1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển đội ngũ tri thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

109 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 699,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan luận chứng vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của học sinh người dân tộc thiểu số ở các trường chuyên nghiệp tại Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay. Phân tích làm rõ thực trạng phát huy vai trò của chủ thể nhận thức trong học tập của học sinh người dân tộc thiểu số ở các trường chuyên nghiệp tại Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay. Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần vào việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của học sinh người dân tộc thiểu số ở các trường chuyên nghiệp tại Lạng Sơn.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thời đại hiện nay là thời đại khoa học công nghệ, kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế đang phát triển mạnh mẽ Đặc trưng nổi bật của thời đại này là phát triển chủ yếu dựa vào tri thức và ứng dụng khoa học - công nghệ cao, hiện đại vào quá trình sản xuất để tạo ra năng suất, hiệu quả cao và nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi nhà sản xuất cũng như của quốc gia Trong điều kiện ấy, đội ngũ trí thức - với trình độ cao và khả năng sáng tạo ra những tri thức mới, giá trị mới; với vai trò, trách nhiệm hướng dẫn, chuyển giao ứng dụng khoa học - công nghệ cho xã hội trở thành lực lượng hết sức quan trọng

và cần thiết đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Do vậy, hiện nay đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt để giành giật nguồn nhân lực chất lượng cao giữa các nhà sản xuất và giữa các quốc gia trên tất cả các lĩnh vực

Nhận thức rõ điều này nên tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Đảng ta coi phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước từ nay đến năm 2015 Đảng

ta khẳng định: “Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu sáng tạo Trọng dụng trí thức, có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước Gắn bó mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với trí thức, giữa trí thức với Đảng, Nhà nước” [21, tr.241-242]

Quán triệt quan điểm của Đảng, những năm qua Lạng Sơn đã chú ý đến phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ trí thức của tỉnh Song việc đầu tư cho lĩnh vực này chưa thoả đáng

Là một tỉnh nằm ở cửa ngõ trọng yếu phía Bắc của Tổ quốc, bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Lạng Sơn đang có những điều

Trang 2

kiện và cơ hội phát triển thuận lợi Xu thế mở cửa hội nhập với các nước trên thế giới và các nước trong khu vực ngày càng được đẩy mạnh Quan

hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam - Trung Quốc và các nước ASEAN tiếp tục được củng cố và phát triển Do đó triển vọng hợp tác, giao lưu kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật… sẽ mở ra rất lớn, tạo điều kiện cho Lạng Sơn thu hút các nguồn lực từ bên ngoài, đồng thời có cơ hội để phát triển nhanh chóng các ngành công nghiệp, thương mại, du lịch, nhất là phát triển kinh tế cửa khẩu

Bên cạnh những lợi thế, cơ hội và điều kiện phát triển trên, Lạng Sơn cũng đang đứng trước nhiều trở lực, thách thức Nền kinh tế vẫn chủ yếu là sản xuất nhỏ; công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra với tốc độ chậm, năng lực cạnh tranh còn yếu kém, nguồn nhân lực chất lượng còn thấp

Để tận dụng được lợi thế phát triển và vượt qua được những khó khăn thách thức, tất yếu Lạng Sơn phải phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, mà trong đó, chủ lực là đội ngũ trí thức

Song do đặc thù là một tỉnh miền núi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, (hiện nay người dân tộc thiểu số chiếm 85% dân số toàn tỉnh), và trí thức là người dân tộc thiểu số chiếm 48,1% tổng số trí thức toàn tỉnh, trong đó nhiều người đang giữ những vị trí lãnh đạo, quản

lý chủ chốt trong các lĩnh vực của tỉnh, nên việc phải coi trọng phát triển nhanh đội ngũ trí thức nói chung, đặc biệt là đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số của tỉnh nói riêng trở thành yêu cầu cấp bách hiện nay đối với Lạng Sơn

Mặc dù chiếm gần một nửa tổng số trí thức toàn tỉnh, song số lượng của đội trí thức người dân tộc thiểu số còn ít, nhất là trí thức có trình độ

từ thạc sĩ trở lên Hiện nay, tỉnh chỉ có duy nhất một tiến sỹ là người dân tộc thiểu số Mặt khác, chất lượng của đội ngũ này về cơ bản chưa đáp

Trang 3

ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở Lạng Sơn

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" làm đề tài luận văn thạc sỹ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đội ngũ trí thức với nhiều khía cạnh, trong đó có một số công trình khoa học

đã đề cập đến các góc độ mà đề tài cần tham khảo và kế thừa Một số công trình tiêu biểu đó là:

- Phạm Tất Dong (chủ biên): “Trí thức Việt Nam: thực tiễn và triển

vọng”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Đây là một công trình nghiên

cứu khá công phu, sâu sắc về đội ngũ trí thức Việt Nam Các tác giả đã phân tích quan niệm về trí thức Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về số lượng, cơ cấu… tâm trạng, nguyện vọng của đội ngũ trí thức, các tác giả đã đưa ra một

số khuyến nghị nhằm phát triển đội ngũ trí thức nước ta hiện nay

- Phạm Tất Dong (chủ biên): “Định hướng phát triển đội ngũ trí thức

Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2001 Các tác giả đã trình bày tổng quát những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đối với đội ngũ trí thức nước ta, đồng thời làm rõ vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức trong công cuộc xây dựng nền kinh tế - xã hội hiện đại, góp phần sáng tạo văn hoá, giữ gìn nền tảng tinh thần của xã hội, phát huy bản sắc dân tộc trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phân tích tương đối toàn diện thực trạng của đội ngũ trí thức nước ta hiện nay, từ đó đề xuất những định hướng, chính sách xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong những năm tới

- Nguyễn Quốc Bảo - Đoàn Thị Lịch: “Trí thức trong công cuộc đổi

mới đất nước”, Nxb Lao động, Hà Nội, 1998 Thông qua tác phẩm, các tác

Trang 4

giả đã khái quát tình hình biến đổi của trí thức Việt Nam trong công cuộc đổi mới; phân tích những ưu điểm, hạn chế của họ, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước

- Trịnh Quang Cảnh: “Phát huy vai trò đội ngũ trí thức người dân tộc

thiểu số ở nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay”, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2005 Tác giả đã nghiên cứu khá công phu, sâu sắc về đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trên phạm vi cả nước trong sự nghiệp cách mạng; đồng thời đề xuất những giải pháp để phát huy hiệu quả vai trò của đội ngũ này ở Việt Nam hiện nay

- Nguyễn Đắc Hưng: “Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất

nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Tác giả làm rõ khái niệm,

nguồn gốc sự hình thành, vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong thế kỷ XXI; nêu một số vấn đề đặt ra cho đội ngũ trí thức Việt Nam; đồng thời đề xuất phương hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong tình hình mới

- Nguyễn Thanh Tuấn: “Một số vấn đề về trí thức Việt Nam”, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Tác giả đã phân tích những đặc trưng chung của trí thức với tư cách là một tầng lớp xã hội đặc thù; khái quát sự hình thành, phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử;

từ đó, đề xuất một số phương hướng đổi mới công tác quản lý và xây dựng chính sách đối với trí thức nước ta hiện nay

- Ngô Huy Tiếp: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí

thức nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Tác giả đã

phân tích phương thức lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với đội ngũ trí thức, từ đó phân tích thực trạng phương thức lãnh đạo của Đảng đối với đội ngũ trí thức nước ta từ năm 1996 đến nay Từ sự phân tích đó, tác giả đã

Trang 5

nêu ra mục tiêu, phương hướng, giải pháp nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với đội ngũ trí thức

- Bùi Thị Ngọc Lan: “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt

Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Tác giả đã phân tích, làm rõ vai

trò của nguồn lực trí tuệ - bộ phận cơ bản làm nên chất lượng của nguồn nhân lực, đồng thời đánh giá thực trạng của nguồn lực trí tuệ Việt Nam, từ đó đưa

ra các giải pháp cơ bản nhằm phát huy và sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn lực đó trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay

- Ngô Thị Phượng: “Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt

Nam trong sự nghiệp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Tác

giả đã phân tích, làm rõ vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong sự nghiệp đổi mới Trong đó, tác giả phân tích rõ những thành tựu, hạn chế của ngũ trí thức này trong sự nghiệp đổi mới đất nước, từ đó đề xuất những quan điểm và các giải pháp để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn hiện nay

Ngoài những công trình khoa học nêu trên, một số bài viết tiêu biểu về đội ngũ trí thức được đăng tải trên các tạp chí như:

- Tạp chí Cộng sản, tháng 11/1999 "Bài học từ những quan điểm của chủ

nghĩa Mác về trí thức" trong cuốn "Học thuyết Mác với sự nghiệp đổi mới ở

Việt Nam", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 của PGS.TS Phan Thanh Khôi Trong đó, tác giả đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề: bản chất giai cấp của trí thức, chính sách sử dụng các chuyên gia tư sản, cải tạo trí thức cũ, đào tạo trí thức mới, xây dựng khối liên minh công - nông - trí, các giải pháp phát huy vai trò của trí thức

Bên cạnh đó, một số Luận án tiến sĩ đã nghiên cứu về vị trí, vai trò, đặc điểm, động lực sáng tạo của trí thức trong quá trình cách mạng Việt Nam như:

"Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác - Lênin trong các trường Đại học ở

nước ta hiện nay" của Phạm Văn Thanh, Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội,

