Chính vì vậy, người ta thường sử dụng nó kết hợp với một chất nổ có tính công nghệ cao dễ nóng chảy, không bị phân hủy khi nóng chảy như TNT để đúc rót vào lòng bom, mìn, đạn, mồi n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ
NGUYỄN MẬU VƯƠNG
NGHIÊN CỨU SỰ PHỤ THUỘC CỦA QUÁ TRÌNH PHÂN HỦY NHIỆT VÀ TỐC ĐỘ NỔ VÀO THÀNH PHẦN THUỐC NỔ
HỖN HỢP TRÊN NỀN HEXOGEN
Chuyên ngành: Hóa lý thuyết và Hóa lý
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ
Trang 3Công trình được hoàn thành tại:
Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự, Bộ Quốc phòng
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Ngô Văn Giao
PGS TS Đặng Văn Đường
Phản biện 1: GS.TS Thái Hoàng
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Phản biện 2: PGS.TS Đàm Quang Sang
Học viện Kỹ thuật Quân sự
Phản biện 3: PGS.TS Ninh Đức Hà
Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ họp tại:
Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự
Vào hồi: … giờ … ngày … tháng … năm 20.…
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 4DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
1 Nguyen Mau Vuong, Ngo Van Giao, Nguyen Ngoc Tu (2014), Thermal
decomposition studies on cast mixture of TNT and RDX, Proceedings The
3th Academic Conference on Natural Science for Master and PhD Students from Asean Contries, Publishing House for Science and Technology, p.411-417
2 Nguyễn Mậu Vương, Ngô Văn Giao, Đặng Văn Đường (2015), Nghiên
cứu sự phụ thuộc của tốc độ nổ vào thành phần thuốc nổ hỗn hợp ТГ, Tạp
chí Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Quân sự, Số đặc san HH-VL,
10-2015, Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự, tr.220-227
3 Nguyen Mau Vuong, Ngo Van Giao, Dang Van Duong (2015),
Research into thermal decomposition of a mixture of RDX and insensitive,
Proceedings The 4th Academic Conference on Natural Science for Young Scientists, Master and PhD Students from Asean Contries, Publishing
House for Science and Technology, p.216-222
4 Nguyễn Mậu Vương, Ngô Văn Giao (2016), Nghiên cứu sự phụ thuộc
của tốc độ nổ vào thành phần thuốc nổ hỗn hợp A-IX-1, Tạp chí Hóa học
và Ứng dụng, số 1(33)/2016, Hội Hóa học Việt Nam, tr.42-44
5 Nguyễn Mậu Vương, Ngô Văn Giao, Đặng Văn Đường, Kết quả nghiên
cứu sự phụ thuộc của nhiệt lượng nổ vào thành phần của thuốc nổ ТГ, Tạp
chí Hóa học và Ứng dụng, Số chuyên đề (02)
/2019, Hội Hóa học Việt Nam, tr.4-8
Trang 51 g
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hexogen hay RDX là tên thường gọi của cyclonite; 1,3,5-triazocyclohecxan, hay cyclotrimetylen trinitramin, có công thức phân
1,3,5-trinitro-tử C3H6O6N6 RDX (ký hiệu là , RDX) là một trong những thuốc nổ mạnh điển hình
