Trong các nghiên cứu của mình, các tác giả đã đưa ra quan niệm về năng lực GQVĐ, năng lực GQVĐ toán học, các thành tố của năng lực GQVĐ toán học; một số biện pháp để bồi dưỡng, phát triể
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
HOÀNG THỊ THANH
D¹Y HäC GI¶I BµI TËP H×NH HäC LíP 8 TRUNG HäC C¥ Së CHO HäC SINH MIÒN NóI THEO H¦íNG PH¸T TRIÓN N¡NG LùC GI¶I QUYÕT VÊN §Ò Vµ S¸NG T¹O
Chuyên ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Toán
Mã số: 9140111
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường tại:
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
vào … giờ , ngày… tháng… năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện Quốc Gia, Hà Nội
hoặc Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 311 năm 2013 của Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI
Chương trình giáo dục phổ tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo (12/2018) hướng đến 10 năng lực chung cốt lõi trong đó có năng lực GQVĐ và ST
Như vậy, năng lực GQVĐ và ST chính là một trong những năng lực chung cốt lõi cần phải bồi dưỡng và phát triển cho người học
- Toán học, đặc biệt nội dung hình học, là môn học có tiềm năng lớn để phát triển năng lực GQVĐ và ST cho HS
Năng lực GQVĐ và ST của người học được hình thành và phát triển thông qua nhiều môn học, nhiều lĩnh vực và nhiều hoạt động giáo dục khác nhau, tuy nhiên có thể thấy môn Toán có vai trò quan trọng và nhiều ưu thế để phát triển năng lực này cho HS phổ thông
Chương trình hình học lớp 8 với những kiến thức hình học cơ bản, quan trọng trong chương trình hình học ở trường phổ thông, là nền tảng để
HS học tập và nghiên cứu hình học ở các lớp cao hơn, rất thuận lợi để giáo viên (GV) khai thác phát triển năng lực GQVĐ và ST cho HS
- Việc phát triển năng lực GQVĐ và ST cho HS trung học cơ sở (THCS) miền núi trong dạy học môn Toán hiện nay còn nhiều hạn chế
Thực tiễn dạy học ở trường phổ thông miền núi hiện nay vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; việc dạy học phát triển năng lực GQVĐ và ST cho HS nói chung chưa được nhiều GV chú trọng đúng mức, chưa được nhận thức đầy đủ và còn lúng túng trong việc lựa chọn nội dung cũng như phương pháp (PP) vận dụng Vì vậy, cần thiết phải có những nghiên cứu thực tiễn và những giải pháp sư phạm phù hợp với đối tượng
HS miền núi phát triển năng lực GQVĐ va ST cho HS, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học
- Vấn đề phát triển năng lực GQVĐ và ST cho HS cần được tiếp tục nghiên cứu
Từ lâu, phát triển năng lực GQVĐ và năng lực ST cho người học đã được xác định là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục của rất nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Có nhiều nghiên cứu cả trong nước và quốc tế về vấn đề phát triển năng lực GQVĐ và năng lực
Trang 4ST Các công trình nghiên cứu đã có đã góp phần giải quyết được phần nào những đòi hỏi của thực tiễn dạy học Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề dạy học phát triển năng lực GQVĐ và ST cho
HS miền núi
Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài luận án "Dạy học
giải bài tập hình học lớp 8 trung học cơ sở cho HS miền núi theo hướng phát triển năng lực GQVĐ và ST"
2 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
* Nghiên cứu về năng lực GQVĐ
