Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh và người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản...5 2.1.1.. Cụ thể: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
CHỦ ĐỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
LỚP : N06 – TL3
Chủ đề số:3
Trang 2MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 3
I KHÁI QUÁT CHUNG 3
1 Khái quát về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Điều kiện áp dụng 4
2 Pháp luật về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 5
2.1 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh và người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 5
2.1.1 Đối với cặp vợ chồng vô sinh 5
2.1.2 Đối với người phụ nữ độc thân 7
2.2 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 8
2.3 Xác định cha, mẹ trong trường hợp vợ chồng vô sinh sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng 10
2.3.1 Xác định cha, mẹ trong trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng 10
2.3.2 Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng của người chồng 10
2.3.3 Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng của người hiến 11
2.3.4 Xác định cha, mẹ trong trường hợp con sinh ra không trong thời kỳ hôn nhân 12
II ĐÁNH GIÁ VIỆC XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN 13
1 Thực trạng việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 13
2 Những điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 15
3 Những điểm bất cập của quy định pháp luật về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và một số kiến nghị 17
KẾT LUẬN 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3MỞ ĐẦU
Con cái là sợi dây vô hình gắn kết hạnh phúc hôn nhân Khi có con, nhiềubậc cha mẹ học được cách yêu thương, quan tâm lẫn nhau và yêu chính mìnhhơn Tuy nhiên, không phải cặp vợ chồng nào cũng may mắn có thể sinh con tựnhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau Hiện nay, cùng với sự tiến bộ vượt bậccủa khoa học kỹ thuật, các phương pháp hỗ trợ sinh sản được nghiên cứu và ápdụng vào thực tiễn, đem lại ý nghĩa to lớn cho cả xã hội, giúp các cặp vợ chồng
có cơ hội hưởng niềm hạnh phúc với con cái Cùng với đó, vấn đề xác định cha,
mẹ, con khi áp dụng các phương pháp hỗ trợ sinh sản ngày càng trở nên quantrọng bởi nó ảnh hưởng sâu sắc đến quyền lợi của những người làm cha, làm
mẹ, của những đứa trẻ được sinh ra và cả những người có quyền, lợi ích liên
quan Chính vì vậy, nhóm chúng em xin chọn đề tài: “Xác định cha, mẹ, con
trong trường hợp sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản theo Luật Hôn nhân gia đình năm 2014”.
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG
1 Khái quát về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1.1 Khái niệm
Khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã giải thích khá rõ
ràng về khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Cụ thể: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm.”
Một cách rõ ràng hơn, về mặt bản chất đây là phương pháp can thiệp vàoquá trình thụ thai tự nhiên của người phụ nữ bằng các phương pháp kỹ thuật yhọc tiến bộ nhằm hỗ trợ hoặc khắc phục các trường hợp hiếm muộn, vô sinh củacác cặp vợ chồng hoặc mong muốn nuôi con của phụ nữ độc thân không muốn
Trang 4Hiện nay có hai phương pháp chính được áp dụng đó là: thụ tinh nhân tạo
và thụ tinh trong ống nghiệm
và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đã ghi nhận những nguyên tắc
áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo Tại Khoản 1 Điều 3:“Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” Như vậy, đối tượng được Luật cho phép áp dụng biện pháp sinh con
bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản gồm cặp vợ chồng vô sinh hoặc phụ nữ độc thân
Với đối tượng là các cặp vợ chồng vô sinh, trước hết, khái niệm “vô sinh”
là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2– 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không cóthai1
Vô sinh có thể là xuất phát từ một phía là vợ hoặc chồng vô sinh hoặcxuất phát từ hai phía, nghĩa là cả hai người cùng vô sinh Nếu như trước đây họchưa từng có thai lần nào được gọi là vô sinh nguyên phát Nhưng nếu như họ
đã có ít nhất một lần mang thai, đã sẩy thai hoặc phá thai mà sau đó muốn cóthai mà vẫn không có thai trở lại được gọi là vô sinh thứ phát
Với đối tượng là phụ nữ độc thân, căn cứ theo Khoản 6, Điều 2 Nghị định
số 10/2015/NĐ-CP về Giải thích từ ngữ, phụ nữ độc thân được quy định cụ thể
là “Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật” Như vậy, có nghĩa là trong thời điểm phát sinh nhu cầu
1 Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP.