Thuốc nổ RDX có tốc độ nổ cao (8380 m/s ở mật độ 1,70 g/cm3), khả năng sinh công lớn đo theo phương pháp bom chì là (450÷520) mL Tuy nhiên, RDX có độ nhạy cao (70÷80%), không chịu nén và bị phân hủy trước khi nóng chảy [87], [116] Chính vì vậy, người ta thường sử dụng nó kết hợp với một chất nổ có tính công nghệ cao (dễ nóng chảy, không bị phân hủy khi nóng chảy) như TNT để đúc rót vào lòng bom, mìn, đạn, mồi nổ hoặc với chất thuần hóa làm giảm độ nhạy, tăng khả năng chịu nén để nhồi nạp vào đạn xuyên lõm, đạn nổ phá sát thương
Hiện nay, quân đội đã được đầu tư dây chuyền sản xuất thuốc nổ RDX ở quy mô công nghiệp Cũng như dây chuyền sản xuất thuốc nổ TNT, dây chuyền này đã vào sản xuất trong thời gian vừa qua Đồng thời, quân đội cũng đã, đang và sẽ tiếp tục đầu tư các dây chuyền sản xuất và sữa chữa đạn cối, đạn chống tăng, tên lửa phòng không tầm thấp Tuy vậy, những nghiên cứu về quá trình phân hủy nhiệt, sự phụ thuộc tốc độ nổ vào thành phần hỗn hợp trên nền RDX mặc dù đã được thế giới đề cập nhưng công bố rất hạn chế Việc nghiên cứu về phân hủy nhiệt giúp định hướng công nghệ nhồi nạp thuốc nổ hỗn hợp vào lòng bom đạn, dự đoán độ bền của sản phẩm Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần đến tốc độ nổ sẽ quyết định uy lực của thuốc Vấn đề này cũng đã được nghiên cứu đề cập nhưng tài liệu chưa nhiều Bên cạnh việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ nhồi nạp, chế tạo đạn theo đơn hợp đồng, đã có một số đề tài nghiên cứu về các mác thuốc nổ cụ thể trên nền RDX, tuy nhiên chưa nhiều Hiện nay, ở nước ta, rất nhiều loại đạn, bom, mìn sử dụng các hỗn hợp thuốc nổ dạng T và RDX thuần hóa Vì
vậy, đề tài NCS: “Nghiên cứu sự phụ thuộc của quá trình phân hủy nhiệt và
tốc độ nổ vào thành phần thuốc nổ hỗn hợp trên nền hexogen” không chỉ có
ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu thiết kế, chế tạo các loại đạn mới phù hợp với điều kiện công nghệ và tác chiến của quân đội
Trong tính toán thiết kế đạn và các khối nổ hiện nay, trên thế giới đã
sử dụng các phần mềm bản quyền ANSYS (Autodyn, LS-Dyna), MSC (Nastran, Dytran) để mô phỏng các hiệu ứng nổ với độ chính xác, độ tin cậy rất cao Từ các mô phỏng đó, người ta rút ngắn được thời gian, kinh phí để
Trang 62 g
đưa ra một thiết kế tối ưu cho mỗi loại sản phẩm phù hợp mục tiêu đề ra Mỗi một thiết kế đạn (hoặc thiết bị nổ) sẽ tối ưu nhất với một loại chất nổ có tính năng xác định
Trong quân sự, với chỉ tiêu kỹ chiến thuật đặt ra ban đầu cho thiết kế đạn, bom, mìn, đặc biệt là có sử dụng hiệu ứng nổ lõm, các thông số đưa vào phần mềm đối với thuốc nổ quan trọng nhất là mật độ, tốc độ nổ Khi thay đổi các thông số quan trọng này, kết quả thu được là hoàn toàn khác nhau đối với một thiết kế xác định Sẽ có những thông số đưa vào đảm bảo cho thiết
