1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 6 thông qua dạy học văn bản truyện hiện đại việt nam

108 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN KIM ANH TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 6 THÔNG QUA DẠY HỌC VĂN BẢN TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ S

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN KIM ANH

TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 6 THÔNG QUA DẠY HỌC VĂN BẢN

TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN KIM ANH

TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 6 THÔNG QUA DẠY HỌC VĂN BẢN

TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

BỘ MÔN NGỮ VĂN

Mã số: 8.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG TUYẾT HẠNH

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Dương Tuyết Hạnh, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Nhân dịp này tác giả xin được chân thành cảm ơn đến Ban giám hiệu cùng tất cả các thầy cô giáo trường THCS Đại Mỗ và trường THCS Nguyễn Quý Đức - Quận Nam Từ Liêm - Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp

số liệu, tư liệu và nhiệt tình đóng góp ý kiến cho tác giả trong quá trình nghiên cứu

Cảm ơn các bạn đồng nghiệp, bạn bè, gia đình đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm, chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Kim Anh

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 9

7 Cấu trúc luận văn 9

CHƯƠNG 1 11

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11

1.1 Cơ sở lí luận 11

1.1.1 Một số vấn đề về Kĩ năng sống 11

1.1.2 Một số vấn đề về dạy học tích hợp 15

1.1.3 Cơ sở tích hợp giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh trong môn Ngữ văn ở Trung học cơ sở 19

1.1.4 Tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học văn bản truyện hiện đại cho học sinh lớp 6 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 33

1.2.1 Thực trạng của việc dạy học Ngữ văn ở Trung học cơ sở 33

1.2.2 Thực trạng việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học Ngữ văn và trong dạy học văn bản truyện hiện đại Việt Nam 34

Tiểu kết chương 1 39

CHƯƠNG 2 40

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 6 THÔNG QUA DẠY HỌC VĂN BẢN 41

TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 41

Trang 6

iv

2.1 Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp 41

2.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 41

2.1.2 Đảm bảo tính giáo dục 42

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo về lượng 42

2.1.4 Nguyên tắc bám sát đặc trưng thể loại 43

2.1.5 Nguyên tắc phát huy tính tích cực, chủ động 43

2.2 Đề xuất một số biện pháp thực hiện tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 6 thông qua dạy học văn bản truyện hiện đại Việt Nam 44

2.2.1 Phương pháp thảo luận nhóm 45

2.2.2 Phương pháp đóng vai 49

2.2.3 Kĩ thuật “Trình bày 1 phút” 51

2.3 Các bước thực hiện một bài tích hợp giáo dục kĩ năng sống thông qua dạy học văn bản truyện hiện đại Việt Nam 52

2.4 Kiểm tra, đánh giá trong việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống 60

Tiểu kết Chương 2 63

CHƯƠNG 3 64

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64

3.1 Mục đích 64

3.2 Đối tượng, nội dung và phương pháp thực nghiệm 64

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 64

3.2.2 Nội dung và phương pháp tiến hành thực nghiệm 65

3.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 65

3.3.1 Quá trình thực nghiệm sư phạm 65

3.3.2 Giáo án thực nghiệm 66

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 76

Tiểu kết Chương 3 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng 1.1 Văn bản truyện hiện đại Việt Nam trong chương trình Trung học cơ sở 24

Bảng 1.2 Kĩ năng sống tích hợp trong văn bản truyện hiện đại Việt Nam lớp 6 31

Bảng 1.3 Mức độ nhận thức của giáo viên và học sinh về Kĩ năng sống 35

Bảng 1.4 Sự tiếp nhận thông tin liên quan đến Kĩ năng sống của học sinh Trung học cơ sở 36

Bảng 1.5 Đánh giá của học sinh về mức độ thường xuyên được thực hiện tích hợp giáo dục kĩ năng sống qua hoạt động dạy học văn bản truyện hiện đại Việt Nam 38

Bảng 3.1 Mẫu thực nghiệm 64

Bảng 3.2 Ý kiến của giáo viên sau khi dự giờ dạy thực nghiệm 77

Bảng 3.3 Kết quả điều tra hứng thú học tập của học sinh qua giờ dạy thực nghiệm 77

Bảng 3.4 Những Kĩ năng sống rút ra sau khi học xong văn bản “Bài học đường đời đầu tiên” - Tô Hoài 78

Biểu đồ 1.1 Đánh giá của học sinh về mức độ quan trọng của việc giáo dục Kĩ năng sống trong môn Ngữ văn 38

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, với sự phát triển và những biến động to lớn của nền kinh tế,

sự mở rộng giao lưu, hội nhập quốc tế, đời sống của chúng ta ngày càng có sự thay đổi cả về vật chất và tinh thần Nền kinh tế thị trường đã làm nên diện mạo của một đất nước phát triển theo hướng công nghiệp hơn, hiện đại hơn Tuy nhiên không phải ai trong xã hội cũng bắt kịp với xu thế đó, con người đang phải đối mặt với nhiều vấn đề tiêu cực, tệ nạn và những suy thoái, xuống cấp của đạo đức Không ít một bộ phận giới trẻ hiện nay thiếu tính tự tin, tự lập, sống ích kỉ, vô tâm, thiếu trách nhiệm với gia đình và bản thân, vi phạm pháp luật và đắm chìm trong thế giới ảo… Các hình thức sản phẩm văn hóa

đa dạng, mạng Internet được phủ sóng toàn cầu là những thành tựu rực rỡ về công nghệ Nhưng bên cạnh những lợi ích mà chúng mang lại, các dân tộc phải đối mặt với những thách thức không nhỏ đối với việc mọi người đang dần thiếu hụt các kĩ năng sống, không có khả năng ứng phó với những tình huống phức tạp, muôn hình vạn trạng của cuộc sống Vì vậy, việc đẩy mạnh hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ là một yếu tố vô cùng quan trọng theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI đã được UNESCO khái quát

qua câu nói: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để

cùng chung sống

Các nghiên cứu về tâm lý học phát triển ở Việt Nam cho thấy lứa tuổi THCS chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lí trẻ em

Sự phát triển của các em được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau: thời

kì quá độ, tuổi khó khăn, tuổi khủng hoảng, khủng hoảng tuổi dậy thì, tuổi bất trị,… Thế nhưng, các em học sinh trung học cơ sở lại có những khoảng trống

về các kĩ năng, có nhiều thiếu hụt về kĩ năng sống và đây được coi là nguyên nhân chính dẫn tới nạn bạo lực học đường và các hành vi phạm tội sai trái

Trang 9

2

khác Các em vì chưa có kĩ năng sống mà có thể sa vào hiện tượng hút thuốc

lá, uống rượu, quan hệ tình dục sớm… Các em sẵn sàng đánh nhau, chửi bậy, dẫn đến các tệ nạn xã hội… Điều đáng lo ngại là những vấn đề này ngày càng gia tăng ở lứa tuổi THCS.Vì vậy, trên thế giới đã có nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa việc giáo dục kĩ năng sống vào chương trình giáo dục ở nhiều lứa tuổi Việt Nam cũng đã đánh giá được tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh Với đối tượng học sinh THCS, đặc biệt là học sinh lớp 6, các em vừa chuyển từ cấp tiểu học lên, còn bắt đầu một chu trình học mới với nhiều bỡ ngỡ thì việc giáo dục KNS là vô cùng thiết thực Tuy nhiên, việc lồng ghép kĩ năng sống vào giảng dạy chưa mang lại nhiều hiệu quả vì có phần thiếu sinh động và có phần sáo mòn, chưa thu hút và tác động nhiều đến các em học sinh