Trang 5sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản, người phụ nữ phải không có quan
hệ hôn nhân ràng buộc với bất kì ai
2 Pháp luật về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
2.1 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh và người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
2.1.1 Đối với cặp vợ chồng vô sinh
Trường hợp con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân
Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên
tắc suy đoán: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng” Như vậy, trong trường hợp
sinh con bằng phương pháp khoa học nhưng vẫn trong thời kỳ hôn nhân thì căn
cứ vào quy định nêu trên, đứa trẻ được sinh ra vẫn được xác định là “con chung”của vợ chồng tương tự như đứa con huyết thống
Theo nguyên tắc này, con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thờiđiểm chấm dứt hôn nhân được coi là do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhântheo tinh thần của khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Bên cạnh đó, trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng đăng ký kết hôn
và được vợ chồng thừa nhận là con chung sẽ không được áp dụng đối với trườnghợp con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Như vậy, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vôsinh được xác định là mẹ đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ là ngườinhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người khác Người chồng hợppháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay cả trường hợp ngườichồng không phải là người cho tinh trùng
Trang 6Trường hợp người con sinh ra trong thời kì hôn nhân nhưng không được cha thừa nhận, tại khoản 2 Điều 88 có quy định: “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định” Theo
đó, nếu như người cha nghi ngờ đứa trẻ không phải là con mình thì có quyềnyêu cầu giám định về gen để chứng minh đứa trẻ và mình không có cùng huyếtthống
Nhưng với phương pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, quan hệcha, mẹ và con là tất yếu và không thể phủ nhận được, trong trường hợp cặp vợchồng vô sinh người chồng đương nhiên là cha của đứa trẻ mà họ không đượcquyền yêu cầu xác định đứa trẻ đó không phải là con mình Nguyên nhân bởi khilàm đơn yêu cầu thực hiện biện pháp hỗ trợ sinh sản, cả hai vợ chồng đều phảithể hiện ý chí đồng thuận đồng nghĩa với việc người chồng thừa nhận mình làngười chồng trong cặp vợ chồng vô sinh; do đó mối quan hệ cha, con với đứa trẻđược mặc nhiên thiết lập
Như vậy, pháp luật không cho phép thực hiện việc xác định lại cha, mẹ,con đối với trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học
Trường hợp người vợ thụ tinh trong thời kì hôn nhân nhưng sinh con khi hôn nhân kết thúc, theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
“Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân” Nếu người vợ có
thai nhờ kĩ thuật hỗ trợ sinh sản trong thời kì hôn nhân, nghĩa là kể từ khi hônnhân chấm dứt trước pháp luật (ly hôn hoặc chồng chết), nếu trong thời hạn 300ngày (người vợ chưa kết hôn với người khác) mà sinh con thì con đó vẫn đượcxác định là “con chung” của hai vợ chồng
Như vậy, căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng vô sinh để xácđịnh cha, mẹ, con Bởi vậy mà trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồngđăng ký kết hôn và được vợ chồng thừa nhận là con chung sẽ không được ápdụng đối với trường hợp con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Và vớinguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ
Trang 7đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ là người nhận tinh trùng, nhậnnoãn hay nhận phôi của người khác Người chồng hợp pháp của người mẹ đócũng chính là cha đứa trẻ, ngay cả trường hợp người chồng không phải là ngườicho tinh trùng.
2.1.2 Đối với người phụ nữ độc thân
Trong trường hợp này, chỉ tồn tại mối quan hệ giữa mẹ và con Khoản 2
Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra” Người phụ nữ độc thân được xác định
là mẹ của đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ này nhận tinh trùng từphôi từ người khác Giữa đứa trẻ và người cho tinh trùng, cho phôi không cómối quan hệ cha mẹ và con về mặt pháp lí Ở đây, chỉ xác định được quan hệ mẹ
- con mà không có quan hệ cha – con như trường hợp của cặp vợ chồng vô sinh
Theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân
là con chung của vợ chồng” Như vậy, trong trường hợp người mẹ độc thân
mang thai đứa con trong thời kì hôn nhân thì đứa con được xác định là “conchung” của vợ chồng, nghĩa là khi đó mối quan hệ cha – con được mặc nhiênthừa nhận cho dù đứa con không có cùng huyết thống với người chồng
Cũng theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Con sinh ra trước ngày đăng kí kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung vợ chồng”, nghĩa là trong trường hợp người mẹ độc thân mang thai và
sinh con sau đó mới kết hôn thì đứa con cũng được xác định là “con chung” nếungười chồng thừa nhận (nếu không được người chồng thừa nhận thì đứa trẻđược xác định là con riêng của vợ) Như vậy, khi người phụ nữ độc thân sinhcon bằng phương pháp khoa học thì ngoài mối quan hệ mẹ - con, chúng ta cũng
có thể xác định mối quan hệ cha – con cho đứa trẻ
Trang 8Riêng đối với trường hợp người mẹ độc thân mang thai đứa con bằngphương pháp khoa học, kết hôn nhưng lại sinh con sau khi hôn nhân đã kết thúcthì người phụ nữ đó vẫn được xác định là người phụ nữ độc thân Do đó chỉ cómối quan hệ mẹ - con là duy nhất, không phát sinh mối quan hệ cha – con nào.Tuy nhiên, nếu người phụ nữ không đợi quá 300 ngày kể từ ngày hôn nhânchấm dứt (li hôn hoặc chồng chết) mà tiếp tục kết hôn rồi sinh con thì người conlại được xác định là con của người chồng sau theo nguyên tắc suy đoán.1
2.2 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định về địnhnghĩa mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:
“ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con”.