Cùng với ST, GQVĐ từ lâu đã là chủ đề nghiên cứu được các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm do vai trò quan trọng của nó Ở Mỹ, từ những năm 1980, Hội đồng GV Toán học Quốc gia đã khẳng định, mục tiêu chính của dạy học Toán học phải là để HS trở thành người có đủ khả năng/thành thạo GQVĐ Bộ Lao động Mỹ (The U S Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc Kết luận của họ là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc, trong đó có kĩ năng GQVĐ (Problem solving skills) và kĩ năng TDST (Creative thinking skills) Ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Canada, Singapore, Úc, Anh, Kĩ năng GQVĐ và kĩ năng TDST chính là những kĩ năng không thể thiếu của người lao động
Trên thế giới, các nghiên cứu ở thế kỉ trước chủ yếu tập trung nghiên cứu về dạy học GQVĐ, trong đó có thể kể đến I Ia Lecne (1977), G Polya (1967), Sang thế kỉ XXI, các nghiên cứu về năng lực GQVĐ và việc đánh giá năng lực GQVĐ được đặc biệt quan tâm, nổi bật có nghiên cứu của tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế – OECD thông qua Chương trình đánh giá HS quốc tế - PISA (2003, 2012, 2015)), Jean - Paul Reeff, Anouk Zabal, Christine Blech (2006),…
* Nghiên cứu về năng lực ST
Khoa học ST ra đời từ rất sớm và đã tồn tại hơn 16 thế kỷ Người có công lớn trong việc nghiên cứu về ST một cách có hệ thống là nhà tâm lý học Mỹ J.P Guiford Ông đưa ra mô hình phân định cấu tạo trí tuệ gồm hai khối cơ bản là: trí thông minh và ST Ông xem ST là một thuộc tính của tư duy (TD), là một phẩm chất của quá trình TD và nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt động ST: thậm chí ST là chỉ báo quan trọng hơn là trí thông minh
về năng khiếu, tiềm năng của một người Bên cạnh đó còn có các tên tuổi lớn như: Holland (1959), May (1961), Mackinnon D.W (1962), Yahamoto
Trang 5Kaoru (1963), Torrance E.P (1962, 1963, 1965, 1979, 1995), Barron (1952, 1955, 1981, 1995), Getzels (1962, 1975), F Zwicky (1926), X.L Rubinxtein và X.L Vưgôxki (1985), G S Altshuller (1956), A Osbon (1938), Edward de Bono (1970, 1985), Tony Buzan (1970),
Nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực ST cho HS trong nhà trường có: G Polya (1964), J Reid và F King (1976), E P Torrance (1965), Omizumi Kagayaki (1991),
Những nghiên cứu đã có chỉ ra rằng, năng lực GQVĐ thường không tách khỏi năng lực ST, là cơ sở của năng lực ST vì ST nảy sinh trong quá trình GQVĐ
2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
* Nghiên cứu về năng lực GQVĐ
Nghiên cứu về năng lực GQVĐ nói chung có thể kể đế Vũ Văn Tảo
và Trần Văn Hà (1996), Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Lan Phương (2016), Nghiên cứu về phát triển năng lực GQVĐ trong dạy học môn Toán có các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương Trang (2002), Nguyễn Anh Tuấn (2003), Phan Anh Tài (2014), Từ Đức Thảo (2012), Nguyễn Thị Lan Phương (2015), Trong các nghiên cứu của mình, các tác giả đã đưa ra quan niệm về năng lực GQVĐ, năng lực GQVĐ toán học, các thành tố của năng lực GQVĐ toán học; một số biện pháp để bồi dưỡng, phát triển và đánh giá năng lực GQVĐ cho HS trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông
* Nghiên cứu về năng lực ST
Nghiên cứu và truyền bá về PP luận ST và đổi mới ở Việt Nam có thể kể đến Phan Dũng (2010) và Dương Xuân Bảo(2007) Nghiên cứu về
ST trong lĩnh vực tâm lí học có các tác giả Nguyễn Huy Tú (1996), Đức
Uy (1999), Huỳnh Văn Sơn (2010), Phạm Thành Nghị (2013),… Các tác giả đã tập trung vào các vấn đề chung của ST như: thế nào là ST, quá trình
ST, sản phẩm ST; phân tích một số phẩm chất cơ bản của nhân cách ST và năng lực ST; đưa ra những chỉ dẫn bồi dưỡng năng lực ST,
Nghiên cứu về dạy học ST trong môn Toán có: Hoàng Chúng (1964), Phạm Văn Hoàn, Nguyễn Gia Cốc, Trần Thúc Trình (1981), Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy (1996), Phạm Gia Đức, Phạm Đức Quang (2007), Nguyễn Cảnh Toàn (1992), Tôn Thân (1995) và Trần Luận (1996),… Những nghiên cứu nói trên về ST trong dạy học toán chủ yếu tập trung vào bồi dưỡng, phát triển TDST cho HS