Có thể coi Ngữ văn là một trong những môn học gần gũi với đời sống nhất, văn học phản ánh cuộc sống, văn học được viết nên từ những hiện tượng, sự kiện trong cuộc sống Không môn học nào rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh tốt bằng môn Ngữ văn Học văn là nhân học - tức là cách làm người Thông qua đó, ta có cách ứng xử, giao tiếp phù hợp với văn hóa Việt Tuy nhiên, hiện nay môn Ngữ văn chưa thực sự gây được hứng thú với học sinh Ở Trung học cơ sở, đặc biệt là lớp 6 (Kì 2), các tác phẩm văn học hiện đại chiếm dung lượng khá lớn Mỗi tác phẩm đều giúp học sinh hình thành được một số kĩ năng sống nhất định bởi khoảng cách gần về thời đại sống Nhưng nhìn vào thực tế giảng dạy, có thể nhận thấy chúng ta chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của những tác phẩm truyện hiện đại này trong việc giáo dục giá trị sống cho học sinh Đây sẽ là một điều vô cùng đáng tiếc khi

bỏ lỡ nguồn tài nguyên lớn giúp học sinh có được hành trang quý báu để bước vào đời

Như vậy, việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học nói chung

và tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học tác phẩm văn học nói riêng ở

Trang 10

3

nhà trường Trung học cơ sở là vô cùng cần thiết Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải luôn có tư duy linh hoạt, tích cực, luôn tìm tòi để có thể tích hợp được một cách khéo léo và có hiệu quả thông qua mỗi tác phẩm văn chương Đích đến cuối cùng của việc dạy học là việc học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà có thể vận dụng được những kiến thức, kĩ năng của bài học vào hoạt động thực tiễn Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, với mong muốn tìm ra một số biện pháp nhằm giáo dục cho học sinh những giá trị sống qua mỗi tác phẩm văn chương cụ thể nên chúng tôi đã lựa chọn đề

tài: “Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 6 thông qua dạy học

văn bản truyện hiện đại Việt Nam”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Các công trình nghiên cứu Kĩ năng sống ở nước ngoài

Từ năm 1960, thuật ngữ “Kĩ năng sống” được xuất hiện lần đầu tiên bởi các nhà tâm lí học thực hành Về sau, việc nghiên cứu KNS và giáo dục KNS phát triển mạnh mẽ trên thế giới

Vào những năm 90 của thế kỉ XX, bắt đầu với chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cho thế hệ trẻ, lần đầu thuật ngữ liên quan đến “kĩ năng sống” được xuất hiện trong chương trình giáo dục của UNICEF (Quỹ cứu trợ nhi đồng liên hợp quốc) Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trong giai đoạn này mới chỉ dừng lại ở nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kĩ năng xã hội Với yêu cầu phát triển mạnh mẽ kinh tế xã hội, xu hướng hội nhập, hợp tác phát triển của các quốc gia nên nền giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo hướng phát huy tiềm năng tối đa của người học, đào tạo một thế hệ con người năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu để thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội Tại diễn đàn Giáo dục Thế giới tại Dakar, Senegal 2000, Khung hành động Dakar yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục

kĩ năng sống phù hợp Giáo dục hiện đại ngày nay rất chú trọng kĩ năng sống

Trang 11

4

và coi đó là một tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục Vì vậy, để giáo dục mang tính toàn diện thì không thể không tính đến tiêu chí đánh giá kĩ năng sống của người học

Ba tổ chức lớn WHO, UNICEF, UNESCO đã cùng thống nhất xây dựng các KNS cơ bản và chương trình giáo dục KNS cho giới trẻ, lứa tuổi thanh thiếu niên hiện nay Từ cơ sở này, các nhà nghiên cứu đến từ Mỹ, Liên

Xô, Bungari… như J.H.Fichter, P.Tugarivov, Dramalier đã bắt đầu tìm hiểu

và đưa vấn đề giá trị sống vào những chuẩn mực đạo đức của con người Chính vì vậy, rất nhiều tài liệu nghiên cứu về việc giáo dục KNS cho giới trẻ

ra đời như: Tài liệu tập huấn về kĩ năng sống của UNICEF (2004) [39], Tài liệu của Diane TillMan Những hoạt động giá trị sống cho thiếu niên [33], Tài

liệu tập huấn kĩ năng cơ bản trong tham vấn, G.Bandzeladze (1985) [15]

Giáo dục KNS cho giới trẻ, lứa tuổi HS hiện nay đang được quan tâm trên thế giới, tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có những định hướng khác nhau

Ở Lào, bắt đầu từ năm 1997, KNS được đề cập với các nội dung liên quan đến giáo dục phòng chống HIV/AIDS đào tạo trong chương trình chính quy, và không chính quy (đối với các trường sư phạm đào tạo giáo viên)

Campuchia đưa vấn đề giáo dục KNS vào nhà trường rất sớm, tích hợp vào các bài học của các môn cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12 KNS trở thành vấn đề quan trọng của cuộc sống bởi nó hướng tới những vấn đề quan trọng như: kĩ năng cơ bản cho con người trong đời sống hàng ngày và kĩ năng nghề nghiệp

Ở Malaysia, Bộ Giáo dục và các cơ quan coi KNS là môn kĩ năng của cuộc sống và cũng được thực hiện như một môn học từ Tiểu học

Các tổ chức ở Úc đã nghiên cứu và xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (2002) tập trung vào việc phát huy tiềm năng cá nhân để

có được việc làm và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức

Ở Ruwanda, giáo dục KNS hướng đến giải quyết các vấn đề xung đột,

tự nhận thức, tinh thần cộng đồng… từ đó đề cao lòng yêu hòa bình

Trang 12

2.2 Các công trình nghiên cứu Kĩ năng sống ở Việt Nam

Từ xa xưa, ông cha ta đã có những bài học về đối nhân xử thế, truyền đạt cho con cháu kinh nghiệm sản xuất, chống thiên tai… qua những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ,… Tuy nhiên, bài học đó chưa thể gọi là giáo dục KNS bởi trong xã hội đầy thử thách, rủi ro như hiện nay, con người phải đối mặt với rất nhiều vấn đề, những biến cố lớn

Từ năm 1995 - 1996, thuật ngữ “Kĩ năng sống” được biết đến ở nước

ta dự án thông qua dự án “Giáo dục KNS (kĩ năng sống) để bảo vệ sức khỏe

và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường” của UNICEF Việt Nam [39]

Vào năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức dự án “Giáo dục

sống khỏe mạnh, kĩ năng sống cho trẻ và vị thành niên”, với sự hỗ trợ của

UNICEF Việt Nam, dự án này hướng tới mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ ở lứa tuổi phổ thông các tỉnh miền Bắc: Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội đến các tỉnh miền Nam như: Gia Lai, Kon Tum, TP Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang Các em được rèn luyện các kĩ năng để phòng tránh, ứng phó những tác động của cuộc sống như: phòng chống HIV/AIDS, ma túy, sức khỏe sinh sản, vấn đề tình dục sớm,…

Đến năm 2003, thuật ngữ “Kĩ năng sống” được hiểu đầy đủ qua hội

thảo “Chất lượng giáo dục và kĩ năng sống” Từ đó đến nay, đã có nhiều

Trang 13

6

trung tâm giáo dục KNS ra đời như Tâm Việt, TGM Corporation, Breakthrough Power,… thu hút được các bậc phụ huynh đăng kí cho con em mình Giáo dục KNS đã trở thành mục tiêu hướng tới của quốc gia Trên các websites, diễn đàn, vấn đề KNS cũng được thành lập, bàn luận sôi nổi đáp ứng nhu cầu của giới trẻ