kế đạt được tính tối ưu về hiệu ứng nổ, đôi khi là tối ưu về tính kinh tế trong khi vẫn đảm bảo được chỉ tiêu kỹ thuật ban đầu Chính vì vậy, việc lập ra một sổ tay của các hệ thuốc nổ (có đủ những thông số quan trọng) là một việc làm cấp thiết Đồng thời, nghiên cứu quá trình phân hủy nhiệt sẽ giúp xác định được khoảng nhiệt độ đúc an toàn, thời gian bán hủy của thuốc phụ thuộc vào nhiệt độ bảo quản Đây cũng là cơ sở để xác định độ bền của sản phẩm và định hướng điều kiện kho chứa bảo quản đạn
2 Mục tiêu của luận án
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực nghiệm về quá trình nổ của hai loại thuốc nổ hỗn hợp trên nền RDX (T, A-IX-1) để xây dựng cơ sở
dữ liệu định hướng cho thiết lập đơn thành phần thuốc nổ phù hợp yêu cầu
sử dụng cho thiết kế đạn tạo hình, đạn xuyên lõm, đạn có sức công phá mạnh;
- Xác định được khoảng nhiệt độ đúc an toàn, dự đoán độ bền của sản phẩm dựa trên cơ sở tính toán thời gian bán hủy của các loại thuốc nổ, chỉ ra tầm quan trọng của yếu tố nhiệt độ đến độ bền của sản phẩm trong quá trình bảo quản, an toàn cháy nổ của đạn, thuốc nổ
3 Nội dung nghiên cứu của luận án
- Tính toán sự phụ thuộc của cân bằng oxi, hệ số oxi, công thức phân
tử giả định, nhiệt lượng nổ vào thành phần thuốc nổ hỗn hợp T, A-IX-1
- Xác định các thông số động học quá trình phân hủy khi thay đổi thành phần thuốc nổ T, A-IX-1 Từ đó, tính toán thời gian bán hủy của thuốc nổ, dự đoán độ bền sản phẩm
- Xác định phương trình thực nghiệm sự phụ thuộc của tốc độ nổ, nhiệt lượng nổ vào thành phần thuốc nổ T, A-IX-1
4 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và đóng góp mới của luận án:
- Xuất phát từ nhu cầu thực tế cần nghiên cứu 02 loại thuốc nổ trên nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc thiết kế đơn thành phần phù hợp yêu cầu của thiết kế, chế tạo đạn (đặc biệt là đạn xuyên lõm, đạn tạo hình), bom, mìn
Trang 73 g
- Dựa vào phương pháp phân tích nhiệt, xác định được khoảng nhiệt
độ đúc an toàn, dự đoán độ bền của sản phẩm dựa trên cơ sở tính toán thời gian bán hủy của các loại thuốc nổ và chỉ ra tầm quan trọng của yếu tố nhiệt độ đến độ bền của sản phẩm trong quá trình bảo quản, an toàn cháy
nổ của đạn, thuốc nổ
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp tính toán lý thuyết và đo đạc thực nghiệm có độ chính xác cao trên các thiết bị và phương tiện hiện đại, tiên tiến (từ phương pháp tạo mẫu, chuẩn bị mẫu đo đồng đều, có sai số nhỏ đến việc sử dụng các thiết bị hiện đại, độ chính xác cao) để thiết lập những quy luật thực nghiệm tin cậy
Chương I Tổng quan
Phân tích đánh giá về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, các vấn đề liên quan, các nội dung cần giải quyết trong luận án
Chương II Các phương pháp nghiên cứu
Trình bày các phương pháp tạo mẫu, các phương pháp tính toán và các phương pháp đo đạc tính năng của thuốc nổ hỗn hợp
Chương III Kết quả và thảo luận