Pháp luật nước ta chỉ có quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
mà không cho phép mang thai vì mục đích thương mại Bởi việc mang thai hộ vìmục đích nhân đạo là biện pháp cuối cùng giúp các cặp vợ chồng vô sinh, hiếmmuộn có được đứa con mà họ hằng mong ước sau khi đã áp dụng các biện pháp
hỗ trợ sinh sản mà người vợ vẫn không thể mang thai và sinh con Điều này có ýnghĩa hết sức nhân văn Còn việc mang thai hộ vì mục đích thương mại trái vớivăn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc ta, không khác gì dùng tiền
để mua con
1 Vũ Ngọc Huy, Xác định cha, mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2017.
Trang 9Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đíchnhân đạo rất phức tạp bởi nó làm thay đổi những quan niệm truyền thống vềmặt huyết thống giữa cha mẹ và con Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đãquy định cụ thể về vấn đề này như sau:
“Điều 94 Xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”.
“Mang thai hộ” trong Luật Hôn nhân và gia đình là trường hợp sau khi lấynoãn của người vợ (vì lý do sức khỏe mà không thể mang thai) và tinh trùng củangười chồng để làm thụ tinh trong ống nghiệm Khi noãn và tinh trùng gặp nhauchuyển thành phôi thì sẽ chuyển phôi vào tử cung của người phụ nữ khác Ngườiphụ nữ nhận mang thai hộ có quan hệ họ hàng, cùng huyết thống nhưng không
vì mục đích lợi nhuận Trong trường hợp này, tử cung của người phụ nữ mangthai hộ giống như một môi trường sống tốt nhất – một ngôi nhà cho một đứa trẻ
- đứa con của người khác
Mặt khác, dưới phương diện sinh học thì trong trường hợp mang thai hộ,đứa bé ra đời từ mang thai hộ mang gen di truyền của người phụ nữ có trứng thụtinh chứ không phải của người mang thai Nếu hiểu khái niệm huyết thống đồngnhất với khái niệm gen di truyền (ADN) thì quan hệ huyết thống là quan hệ giữangười phụ nữ có trứng và đứa trẻ Cho phép thực hiện kỹ thuật thụ tinh trongống nghiệm để mang thai hộ là điều trị hữu ích cho phép các cặp vợ chồng cócon di truyền (phù hợp với tính huyết thống, duy trì dòng họ tại Việt Nam).Mang thai hộ có thể đồng nhất khái niệm “chăm sóc” tạo điều kiện cho thai pháttriển nhưng là sự chăm sóc đặc biệt không bằng tay chân mà bằng chính cơ thểcủa mình Nếu chúng ta chấp nhận việc nuôi trẻ bằng sữa của người phụ nữ kháckhi người mẹ của đứa trẻ không có khả năng nuôi con bằng sữa của chính mình
Trang 10thì chúng ta cũng nên chấp nhận việc mang thai hộ Hai hiện tượng này gần nhưđồng nhất với nhau, chỉ khác ở thời điểm là trước và sau khi sinh.1
Bởi vậy cho nên việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vìmục đích nhân đạo theo quy định của pháp luật là hoàn toàn hợp lý
2.3 Xác định cha, mẹ trong trường hợp vợ chồng vô sinh sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
2.3.1 Xác định cha, mẹ trong trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
Trong trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợsinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng chỉ làm phát sinh quan hệ mẹ con
mà không làm phát sinh quan hệ cha con và cũng không làm phát sinh quyền vànghĩa vụ đối với người hiến tinh trùng Trong trường hợp này người mẹ cóquyền xác định lại quan hệ mẹ con
2.3.2 Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng của người chồng
Việc xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp này không khác gì
so với xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên Bảnchất của việc xác định quan hệ cha, mẹ, con căn cứ vào huyết thống, con phải cóchung huyết thống với cha, mẹ Việc xác định một người là con hay không phải
là con mình dựa trên việc chứng minh họ có cùng chung huyết thống với mìnhhay không Pháp luật cho phép cha, mẹ có quyền xác định người nào đó là conmình cũng như có quyền xác định một người nào đó không phải là con mìnhtheo Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014