Trong những nghiên cứu đầu tiên mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam phải kể đến tác giả Nguyễn Thanh Bình Với rất nhiều các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo như cuốn giáo trình “Chuyên đề Giáo dục kĩ năng sống”, bài viết “Thử nghiệm một số chủ đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” tác giả đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu

về KNS và giáo dục KNS trong nhà trường

Ban đầu, việc giáo dục KNS trong nhà trường được thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như trong các bài viết của tác giả Đặng Vũ Hoạt,

Hà Thế Ngữ Tuy nhiên việc làm này vẫn còn ít được quan tâm nghiên cứu

Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn về lý thuyết và phương pháp giáo dục kĩ năng

sống, một số nghiên cứu đã ra đời như cuốn Giáo dục giá trị sống và kĩ năng

sống cho học sinh trường Trung học phổ thông (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh

Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phương Liên, NXB Đại học Quốc gia Hà

Nội, 2010) [25] Và đặc biệt, cuốn Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn

ở trường Trung học phổ thông (Lê Thu Thủy, Nguyễn Thị Hồng Vân, NXB

Giáo dục Việt Nam, 2010) [36] được biên soạn nhằm giúp cho nhà trường thực hiện giáo dục, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh có hiệu quả

Gần đây, đã có một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ đề cập đến đề tài giáo dục KNS như: Luận án Tiến sĩ Giáo dục học của tác giả Phan Thanh

Vân: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học phổ thông thông qua họat

động giáo dục ngoài giờ lên lớp, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc

gia Hà Nội [38] Trong đề tài này tác giả luận án tập trung nghiên cứu các kĩ

Trang 14

7

năng sống cơ bản của HS THPT là kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp,

kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng và kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực được hình thành thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Luận văn thạc sĩ ngành Sư phạm Ngữ văn của tác giả Lê Kim Anh

(2011): Tích hợp rèn luyện Kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học thơ trữ

tình hiện đại Việt Nam ở trường trung học cơ sở, trường Đại học Giáo dục -

Đại học Quốc gia Hà Nội [1], đã đề xuất một số biện pháp rèn luyện Kĩ năng sống đối với việc dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam Luận văn thạc sĩ

ngành Sư phạm Ngữ văn của tác giả Lê Thị Hương Giang (2014): Tích hợp

giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - tập 2, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc

gia Hà Nội [17], đã tập trung vào mảng truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 - tập 2, từ đó, giúp HS THPT hình thành một số kĩ năng

sống Tác giả Vũ Thị Bích Hằng với luận văn thạc sĩ: Tổ chức dạy học phần

Làm văn (Ngữ văn 10 - tập 2) theo hướng tích hợp giáo dục Kĩ năng sống,

trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội [18] đã đề xuất được cách tổ chức dạy học phần làm văn tích hợp giáo dục KNS cho học sinh lớp

10 Luận văn: Rèn luyện KNS cho học sinh lớp 12 trong dạy học văn nghị luận

xã hội, trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội [16] của Nguyễn

Hà Giang đã hướng đến đối tượng HS lớp 12, khi các em sắp tốt nghiệp THPT, đứng trước nhiều ngã rẽ, các em còn lúng túng trong việc giải quyết các tình huống cụ thể gặp phải trong cuộc sống hằng ngày, chính vì vậy trong luận văn này tác giả đã đề xuất các biện pháp rèn luyện KNS cho học sinh thông qua dạy

học phần văn nghị luận xã hội Với đề tài: Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho

học sinh trong dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại (Ngữ văn 9), trường Đại

học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội [24], tác giả Trần Thị Ngọc Lam đã góp phần rèn KNS cho học sinh THCS thông qua hoạt động tích hợp giáo dục KNS trong dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại (Ngữ văn 9) Ngoài những luận văn kể trên còn có một số tác giả đã đề cập đến việc tích hợp giáo dục

Trang 15

8

KNS cho học sinh thông qua dạy học tác phẩm văn học, tuy nhiên hầu hết những luận văn trên mới chỉ đề cập đến giáo dục KNS cho đối tượng học sinh THPT mà chưa đề cập sâu đến đối tượng học sinh THCS

Ngoài việc giáo dục KNS thì dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn cũng thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và đã đạt được một số thành

tựu nhất định Có thể kể đến các sách như Phương pháp dạy học văn, tập 1 và tập 2, (Phan Trọng Luận (Chủ biên), NXB Giáo dục, 1999) [25], Tích hợp

trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông (Kiều Mai, Tạp chí dạy và học ngày nay, 10/2007) [28], Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam (Đỗ Ngọc Thống, NXB Giáo dục, 2011) [35],… Tuy nhiên, trong

những tài liệu trên, các tác giả mới chỉ đề cập đến những yêu cầu đổi mới chương trình Ngữ văn và sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học tích hợp ba phân môn của môn Ngữ văn

Như vậy, giáo dục kĩ năng sống cho con người nói chung và cho học sinh nói riêng đã được các nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm khai thác, nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, nhưng vấn đề tích hợp kĩ năng sống vào việc giảng dạy những tác phẩm truyện hiện đại Việt Nam cho học sinh lớp 6 thì chưa có đề tài nào nghiên cứu, vì thế chúng tôi chọn đề tài này để góp phần cụ thể hóa việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống thông qua dạy học môn Ngữ văn cho học sinh Trung học cơ sở

3 Mục đích nghiên cứu

Giáo dục KNS cho HS thông qua việc dạy văn bản truyện hiện đại Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn, phát huy tính tích cực, chủ động của HS

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học văn bản truyện hiện đại Việt Nam

Trang 16

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan tới đề tài

- Khảo sát, đánh giá thực trạng tích hợp giáo dục KNS cho HS lớp 6

- Đề xuất một số biện pháp để tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho HS lớp

6 trong dạy học văn bản truyện hiện đại Việt Nam

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của những biện pháp đã đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tiến hành tìm hiểu, thu thập, đọc, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp khái quát hóa các tài liệu có liên quan đến dạy học tích hợp, giáo dục kĩ năng sống, đặc điểm tâm lý lứa tuổi, phương pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học môn Ngữ văn

- Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, đối chiếu, so sánh

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Trang 17

10

Chương 2 Một số biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 6 thông qua dạy học văn bản truyện hiện đại Việt Nam

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

1.1.1.1 Khái niệm Kĩ năng sống

Kĩ năng sống là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau và có nhiều quan niệm xoay quanh thuật ngữ này

Theo WHO (năm 1993), xem xét từ góc độ sức khỏe, KNS là khả năng cần có của con người để cuộc sống được lành mạnh, an toàn Vì thế, hiểu rộng ra, đây là khả năng mỗi cá nhân ứng phó, thích ứng một cách tích cực trước những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hiện nay

UNESCO (2003) cho rằng kĩ năng sống gắn với những năng lực cá nhân, là khả năng con người thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào

cuộc sống hàng ngày gắn với 4 trụ cột của giáo dục: Học để biết - Học để làm

- Học để tự khẳng định mình - Học để cùng chung sống

Tổ chức UNICEF (Thái Lan) lại tìm hiểu KNS liên quan đến việc hình thành thái độ và kĩ năng của con người Đây là khả năng phân tích tình huống, hành vi và cách ứng xử cũng như khả năng tránh được những tình huống nào đó Theo tác giả Xkhomni thì: “KNS là khả năng con người thực hiện những hành vi thích ứng với thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống, KNS thể hiện năng lực sống của con người trong cuộc sống cá nhân, trong mối quan hệ xã hội”