Trang 6

2001; "Phát huy vai trò nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong

quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Đình Minh, Luận án tiến

sĩ triết học, Hà Nội, 2003; "Vai trò của trí thức Thủ đô Hà Nội trong sự

nghiệp CNH, HĐH" của Nguyễn Xuân Phương, Luận án tiến sĩ triết học, Hà

Nội, 2004

Dưới góc độ của tỉnh, nhận thức rõ sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực, những năm qua, tỉnh Lạng Sơn cũng đã ra một số văn bản quan trọng có liên quan đến vấn đề này như:

- Định hướng quy hoạch tổng thể tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2001 - 2010

- Quy hoạch tổng thể tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010- 2020

- Quy hoạch phát triển giáo dục - đào tạo tỉnh Lạng Sơn đến năm 2010

- Dự án đào tạo, bồi dưỡng, thu hút nguồn nhân lực tỉnh Lạng Sơn (giai đoạn 2001- 2010)

- Quyết định số 04/2002/QĐ- UB về việc điều chỉnh mức hỗ trợ cho cán bộ được cử đi học

Các văn bản này một mặt khẳng định tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực nói chung, đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ trí thức của tỉnh thông qua các chính sách phát triển giáo dục - đào tạo, chính sách sử dụng và chế độ đãi ngộ đối với trí thức, song chưa có một văn bản nào bàn riêng về trí thức người dân tộc thiểu số của tỉnh

Như vậy, mặc dù đã nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đội ngũ trí thức, song có thể khẳng định cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn

Vì vậy, tác giả chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học với mong muốn góp phần vào việc xây dựng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số của tỉnh đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh

Trang 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

* Mục đích của luận văn:

Trên cơ sở làm rõ những yếu tố tác động và thực trạng, vai trò của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn, luận văn đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát triển đội ngũ này đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh

* Nhiệm vụ của luận văn:

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

+ Trình bày một cách khái quát lý luận cơ bản về đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số, phân tích những đặc điểm cơ bản và vai trò của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn

+ Tìm hiểu những yếu tố tác động và đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số của tỉnh Lạng Sơn thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

+ Đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở Tỉnh Lạng Sơn thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu của luận văn:

Luận văn nghiên cứu đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

* Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Luận văn nghiên cứu đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn trong khoảng thời gian từ Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1996) đến nay - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 8

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn

* Cơ sở lý luận, thực tiễn của luận văn:

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam

Mác-về trí thức

- Cơ sở thực tiễn của luận văn là quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước và của tỉnh Lạng Sơn; đồng thời là đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh hiện nay

* Phương pháp nghiên cứu của luận văn:

- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và điều tra xã hội học

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn làm rõ thực trạng và vai trò của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn hiện nay

- Đề xuất một hệ thống quan điểm, giải pháp cơ bản phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh

- Luận văn cung cấp những cứ liệu thực tế về đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn và có thể được các cấp uỷ Đảng, chính quyền của tỉnh tham khảo trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách đối với đội ngũ trí thức này của tỉnh, nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu

và giảng dạy những chuyên đề liên quan đến trí thức trong các môn lý luận chính trị Mác-Lênin nói chung và môn Chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng

Trang 9

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:

Chương 1: Trí thức người dân tộc thiểu số và mối quan hệ giữa phát

triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số với công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ở tỉnh Lạng Sơn

Chương 2: Thực trạng và xu hướng phát triển đội ngũ trí thức người

dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương 3: Quan điểm và giải pháp phát triển đội ngũ trí thức người

dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 10

Chương 1 TRÍ THỨC NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MỐI QUAN HỆ

GIỮA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VỚI CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH LẠNG SƠN

1.1 Trí thức và trí thức người dân tộc thiểu số

1.1.1 Quan niệm về trí thức

Hiện nay có khá nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức, bởi vì, trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, vị trí, vai trò của trí thức cũng có những thay đổi rất đa dạng Hơn nữa từ những cách tiếp cận khác nhau nên có thể đưa ra những định nghĩa khác nhau về trí thức

Theo quan niệm của Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành

Trung ương khóa X: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ

học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất, có giá trị đối với xã hội” [20, tr.64]

Từ khái niệm này, ta thấy trí thức có một số đặc điểm nổi bật (những đặc điểm này đã được nhiều công trình khoa học đi trước phân tích làm rõ, do vậy, luận văn kế thừa và không đi sâu phân tích) Đó là:

Một là, lao động của trí thức thuộc loại lao động trí óc phức tạp, sáng tạo Đây là đặc trưng cơ bản nhất của trí thức, lao động trí óc phức tạp

sáng tạo được trí thức thực hiện trong quá trình lao động, đồng thời là dấu hiệu quan trọng để phân biệt trí thức với các lực lượng lao động khác trong

xã hội

Lao động trí óc phức tạp, sáng tạo của người trí thức mang đậm dấu

ấn cá nhân và có tính độc lập cao Sản phẩm lao động trí tuệ phức tạp của trí thức là các giá trị lý luận, lý thuyết, các công trình khoa học… trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, văn học, nghệ

Trang 11

thuật, lãnh đạo, quản lý… Những tri thức khoa học, những sản phẩm tinh thần mà người trí thức sáng tạo ra thường có ý nghĩa định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn góp phần thúc đẩy xã hôị phát triển

Hai là, trí thức là những người có trình độ học vấn cao, trình độ chuyên môn sâu và vững vàng

Chính hoạt động lao động trí óc phức tạp, sáng tạo đòi hỏi trí thức phải có trình độ học vấn cao và cần phải được trang bị kiến thức sâu về chuyên môn, chuyên ngành, thường là đạt trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên Đây là một trong những điều kiện cơ bản để đảm bảo cho hoạt động trí tuệ diễn ra một cách thuận lợi, những kiến thức đó không chỉ được trang bị trong nhà trường mà chủ yếu là kết quả của quá trình tự đào tạo, rèn luyện, nghiên cứu và nỗ lực phấn đấu không ngừng mới thành

Ba là, trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt và không có hệ tư tưởng độc lập

Khi nghiên cứu về trí thức, V.I.Lênin chỉ ra rằng: trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt Tính chất “đặc biệt” của tầng lớp trí thức biểu hiện ở chỗ trí thức không có quan hệ riêng và trực tiếp đối với sở hữu tư liệu sản xuất

Do vậy trí thức không phải là một giai cấp độc lập mà chỉ là một tầng lớp xã hội Với tư cách là một tầng lớp xã hội, trí thức luôn gắn liền và đi theo phục

vụ một giai cấp nhất định Do đó, về mặt tư tưởng, đội ngũ trí thức không có

hệ tư tưởng độc lập đại diện cho hệ tư tưởng của tầng lớp mình

Nhưng do đặc thù lao động là loại lao động trí tuệ phức tạp sáng tạo, nên trí thức có khả năng tổng kết, khái quát thực tiễn thành lý luận để xây dựng hệ tư tưởng cho giai cấp cầm quyền Do vậy, trong hầu hết mọi thời đại, trí thức đều được giai cấp thống trị trọng dụng

Bốn là, về quá trình hình thành trí thức vô sản

Sau khi tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo

Trang 12

của Đảng cộng sản phải xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức của mình bằng cách sử dụng, cải tạo đội ngũ trí thức của các chế độ cũ; đồng thời phát triển đội ngũ trí thức mới của giai cấp công nhân, nhất là đào tạo mới

từ con em lao động, trong đó, nhiệm vụ xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức mới là cơ bản

Trí thức vô sản có nhân sinh quan và thế giới quan Mácxít, gắn bó với nhân dân lao động Đó là cơ sở để khắc phục dần những hạn chế của trí thức và đồng thời có điều kiện phát huy vai trò ngày càng cao trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

1.1.2 Quan niệm về trí thức người dân tộc thiểu số và phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số

có hai ý thức: ý thức về tổ quốc chung và ý thức về dân tộc mình Những dân tộc thiểu số có thể cư trú tập trung hoặc rải rác xen kẽ, thường ở những vùng ngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Vì vậy, các nhà nước tiến bộ thường thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc nhằm xoá bỏ dần những chênh lệch trong sự phát triển kinh tế - xã hội giữa dân tộc đông người và dân tộc thiểu số” [57, tr.655]

Trang 13

Như vậy, nét đặc thù của các dân tộc thiểu số là có số dân ít, cư trú trong một quốc gia thống nhất, trong quốc gia đó có thể có 2, 3, 4 thậm chí hàng chục dân tộc thiểu số Chẳng hạn, như ở Việt Nam, Trung Quốc

Dân tộc thiểu số có số dân ít song có tiếng nói riêng và có thể có chữ viết riêng Số dân của các dân tộc thiểu số có thể nhiều ít khác nhau, nhưng mỗi dân tộc có bản sắc văn hoá riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hoá Việt Nam Ở nước ta, theo cách phân loại hiện nay có 54 thành phần tộc người, trong đó người Kinh được xem là dân tộc đa số, 53 tộc người còn lại được xem là dân tộc thiểu số

Khái niệm trí thức người dân tộc thiểu số được dùng khi so sánh với khái niệm trí thức dân tộc đa số và được xem xét trên phạm vi toàn quốc, mặc

dù trong không gian hẹp (tỉnh, huyện, xã), có khi một dân tộc thiểu số nào đó lại chiếm số đông

Như vậy, trí thức người dân tộc thiểu số là những người xuất thân

từ các dân tộc ít người trong một quốc gia, họ là những người lao động chủ yếu bằng phương thức lao động trí óc, có hiểu biết sâu rộng, có trình độ từ cao đẳng, đại học và trên đại học, có năng lực sáng tạo, có trình độ phát triển về trí tuệ, nhạy bén với những biến đổi của xã hội