Chương này tập trung giải quyết các nội dung nghiên cứu đã đặt ra của luận án
NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN Chương I: TỔNG QUAN
Về thuốc nổ RDX và hỗn hợp trên nền RDX, phân tích đánh giá về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, các vấn đề liên quan, các nội dung cần giải quyết trong luận án
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thuốc nổ ТГ và A-IX-1
2.1.2 Hóa chất
Trang 84 g
Các chất chính: RDX (Hàn Quốc); TNT, xerezin, sudan (Trung Quốc); axit stearic (Malaysia) và một số chất thuần hóa khác
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp tính toán cân bằng oxi và hệ số oxi
2.2.2 Phương pháp đo và tính nhiệt lượng nổ
2.2.3 Phương pháp và thiết bị xác định tốc độ nổ
2.2.4 Phương pháp phân tích nhiệt
2.2.5 Phương pháp đánh giá sự tương hợp và độ bền nhiệt bằng DSC 2.2.6 Phương pháp tính toán các thông số động học
2.2.7 Hiển vi điện tử quét SEM
2.2.8 Đo phân bố cỡ hạt bằng tán xạ laze
2.2.9 Phương pháp chế tạo các mẫu nghiên cứu
2.2.10 Phương pháp xác định thành phần sản phẩm nổ
2.2.11 Phương pháp xử lý số liệu thực nghiệm
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Cân bằng oxi, hệ số oxi và thành phần sản phẩm nổ
3.1.1 Tính toán các hệ số và thành phần sản phẩm nổ
Trang 95 g
ТГ-35: C12,70H16,39O17,39N14,39 = 1,79CO2 + 6,76H2O + 7,04CO + 1,43H2 + 3,86C +7,20N2 ТГ-40: C11,60H14,20O15,20N12,20 = 1,51CO2 + 5,82H2O + 6,37CO + 1,29H2 + 3,72C +6,10N2 ТГ-45: C10,75H12,50O13,50N10,50 = 1,29CO2 + 5,08H2O + 5,85CO + 1,17H2 + 3,62C +5,25N2 ТГ-50: C10,07H11,14O12,14N9,14 = 1,11CO2 + 4,49H2O + 5,42CO + 1,07H2 + 3,54C +4,57N2 ТГ-55: C9,51H10,02O11,02N8,02 = 0,97CO2 + 4,02H2O + 5,06CO + 0,99H2 + 3,48C +4,01N2 ТГ-60: C9,05H9,09O10,09N7,09 = 0,85CO2 + 3,62H2O + 4,76CO + 0,93H2 + 3,43C +3,55N2
3.1.1.2 Hệ thuốc nổ A-IX-1
Bảng 3.3 Cân bằng oxi và hệ số oxi của thuốc nổ A-IX-13
A-IX-13 (6,5): C4,05H8,12O6,04N6,00= 0,08CO2 + 3,32H2O + 2,56CO + 0,74H2 + 1,41C +3,00N2 A-IX-13 (6,0): C3,96H7,94O6,04N6,00 = 0,14CO2 + 3,26H2O + 2,50CO + 0,71H2 + 1,33C +3,00N2 A-IX-13 (5,5): C3,88H7,77O6,04N6,00 = 0,19CO2 + 3,21H2O + 2,44CO + 0,68H2 + 1,25C +3,00N2 A-IX-13 (5,0): C3,80H7,60O6,03N6,00 = 0,25CO2 + 3,15H2O + 2,38CO + 0,65H2 + 1,17C +3,00N2 Trên cơ sở các kết quả tính trên và áp dụng phương pháp Avakian để tính thành phần sản phẩm nổ, phản ứng phân hủy của thuốc nổ A-IX-11 có thể viết gần đúng như sau:
A-IX-11 (6,5): C4,10H8,25O6,00N6,00 = 0,03CO2 + 3,35H2O + 2,60CO + 0,77H2 + 1,47C +3,00N2 A-IX-11 (6,0): C4,01H8,06O6,00N6,00 = 0,08CO2 + 3,30H2O + 2,54CO + 0,74H2 + 1,39C +3,00N2 A-IX-11 (5,5): C3,83H7,70O6,00N6,00 = 0,14CO2 + 3,24H2O + 2,47CO + 0,70H2 + 1,30C +3,00N2 A-IX-11 (5,0): C3,83H7,70O6,00N6,00 = 0,20CO2 + 3,18H2O + 2,41CO + 0,67H2 + 1,22C +3,00N2
Trang 106 g