Về năng lực GQVĐ và ST, chưa có nghiên cứu đưa ra quan niệm về năng lực này Năng lực GQVĐ và ST lần đầu được đưa ra trong Chương trình giáo dục phổ thổng tổng thể (dự thảo)(2017) và được chính thức công
bố năm 2018 Trong Văn bản này, năng lực GQVĐ và ST được xác định là
Trang 6một trong các năng lực chung cốt lõi mà giáo dục phổ thông hướng tới, văn bản không đưa ra quan niệm mà chỉ đưa ra các thành phần của năng lực này
và các yêu cầu cần đạt đối với từng cấp học Chính vì vậy, đến nay, chưa có nghiên cứu về đề tài dạy học giải bài tập hình học cho HS miền núi theo hướng phát triển năng lực GQVĐ và ST
ở trường THCS miền núi
4 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình dạy học giải bài tập hình học lớp 8 ở trường THCS miền núi
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp các nghiên cứu lí luận liên quan đến năng lực GQVĐ, năng lực GQVĐ trong môn Toán, năng lực ST, năng lực ST trong môn Toán
- Làm sáng tỏ quan niệm về năng lực GQVĐ và ST trong môn Toán, biểu hiện đặc trưng của năng lực GQVĐ và ST của HS THCS trong môn Toán, biểu hiện của năng lực GQVĐ và ST của HS miền núi trong giải bài tập hình học lớp 8
- Nghiên cứu lí luận về dạy học giải bài toán hình học theo hướng phát triển năng lực người học
- Tổng hợp các nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ của HS dân tộc, miền núi các lớp cuối cấp THCS
- Nghiên cứu thực trạng dạy học giải bài tập hình học, năng lực GQVĐ và ST của HS lớp 8 ở một số trường THCS miền núi
- Đề xuất một số biện pháp dạy học giải bài tập hình học lớp 8 cho
HS miền núi theo hướng phát triển năng lực GQVĐ và ST
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất
6 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học, nếu GV xây dựng được các biện pháp sư phạm khắc phục được những khó khăn, hạn chế của HS miền núi nói chung,
HS dân tộc ít người nói riêng và tạo cơ hội cho HS thường xuyên được thảo luận, giao tiếp, rèn luyện các bước trong quá trình giải GQVĐ thì có thể góp
Trang 7phần phát triển năng lực GQVĐ và ST cho HS miền núi cũng như nâng cao chất lượng dạy và học hình học lớp 8 ở trường phổ thông
7 PP nghiên cứu
7.1 PP nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các tài liệu về Tâm lí học, Giáo dục học, Lí luận dạy học, những công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến dạy học giải toán hình học, đặc điểm nhận thức của HS miền núi, đến vấn đề phát triển năng lực GQVĐ và ST
- Nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, chương trình giáo
dục môn Toán, nghiên cứu SGK Toán THCS và các tài liệu hướng dẫn GV
7.2 PP quan sát, điều tra
Dự giờ, quan sát và xây dựng các mẫu phiếu khảo sát, phiếu xin ý kiến GV, HS một số trường THCS miền núi về việc dạy học giải bài toán hình học, về dạy học phát triển năng lực GQVĐ và ST trong dạy học môn Toán ở một số trường THCS, từ đó rút ra những nhận định, đánh giá phù hợp để có cơ sở thực tiễn cho các biện pháp; Phiếu xin ý kiến GV và HS
về tính khả thi, hiệu quả của các giáo án thực nghiệm
7.3 PP thực nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm sư phạm tại một số trường THCS miền núi Trên
cơ sở đó, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất trong luận án
7.4 PP nghiên cứu trường hợp
Theo dõi sự phát triển năng lực GQVĐ và ST của nhóm HS trong một khoảng thời gian thông qua tác động của một số biện pháp trong luận
án để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất
8 Những luận điểm đưa ra bảo vệ
- Mặc dù có những khó khăn, hạn chế về ngôn ngữ, về điều kiện xã hội nhưng HS bình thường ở miền núi đều có biểu hiện của năng lực
GQVĐ và ST
- Nếu GV xây dựng được các biện pháp sư phạm khắc phục được những khó khăn, hạn chế của HS miền núi nói chung, HS dân tộc ít người nói riêng và tạo cơ hội cho HS thường xuyên được thảo luận, giao tiếp, rèn luyện các bước trong quá trình GQVĐ thì có thể góp phần phát triển năng lực GQVĐ và ST cho HS miền núi cũng như nâng cao chất lượng dạy và học hình học lớp 8 ở trường phổ thông
- Những biện pháp sư phạm được đề xuất trong luận án có tính khả thi và hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hình học ở trường THCS miền núi
9 Những đóng góp của luận án
Trang 89.1 Về lí luận
- Làm sáng tỏ quan niệm về năng lực GQVĐ và ST trong môn Toán, các biểu hiện đặc trưng của năng lực GQVĐ và ST của HS THCS trong môn Toán, các biểu hiện của năng lực GQVĐ và ST của HS miền núi trong giải toán hình học lớp 8
9.2 Về thực tiễn
- Mô tả được thực trạng về năng lực GQVĐ và ST trong môn Toán
của HS lớp 8 trường THCS miền núi
- Đề xuất bốn biện pháp dạy học giải bài tập hình học lớp 8 cho HS miền núi theo hướng phát triển năng lực GQVĐ và ST
- Việc thực hiện các biện pháp đã đề xuất trong luận án góp phần phát triển năng lực GQVĐ và ST cho HS THCS miền núi, đổi mới PP và nâng cao chất lượng dạy học
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận
án gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp dạy học giải bài tập hình học lớp 8 cho
học sinh miền núi theo hướng phát triển năng lực GQVĐ và ST
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Năng lực GQVĐ trong môn Toán
1.1.1 Quan niệm về năng lực, năng lực GQVĐ
1.1.1.1 Quan niệm về năng lực
Trong luận án này, chúng tôi đồng quan điểm theo Chương trình
giáo dục phổ thông chương trình tổng thể (12/2018), Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể
Năng lực được hình thành, phát triển và bộc lộ trong hoạt động, gắn với một hoạt động cụ thể, chịu sự chi phối của các yếu tố bẩm sinh, di
truyền, môi trường và hoạt động của cá nhân Năng lực được biểu hiện ra
bên ngoài qua các hoạt động và ta có thể quan sát được, đánh giá được
1.1.1.2 Quan niệm về năng lực GQVĐ
Trang 9Trên cơ sở nghiên cứu và tham khảo những công trình đã có về năng
lực GQVĐ, trong luận án này, chúng tôi quan niệm năng lực GQVĐ là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động kiến thức, kĩ năng cùng với thái độ của bản thân để GQVĐ đặt ra khi chưa biết cách thức giải quyết ngay vấn đề đó
1.1.2 Năng lực GQVĐ trong môn Toán
1.1.2.1 Quan niệm về năng lực GQVĐ toán học
Từ quan niệm về năng lực GQVĐ ở trên và đặc điểm của môn Toán
cùng với các kết quả nghiên cứu đã có, chúng tôi cụ thể hóa năng lực GQVĐ toán học của HS là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép HS huy động kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân của HS đó nhằm giải quyết hiệu quả các nhiệm vụ trong học tập môn Toán
1.1.2.2 Các thành phần của năng lực GQVĐ toán học
Trong nghiên cứu này, tác giả đồng quan điểm theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2018), Năng lực GQVĐ toán học thể hiện
qua việc thực hiện được các hành động: Nhận biết, phát hiện được vấn đề cần giải quyết bằng toán học; Lựa chọn, đề xuất được cách thức, giải pháp GQVĐ; Sử dụng được các kiến thức, kĩ năng toán học tương thích (bao gồm các công cụ và thuật toán) để GQVĐ đặt ra; Đánh giá giải pháp
đề ra và khái quát hoá cho vấn đề tương tự
1.2 Năng lực ST trong môn Toán
1.2.1 Quan niệm về ST, TDST