- Quan niệm về phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số

Phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số là quá trình làm tăng lên về số lượng, chất lượng và xây dựng cơ cấu hợp lý làm tăng nguồn lao động trí óc là người dân tộc thiểu số, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

Phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số không phải là quan điểm hay khái niệm trừu tượng mà gắn với phát triển về trình độ nhận thức,

về năng lực tư duy và trí tuệ của mỗi con người cụ thể Đúng như C.Mác nói, con người là yếu tố quan trọng nhất, cách mạng nhất trong các yếu tố cấu

Trang 14

thành lực lượng sản xuất Người lao động trong lực lượng sản xuất phải là con người ngày càng được phát triển cao về trí tuệ, khỏe mạnh về thể chất, trong sáng về đạo đức, linh hoạt và văn minh trong ứng xử, có kinh nghiệm trong sản xuất và có kỹ năng lao động cao Do đó, phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số có mối quan hệ biện chứng với phát triển nguồn lực con người Vì, phát triển nguồn lực con người là quá trình phát triển toàn diện con người cả về thể lực, trí lực, cả khai thác, sử dụng, tái tạo và phát triển tiềm năng, năng lực của mỗi người, của cả cộng đồng người nhằm đóng góp nhiều nhất vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2 Mối quan hệ giữa phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số với công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Lạng Sơn

1.2.1 Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh và yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn

Vài nét khái quát về tỉnh Lạng Sơn và đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, giáp biên với Trung Quốc, tập trung chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống (85% cư dân là người dân tộc thiểu số) Trước năm 1990, do điều kiện địa lý, núi đồi hiểm trở, quanh

co, giao thông chưa phát triển nên Lạng Sơn là một tỉnh nghèo, lạc hậu, kinh

tế kém phát triển, trình độ dân trí thấp Từ khi đổi mới đến nay, cùng với cả nước Lạng Sơn cũng đang tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Xét về điều kiện tự nhiên, Lạng Sơn là một tỉnh miền núi thuộc Đông Bắc của tổ quốc Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông Bắc giáp Trung Quốc, phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Cạn, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Nguyên

Trang 15

Lạng Sơn có nhiều tuyến đường quan trọng như tuyến đường nối liền với Thủ đô Hà Nội (1A) và Cao Bằng (4A); nối với Quảng Ninh (3B); tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng - Bắc Kinh và các nước Châu Âu qua địa phận Lạng Sơn Lạng Sơn có đường biên giới với Trung Quốc dài 253 km (5 huyện và 21

xã biên giới), có 2 cửa khẩu quốc tế (Hữu Nghị, Ga Đồng Đăng), 2 cửa khẩu quốc gia (Bình Nghi, Chi Ma) và 7 cặp chợ đường biên Do là tỉnh miền núi, nên Lạng Sơn có nhiều núi đá vôi (chiếm 14% diện tích) và nguồn khoáng sản khá phong phú (quặng sắt, nhôm, bôxít, alít ) Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp khai khoáng, nhiệt điện Điều kiện khí hậu ẩm, ôn hòa và mát mẻ, rất thuận lợi cho phát triển du lịch

và nông nghiệp Đây là điều kiện tự nhiên rất quan trọng để Lạng Sơn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Bên cạnh những thuận lợi đó, Lạng Sơn cũng gặp nhiều khó khăn

Đó là, mặc dù người dân tộc thiểu số chiếm đa số trong dân cư của tỉnh, song nhìn chung trình độ còn thấp, chưa có truyền thống sản xuất hàng hóa và kinh doanh thương mại Một bộ phận người dân có lối sống thụ động và còn phụ thuộc vào khai thác tự nhiên Nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng nhưng còn ở dạng tiềm năng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm; chưa xác định được ngành, nghề mũi nhọn, đột phá trong từng vùng, huyện, thị xã; quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, năng xuất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao Quản lý nhà nước về du lịch và công tác quảng bá du lịch còn hạn chế Hoạt động xuất khẩu chưa trở thành động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, chủ yếu thực hiện gia công hàng hóa Thị trường nông thôn phát triển chưa đồng đều Đầu tư xây dựng dàn trải, cơ cấu chưa hợp lý, tỷ trọng đầu tư phát triển sản xuất thấp; thực hiện một số chương trình dự án chậm Như vậy, muốn khai thác cần có vốn đầu tư, có khoa học công nghệ và đặc biệt là phải có nguồn nhân lực tương xứng, trong đó vai trò của trí thức rất quan trọng

Trang 16

Những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và của Đảng bộ tỉnh, nhân dân Lạng Sơn đã đoàn kết, nhất trí, khắc phục khó khăn, phát huy những lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, huy động nội lực, tranh thủ ngoại lực, từng bước đưa Lạng Sơn thoát nghèo, tạo “thế và lực” mới trong hội nhập và phát triển Vì vậy, cùng với cả nước, Lạng Sơn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà trọng tâm cấp bách là phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, giải quyết một cách hợp lý mối quan hệ giữa nông nghiệp - công nghiệp - thương mại - du lịch và dịch

vụ Do vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Lạng Sơn hiện nay có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Lạng Sơn tập trung chủ yếu vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Trước yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nước ta phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Thực hiện mục tiêu đó, Đại hội Đảng lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: “ Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [19, tr.76]

Vận dụng quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng đề ta, Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII của Lạng Sơn đã xây dựng chương trình, mục tiêu nhiệm vụ, giải pháp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh:

Tiếp tục giữ vững và phát huy sức mạnh đoàn kết nội bộ, thống nhất trong Đảng, đoàn kết nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực, tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm khai thác có hiệu quả các lợi thế, tiềm năng kinh

tế của địa phương, nhất là đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng,

Trang 17

chăn nuôi đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, sớm đưa Lạng Sơn phát triển và hội nhập [55, tr.120]

Vì vậy, từ năm 1990 đến nay được sự quan tâm của Trung ương, lãnh đạo tỉnh và các cấp, các ngành hữu quan, ngành nông nghiệp Lạng Sơn đã có chuyển biến rõ nét Trong những năm đầu mới mở cửa khẩu, ngành nông nghiệp Lạng Sơn chủ yếu sản xuất theo hướng tự cung tự cấp, tình trạnh thiếu lương thực, thực phẩm, mất cân đối trong các sản phẩm nông nghiệp diễn ra thường xuyên Đặc biệt do đặc thù của một tỉnh miền núi nên có nhiều dân tộc sinh sống và chủ yếu là làm nông nghiệp, hầu hết trình độ dân trí thấp, không bắt kịp với tiến bộ khoa học kỹ thuật nên sản xuất còn phụ thuộc vào tự nhiên

Trước tình trạng đó, Lạng Sơn đã tiến hành khai hoang, cải tạo đồng ruộng, chuyển đổi cơ cấu giống, áp dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi Đồng thời phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa Trong sản xuất lương thực, Lạng Sơn tập trung chủ yếu vào cây lúa, ngô Cùng với mở rộng diện tích, trình độ thâm canh lúa của nông dân cũng được nâng cao nhờ áp dụng khoa học - kỹ thuật, đặc biệt đưa giống mới vào canh tác Bên cạnh đó, chú trọng phát triển các cây công nghiệp như hồi, mía, sắn, vừng đen, vừng trắng, cây ăn quả theo mùa vụ như: na, quýt, lê, hồng Bảo Lâm Đến nay về cơ bản, nhân dân trong tỉnh đã thoát khỏi cảnh đói nghèo, đồng thời tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao tạo việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh

Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Lạng Sơn diễn ra với tốc độ chậm, quy mô nhỏ bé, sử dụng công nghệ, trang thiết bị lạc hậu là phổ biến

Những năm qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Lạng Sơn đã đạt được những thành tựu bước đầu đáng kể Tổng sản phẩm (GDP) bình quân hàng năm tăng 13% (giai đoạn 2000 - 2005); tỷ trọng công nghiệp, xây dựng tăng

từ 11,23% lên 15,32%, thương mại dịch vụ tăng từ 27,02% lên 32,21%, nông

Trang 18

- lâm sản từ 33,31% giảm còn 30,33% Thu ngân sách nhà nước đạt 298 tỷ đồng/năm [60]

Trong lĩnh vực nông nghiệp, Lạng Sơn tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa và có những chuyển biến tích cực Công nghiệp xây dựng tăng trưởng cao, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp được xây dựng mới, mở rộng về quy mô Một số doanh nghiệp nước ngoài liên doanh đầu tư sản xuất kinh doanh và kinh

tế tư nhân đóng trên địa bàn tỉnh đã có sự đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần thu nguồn ngân sách và giải quyết việc làm cho người lao động Theo số liệu của Ủy ban nhân dân tỉnh, hiện nay Lạng Sơn có hơn 450 doanh nghiệp, trong đó có 24 doanh nghiệp Nhà nước, giải quyết hơn 12.000 lao động trong tỉnh Ngoài các công trình thủy điện, thủy lợi, giao thông do Trung ương đầu tư, đường biên giới, đường giao thông, mạng lưới điện được tỉnh quan tâm xây dựng, nâng cấp, mạng lưới điện đến 100% số xã với trên 94,3% số hộ được sử dụng điện [60, tr.24]

Thương mại - dịch vụ có bước phát triển tăng đều qua các năm

Tỉnh Lạng Sơn xác định đây là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Thị

trường xuất khẩu được mở rộng, hoạt động bưu chính, viễn thông có bước chuyển biến mạnh trong việc hiện đại hóa trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật, góp phần nâng số dân được sử dụng điện thoại lên