Nguyễn Thị Mỹ Lộc quan niệm: “Giáo dục KNS là một quá trình với

những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức, điều kiển để HS biết cách chuyển tải những gì mình biết (nhận thức), những gì mình cảm nhận (thái độ)

và những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp HS biết phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống” [25, tr.108-109]

Trang 19

12

Có thể thấy, khái niệm KNS được biểu đạt với quan niệm rộng hẹp khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề Với nghĩa nhỏ hẹp, khái niệm này chỉ những năng lực tâm lí xã hội Theo nghĩa khái quát, KNS còn bao gồm những kĩ năng tâm lý vận động Chính vì vậy, khi để chỉ khả năng của mỗi con người, KNS mang tính cá nhân; còn khi được đặt trong mỗi một giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở mỗi một vùng miền (đòi hỏi cá nhân có những KNS thích hợp) thì KNS lại mang tính xã hội Ví dụ như KNS của thời chiến tranh chắc chắn phải khác với thời kì đất nước hòa bình, thống nhất; khả năng ứng phó với cuộc sống của người nông dân sẽ không giống người thành phố, cách sống của người ở miền núi khác người ở đồng bằng Giáo dục KNS chính là việc tranh bị, hình thành cho HS cách sống tích cực, xây dựng hoặc giúp các em thay đổi hành vi phù hợp với mục tiêu phát triển nhân cách toàn diện người học

1.1.1.2 Phân loại Kĩ năng sống

Việc phân loại KNS phụ thuộc vào các khái niệm, quan điểm khác nhau Theo tổng hợp của tác giả Nguyễn Thanh Bình [2], KNS được phân loại thành 3 nhóm như sau: nhóm kĩ năng nhận thức, nhóm kĩ năng đương đầu với cảm xúc, nhóm kĩ năng xã hội

Tuy nhiên, cách phân loại này chỉ mới dừng ở các KNS chung, chưa

đi sâu thể hiện những vấn đề cụ thể của đời sống - đó lại là những vấn đề chính, bức thiết cần trang bị cho con người để họ ứng phó với những thay đổi của xã hội từng ngày Chính vì vậy, UNESCO đã để xuất cần bổ sung các KNS quan trọng như: vệ sinh (vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm), sức khỏe: thể chất, dinh dưỡng, sinh sản; bảo vệ trẻ em: phòng chống bạo lực, buôn bán trẻ em và phụ nữ; các vấn đề về giới, phòng tránh rượu, thuốc lá và ma túy; phòng ngừa thiên tai; hòa bình và giải quyết xung đột; gia đình và cộng đồng; giáo dục công dân; bảo vệ thiên nhiên và môi trường;…

Trang 20

13

Như vậy, theo UNESCO, WHO, và UNICEF có thể xem KNS gồm các kĩ năng cốt lõi, cụ thể như sau [39]

+ Kĩ năng giải quyết vấn đề

+ Kĩ năng giao hiệu quả

+ Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân

+ Kĩ năng ra quyết định

+ Kĩ năng suy nghĩ/ tư duy phê phán

+ Kĩ năng thể hiện sự cảm thông

+ Kĩ năng tư duy sáng tạo

+ Kĩ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc

+ Kĩ năng tự nhận thức/ tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị

Ở nước ta, trong những năm vừa qua, KNS được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm:

- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình

- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác

- Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả

Trên đây chỉ là một trong các cách phân loại KNS còn việc phân loại KNS phụ thuộc vào quan điểm, nhận thức của mỗi tác giả, nó mang tính tương đối, dựa vào từng khía cạnh xem xét và nghiên cứu Tuy vậy, dù các tác giả có phân loại theo hình thức nào thì kết quả nghiên cứu KNS cũng chỉ ra rằng, mỗi con người cần có những KNS cốt lõi như: kĩ năng nhận thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng kiểm soát cảm xúc, căng thẳng, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực, kĩ năng nhận thức, kĩ năng ra quyết định,… Các kĩ năng sống thường có liên quan chặt chẽ đến nhau, thúc đẩy quá trình hoàn thiện, phát triển con người

1.1.1.3 Tầm quan trọng của việc giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh trong trường Trung học

Trang 21

14

KNS có vai trò vô cùng quan trọng với sự phát triển của cá nhân và xã hội, là một hành trang quan trọng giúp HS nhìn nhận để điều chỉnh hành vi, thói quen xấu, hướng đến sự tích cực, lành mạnh Người được trang bị KNS phù hợp sẽ luôn biết cách ứng phó, giải quyết các vấn đề bất thường trong đời sống với thái độ tự tin, yêu đời, làm chủ bản thân mình Còn ngược lại, nếu thiếu các kĩ năng sống, con người không thể ứng xử đúng với những chuẩn mực của xã hội Từ đó tạo nên những rào cản cho chính bản thân mình, họ dễ thất bại, dễ vấp ngã Ví dụ như: Ngày nay, các em học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp trong gia đình, trường học và ngoài xã hội Các em dễ bị căng thẳng, áp lực và hành xử tiêu cực gây ảnh hưởng đến sức khỏe, học tập, công việc… của chính bản thân, và đây chính là biểu hiện của việc thiếu kĩ năng ứng phó với căng thẳng

KNS không chỉ giúp cá nhân phát triển toàn diện hơn, nó còn thúc đẩy

sự phát triển của xã hội và ngăn ngừa các vấn đề xã hội Khi những cá nhân tích cực, tiến bộ sẽ tạo nên một xã hội văn minh, tiến bộ, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và giải quyết được một cách tích cực các vấn đề về quyền con người, quyền công dân

Giáo dục KNS càng trở nên cấp thiết với thế hệ trẻ bởi họ có nhiệm vụ quan trọng quyết định sự phát triển của tương lai đất nước KNS giúp cho các

em thực tự tin, vững vàng hơn để thực hiện tốt trách nhiệm cao cả của bản thân mình, đóng góp công sức cho gia đình, cộng đồng và xã hội

Tuy nhiên, xã hội ngày nay có quá nhiều tiêu cực, cám dỗ, những lôi kéo, kích động Đây là điều kiện không thuận lợi cho HS bởi các em đang ở lứa tuổi thích tìm tòi, khám phá, ham hiểu biết nhưng lại thiếu kinh nghiệm sống, thiếu hiểu biết xã hội và ít va vấp thực tế Nếu không được giáo dục KNS cùng với những thực trạng trên, các em dễ sa vào các hành tiêu cực, bạo lực, sự tha hóa về nhân cách Hiện nay, độ tuổi vướng vào tệ nạn xã hội ngày

Trang 22

15

càng trẻ hóa, không ít các em học sinh trung học nghiện hút, bỏ học, ăn chơi

sa đọa, nghiện game, bạo lực,…

Như vậy, có thể thấy, việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là rất quan trọng, giúp các em hoàn thiện bản thân, rèn luyện hành vi có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em phát triển toàn diện, có bản lĩnh, vững vàng hơn và thành công hơn trong cuộc sống

Giáo dục KNS cho HS, với bản chất là hình thành cho các em năng lực cần thiết để đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là phù hợp với mục tiêu giáo dục, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục

Để dạy KNS phù hợp với đổi mới phương pháp giáo dục, cần phát huy ưu thế của các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực

Hiện nay, đã có rất nhiều nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có hơn 140 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở các cấp học KNS đang là xu hướng giáo dục chung mà nhiều quốc gia hướng tới Ở nước ta, có những cách thực hiện giáo dục KNS như:

- Xây dựng KNS thành một môn học để giáo dục cho học sinh như các môn học khác của chương trình học tập