3.1.2 Thực nghiệm định tính thành phần sản phẩm nổ
Việc phân tích định lượng là cực kỳ phức tạp và chưa đủ trang thiết
bị để thực hiện nên đề tài đã sử dụng các thiết bị hiện có để xác định định tính các thành phần sản phẩm nổ của đại diện thuốc nổ hỗn hợp ТГ-50, A-IX-1 (loại CTH gồm 3 chất) và A-IX-1 (CTH là xerezin) với hàm lượng CTH là 5,5%
Sử dụng thiết bị phân tích khí nhẹ NARL8514 MODEL 4016, cho thấy kết quả thành phần sản phẩm khí nổ trên các đường sắc ký khí đều thể hiện rõ ràng các pic của khí CO2, CO, N2 Khí O2 được thể hiện yếu trong sản phẩm nổ của các loại thuốc A-IX-1, không hiện hữu trong sản phẩm nổ của thuốc nổ ТГ-50
Kết quả thu được cũng phù hợp với tính toán về cân bằng oxi và hệ
số oxi của các thuốc nổ Thuốc nổ càng có Kb âm (hoặc A ít dương) hơn thì lượng oxi trong sản phẩm nổ càng ít Sự có mặt của oxi trong thành phần của khí nổ do bản thân trong bom khi thực hiện hút chân không không thể hết hoàn toàn khí quyển (đã sẵn có oxi) chỉ đạt (0,03÷0,04) bar nên việc còn lại vết đối với sản phẩm khí nổ của A-IX-1 là hợp lý Đối với thuốc nổ ТГ-50 do hệ số âm hơn (-47,82%) nên bản thân khí oxi tham gia vào phản ứng của các sản phẩm tạo ra (C, CO) mạnh hơn nên hầu như không còn vết
để phát hiện
Sử dụng thiết bị đo hấp thụ hồng ngoại JASCO 4600, kết quả đo phổ hấp thụ của sản phẩm lỏng tương tự như phổ hấp thụ hồng ngoại của mẫu nước cất khử ion Như vậy, có thể thấy rõ ràng các chất lỏng ngưng tụ trên chính là H2O
Sử dụng kính hiển vi điện tử quét JSM-6510LV - Đầu dò tán xạ năng lượng tia X để phân tích thành phần sản phẩm rắn của thuốc nổ A-IX-
1 (CTH gồm 3 chất), A-IX-1 (CTH gồm 3 chất), ТГ-50, kết quả thu được từ sản phẩm rắn cho thấy sự có mặt rõ nét của Cacbon Bên cạnh đó còn có các nguyên tố: Cu, Zn, W, O, Cl, Si, Pb, K Các nguyên tố này có mặt là do kết quả phân hủy các hợp chất có trong thuốc hỏa thuật và thuốc gợi nổ trong kíp vi sai đồng Các chất đó là: Si, KClO4, W, Pb(N3)2, Zn Vỏ kíp được làm từ đồng (Cu)
Các kết quả thu được ta thấy rõ sự tồn tại của C, CO, CO2, N2, H2O trong sản phẩm phân hủy nổ của cả 3 loại thuốc nổ trên Bên cạnh đó còn
có vết O2 trong sản phẩm nổ A-IX-1 Hiện nay, chưa có đầu đo đủ nhạy để xác định được sự có mặt của H2 trong sản phẩm nổ
Trang 117 g
3.2 Nghiên cứu sự tương hợp của hệ
RDX ban đầu có phân bố như hình 3.14, hình ảnh bề mặt như hình
3.15 Hình ảnh bề mặt thuốc nổ TГ sau khi phối trộn được thể hiện trong
Hình 3.16 Ảnh SEM bề mặt bên
ngoài thuốc nổ TГ sau khi đúc
Hình 3.17 Ảnh SEM bề mặt bên trong thuốc nổ TГ sau khi đúc Hình ảnh chụp SEM cho thấy có sự bám dính, bao bọc các hạt thuốc nổ RDX bởi TNT nóng chảy TNT ở đây còn mang tính chất giống như chất thuần hóa, kết dính các hạt chất nổ không chịu nén ép RDX
Kết quả đo thông số được thể hiện trong bảng 3.12