Bên cạnh những thành tựu đạt được, nhìn chung tốc độ tăng trưởng kinh tế và tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh diễn ra còn chậm; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém; đầu tư manh mún, hiệu quả thấp Tính cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chất lượng sản phẩm hàng hóa chưa cao, chưa có những sản phẩm chủ lực, chưa có những doanh nghiệp mạnh về sản xuất kinh doanh và trong lĩnh vực xuất - nhập khẩu Cơ cấu kinh

tế chuyển dịch chậm, chưa phù hợp với đặc thù và thế mạnh của tỉnh Tiềm năng, lợi thế cây trồng, vật nuôi chưa được khai thác hiệu quả Giá trị ngành

Trang 19

công nghiệp, dịch vụ đạt thấp, chưa đóng vai trò quan trọng và thúc đẩy phát triển kinh tế

Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Lạng Sơn phát triển chậm, chưa có lĩnh vực đột phá Nông nghiệp, lâm nghiệp chưa phát huy được lợi thế, nhất là lợi thế vùng nguyên liệu và phát triển chăn nuôi Công tác trồng rừng được quan tâm, tuy nhiên công tác quản

lý rừng còn lỏng lẻo Tình trạng phá rừng làm nương rẫy của đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn diễn ra; chưa đảm bảo yêu cầu tiêu thụ sản phẩm nông sản và kích thích sản xuất phát triển Công tác quy hoạch và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng các đô thị, các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, các tuyến điểm du lịch chưa được quan tâm đúng mức Việc đổi mới, sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, nhất là công tác cổ phần hóa còn rất chậm, lúng túng và gặp nhiều khó khăn Vì vậy, vấn đề tạo thêm việc làm cho người lao động, nhất là lao động người dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn đối với tỉnh

Đặc điểm này đặt ra yêu cầu cấp bách là phải coi trọng phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ trí thức, nhất là đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số để phát huy vai trò của đội ngũ này trong việc phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số

Thứ ba, trọng điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Lạng Sơn là phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại và du lịch, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm tới

Do lợi thế của tỉnh là cửa ngõ vùng Đông Bắc Tổ quốc, có đường biên giới khá dài với Trung Quốc và lợi thế về điều kiện tự nhiên nên những năm gần đây, Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn xác định: phải coi trọng kinh tế cửa khẩu, đẩy mạnh phát triển thương mại và du lịch, trong đó quán triệt quan điểm là:

tập trung phát triển vùng kinh tế động lực để phát triển các vùng kinh tế khác,

các khu vực cùng phát triển; ưu tiên cho các vùng có điều kiện phát triển

Trang 20

nhanh hơn, tạo cơ sở cho tăng trưởng nhanh, bền vững, tăng khả năng cạnh tranh; quan tâm hỗ trợ và ưu tiên đầu tư cải thiện kết cấu hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo ở các vùng khó khăn, biên giới

Từ những đặc điểm trên, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỉnh Lạng Sơn đã xây dựng, qui hoạch và phát triển khu vực thành phố Lạng Sơn, thị trấn Đồng Đăng và các khu kinh tế cửa khẩu thành trung tâm thương mại, du lịch, dịch vụ của cả nước Đây là vùng kinh tế động lực của tỉnh, có vai trò đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng an ninh, là khu vực tập trung xuất nhập khẩu, du lịch và dịch vụ, các trung tâm thương mại, du lịch, buôn bán, văn phòng đại diện từ đó thu hút và tạo công

ăn việc làm cho hàng chục nghìn lao động ở tỉnh Lạng Sơn cũng như khu vực Đông Bắc và cả nước, góp phần thực hiện xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất - tinh thần của nhân dân tại địa phương

Yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với việc phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn

Sự phát triển các vùng kinh tế như vậy đồng thời tạo ra cơ sở vững chắc, điều kiện cần thiết để phát triển nhanh đội ngũ trí thức của tỉnh bao gồm

cả trí thức người dân tộc thiểu số, đồng thời thu hút trí thức và trí thức người dân tộc thiểu số ở các nơi về làm việc tại tỉnh, góp phần quan trọng vào chiến lược thu hút nguồn nhân lực của tỉnh trước mắt và lâu dài

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra yêu cầu trong thời gian tới cần phải tập trung phát triển cả về số lượng và chất lượng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số, nhất là chú trọng phát triển đội ngũ trí thức thuộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa, kết hợp với đội ngũ trí thức người Kinh trong tỉnh để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra yêu cầu phải coi trọng phát triển khoa học và công nghệ hướng mạnh vào việc thực hiện những nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là phát triển nông nghiệp,

Trang 21

nông thôn; từ đó tạo ra môi trường và điều kiện để phát triển nhanh đội ngũ trí thức của tỉnh

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa muốn phát triển nhanh, hiệu quả phải coi trọng phát triển khoa học và công nghệ, nhất là những nghiên cứu về khoa học - công nghệ phục vụ trực tiếp vào quá trình sản xuất và đời sống nhân dân, trên cơ sở đó cung cấp các cứ liệu khoa học để các cấp ủy, chính quyền trong tỉnh thực hiện tốt việc quy hoạch và điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Phát triển khoa học - công nghệ còn là căn

cứ khoa học để phát triển cơ sở lý luận cho hệ thống chính trị ở địa phương, có nhiều phương án lựa chọn chương trình dự án, mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế cao và bền vững, phù hợp với quy luật phát triển của kinh tế thị trường và đặc thù của tỉnh Đó là đặc biệt chú ý đến việc ứng dụng công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường

Phát triển khoa học - công nghệ trên một số lĩnh vực về giống nông nghiệp, giống cây trồng, mô hình chăn nuôi, sản xuất thâm canh và xen canh, nâng cao hiệu quả sản xuất ở các vùng chuyển dịch, tạo điều kiện cân bằng thu nhập của người dân thành thị, nông thôn

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một vấn đề khó khăn, phức tạp cần phải có chiến lược dài hạn và bước đi thích hợp Mỗi ngành, mỗi cấp, nhất là đội ngũ trí thức nói chung và đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số của tỉnh cần phải nhận thức đúng đắn chủ trương này, xem đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để khơi dậy nội lực, phát huy tiềm năng, thế mạnh của tỉnh

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu

số chiếm đa số trong dân cư nên yêu cầu đặt ra là phải phát triển nhanh đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số cả về số lượng và chất lượng, có

đủ năng lực và phẩm chất để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh

Trang 22

Do đặc thù của một tỉnh miền núi có đông người dân tộc thiểu số sinh sống và chiếm đến 85% tổng dân số toàn tỉnh, hơn nữa nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp ở Lạng Sơn là người dân tộc thiểu số, nên quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một tỉnh miền núi có đông người dân tộc thiểu số tất yếu đặt ra yêu cầu khách quan phải phát triển nhanh đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số cả về số lượng và chất lượng có đủ trình độ và năng lực để làm chủ quá trình này Họ phải thành thạo chuyên môn, nghề nghiệp có năng lực tiếp thu chọn lọc và ứng dụng hiệu quả những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại, những tinh hoa của văn hóa, văn minh thế giới, những di sản văn hóa dân tộc vào thực tiễn Việt Nam nói chung và thực tiễn tỉnh Lạng Sơn nói riêng

Do xuất thân từ người dân tộc thiểu số, nên ưu thế của trí thức người dân tộc thiểu số là biết ngôn ngữ dân tộc và hiểu rõ phong tục, tập quán, lối sống cộng đồng và những thiết chế văn hoá xã hội vùng dân tộc thiểu số; song đồng thời họ cũng bị ảnh hưởng nhiều nét tiêu cực của chính cộng đồng mình

Vì vậy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi đội ngũ này phải có

kỹ năng tổ chức, vận động quần chúng, nhất là quần chúng người dân tộc thiểu số; biết giải quyết tốt hài hoà các mối quan hệ dân tộc trong đời sống cộng đồng

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra yêu cầu đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn phải có trình độ chuyên môn thành thạo, năng lực sáng tạo, có trình độ ngoại ngữ, tin học, khả năng thích nghi nhanh

và có năng lực làm chủ khoa học - công nghệ đồng bộ Đồng thời, quá trình này cũng đòi hỏi đội ngũ này phải: có tinh thần kỷ luật, tự giác, tiết kiệm nguyên vật liệu, thời gian; có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, có lương tâm nghề nghiệp; có tinh thần hợp tác và tác phong làm việc khẩn trương, năng động Nghĩa là người trí thức nói chung và trí thức người dân

tộc thiểu số nói riêng đều cần có văn hóa lao động công nghiệp

Trang 23

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay còn đòi hỏi đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn phải có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, yêu chủ nghĩa xã hội, thể hiện ở lòng quyết tâm đóng góp công sức và trí tuệ cùng nhân dân trong tỉnh sớm đưa tỉnh thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, vươn lên phát triển nhanh và bền vững Lòng yêu nước đó phải thấm vào con tim, khối óc và phải được thể hiện bằng những việc làm, hành động cụ thể chứ không phải chỉ bằng tình yêu trừu tượng hoặc mơ hồ nào đó