- Tìm những nội dung phù hợp của KNS để lồng ghép vào các môn học có ưu thế và các hoạt động giáo dục khác

- KNS được tích hợp giáo dục vào trong các môn học và các hoạt động giáo dục của nhà trường

Có thể thấy, giáo dục KNS đang được cả thế giới quan tâm tuy nhiên với mỗi một quốc gia lại có cách triển khai khác nhau Đa số các nước thường chọn cách tích hợp KNS vào nội dung môn học để tránh sự quá tải trong nhà trường, chủ yêu là các môn khoa học xã hội

Từ những nhiệm vụ trên, giáo dục KNS có vai trò thực sự quan trọng đối với học sinh phổ thông nói chung

1.1.2 Một số vấn đề về dạy học tích hợp

Trang 23

Theo từ điển Giáo dục học, tích hợp là “hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” [19, tr.15] Kế hoạch giảng dạy ở đây cần được hiểu trong một phạm vi rộng, từ kế hoạch giảng dạy của một chương trình đến kế hoạch giảng dạy của một môn học, kế hoạch giảng dạy của bài học Quan niệm tích hợp được thể hiện rõ trong SGK phổ thông là tích hợp dọc và tích hợp ngang với nhiều nội dung tích hợp khác nhau Điều này giúp liên kết, phối hợp các tri thức, kĩ năng thuộc cùng lĩnh vực với nhau nhằm giải quyết các vấn đề, tình huống

Có thể nói, trong giáo dục và cụ thể trong dạy học, tích hợp có thể được hiểu là sự gắn kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một kế hoạch để đảm bảo tính thống nhất, hài hòa của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất

* Dạy học tích hợp

Xu hướng phát triển chương trình giáo dục phổ thông hiện nay ở nhiều nước trên thế giới chính là dạy học tích hợp Đối với nước ta, từ những năm 90 của thế kỉ XX đến nay, vấn đề xây dựng môn học tích hợp đang được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng ở nhiều trường phổ thông trong các bậc học Và thực tiễn đã chứng minh, tích hợp giúp làm tăng hiệu quả của các hoạt động giáo dục

Việc định nghĩa chương trình tích hợp đã là đề tài bàn luận từ đầu thế

kỉ XXI, theo Trần Trung Ninh (Trường ĐHSP Hà Nội), hơn một trăm năm

Trang 24

17

qua, các nhà lí thuyết đã đưa ra ba loại hoạt động tích hợp cơ bản: tích hợp đa

môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn

Tích hợp đa môn là hình thức giảng dạy các môn học riêng rẽ nhưng chúng lại liên quan với nhau, có chung một nhận định hướng về nội dung và phương pháp dạy học dù mỗi môn lại có chương trình riêng Xoay quanh một chủ đề, đề tài chung, các GV sẽ cùng thiết kế nội dung dạy học, tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp các kiến thức của các môn học có liên quan

Theo tiếp cận liên môn, giáo viên sẽ tổ chức chương trình học tập xoay quanh nội dung: các chủ đề, khái niệm, kĩ năng liên ngành, liên môn Với đặc điểm của các bộ môn có nội dung gần gũi với nhau, nhiều môn học liên quan sẽ được kết hợp thành một môn học mới có hệ thống với những chủ

đề nhất định, xuyên suốt trong nhiều cấp học Ví dụ: Môn “Nghiên cứu xã hội học và môi trường” có vẻ rất mới mẻ, khác lạ nhưng được kết hợp từ các môn Địa lí, Lịch sử, Sinh học, Xã hội, Giáo dục công dân, Hóa học, Vật lí Trong cách tiếp cận này, giáo viên tổ chức nội dung học tập giúp học sinh vận dụng những KNS trong môn học để giải quyết vấn đề thực tế

Tích hợp xuyên môn chú trọng phát triển năng lực của HS qua nhiều môn học Trong cách tiếp cận này, nội dung dạy học không chỉ được thiết kế nhằm phát triển KNS, kĩ năng môn học trong bối cảnh của thực tế cuộc sống

mà chương trình học tập còn xoay quanh các vấn đề mà người học quan tâm Bên cạnh đó, một trong những cách để tích hợp xuyên môn được hiệu quả là học tập dựa trên dự án

Ngày nay, nhà trường hướng tới hai quan điểm trong dạy học là liên môn và xuyên môn Mỗi quan điểm có đặc trưng khác nhau, liên môn phối hợp có sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết tình huống, còn quan điểm xuyên môn chú trọng phát triển ở học sinh những kĩ năng có thể áp dụng ở mọi nơi

Trang 25

18

Bên cạnh đó, còn có cách phân chia tích hợp khác của các nhà giáo dục là tích hợp dọc (Vertical Integration) và tích hợp ngang (Horizontal Integration) Tích hợp dọc là “Tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau”, còn tích hợp ngang là “Tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vục khoa học khác nhau xung quanh một chủ đề” [21, tr.11, 12]

Theo tác giả Trần Trung Ninh, để việc tích hợp có hiệu quả cao thì phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các môn học và vận dụng linh hoạt các phương pháp tích hợp ở mỗi lĩnh vực kiến thức cần đạt Ngoài ra, cần tăng cường các giờ học ngoại khóa, giờ thực hành, những nội dung theo chủ đề, giảm tải nội dung giảng dạy cho giáo viên… Hệ thống bài tập và kiểm tra đánh giá phải mở, gắn với thực tiễn, bài tập có sự vận dụng kiến thức từ nhiều môn học và hướng vào việc phát triển KNS cho học sinh, kích thích trí tò mò, ham muốn tìm hiểu, giải quyết vấn đề từ đó tạo động lực cho việc học

Vốn tri thức của mỗi người là vô cùng phong phú, nó được tích hợp từ nhiều lĩnh vực của khoa học, theo tác giả Đinh Quang Báo - thường trực ban chỉ đạo đề án đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015 thì việc dạy học tích hợp đã trở thành nguyên lí cơ bản của giáo dục hiện đại, phần nội dung môn học trong sách giáo khoa cần được trình bày lại, không nên theo đơn vị bài học, tiết học, mà nên xây dựng thành các chủ đề nội dung

ứng với các tình huống thích hợp

Tích hợp trong dạy học tạo nên cách tiếp cận mới từ nội dung sang hướng phát triển năng lực người học, đây là bước tiến quan trọng của khoa học giáo dục Xu hướng này góp phần hình thành, rèn luyện cho HS các kĩ năng cần thiết như: tư duy, phân tích, tổng hợp, khái quát và trừu tượng hóa trong giáo dục

Trang 26

19

1.1.2.2 Ý nghĩa của dạy học tích hợp

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay, học sinh cần nhiều kỹ năng và kiến thức không chỉ gói gọn trong một môn học Vấn đề đặt ra lúc này là phải đưa vào nội dung giảng dạy và học tập nhiều kiến thức liên quan tới xã hội và đời sống hơn nữa để đảm bảo cho mỗi học sinh biết vận dụng kiến thức được học trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ; qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực Dạy học tích hợp giúp cho các nội dung kiến thức được gắn với thực tiễn đời sống tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm, giải quyết các vấn đề Chính vì thế, dạy học tích hợp cơ ưu thế trong việc phát huy tối đa nặng lực, phẩm chất của các em, để các em trưởng thành, tiến bộ và là những công dân có ích cho xã hội

Dạy học tích hợp khích lệ người học tiếp cận nội dung một cách chủ động, toàn diện hơn:

- Trong quá trình học tập, toàn bộ kiến thức, kĩ năng, thái độ của người học được gắn với thực tiễn