1.2.1.1 Quan niệm về ST
Tổng hợp các nghiên cứu đã có về ST, có thể hiểu một cách ngắn
gọn rằng ST là hoạt động của con người tạo ra bất kì cái gì mới, có giá trị
Sản phẩm của ST có thể chỉ là những ý tưởng bộc lộc ra hay chỉ tồn tại trong dạng sản phẩm của tư duy (TD) ST dù ít dù nhiều vẫn là ST
1.2.1.2 Quan niệm về TDST
Trong luận án này chúng tôi đồng quan niệm với tác giả Tôn Thân
rằng, TDST là một dạng TD độc lập, tạo ra ý tưởng mới, độc đáo và có hiệu quả GQVĐ cao
TDST có tính chất tương đối vì cùng một chủ thể GQVĐ trong điều kiện này có thể mang tính ST nhưng trong điều kiện khác thì không, hoặc cùng một vấn đề được giải quyết có thể mang tính ST đối với người này nhưng không mang tính ST đối với người khác
1.2.2 Năng lực ST, các thành phần của năng lực ST
Trang 10Tổng hợp những nghiên cứu về ST và quan niệm năng lực đã trình bày
ở các mục trên, trong luận án này, tác giả quan niệm năng lực ST là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, giúp con người nhận ra một tính chất mới, có một cách nhìn mới về một sự vật, hiện tượng hay mối quan hệ, tạo ra cái mới
có giá trị Năng lực ST được hình thành và bộc lộ thông qua hoạt động
GQVĐ TDST là một thành tố quan trọng của năng lực ST
Năng lực ST bao gồm những thành phần sau: 1) Phát hiện ra cái mới; 2) Đưa ra cách nhìn mới; 3) Hình thành ý tưởng mới để GQVĐ, đề xuất cách giải quyết mới; 4) Thực hiện GQVĐ theo một cách mới, có khả năng phát triển vấn đề; 5) Tư duy độc lập
1.2.3 Năng lực ST trong môn Toán, các biểu hiện của năng lực ST của
HS trong học tập môn Toán
Từ quan niệm về năng lực ST và những thành tố của năng lực ST, chúng tôi cụ thể hóa năng lực ST và những biểu hiện của năng lực ST
của HS trong học tập môn Toán như sau: Năng lực ST trong môn Toán được hiểu là khả năng nhận thức và GQVĐ trong môn Toán có tính mới
và hiệu quả
Các biểu hiện của năng lực ST của HS trong học tập môn Toán:
- Biết lập kế hoạch để giải quyết nhiệm vụ trong học tập môn Toán
và thực hiện kế hoạch đạt hiệu quả
- Phát hiện ra tính chất mới, quan hệ mới giữa các yếu tố của một bài toán
- Phát biểu lại vấn đề, bài toán ở một dạng khác
- Đề xuất được giải pháp mới trong GQVĐ toán học
- Rút gọn hoặc cải tiến một khâu trong quá trình thực hiện, biết nhìn nhận lại quá trình suy luận để phát hiện mâu thuẫn, sai lầm, bất hợp lý, chưa tối ưu một cách nhanh chóng, có cách giải ngắn gọn, độc đáo,
- Đề xuất được bài toán mới, kết quả mới từ bài toán đã cho
- Biết vận dụng linh hoạt kiến thức, kĩ năng toán học vào GQVĐ thực tiễn
1.3 Năng lực GQVĐ và ST trong môn Toán
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2018) do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đã xác định năng lực GQVĐ và ST là một trong những năng lực chung cốt lõi cần hình thành và phát triển cho HS Trong văn bản này, không đưa ra quan niệm về năng lực GQVĐ và ST mà đưa ra các thành phần của nó và yêu cầu cần đạt của từng cấp học Cụ thể, năng lực GQVĐ và ST có 6 năng lực thành phần, bao gồm: Nhận ra ý tưởng mới;
Trang 11Phát hiện và làm rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng mới; Đề suất, lựa chọn giải pháp; Thiết kế và tổ chức hoạt động; Tư duy độc lập
Dựa trên cơ sở này cùng với quan niệm về năng lực GQVĐ toán học và năng lực ST trong môn Toán đã trình bày ở mục 1.2, trong luận
án này chúng tôi quan niệm năng lực GQVĐ và ST trong môn Toán là khả năng huy động, tổng hợp kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân nhằm giải quyết hiệu quả nhiệm vụ học tập môn Toán, trong đó có biểu hiện của sự ST
Sự ST trong quá trình GQVĐ được biểu hiện trong một bước nào
