đến các liên kết đó, trong khi mức độ cạnh tranh được đánh giáthông qua các chỉ số như lợi nhuận, thu nhập từ các khoản vay, chi phí liên quan đến tiền gửi,thay đổi thị phần
Đa dạng hóa thu nhập là một trong những chiến lược cạnh tranh của ngân hàng trongthời buổi cạnh tranh gay gắt, buộc ngân hàng phải có nhiều nguồn thu nhập khác nhau Mộtchiến lược khác vẫn chưa được nghiên cứu nhiều chính là việc ngân hàng đa dạng hóa khuvực kinh doanh trong một vùng, lãnh thổ, quốc gia, dẫn đến việc các ngân hàng tiếp xúc vớinhau nhiều lần, và có thể dẫn đến các hành vi cạnh tranh Cạnh tranh trên thị trường có thểkhiến cho khách hàng có chất lượng thấp cũng có thể được cho vay, do đó ảnh hưởng đến rủi
ro tín dụng của ngân hàng Theo lược khảo của NCS, cho đến nay chưa có nghiên cứu nàophân tích mối quan hệ giữa yếu tố TXĐTT, cạnh tranh và RRTD đến HQHĐ của các ngânhàng, ít nhất là tại các quốc gia đang phát triển
Trang 13Trong những năm qua, các ngân hàng tại Việt Nam đã phát triển nhanh chóng về sốlượng, quy mô và địa bàn hoạt động Sự cạnh tranh với các NHTM trong nước ngày càng gaygắt, dẫn đến xu hướng các ngân hàng dịch chuyển từ hoạt động truyền thống sang việc đadạng hóa các hoạt động, mà chủ yếu là các hoạt động về dịch vụ nhằm giữ vững thị phần vì
hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam và đóng góp 18% trong tăng trưởng kinh tế (Stewart và cộng sự, 2016) Các nghiên cứu tại Việt Nam đaphần về hiệu quả hoạt động của ngân hàng cũng đã được thực hiện, tuy nhiên các nghiên cứunày thường tập trung vào khía cạnh ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạtđộng của ngân hàng (Cành và Minh, 2014; Vinh và Mai, 2015; Quỳnh và Hậu, 2016)
16-Tại Việt Nam đã có một số đề tài nghiên cứu về cạnh tranh như các nghiên cứu củaTrung (2010), Vinh (2015), Vinh và Tiên (2017) Có thể thấy hiện nay tại Việt Nam, chưa cónhiều nghiên cứu về cạnh tranh đặc biệt là TXĐTT, rủi ro hoạt động tác động đến hiệu quảhoạt động của NHTM Việt Nam được thực hiện Mặc dù các NHTM Việt Nam đang nỗ lực
mở rộng dịch vụ song các dịch vụ vẫn chưa phong phú; các dịch vụ phi tín dụng như thanhtoán, đầu tư, kinh doanh ngoại hối, tư vấn tài chính chưa phát triển; các sản phẩm dịch vụngân hàng hiện đại mới chỉ trong giai đoạn thử nghiệm hoặc thí điểm Thêm vào đó là việcngân hàng Nhà Nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, các NHTM hạn chế việc cho vaynên đã không ngừng tăng lãi suất cho vay thì dịch vụ ngân hàng truyền thống (huy động vàcho vay) đã không mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng, dẫn đến sự cạnh tranh trong cácngân hàng ngày một gia tăng theo hình thức gia tăng sự hiện diện tại các thị trường khác nhau
2.5 Các phương pháp đo lường cạnh tranh, tiếp xúc đa thị trường, RRTD và HQHĐ 2.5.1 Phương pháp đo lường cạnh tranh
Khi nghiên cứu về sức cạnh tranh ngân hàng, các học giả thường sử dụng hai phương pháp:Thứ nhất, phương pháp Panzar và Rosse (1987) đây là phương pháp sử dụng chỉ số thống
kê H để xác định điều kiện cạnh tranh trong một ngành (cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh độcquyền, độc quyền); Thứ hai, phương pháp Lerner (1934) Trong nghiên cứu này tác giả cũng
sử dụng chỉ số Lerner để đo lường cạnh tranh của các NHTM VN bởi sự phổ biến và khảnăng thu thập dữ liệu thuận lợi cho nghiên cứu
2.5.2 Phương pháp đo lường tiếp xúc đa thị trường
Để xây dựng một chỉ số cho TXĐTT, có hai loại biện pháp thường được sử dụng: biện phápđếm và biện pháp xác suất (Singal, 1996, tr 563 Coccorese và Pellecchia (2009) Một lựachọn khác để đo lường TXĐTT là ước tính mô hình đồng thời các phương trình cung - cầu