- Mọi kiến thức không còn bó hẹp, khép kín trong một môn học mà được mở rộng, giúp HS có khả năng tổng hợp kiến thức để giải quyết vấn đề đời sống hằng ngày

- Thông qua tích hợp, các nội dung kiến thức trùng lặp được loại bỏ

- Phương pháp đổi mới, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh và trao cơ hội để học sinh tự học, tự tìm tòi, phát triển phẩm chất nhân văn ở người học

1.1.3 Cơ sở tích hợp giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh trong môn Ngữ văn ở Trung học cơ sở

1.1.3.1 Cơ sở tâm lí, nhận thức của học sinh Trung học cơ sở và nhu cầu

giáo dục kĩ năng sống

Trang 27

20

Lứa tuổi THCS bao gồm những em từ 11 đến 15 tuổi đang học từ lớp

6, 7, 8, 9 trường THCS Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân, tâm sinh lí lứa tuổi Thời kì này chiếm vị trí vô cùng quan trọng bởi nó là bước chuyển tiếp từ trẻ thơ sang tuổi trưởng thành Thiếu niên có những sự thay đổi về mặt sinh lí, các mối quan hệ người lớn, bạn cùng tuổi, học tập và hoạt động xã hội… với những dấu hiệu đầu tiên của sự trưởng thành

* Những thay đổi về mặt sinh lí

- Ở giai đoạn này, do hưng phấn mạnh và lan tỏa nhanh của hệ thần kinh cấp cao nên trẻ rất khó tập trung dẫn dến các em có những hành vi thừa

và các em dễ xúc động, khó làm chủ cảm xúc của mình

Quá trình hưng phấn chiếm ưu thế rõ rệt, sự ức chế bị kém đi dẫn đến nhiều khi thiếu niên không làm chủ được mình, dễ bực tức, cáu gắt, , nên dễ

vi phạm kỉ luật

Ở lứa tuổi này, thiếu niên đã có cảm giác và rung cảm giới tính Các

em thường giữ kẽ, xấu hổ, thẹn thùng và những rung cảm này thường thất thường, lúc thấy sợ, lúc thấy thích,… Tuy nhiên, thiếu niên lại chưa biết đánh giá, kiểm tra tình cảm và hành vi, chưa kìm hãm được ham muốn một cách đúng đắn

Từ những đặc điểm phân tích trên, chúng tôi cho rằng cần giúp các em thiếu niên có hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lí của bản thân, đồng thời cần hình thành và phát triển các KNS cơ bản như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng đánh giá bản thân, kĩ năng tự kiểm soát bản thân, kĩ năng ra quyết định,…

* Đối với quá trình học tập của thiếu niên

Thái độ tự giác học tập của thiếu niên tăng lên rõ rệt Trong hoạt động học tập của mình, chúng dần chuyển sang một trình độ mới cao hơn, có liên quan đến thái độ đối với kiến thức sâu sắc, chân chính mà những tri thức này đều có ý nghĩa cá nhân Nhưng đôi khi ta thấy mâu thuẫn: sự mong muốn trau

Trang 28

21

dồi tri thức mâu thuẫn với thái độ bàng quan và thậm chí thái độ xấu với việc học tập ở trường, thái độ “phớt lờ” đối với các điểm số Điều đó có thể do phản ứng độc đáo đối với những thất bại nào đó trong học tập, nhưng do lòng

tự trọng đôi khi gây ra nguyện vọng che dấu thái độ thực sự với những thất bại

đó và học sinh làm ra vẻ thờ ơ, lãnh đạm với thành tích học tập, thậm chí còn ra

vẻ “dũng cảm” với những thất bại ấy Từ những đặc điểm nói trên trong hoạt động học tập của học sinh, cần hình thành và phát triển một số KNS cơ bản như sau: kĩ năng tự xác định mục tiêu khi tham gia các hoạt động, kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xây dựng kế hoạch hành động,…

* Đối với quá trình giao tiếp bạn bè của thiếu niên

Với lứa tuổi thiếu niên, các em rất chú trọng những giao tiếp bạn bè và đôi khi còn đặt nó ở mức cao hơn so với học tập Ở độ tuổi này, thiếu niên một mặt biểu hiện rất rõ khát vọng được giao tiếp với bạn, đồng thời mong được thừa nhận, được tôn trọng Sự bất hòa trong quan hệ bạn bè với trẻ, sự thiếu bạn thân hay sự đổ vỡ tình bạn đều tạo ra những cảm xúc nặng nề thậm chí trẻ coi như là bi kịch cá nhân Sự đơn độc là trải nghiệm quá nặng nề đối với trẻ vị thành niên Chính vì vậy, nhiều trẻ đi tìm những người bạn, hội, bè phái ở bên ngoài lớp học, nhà trường,… và ở đây trẻ có thể phải trải nghiệm những bi kịch cuộc đời thực sự Để tránh cho thiếu niên bị bạn bè xấu lôi kéo,

ép buộc làm theo những điều tiêu cực hoặc hành vi xấu nguy hại cho bản thân

và những người xung quanh, cần rèn cho trẻ kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự xác định mục đích khi tham gia hoạt động, kĩ năng lắng nghe, kĩ năng đánh giá bản thân,…

* Đối với quá trình giao tiếp với người lớn

Trong mối quan hệ giữa trẻ em với người lớn, các em luôn muốn được tôn trọng, bình đẳng, được đối xử như người lớn Nếu được định hướng và quan tâm đúng đắn thì đặc điểm này sẽ có tác dụng tích cực giúp thiếu niên sớm hình thành ý thức trách nhiệm với gia đình, xã hội Tuy nhiên, nếu người

Trang 29

22

lớn không hiểu, đồng cảm và hay ra lệnh thì với nhu cầu thể hiện bản thân mình, các em sẽ có những thái độ tiêu cực bằng cách này hay cách khác Đặc biệt khi các em cảm thấy bị xúc phạm đến lòng tự trọng, tự lập, tự ái thì những mâu thuẫn càng trở nên căng thẳng HS THCS có thể không nghe lời, cãi lại người lớn, bảo vệ quan điểm riêng bằng lời nói, việc làm, chống đối người lớn hoặc bỏ nhà ra đi,… Những phản ứng tiêu cực đó khiến các em khó kiểm soát cảm xúc và hành vi, đôi khi lại đẩy các em đến các tệ nạn xã hội không mong muốn Chính vì vậy, để tránh những khủng hoảng trong giai đoạn này, cần hình thành và rèn luyện ở các em ý thức trách nhiệm, kĩ năng lắng nghe, kĩ năng tự tin, kĩ năng trình bày ý tưởng của bản thân,…

* Sự tự ý thức của thiếu niên lứa tuổi THCS

Đây là giai đoạn có sự phát triển mạnh mẽ của các mối quan hệ xã hội

và giao tiếp ở thiếu niên nên ở các em đã xuất hiện nhu cầu tự đánh giá, tự khẳng định mình một cách rõ rệt Các em bắt đầu ý thức được những mặt mạnh, mặt hạn chế của bản thân và mong muốn được phân tích, đánh giá Ban đầu, các em dựa vào sự đánh giá của những người gần gũi và uy tín với mình Sau đó, các em dần có khuynh hướng độc lập phân tích Tuy nhiên, năng lực

tự đánh giá còn hạn chế do kinh nghiệm sống, vốn sống còn hạn hẹp Điều đó dẫn đến những mâu thuẫn giữa kì vọng của bản thân và thực tế các đang có và thể hiện ở tập thể Vì vậy, thông qua hoạt động sống hướng vào bản thân, học sinh THCS hình thành cho mình khả năng đánh giá và tự đánh giá