đó, có thể là một cách hiểu mới về vấn đề, hoặc một hướng giải quyết mới cho vấn đề, hoặc một sự cải tiến mới trong cách thực hiện GQVĐ, hoặc một cách nhìn nhận đánh giá mới Cái mới, cái ST trong quan niệm của chúng tôi không phải là một cái gì "to tát", khác lạ, mà chỉ là một sự cải tiến so với cách giải quyết thông thường Cái mới ở đây cũng được hiểu theo tính tương đối: mới so với năng lực, trình độ của HS, mới so với nhận thức hiện tại của HS
Khi giải quyết một bài toán nếu HS có cách hiểu, cách tiếp cận bài toán một cách mới mẻ, khác với cách thông thường thì có thể coi đó là một cách hiểu, cách tiếp cận vấn đề có tính ST Nếu HS biết đề xuất cách giải quyết bài toán ngắn gọn, độc đáo cũng có thể coi là một cách giải quyết có tính ST HS biết sử dụng kết quả của bài toán ban đầu vào giải quyết bài toán mới hoặc biết khai thác kết quả của bài toán ban đầu để ST ra bài toán mới cũng chính là biểu hiện sự ST,
1.4 Dạy học giải bài tập hình học ở trường THCS theo hướng phát triển năng lực
Các nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực đã phân tích, dạy học theo hướng phát triển năng lực người học tập trung vào đầu ra, chú trọng vào người học đạt được những năng lực nào sau khi kết thúc chương trình
học tập Nói cách khác, dạy học theo hướng phát triển năng lực người học
hướng tới không chỉ việc người học phải biết gì mà còn có thể làm gì trong các tình huống và hoàn cảnh khác nhau
Như vậy, để dạy học theo hướng phát triển năng lực người học, người GV cần phải lựa chọn và tổ chức nội dung dạy học không chỉ dựa vào tính hệ thống, lôgic mà ưu tiên những nội dung phù hợp với trình độ nhận thức của HS, thiết thực với đời sống thực tế, có tính tích hợp liên môn; tạo dựng môi trường dạy học tương tác tích cực, tăng thực hành vận dụng, khuyến khích HS giao tiếp, hợp tác trong học tập; đồng thời thường xuyên quan sát, động viên, khuyến khích, hỗ trợ khi cần thiết, giúp HS tự tin, hứng thú và tiến bộ trong học tập
Trang 12Việc giải bài tập hình học không chỉ đòi hỏi và rèn luyện cho HS các thao tác TD, các PP suy luận GQVĐ mà còn thuận lợi để bồi dưỡng các kĩ năng đặc trưng trong giải toán hình học như vẽ hình, tưởng tượng, liên tưởng, tìm tòi, dự đoán, Do đó, việc dạy học giải bài tập hình học có nhiều tiềm năng để GV khai thác, phát triển năng lực chung và năng lực toán học cho HS Quá trình HS học PP để giải bài toán chính là học PP GQVĐ trong môn Toán Và do đó, thông qua quá trình giải toán năng lực GQVĐ
và ST của HS sẽ được hình thành và không ngừng phát triển
Một năng lực bao gồm các thành tố khác nhau (các năng lực thành phần), tùy từng bài toán mà qua quá trình giải bài toán đó, HS sẽ được phát triển một hay một số thành tố nào đó của những năng lực cụ thể Dạy học giải bài tập hình học theo hướng phát triển năng lực GQVĐ và ST chính là tạo ra một môi trường học tập thuận lợi cho các biểu hiện của năng lực GQVĐ và ST của HS trong giải bài toán hình học được bộc lộ và phát triển
1.5 Sự phát triển trí tuệ của HS miền núi các lớp cuối cấp THCS
Sự phát triển trí tuệ, xúc cảm của HS chịu ảnh hưởng của nền văn hóa dân tộc mà các em là thành viên của nó Học sinh miền núi nói chung
là những HS sống và học tập ở vùng miền núi Các em có những nét riêng
về tâm lý (về nhận thức, về tình cảm, về tính cách…) Những điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập và thiết lập các mối quan hệ của các em ở nhà trường
HS lớp 8 THCS, thường có độ tuổi 14, 15 Ở các trường THCS miền núi, đặc biệt là các trường vùng sâu vùng xa, một số HS có độ tuổi cao hơn