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới áp lực của lợi nhuận, lòng yêu nước của người trí thức phải được biểu hiện bằng sự dũng cảm vượt qua được chính mình, mà trước hết là vượt qua những tính toán vị kỷ, đầu óc hẹp hòi, bảo thủ, yếu kém về trí tuệ, không chịu học hỏi, không chịu đổi mới Đó còn là tinh thần hợp tác, cố kết cộng đồng chặt chẽ trong hoạt động khoa học và thực tiễn, vì trong điều kiện hiện nay, mỗi người

dù tài giỏi đến đâu cũng rất khó thành công nếu không chịu hợp tác với cộng đồng Đó còn là tinh thần, ý trí không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, dám nghĩ, dám làm, dám hội nhập quốc tế; hăng say học tập, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội biểu hiện ở bản lĩnh chính trị vững vàng, không lung lay, dao động trước những cám dỗ đời thường, nhất là trong thời điểm hiện nay khi các thế lực thù địch vẫn thường lợi dụng vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu

số để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” Vì vậy, đòi hỏi đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số, nhất là trí thức là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp không chỉ có đức, trung thành với lợi ích quốc gia, dân tộc, mà còn phải có năng lực tuyên truyền, giác ngộ đồng bào dân tộc thiểu số và quần chúng nói chung hiểu rõ những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước

và của chính quyền địa phương

Mặt khác, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn tác động trực tiếp đến các vấn đề phức tạp trong quan hệ giữa con người với thiên nhiên mà

Trang 24

sự tác động này chỉ có thể giải quyết tốt khi người trí thức có trình độ cao, có

sự hiểu biết và trách nhiệm cao trong việc tuyên truyền, hướng dẫn quần chúng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số từ bỏ thói quen khai thác tự nhiên một cách bừa bãi, như du canh du cư, đốt nương làm rẫy, để định canh định

cư, phát triển sản xuất gắn liền với bảo vệ, cải thiện môi trường sống, vì sự

phát triển bền vững của chính mình và tỉnh, cũng như của đất nước Đây là vấn đề sống còn đối với quốc gia, dân tộc và cả nhân loại

Hiện nay, nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với tác động tích cực và tiêu cực của nó Do vậy, đòi hỏi người

trí thức và trí thức người dân tộc thiểu số phải có ý thức tạo ra, vun đắp và gìn

giữ những giá trị nhân văn Môi trường sống có tính nhân văn là điều kiện

tiên quyết để nâng cao tính tích cực xã hội của người lao động trí óc trong tình hình hiện nay Kinh tế thị trường làm cho con người trở nên năng động, tích cực, nỗ lực, khôn ngoan, quyết đoán hơn Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường cũng làm gia tăng những hành động, những cách ứng xử vụ lợi

Thực tế những năm qua cho thấy ở tỉnh Lạng Sơn đã xuất hiện không ít cán bộ vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc quản lý kinh tế, quản lý tài chính, quản lý đất đai, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân Năng lực, phẩm chất đạo đức của một số cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ, một số cán bộ đảng viên thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng Tuy nhiên, nếu những sai lầm đó của một số cán

bộ không bị nghiêm trị kịp thời thì đây sẽ thực sự là một nguy cơ và do đó, rất

có thể những mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Lạng Sơn sẽ

không đạt được

Chính vì vậy, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Lạng Sơn đòi hỏi phải đề cao các giá trị nhân văn Đòi hỏi trí thức nói chung, trí thức người dân tộc thiểu số của tỉnh nói riêng phải có lối sống lành mạnh, nhân nghĩa, nếp sống văn minh, coi trọng chữ tín Họ phải biết và tôn trọng pháp

Trang 25

luật, kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng biểu hiện trong lao động sáng tạo, trong giao tiếp, ứng xử Đó là một số năng lực và phẩm chất cần có của người trí thức người dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó cũng chính là những yếu tố cơ bản

của một nhân cách phát triển toàn diện, đảm bảo cả đức và tài, vừa hồng vừa

chuyên, đáp ứng những yêu cầu mới của quá trình phát triển kinh tế - xã hội,

thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Lạng Sơn nhanh chóng

đi đến thắng lợi

Từ tiềm năng và thế mạnh của tỉnh về vị trí địa lý đặt ra yêu cầu là phải ưu tiên phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch và kinh tế cửa khẩu

Trước khi mở cửa khẩu, thông thương với Trung Quốc về kinh tế, văn hóa, kinh tế Lạng Sơn vẫn trong tình trạng kém phát triển, mức sống của người dân thấp, y tế, giáo dục và hạ tầng cơ sở vật chất xuống cấp gây ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tình trạng phân hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn rõ rệt Người dân sống gần như phụ thuộc vào thiên nhiên, chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi với qui mô nhỏ, năng suất thấp

Đầu năm 1990 khi Nhà nước cho phép mở rộng phát triển kinh tế cửa khẩu, dưới sự lãnh đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, các cơ quan, ban ngành có liên quan phối hợp thực hiện việc trao đổi buôn bán, xuất nhập khẩu hàng hóa qua hai cửa khẩu Tân Thanh và cửa khẩu Hữu Nghị Đây là điều kiện quan trọng cho Lạng Sơn phát triển kinh tế, thương mại và du lịch Lạng Sơn có thế mạnh về vị trí địa lý là nằm ở ngay cửa ngõ biên giới, giao thương với các nguồn lực phát triển bên ngoài đất nước và các địa phương trong nước Vị trí địa lý này càng được gia tăng về mặt giá trị và tầm quan trọng bởi các trục lộ phát triển của khu vực (vành đai vịnh Bắc Bộ, hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc ) đang hình thành và phát triển cùng với qui mô và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Lạng Sơn phấn đấu đến năm

Trang 26

2020 trở thành một trung tâm thương mại lớn ở khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc của đất nước, một đầu mối thương mại quốc tế quan trọng trong hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng với các kênh phân phối hàng hóa và dịch vụ văn minh hiện đại, một đầu mối du lịch lớn trong hệ thống các tuyến du lịch quan trọng của quốc gia

và khu vực Đa dạng hóa nhiều hình thức du lịch và nghỉ dưỡng trong đó có

du lịch văn hóa các dân tộc thiểu số Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu

tư, nâng cao chất lượng hoạt động thương mại, du lịch, dịch vụ

Về thương mại, tỉnh đã đầu tư mở rộng, hoàn thiện mạng lưới chợ, đặc

biệt chợ ở các trung tâm thành phố, các thị trấn và các khu vực cửa khẩu Phát triển mạnh một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, dựa trên lợi thế sẵn có của tỉnh Quy hoạch các vùng sản xuất tập trung phục vụ xuất khẩu phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể của từng khu vực Hạn chế tình trạng xuất khẩu thô, tăng nhanh tỷ trọng hàng chế biến Đẩy mạnh hợp tác liên doanh, tìm kiếm và tạo thêm một số mặt hàng và dịch vụ xuất khẩu mới có hàm lượng công nghệ cao, tạo cơ sở để nền kinh tế của tỉnh phát triển bền vững

Để phát triển mạnh kinh tế cửa khẩu, thương mại, dịch vụ, du lịch của tỉnh theo sự chỉ đạo của Trung ương, trước hết phải phát triển mạnh nguồn nhân lực, trong đó đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Vấn đề này được xác định là một trong những khâu đột phá để việc triển khai thực hiện chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh thành công Do vậy, phát triển nhanh số lượng, nâng cao chất lượng của đội ngũ trí thức nói chung và trí thức người dân tộc thiểu số trên lĩnh vực này được xem là hướng ưu tiên trong những năm tới

1.2.2 Vai trò của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh

Cùng với đội ngũ trí thức của tỉnh, đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh có những vai trò cơ bản sau:

Trang 27

Thứ nhất, cùng với cán bộ lãnh đạo của địa phương, đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số tuyên truyền và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Trí thức người dân tộc thiểu số có mặt mạnh là nắm vững ngôn ngữ dân tộc, thông hiểu địa bàn, phong tục, tập quán, tâm lý dân tộc, do vậy họ là lực lượng tuyên truyền có hiệu quả đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương xuống tận bản làng, đồng thời, góp phần thực hiện việc hoạch định, đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước ở địa phương, đưa những chủ trương chính sách đó vào cuộc sống

Lạng Sơn tập trung 85% cư dân là đồng bào dân tộc thiểu số Số cán bộ

là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ tương đối lớn Trí thức người dân tộc thiểu số cùng với đội ngũ cán bộ trên địa bàn tỉnh thực hiện vai trò là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, là lực lượng trung gian đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng - Nhà nước đến với nhân dân; đồng thời cũng là người tổ chức cho nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng của Đảng, của dân tộc Đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Chỉ có đồng bào và cán bộ người dân tộc mình mới hiểu dân tộc mình sâu sắc nhất, để phát huy mọi truyền thống tốt đẹp của dân tộc và mọi tiềm năng của quê hương mình trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội” [22, tr.3-4]

Không chỉ là cầu nối giữa Đảng với dân, đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số còn đóng vai trò trung tâm đoàn kết, khai thác tập hợp mọi nguồn lực, trí tuệ của Đảng viên và quần chúng, tổ chức và phát huy sức mạnh tập thể, động viên mọi người dân ra sức thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội

Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của toàn thể nhân dân lao động,

nó phải được thực hiện thông qua hoạt động tự giác của đông đảo quần chúng

có ý thức giác ngộ về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Do đó, công tác giáo dục tư tưởng, tuyên truyền lý luận cách mạng phải đi trước một bước Bởi

Trang 28

vì, bản thân lý luận không thể làm biến đổi hiện thực, nhưng nó có thể trở thành “lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [40, tr.580]

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta, để thành công thì những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cần được phổ biến sâu rộng, làm cho nhân dân nhận thức được sự cần thiết, lợi ích cũng như vai trò, nhiệm vụ của mình, từ đó thôi thúc mọi người dân tham gia một cách tự giác, tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khi ấy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ lý luận mới trở thành sức mạnh vật chất làm thay đổi sản xuất và đời sống xã hội