1.1.3.2 Truyện hiện đại Việt Nam

Trong nền văn học Việt Nam, văn xuôi ra đời muộn, phải đến cuối thế

kỉ XIX - đầu thế kỉ XX mới thực sự xuất hiện truyện và kí viết bằng chữ quốc ngữ Với tốc độ phát triển mau lẹ, đặc biệt là giai đoạn 1930 - 1945, quá trình hiện đại hóa các thể văn xuôi có nhiều đổi mới về cốt truyện, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ, nghệ thuật trần thuật,… thoát ra khỏi đặc điểm của văn xuôi trung đại

Trang 30

Theo Từ điển văn học, “Truyện có hai thành phần chủ yếu là cốt truyện

và nhân vật, thủ pháp nghệ thuật chính là kể” [12, tr.450] Truyện là sản phẩm của tác giả chứa đựng nhiều yếu tố tưởng tượng, hư cấu

Với những đặc điểm như vậy, tự sự là loại hình có ưu thế trong việc tái hiện lên bức tranh rộng lớn, đặc sắc về mọi mặt đời sống, xã hội, con người, lịch sử; phản ánh chân thực đời sống nên rất gần gũi với học sinh THCS Thể loại truyện ngắn trong chương trình phổ thông hướng đến bồi dưỡng cho HS tình cảm đẹp, góp phần hình thành, rèn luyện KNS cho HS

1.1.3.3 Truyện hiện đại trong chương trình Trung học cơ sở và Ngữ văn lớp 6

Với tổng số 595 tiết của bốn khối theo phân phối chương trình ban hành năm 2005 thì số tiết về văn bản là 173 tiết trong đó các tiết Văn học Việt

Trang 31

24

Nam chiếm số lượng lớn gồm 144 tiết, còn lại là Văn học nước ngoài với 29 tiết Văn học hiện đại Việt Nam chiếm 104 tiết (72%) cho thấy vị trí đặc biệt của giai đoạn này trong chương trình Ngữ văn nói chung và phần Văn học Việt Nam nói riêng

Đối với các tác phẩm truyện hiện đại Việt Nam, hầu hết mỗi bài đều được phân phối hợp lí là hai tiết Cụ thể các văn bản truyện hiện đại Việt Nam đều có những đề tài phong phú, đa dạng:

Bảng 1.1 Văn bản truyện hiện đại Việt Nam trong chương trình

Trung học cơ sở

Lớp 6

Bài học đường đời đầu tiên

(Trích Dế Mèn phiêu lưu kí) Tô Hoài 2

Sông nước Cà Mau (trích) Đoàn Giỏi 1 Bức tranh của em gái tôi Tạ Duy Anh 2

Bến quê (Đọc thêm) Nguyễn Minh Châu 2 Những ngôi sao xa xôi Lê Minh Khuê 2

Trang 32

25

Trong chương trình Ngữ văn lớp 6, các văn bản truyện hiện đại Việt Nam được phân phối ở học kì II với các chủ đề như:

- Ca ngợi vẻ đẹp của quê hương, đất nước: rộng lớn, hùng vĩ, đầy sức

sống hoang dã (Sông nước Cà Mau)

- Ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động với tư thế làm chủ thiên nhiên,

hùng dũng, mạnh mẽ (Vượt thác)

- Ca ngợi những phẩm chất trong tâm hồn của con người và phê phán

những tính xấu, thói ích kỉ,… (Bài học đường đời đầu tiên, Bức tranh của em

gái tôi)

Đây đều là những chủ đề gần gũi, thiết thực, trang bị cho HS lớp 6 kiến thức, kĩ năng, hình thái thái độ, nhân cách tốt đẹp, cách đối nhân xử thế trong đời sống hàng ngày Trong quá trình giảng dạy truyện hiện đại Việt Nam, giáo viên tích hợp những KNS phù hợp để HS được tiếp cận văn bản theo phương pháp mới, tích cực, chủ động

1.1.3.4 Sự cần thiết tích hợp giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở

Tích hợp giáo dục KNS cho HS THCS có ý nghĩa lớn trong việc thực hiện những nhiệm vụ cơ bản của môn Ngữ văn “Dạy làm người”, đặc biệt là những con người trong xã hội hội nhập ngày nay

Trong môn Ngữ văn, ba phân môn Đọc hiểu, tiếng Việt và Tập làm văn có điểm tương đồng là giúp hình thành cho học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt trong tiếp nhận và tạo lập văn bản Việc tích hợp trong chính môn Ngữ văn sẽ tận dụng tối đa khả năng kết hợp giữa các nội dung học tập để thực hiện mục tiêu đặt ra một cách hiệu quả, tiết kiệm thời gian, tránh sự quá tải, trùng lặp hoặc tách biệt, rời rạch như chương trình SGK trước đây Từ đó, thống nhất mục tiêu hướng tới việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và cao hơn là phát triển tư duy, năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt Với trục tích hợp là các kiểu văn bản, Chương trình Ngữ văn THCS

Trang 33

xu thế hội nhập Trong môn Ngữ văn THCS, các văn bản truyện hiện đại Việt Nam đang có vai trò nhất định trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục này

Trong đời sống hiện đại, những người làm chương trình và những nhà giáo dục phải đặc biệt quan tâm đến quyền lợi và nhu cầu phát triển của HS trong quá trình giáo dục các chuẩn mực xã hội và các kĩ năng sống Để HS có những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống an toàn, lành mạnh, hiệu quả cũng như làm cho HS tích cực, hứng thú trong học tập, chủ động lĩnh hội tri thức, việc giáo dục KNS trong môn Ngữ văn cần được tiếp cận theo 2 phương diện: từ nội dung bài học và từ phương pháp triển khai các nội dung bài học Ở phương diện nội dung bài học, môn Ngữ văn có nhiều văn bản hướng đến việc phát triển các giá trị sống cho người học, hình thành lối sống, cách ứng xử

có văn hóa trong các tình huống giao tiếp đa dạng của đời sống Bên cạnh đó, các phương pháp dạy học tích cực lại phát huy được hết vai trò trong việc giáo dục KNS, dựa trên sự tương tác giữa nội dung bài học với những hiểu biết, kinh nghiệm vốn có của bản thân người học và quá trình đối thoại, tương tác

1.1.4 Tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học văn bản truyện hiện đại cho học sinh lớp 6

1.1.4.1 Một số kĩ năng sống tích hợp trong chương trình Ngữ văn Trung học

cơ sở

Dựa vào các nội dung trong chương trình Ngữ văn THCS, chúng tôi nhận thấy một số KNS có thể tích hợp cho HS thông qua việc dạy học các văn

Trang 34

Khi đã xác định đúng giá trị của bản thân, con người sẽ có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác và có thể cảm thông được với người khác Từ đây, con người mới học được cách sống tích cực, lạc quan, có thể đưa ra những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội Ngược lại, nếu con người không thể đánh giá đúng về bản thân sẽ dẫn đến những mục tiêu sai lầm, những thất bại trong cuộc sống

Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm qua thực

tế, đặc biệt là qua giao tiếp với thế giới xung quanh, cần có sự lắng nghe tích cực, sự thấu hiểu và tư duy tiến bộ

* Kĩ năng xác định giá trị

Giá trị là những điều con người cho là có ý nghĩa, quan trọng đối với bản thân, là phẩm chất mà mỗi chúng ta có Giá trị còn là những gì quý giá con người cần bảo vệ, gìn giữ, tôn trọng và theo đuổi, nó giúp định hướng cho suy nghĩ, hành động, lối sống của mỗi người trong cuộc sống Bên cạnh đó, giá trị còn là những chuẩn mực đạo đức cao nhất mà con người mong muốn, hay có thể là những ý kiến, thái độ đối với một điều gì đó