Bảng 3.12 Thông số phân hủy của thuốc nổ theo đường cong DSC
TT Tên mẫu Tonset, oC Tp, oC ∆Tp, oC Kết luận
Kết quả ∆Tp cho thấy rằng TNT tương hợp với RDX Như vậy, việc sử dụng 2 thuốc nổ này để tạo ra hỗn hợp thuốc nổ mới là hoàn toàn phù hợp
Trang 128 g
3.2.2 Hệ thuốc nổ A-IX-1
Hình ảnh bề mặt thuốc nổ A-IX-1 sau khi phối trộn được thể hiện
trong hình 3.21
Hình 3.21 Ảnh SEM bề mặt thuốc nổ A-IX-1 Hình ảnh chụp SEM cho thấy có sự bám dính, bao bọc các hạt thuốc nổ RDX bởi hỗn hợp các chất thuần hóa Như vậy, về mặt cơ học, hỗn hợp các chất thuần hóa là phù hợp cho việc bao bọc các hạt thuốc nổ RDX làm cho bề mặt có một lớp giảm nhạy và thuận lợi cho quá trình liên kết bằng phương pháp nén ép
Ta thu được các thông số vật lý theo bảng 3.13
Bảng 3.13 Các thông số phân hủy của các loại A-IX-1
TT Tên mẫu Tonset Tp, oC ∆Tp, oC Kết luận
Kết quả cho thấy nhiệt độ bắt đầu nóng chảy của hỗn hợp thay đổi trong phạm vi hẹp Với tốc độ gia nhiệt 5oC/phút, nhiệt độ nóng chảy chỉ thay đổi trong khoảng (78,3÷79)oC Điều đó thể hiện mặc dù hàm lượng RDX dao động từ (40÷77)% nhưng nhiệt độ bắt đầu nóng chảy hỗn hợp chỉ kém nhiệt độ của TNT không quá 2,8oC Như vậy, các hỗn hợp này khi đúc rót rất thuận lợi vì có thể dùng nước nóng để đúc và hỗn hợp ổn định ở nhiệt độ môi trường sau khi đúc (không bị nóng chảy khi nhiệt độ lên đến
70oC)
Trang 13Từ hai nhận xét trên cho thấy việc phối trộn hai thuốc nổ này với nhau để tạo ra hỗn hợp thuốc nổ mới trong phạm vi nghiên cứu vẫn hoàn toàn giữ được tính công nghệ đúc của TNT và đảm bảo an toàn cháy nổ với nhiệt độ đúc khi sử dụng nước (hoặc hơi nước) làm dung môi nấu chảy TNT
Đồng thời, cũng từ kết quả độ bền phân hủy của hỗn hợp ТГ trong khoảng từ (215,3÷219,2)oC khi tốc độ gia nhiệt 5oC/phút, cho thấy một chú
ý đặc biệt trong công nghệ đúc rót: Không được sử dụng nguồn nhiệt trực
tiếp trên 200 o C để nấu chảy hỗn hợp ТГ vì nguy cơ cháy nổ rất cao, gây mất an toàn trong nhồi nạp bom, đạn (ngay cả khi chiến tranh xảy ra) Tốt nhất, để đảm bảo an toàn chỉ nên sử dụng nguồn nhiệt không quá 120 o
C
Trên cơ sở các kết quả đo và đồ thị phương trình Kissinger, xác định được giá trị của năng lượng hoạt hóa E, thừa số trước mũ Z và hằng số tốc độ phản ứng kT tại nhiệt độ (T) như bảng 3.18
Bảng 3.18 Các thông số động học và hằng số tốc độ phản ứng của thuốc nổ hỗn hợp ТГ
Trang 1410 g
Điều quan trọng là đã tính được phương trình hằng số tốc độ phản ứng phân hủy trên cơ sở nhiệt độ T Kết quả tính toán hằng số tốc độ phân hủy tại các nhiệt độ khác nhau được đưa ra trong bảng 3.19
Bảng 3.19 Hằng số tốc độ phản ứng phân hủy của thuốc nổ ТГ
Từ hằng số này, ta có thể tính được thời gian bán hủy tại các nhiệt
độ khác nhau như trong bảng 3.20 Trên cơ sở này, ta có thể thấy được độ bền của sản phẩm phụ thuộc lớn vào nhiệt độ bảo quản