Với chức năng cơ bản là phổ biến, truyền bá kiến thức, trí thức nói chung và trí thức người dân tộc thiểu số nói riêng, nhất là những người trực tiếp công tác trong ngành văn hóa, tư tưởng giáo dục là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ này Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (báo viết, báo nói, báo hình) và các chương trình tập huấn, họ đã góp phần triển khai các nghị quyết, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước và của tỉnh về công nghiệp hóa, hiện đại hóa một cách nhanh chóng đến mọi người dân và ở khắp các địa bàn của tỉnh Trên cơ sở đó, giúp nhân dân hiểu, tích cực và chủ động tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ngoài ra, những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước còn được đội ngũ các nhà giáo người dân tộc thiểu số thực hiện dưới nhiều hình thức khác như lồng ghép vào các chương trình giảng dạy của các môn khoa học Mác-Lênin trong các trường, các lớp bồi dưỡng, nâng cao trình

độ lý luận cho cán bộ, đảng viên, v.v Qua đó giúp cho quần chúng nhân dân

và đồng bào các dân tộc thiểu số hiểu, thực hiện, đồng thời góp phần quan trọng vào việc ngăn chặn mọi sự xuyên tạc của kẻ thù và làm thất bại mọi âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch trong vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Trang 29

Thứ hai, trí thức người dân tộc thiểu số góp phần truyền bá tri thức, nâng cao dân trí, chuyển giao khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới đến các địa phương vùng đồng bào dân tộc

Với kiến thức chuyên môn của mình, cùng với các đồng nghiệp, trí thức dân tộc thiểu số trở thành lực lượng quan trọng trong việc truyền bá, hướng dẫn nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số nâng cao trình

độ dân trí, tiếp cận với những thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến hiện đại Trí thức người dân tộc thiểu số trở thành nguồn lực phát triển miền núi Lạng Sơn một cách toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng

- an ninh, trong đó trung tâm là phát triển kinh tế

Thông qua công tác tuyên truyền của đội ngũ trí thức, nhân dân các dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn nhận rõ để thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu trước hết phải có “cái chữ”, trình độ văn hóa phải được nâng cao Như vậy, chức năng khai sáng là hoạt động lớn và quan trọng của trí thức người dân tộc thiểu số Trí thức người dân tộc thiểu số trong các ngành văn hóa - giáo dục, bằng tuyên truyền, thông tin, giảng dạy đã tham gia trực tiếp trong việc xây dựng con người mới, nếp sống mới, xóa mù chữ, nâng cao mặt bằng dân trí ở từng vùng, làm hạn chế những hủ tục lạc hậu trong tư tưởng và tập tục của đồng bào dân tộc Những kiến thức khoa học mới thông qua các phương tiện thông tin đại chúng thực sự là cầu nối cộng đồng các dân tộc thiểu số với đất nước

và thế giới, giúp đồng bào dân tộc hiểu được để thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, miền núi phải xây dựng theo hướng kinh tế hàng hóa, liên kết chặt chẽ với các tỉnh đồng bằng Điều này chỉ có thể đạt được khi đưa nhanh tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào miền núi Trí thức dân tộc thiểu số là chủ thể đi đầu và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này, trong đó trách nhiệm lớn là bộ phận trí thức liên quan đến nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật ở lĩnh vực kinh tế trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông - lâm sản

Trang 30

Thứ ba, trí thức người dân tộc thiểu số có vai trò bảo lưu, giữ gìn, phát triển những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào các dân tộc của tỉnh

Hiện nay, trên địa bàn Lạng Sơn tập trung hơn 30 dân tộc anh em cùng đoàn kết sinh sống Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng, độc đáo Do vậy, văn hóa các dân tộc ở Lạng Sơn rất đa dạng và đặc sắc Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của mỗi dân tộc là thế mạnh để phát triển du lịch, văn hóa trong tỉnh

Lễ hô ̣i La ̣ng Sơn nhiều về số lượ ng, phong phú về nô ̣i dung và loa ̣i hình Đặc biệt , lễ hô ̣i La ̣ng Sơn vừa mang những đă ̣c trưng của lễ hô ̣i cổ truyền Viê ̣t Nam và vùng núi phía Bắc , vừa mang sắc thái riêng của vùng văn hóa Xứ Lạng Theo số liê ̣u khảo sát của Sở Văn hóa - Thông tin La ̣ng Sơn , đến năm 2003, Lạng Sơn có trên 365 lễ hô ̣i dân gian với tính chất , quy mô lớn, nhỏ khác nhau Các lễ hội thường được tổ chức vào mùa xuân , từ tháng giêng đến tháng tư âm li ̣ch hàng năm Các lễ hội đều mang nô ̣i dung xây dựng

và bảo vệ cuộc sống ấm no , hạnh phúc Ngoài các giá trị về tinh thần , văn hóa, lịch sử, lễ hô ̣i La ̣ng Sơn còn chứa đựng giá tri ̣ văn hóa - du li ̣ch sâu sắc

Vài năm gần đây, được sự chỉ đạo thường xuyên của các cấp, các ngành, đội ngũ cán bộ trí thức người dân tộc thiểu số, đặc biệt là đội ngũ nhà báo, nhà văn, nhà thơ (tiêu biểu như nữ Nhà thơ Hoàng Diệu Tuyết (dân tộc Tày) đã có nhiều đóng góp trong việc bảo lưu, quảng bá những nét đặc sắc của văn hóa các dân tộc ở Lạng Sơn Họ đã tổ chức nhiều hoạt động để bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn, như: Lễ hội Lồng Tồng (cầu mùa), lễ hội ném Còn, lễ hội Đâm Trâu tổ chức diễn các trò chơi dân gian của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Dao… Những lễ hội truyền thống ở Bản Ngà thuộc huyện Cao Lộc đã thu hút hàng vạn người dân địa phương tham dự với niềm tự hào về văn hóa truyền thống của dân tộc mình Trong cuô ̣c sống hiê ̣n đa ̣i đầy những lo toan , bô ̣n bề, trở về

Trang 31

không khí lễ hô ̣i , du khách như bỏ la ̣i đằng sau những tháng ngày mê ̣t mỏi , cùng hoà mình vào không khí tưng bừng của lễ hội , sôi nổi , tham gia vào những trò chơi dân gian giản di ̣ và thú vi ̣ , hay trở la ̣i những quan niê ̣m tâ m linh thời xưa Tất cả những cảm giác đó như mãi là lời mời go ̣i du khách đến với La ̣ng Sơn để cùng tham dự mô ̣t lễ hô ̣i truyền thống đầy chất huyền thoa ̣i

Trí thức người dân tộc thiểu số cùng với người dân bản địa ở Lạng Sơn luôn tự hào về thế mạnh và tiềm năng văn hóa - du lịch rất lớn của tỉnh Vào mỗi mùa lễ hội, trí thức người dân tộc thiểu số cùng với cán bộ lãnh đạo các địa phương và đông đảo đồng bào các dân tộc tổ chức ôn lại, dựng lại, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về lễ hội văn hóa của tỉnh Những hoạt động đó thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc tham gia với niềm vui, niềm tự hào về bản sắc văn hóa dân tộc Mỗi mùa lễ hội qua đi để lại ấn tượng sâu sắc với đồng bào các dân tộc, làm tăng tình cảm yêu quê hương, tự hào về những giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn, qua đó gìn giữ và quảng

bá những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số Lạng Sơn, đồng thời góp phần làm đa dạng, phong phú nền văn hóa Việt Nam

Cùng với trí thức người Kinh, trí thức người dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện “trí thức hóa công - nông”

Đội ngũ công nhân và nông dân là lực lượng cơ bản, to lớn, là chủ thể trực tiếp thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy: trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ này, nhất là công nhân, nông dân người dân tộc thiểu số còn rất hạn chế Để quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh thành công cần phải thực hiện “trí thức hóa công - nông” Đó là phải từng bước nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, đào tạo và đào tạo lại nghề và kỹ năng lao động cho đội ngũ công nhân và nông dân trong tỉnh Trong nhiệm vụ này đội ngũ trí thức đóng vai trò chủ yếu

Trang 32

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh bên cạnh số đông trí thức là người dân tộc thiểu số, số trí thức người Kinh cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao Đây

là lực lượng lao động có trình độ cao, nhạy bén, am hiểu khoa học kỹ thuật, chủ yếu tập trung sinh sống và làm việc ở trung tâm thành phố Để nâng cao trình độ cho công nhân và nông dân, giúp họ có đủ điều kiện và khả năng tham gia trực tiếp vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa một cách hiệu quả, cần phải kết hợp sự giúp đỡ giữa trí thức người Kinh

và trí thức người dân tộc thiểu số trong tỉnh Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách cần phải làm trong quá trình thực hiện liên minh công - nông - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng

1.3 Những yếu tố tác động đến sự phát triển của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trong điều kiện có tính đặc thù của tỉnh Lạng Sơn, việc làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số của tỉnh là vô cùng cần thiết, bởi đây là một trong những căn

cứ quan trọng để xây dựng những chủ trương, chính sách phát triển kinh tế -

xã hội nói chung, cũng như xây dựng chính sách phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số của tỉnh nói riêng

1.3.1 Tác động bởi yếu tố khách quan

Tác động bởi điều kiện tự nhiên và đặc điểm truyền thống tâm lý dân tộc

Là một tỉnh miền núi cao, nhiều vùng đồi núi hiểm trở, cơ sở hạ tầng, đường giao thông, điều kiện giáo dục kém phát triển, nên điều kiện về môi trường để phát triển giáo dục, nâng cao dân trí tất yếu bị hạn chế Vì vậy, đây chính là những yếu tố cơ bản cản trở làm cho tốc độ phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số của tỉnh diễn ra chậm, chưa đáp ứng được quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh

Lạng Sơn hiện nay có hơn 30 dân tộc anh em cùng sinh sống Trong đó, dân tộc Nùng (42,96%); Tày (35,89%); Kinh (15,27%); Hoa (0,35%) đều sinh

Trang 33

sống ở các huyện và thành phố Các dân tộc: Dao (3,47%) sinh sống ở 7/11 huyện và thành phố, dân tộc Sán Chay (0,56%) sinh sống ở 2/11 huyện và thành phố

Các dân tộc sinh sống đan xen với nhau thành làng, bản Đây là

điều kiện thuận lợi cho các dân tộc hiểu rõ về phong tục, tập quán, lối

sống, giao lưu văn hoá, giúp đỡ nhau cùng phát triển, từ đó góp phần thắt

chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc Cụ thể như sau:

Dân tộc Nùng có số dân đông nhất trong toàn tỉnh (42,97%), sống

định cư quanh các bản làng và ven núi Làng là đơn vị cơ sở của xã hội Nùng gồm nhiều tiểu gia đình phụ quyền mà tế bào gia đình là cha mẹ và con cái, trong đó, quyền thế tập thuộc về con trai trưởng Do vậy, tính gia trưởng thể hiện khá đậm nét trong dân tộc Nùng và trí thức người dân tộc Nùng Ảnh hưởng tích cực là tính quyết đoán trong công việc, song có mặt tiêu cực là tính độc đoán, chuyên quyền, hạn chế dân chủ Đây là điểm cần chú ý khắc phục, nhất là khi trí thức người Nùng tham gia công tác lãnh đạo, quản lý

Mỗi làng của người Nùng thường quần tụ nhiều dòng họ Đặc điểm nổi bật của người Nùng là tính cộng đồng, được thể hiện trên nhiều mặt đời sống của làng Các hình thức sản xuất tập thể được hình thành phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với từng đơn vị kinh tế gia đình Chẳng hạn như tổ chức nhóm lao động mà không phân định thành phần tham gia, được hình thành và tập hợp nhất thời theo mùa vụ, bằng sự tự nguyện của các thành viên nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách về nhân lực dưới hình thức đổi công Đối với những gia đình neo đơn, gặp hoạn nạn, hoặc mất mùa, đói kém, người dân trong làng thường giúp đỡ, cưu mang và không tính thiệt hơn

Đồng bào Nùng tổ chức nhiều lễ hội trong năm như tết cơm mới, lễ cầu mưa, hội Lồng Tồng Đời sống văn hóa, văn nghệ phong phú như hát

Trang 34

si, hát lượn, hát đối, múa sạp và thu hút đông đảo quần chúng tham gia Những đặc điểm này ảnh hưởng khá đậm nét đến mỗi người dân Nùng, kể

cả trong trí thức người Nùng Tính cộng đồng làm cho trí thức người Nùng có khả năng đoàn kết, hợp tác, qui tụ, gần gũi với quần chúng nhân dân và có ảnh hưởng tích cực trong công tác vận động quần chúng

Dân tộc Tày chiếm khoảng (35,92%) dân số trong toàn tỉnh, tập

trung chủ yếu ở huyện Bình Gia, huyện Bắc Sơn, sinh sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy Sống trong vùng có nhiều cư dân người Nùng, nên người Tày Lạng Sơn đã tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa Nùng (nhất là trang phục

và kiến trúc nhà cửa ) Nhưng đặc trưng văn hóa dân tộc Tày vẫn được người Tày giữ gìn và phát huy trong đời sống cộng đồng, biểu hiện qua ngôn ngữ, văn hóa, âm nhạc, kiến trúc, tập quán, tín ngưỡng, trang phục truyền thống Từ lâu đời, người Tày đã khai thác khu vực đáy thung lũng thành hệ thống ruộng để trồng lúa nước và thiết lập khu cư trú của mình ngay chân núi, cạnh các thung lũng Đặc điểm khu dân cư người Tày là mật tập, nghĩa là các gia đình làm nhà sàn liền mái, đi chung ngõ với nhau, vườn ở cạnh nhà, xung quanh nhà và trên nương Với lối sống này,

ý thức cộng đồng được đề cao trong quan hệ xã hội Người dân tộc Tày ở Lạng Sơn có lối sống đạt đến trình độ cao về phép tắc ứng xử trong quan

hệ gia đình, quan hệ bên nội, bên ngoại và quan hệ với khách Đó là thái

độ tận tình, hiếu khách, trân trọng dành cho khách tình cảm tốt đẹp nhất Những phẩm chất đó tạo cho trí thức người Tày luôn gần gũi, tôn trọng bạn bè, đồng nghiệp, xử lý công việc có tình có lý

Do sinh sống xen kẽ với người Kinh nên người Tày cũng có những nét tương đồng và học tập, tiếp thu được nhiều yếu tố tích cực của người Kinh, nhất là trong phương thức sản xuất Do vậy, nhìn chung đời sống kinh tế - xã hội của người Tày có điều kiện phát triển và ổn định và vì

Trang 35

vậy, trong đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số của tỉnh, trí thức người Tày khá đông

Người Hoa ở Lạng Sơn chiếm 0,37% dân số toàn tỉnh và sống tập

trung ở các huyện Văn Lãng, huyện Cao Lộc; huyện Lộc Bình Họ có những đặc điểm riêng về tập tục, thờ cúng thần linh và chịu ảnh hưởng rất lớn từ Nho giáo Do cư trú chủ yếu ở ven địa bàn gần biên giới giáp Trung Quốc nên người dân tộc Hoa nói chung và trí thức người Hoa rất nhạy bén, có tư duy linh hoạt trong kinh doanh, dễ thích ứng với mọi hoàn cảnh Họ có nền sản xuất nông nghiệp phát triển đa dạng, làng xóm hình thành từ vài chục gia đình, sống gắn bó với nhau

Dân tộc Dao ở Lạng Sơn chiếm khoảng (3,47%) dân số trong toàn

tỉnh, sinh sống chủ yếu ở các xóm, bản, các xã vùng cao, xa xôi hẻo lánh của các huyện Văn Quan, Cao Lộc, Đình Lập Dân tộc Dao có hai nhóm chính là: nhóm Dao tiểu bản và Dao đại bản Người Dao ở Lạng Sơn chủ yếu là Dao tiểu bản gồm 6 dòng họ: Triệu, Dương, Phùng, Lý, Trịnh, Bàn

Trước năm 1945, người Dao sống du cư trên các sườn núi cao, sống bằng nghề nương rẫy Ngày nay với chính sách của Đảng và Nhà nước, đại bộ phận người Dao đã xuống sinh sống xen kẽ với các dân tộc khác, định canh ở vùng thấp hơn, sống bằng trồng lúa nước, canh tác nương rẫy

và làm nghề thủ công như nghề mộc, dệt vải, thêu, nấu và trưng cất rượu Tiếng nói, chữ viết của người Dao có nguồn gốc từ quan hỏa, được nôm hóa thành tiếng Dao Hiện nay, người Dao ở Lạng Sơn không sử dụng chữ viết riêng mà chỉ còn số ít người già sử dụng chữ Nôm - Dao trong lập bùa, thờ cúng Các điệu hát ví, hát lượn, hát đối thường được

sử dụng trong các dịp lễ tết, ma chay

Do đặc điểm cư trú, lịch sử xã hội, nên người Dao có tâm lý rất tự trọng, có tri thức dân gian phong phú, nhất là y học dân tộc cổ truyền Người Dao ở Lạng Sơn rất mến khách và có tính cộng đồng dân tộc cao

Trang 36

Tất cả những đặc điểm này ảnh hưởng lớn đến trí thức người Dao, họ thường rất có trách nhiệm với công việc, sống gần gũi, chân tình với người thân và những người trong bản Tuy nhiên trí thức người Dao thường tự ty, tự ái, đôi khi bảo thủ

Dân tộc H’mông ở Lạng Sơn chiếm khoảng (1,41%) dân số trong

toàn tỉnh, sinh sống chủ yếu ở các vùng núi cao, vùng sâu (tập trung ở các

xã Cao Lâu, Xuất Lễ, Mẫu Sơn ), trình độ dân trí thấp, số lượng trí thức rất hạn chế do vậy cần phải có chính sách để phát triển trí thức người H’mông Tiếng H’mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao Người H’mông sống bằng nghề nương rẫy, đã định cư nhưng một bộ phận còn du canh Các dòng họ sống quây quần thành từng cụm Trưởng họ lo đảm nhiệm việc chung; người cùng dòng họ có thể đẻ và chết trong nhà nhau với quan niệm cùng một tổ tiên phải giúp đỡ, cưu mang lẫn nhau Ngày nay, do điều kiện môi trường sống và các yếu tố lịch sử chi phối nên người H’mông còn gặp rất nhiều khó khăn trong ổn định cuộc sống và trong phát triển sản xuất của mình

Từ sự phân tích đặc điểm của một số dân tộc điển hình ở Lạng Sơn như trên có thể rút ra kết luận: Là con em của các dân tộc thiểu số sống trên địa bàn tỉnh, nên trí thức dân tộc thiểu số cũng mang đậm trong mình những đặc điểm nổi bật của dân tộc họ và được in dấu ấn đặc sắc trong lối sống, thói quen, sinh hoạt, trong tiềm thức của họ

Cũng do xuất phát điểm còn thấp, lại bị ảnh hưởng nhiều bởi những phong tục, tập quán còn lạc hậu, nên nhìn chung đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn số lượng còn ít; chất lượng hạn chế, bị ảnh hưởng bởi tri thức kinh nghiệm Do vậy, vấn đề đặt ra là phải nâng cao trình độ năng lực một cách toàn diện cho đội ngũ này sao cho họ giỏi về chuyên môn, có khả năng nắm bắt và xử lý thông tin, nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, Nhà Nước, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và biết vận dụng vào điều kiện,