Trong chúng ta, ai cũng có những giá trị riêng không giống ai Kĩ năng xác định giá trị là khả năng con người nhận ra và hiểu rõ những giá trị của cá nhân mình để từ đó biết chấp nhận sự khác biệt, biết tôn trọng người

Trang 35

cả nền văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc

* Kĩ năng ra quyết định

Với sự phát triển của một xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa như ngày nay, bất cứ ai cũng phải đối mặt với những tình huống, những vấn đề cần giải quyết, buộc con người phải lựa chọn, đưa ra quyết định hành động

Kĩ năng ra quyết định là khả năng con người đưa ra một loạt các kết luận và hành động của bản thân để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống theo mong muốn của bản thân

Khả năng ra quyết định tốt giúp chúng ta đạt được những mục tiêu mình mong muốn và tránh được những sai lầm có thể để lại hậu quả không tốt Chính vì thế, mỗi người phải tự ra quyết định cho bản thân dựa trên những ý kiến tham khảo đáng tin cậy nhưng không nên phụ thuộc hay trông chờ vào người khác

Để đưa ra một quyết định chín chắn, phù hợp với mình, chúng ta cần:

Trang 36

Để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, con người phải trang bị cho mình một số kĩ năng khác như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng thu thập thông tin, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo,…; giúp củng cố, tạo động lực, sự quyết đoán

* Kĩ năng thể hiện sự cảm thông

Cảm thông là việc đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh của người khác để nhận biết, thấu hiểu, chấp nhận họ và những điều họ phải trải qua Từ đó, chúng ta có thể hiểu rõ những cảm xúc: buồn, vui, đau khổ… của người khác Cảm thông có nghĩa là bạn không thể tỏ ra ích kỉ, thờ ơ được và nó phải được bộc lộ bằng sự quan tâm, chăm sóc người khác

Kĩ năng thể hiện sự cảm thông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình giao tiếp và ứng xử, khiến cho con người trở nên ấm áp, thân thiện,

có lòng trắc ẩn và dễ tha thứ hơn Điều này giúp cải thiện một cách tích cực các mối quan hệ xã hội, nhất là trong bối cảnh hiện nay, chúng ta hội nhập và tiếp xúc với một xã hội đa văn hóa, đa sắc tộc

Kĩ năng thể hiện sự cảm thông được hình thành dựa trên kĩ năng nhận thức và kĩ năng xác định giá trị, hơn nữa lại rất cần thiết đối với kĩ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, kiềm chế cảm xúc,…

* Kĩ năng giải quyết vấn đề

Trang 37

30

Trong cuộc sống, luôn luôn nảy sinh nhiều vấn đề ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào, đòi hỏi con người cần trang bị cho bản thân kĩ năng giải quyết vấn

đề Kĩ năng này có ưu thế giúp con người quyết định, lựa chọn phương án tối

ưu và thực hiện theo phương án đó để giải quyết tình huống/ vấn đề gặp phải trong cuộc sống một cách hiệu quả nhất Muốn vậy, con người cần trang bị cho mình những kĩ năng có liên quan như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ,…

Để vấn đề được giải quyết có hiệu quả, chúng ta cần:

- Tìm kiếm thông tin để xác định rõ vấn đề đang gặp phải

- Đề ra những phương án, các cách giải quyết phù hợp

- Suy nghĩ, giả định trong đầu kết quả xảy ra nếu ta lựa chọn cách giải quyết nào đó

- Tìm hiểu những cảm xúc của cá nhân nếu quyết định thực hiện phương án đó

- Đối chiếu với các phương án khác nhau để đưa ra quyết định cuối cùng

- Hành động theo quyết định đã phân tích, lựa chọn trước đó

- Xem xét lại những phản hồi về kết quả để rút kinh nghiệm cho những lần ra quyết định sau

Tầm quan trọng của kĩ năng giải quyết vấn đề cũng như kĩ năng ra quyết định, nó giúp con người có thể ứng phó một cách tích cực trước những vấn đề vướng mắc của cuộc sống

* Kĩ năng tư duy sáng tạo

Sáng tạo là quá trình tìm tòi, suy nghĩ, nghiên cứu ra những giá trị mới

về vật chất, tinh thần hoặc tìm ra cái mới Như vậy, tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và thấy được những cách giải quyết mới, tạo điều kiện tìm ra những phương án tối ưu

Kĩ năng tư duy sáng tạo giúp kích thích trí tưởng tượng, óc quan sát, giúp tư duy của con người trở nên năng động, có khả năng phán đoán và thích nghi, không bị bó hẹp vào những kinh nghiệm có sẵn, mở mang tầm nhận thức

Trang 38

31

Tư duy sáng tạo là một KNS quan trọng bởi trong cuộc sống, con người luôn phải đối mặt với những tình huống bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra không đoán trước được Bằng tư duy nhạy bén, con người có thể dễ dàng vượt qua và có cách ứng phó linh hoạt

Bên cạnh các kĩ năng trên, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng đảm nhận

trách nhiệm, kĩ năng ứng phó với căng thẳng, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng tư duy phê phán,… cũng có vai trò rất quan

trọng và cần thiết có thể giáo dục cho HS thông qua dạy học môn Ngữ văn

1.1.4.2 Kĩ năng sống tích hợp cho học sinh lớp 6 trong văn bản truyện hiện đại Việt Nam

Bảng 1.2 Kĩ năng sống tích hợp trong văn bản

truyện hiện đại Việt Nam lớp 6

- Dế Mèn coi thường, bắt nạt Dế Choắt

- Dế Mèn trêu chọc chị Cốc dẫn đến hậu quả nghiêm trọng:

Dế Choắt chết

- Dế Mèn ân hận về hành vi của mình

- Kĩ năng tự nhận thức: Tự nhận thức và xác định cách ứng xử: cần sống khiêm tốn, biết mình biết người, biết tôn trọng người khác

- Kĩ năng thể hiện sự cảm thông: biết đặt mình vào vị trí của người khác, chấp nhận sự khác biệt

- Kĩ năng giải quyết vấn đề: Nhận biết, có cách ứng xử và giải quyết được những vấn đề diễn ra trong đời sống hàng ngày

- Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm: dám nhận trách nhiệm với lỗi

Trang 39

- Kĩ năng tự nhận thức, xác định giá trị vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người vùng đất phương Nam

của em gái tôi

- Khi phát hiện ra tài năng của người em, người anh mặc cảm,

tự ti, ghen tị với em

- Nhờ lòng nhân hậu của người em, người anh đã nhận ra lỗi lầm

- Kĩ năng tự nhận thức, xác định giá trị: nhận ra những ưu, nhược điểm, những giá trị riêng của bản thân và của người khác để từ

đó có thái độ sống đúng đắn

- Kĩ năng thể hiện sự cảm thông:

cần đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu và chấp nhận những ưu/ nhược điểm của mỗi người

- Kĩ năng giải quyết vấn đề:

cách ứng xử của các thành viên trong gia đình khi xảy ra hiểu lầm

đẹp rắn rỏi, mạnh mẽ như dượng Hương Thư đã chiến thắng con thác dữ trên sông Thu Bồn

- Kĩ năng tự nhận thức: vẻ đẹp phong phú, hùng vĩ của thiên nhiên trên con sông Thu Bồn và

vẻ đẹp của người lao động

Trang 40

để giáo dục KNS là con đường ngắn và đạt hiệu quả cao

Ngày đăng: 28/04/2020, 14:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w