do các em đi học muộm hơn Đây là lứa tuổi bắc cầu, chuyển tiếp từ trẻ em lên người lớn, từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành Những HS miền núi sống và học tập ở khu vực trung tâm thị trấn, trung tâm thành phố, sự phát triển trí tuệ của các em về cơ bản không khác các HS ở các vùng phát triển khác trong cả nước Ở khu vực miền núi ven thành thị, nông thôn, đặc biệt
là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, người dân chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số, còn nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội; trình độ dân trí nhìn chung còn thấp, phần đông các gia đình chưa dành nhiều sự quan tâm đến vấn đề học tập, chưa quan tâm hình thành động cơ học tập, hứng thú đi học cho con em mình,… do đó sự phát triển trí tuệ của HS ở những khu vực này có những khác biệt so với các em cùng độ tuổi ở các khu vực phát triển khác
Các nghiên cứu về Tâm lí học, giáo dục học, xã hội học về vấn đề này đã chỉ ra rằng, HS miền núi các lớp cuối cấp THCS còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn và trong học tập, nhất là về ngôn ngữ và giao tiếp, Những hạn chế và khó khăn của các em là do hạn chế về ngôn ngữ, do điều kiện hoàn cảnh sống, do đặc thù vùng miền Tuy nhiên trong các
Trang 13em không thiếu trí thông minh và óc ST Các em lại rất giàu tình cảm, chân thành, kính trọng và tin yêu GV, có tinh thần vượt khó vươn lên, Nếu được tạo những điều kiện thuận lợi trong học tập cũng như trong cuộc sống thì HS miền núi sẽ phát huy được nội lực và không ngừng nâng cao năng lực của bản thân Do đó, GV cần phải có những biện pháp sư phạm phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh và đặc điểm của HS miền núi để góp phần từng bước phát triển năng lực cho các em và nâng cao chất lượng dạy học
1.6 Biểu hiện của năng lực GQVĐ và ST của HS miền núi trong giải bài tập hình học 8
1.6.1 Nội dung chương trình hình học lớp 8
1.6.2 Biểu hiện của năng lực GQVĐ và ST của HS miền núi trong giải bài tập hình học 8
Trong mục này, dựa trên các cơ sở: quan niệm về năng lực GQVĐ và
ST đã đưa ra ở mục 1.3, yêu cầu cần đạt về năng lực GQVĐ và ST cấp THCS được xác định trong chương trình giáo dục phổ thông thổng thể, chúng tôi chỉ ra những biểu hiện đặc trưng của năng lực GQVĐ và ST của
HS trong học tập môn Toán
Bảng 1.2: Một số biểu hiện đặc trưng của năng lực GQVĐ và ST của HS
THCS trong học tập môn Toán
Một số biểu hiện đặc trưng của năng lực GQVĐ và ST của
HS THCS trong học tập môn Toán
Nhận ra ý
tưởng mới
Biết phân tích, tóm tắt bài toán, vấn đề toán học, tình huống trong học tập môn Toán và những kiến thức toán học liên quan; phát hiện ra tính chất mới, quan hệ mới giữa các yếu tố của một bài toán, một vấn đề toán học, quan hệ mới giữa các bài toán,
Phát hiện và
làm rõ vấn đề
Biết cách tiếp cận và hiểu đúng bài toán,vấn đề toán học; biết diễn đạt bài toán, vấn đề bằng ngôn ngữ toán học thích hợp; nhận biết, phát hiện và phát biểu được vấn đề cần giải quyết bằng toán học
Hình thành
và triển khai
ý tưởng mới
- Phát hiện yêu tố mới, tích cực trong những gợi ý của GV,
trong các ý kiến của bạn học,
- Có trí tưởng tượng; biết sử dụng sơ đồ, hình ảnh và các
thông tin đã cho để tìm kiếm, triển khai ý tưởng
- Biết tiếp cận bài toán, vấn đề từ nhiều hướng; tìm được nhiều cách
giải khác nhau cho một bài toán; đề xuất được nhiều giải pháp khác nhau để giải quyết vấn đề toán học; biết so sánh, bình luận và lựa chọn được cách giải bài toán, giải pháp GQVĐ hợp lí hơn
- Biết rút gọn hoặc cải tiến một khâu trong quá trình giải toán; biết
cách giải bài toán, GQVĐ toán học một cách ngắn gọn, độc đáo, ;