Trang 37

hoàn cảnh cụ thể một cách có hiệu quả, nhất là năng lực tổ chức thực tiễn, tức

là khả năng chuyển hoá các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước thành hiện thực trong đời sống hàng ngày ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và

ở các vị trí mà họ đảm trách Chẳng hạn, trong điều kiện hiện nay, có nhiều chương trình dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh, đòi hỏi đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số phải có năng lực để triển khai có hiệu quả các chương trình dự án đó; ngoài ra trí thức người dân tộc thiểu số còn phải có năng lực tập hợp, lôi cuốn đông đảo quần chúng tích cực tham gia thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị

ở địa phương

Do vậy, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhất là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn miền núi Lạng Sơn hiện nay đòi hỏi cấp thiết phải phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số, cả về số lượng, chất lượng với một cơ cấu hợp lý

- Tác động bởi kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Kinh tế thị trường ở Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Yếu tố này tác động đến mỗi con người, trong đó có trí thức người dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn theo cả hai chiều tích cực và hạn chế

hai chiều thuận và nghịch

Trang 38

Kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã tác động tích cực đến khuynh hướng phát triển đa dạng, phong phú trong hoạt động văn hóa của tỉnh Các chính sách kinh tế mới sẽ tạo ra cơ sở kinh tế - xã hội mới cho các hoạt động văn hóa của tỉnh có cơ hội giao lưu, quảng bá những nét đẹp văn hóa của các dân tộc thiểu số trong tỉnh Nhờ những chính sách mới, phù hợp mà những tiềm năng văn hóa vốn tiềm ẩn sẽ được bộc lộ phát triển với nhiều hình thức phong phú khác nhau Nhiều thành phần xã hội sẽ cùng với đông đảo đồng bào dân tộc thiểu số tham gia vào quá trình phát triển văn hóa Hàng năm, Sở Thương Mại và Sở Văn hóa du lịch Lạng Sơn thường kết hợp tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa giữa Lạng Sơn và Trung Quốc, tổ chức các hội chợ bán hàng Việt Nam và Trung Quốc, tạo ra nhiều điều kiện giao lưu, phát triển về kinh tế, văn hóa giữa Lạng Sơn với Trung Quốc Thông qua những hoạt động này, trí thức người dân tộc thiểu số trong các ngành văn hóa - du lịch được trao đổi, giao lưu và nâng cao trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ trong giao tiếp

Kinh tế thị trường chấp nhận nhiều hình thức sở hữu khác nhau, các thành phần kinh tế tác động và bình đẳng với nhau trong thực hiện các quyền kinh tế Đặc điểm này tác động lớn đến tư duy của đồng bào các dân tộc Lạng Sơn, trong đó có đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số, họ thấy được khả năng, tiềm năng và thế mạnh của tỉnh nên không ngừng học hỏi, tìm kiếm cơ hội giao lưu, đầu tư và hợp tác để phát triển

Kinh tế thị trường thúc đẩy hoạt động văn hóa theo hướng xã hội hóa Ý thức dân chủ, vai trò cá nhân, sự tự ý thức về bản thân sẽ có điều kiện và cơ hội để phát triển Quá trình sáng tạo, phổ biến các giá trị văn hóa sẽ thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh Kinh tế thị trường cũng đề cao trách nhiệm cá nhân, gắn liền động cơ và hiệu quả như là một chuẩn mực giá trị trong hoạt động của con người, trong nhân cách mỗi người

Trang 39

Như vậy, dưới sự tác động của kinh tế thị trường và hội nhập, trí thức người dân tộc thiểu số cũng trở nên năng động, nhạy bén hơn và dần dần khắc phục lối tư duy cảm tính, tư duy kinh nghiệm, chủ quan và phải rèn luyện, nâng cao phương thức tư duy khoa học Kinh tế thị trường là điều kiện kích thích tăng năng suất lao động không ngừng Sự tìm tòi, sáng tạo của cá nhân luôn được khuyến khích Chính điều này đòi hỏi mỗi trí thức dân tộc thiểu số phải không ngừng học tập, rèn luyện tay nghề, rèn luyện bản thân Kinh tế thị trường cũng rất nghiêm khắc đào thải những trì trệ, sự lạc hậu, lỗi thời của con người và các sản phẩm kém về chất lượng cũng như hình thức

Về phương diện đạo đức, lối sống, sự ảnh hưởng tích cực của kinh

tế thị trường và hội nhập quốc tế đến trí thức người dân tộc thiểu số là từng bước hình thành nhân cách tự chủ, rèn luyện đội ngũ này ý thức lao động, bản lĩnh trong công việc, năng động, thích nghi và sáng tạo

là giá trị chân thực duy nhất dùng để đo các giá trị khác Họ định giá trị của con người căn cứ vào của cải của người đó, từ đó tìm các quan hệ trong sự đem lại lợi ích gì cho cá nhân mình Từ đây mà các quan hệ tình cảm cao đẹp, ấm áp tình người vốn là bản chất của trí thức người dân tộc thiểu số có nguy cơ bị băng hoại trong sự tính toán vị kỷ Biểu hiện là: từ

Trang 40

chỗ lấy con người tập thể, con người xã hội làm mẫu mực (hy sinh vì tập thể, vì cộng đồng) là đạo đức cao nhất của người trí thức dân tộc thiểu số nay có thể trượt sang tuyệt đối hóa con người cá nhân; từ chỗ lấy lý tưởng, đạo đức làm mẫu mực chuyển sang coi thường đạo đức, phẩm giá Chính vì vậy những hiện tượng tham ô, hối lộ, móc ngoặc, buôn lậu, lừa đảo, làm hàng giả, mua quan bán chức, chạy chức, chạy quyền đang có chiều hướng phát triển trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có một bộ phận trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh

1.3.2 Tác động bởi yếu tố chủ quan

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước tác động đến sự phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số

Ý thức rõ tầm quan trọng của trí thức người dân tộc thiểu số, trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp

để phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng của đội ngũ này Do đó, số lượng trí thức người dân tộc thiểu số trên phạm vi cả nước ngày càng tăng về

số lượng và chất lượng, trí thức người dân tộc thiểu số có trình độ trên đại học, đại học và cao đẳng ngày càng tăng Số dân tộc có con em đạt trình độ cao đẳng, đại học ngày càng tăng không chỉ ở các dân tộc thiểu số có số lượng dân lớn như Thái, Mường, Tày, Nùng mà ở cả các dân tộc có số dân ít

Những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách lớn phát triển vùng dân tộc miền núi như Chương trình 135 (chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn) Nghị quyết Trung ương bảy khóa IX (2001) của Bộ Chính Trị về công tác dân tộc Nghị quyết Trung ương bảy khóa X (2006) về xây dựng giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Triển khai thực hiện chương trình và Nghị quyết này, Lạng Sơn

đã xây dựng kế hoạch thực hiện tốt Chương trình 135 qua các giai đoạn, nhờ

đó thúc đẩy sản xuất vùng dân tộc thiểu số phát triển, chuyển dịch cơ cấu sản

Ngày đăng: 28/04/2020, 09:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết hội nghị trung ương Đảng, Khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết hội nghị trung ương Đảng, Khóa X
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2008
6. Báo Lạng Sơn (2005), “Các nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh”, (2115), ra ngày 10/9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Lạng Sơn" (2005), “"Các nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh
Tác giả: Báo Lạng Sơn
Năm: 2005
7. Bộ Nội vụ, Ban Quản lý dự án ADL - ủy ban dân tộc (2004), Báo cáo tổng hợp các văn bản tham luận tại Hội thảo chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức dân tộc thiểu số, tháng 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp các văn bản tham luận tại Hội thảo chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức dân tộc thiểu số
Tác giả: Bộ Nội vụ, Ban Quản lý dự án ADL - ủy ban dân tộc
Năm: 2004
8. Cục Thống kê Lạng Sơn (2004), Niên giám Thống kê tỉnh Lạng Sơn năm 2003, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê tỉnh Lạng Sơn năm 2003
Tác giả: Cục Thống kê Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2004
9. Cục Thống kê Lạng Sơn (2008), Niên giám Thống kê tỉnh Lạng Sơn năm 2007, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê tỉnh Lạng Sơn năm 2007
Tác giả: Cục Thống kê Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2008
10. Cục Thống kê Lạng Sơn (2009), Niên giám Thống kê tỉnh Lạng Sơn năm 2008, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê tỉnh Lạng Sơn năm 2008
Tác giả: Cục Thống kê Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2009
11. Cục Thống kê Lạng Sơn (2010), Thống kê kinh tế - xã hội 2005-2010, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê kinh tế - xã hội 2005-2010
Tác giả: Cục Thống kê Lạng Sơn
Năm: 2010
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị số 45 - CT/TW ngày 11/11 về đẩy mạnh hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 45 - CT/TW ngày 11/11 về đẩy mạnh hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 1998
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Thông báo Kết luận số 145-TB/TW ngày 09/7 của Ban Bí thư về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chỉ thị 45- CT/TW đối với Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo Kết luận số 145-TB/TW ngày 09/7 của Ban Bí thư về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chỉ thị 45-CT/TW đối với Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến năm 2010
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2004
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2008), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Năm: 2008
21. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
22. Phạm Văn Đồng (1986), "Truyền thống tốt đẹp của Việt Nam: sự đoàn kết hòa hợp của các dân tộc anh em cùng nhau giữ nước và dựng nước", Báo Nhân dân, ra ngày 15/1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống tốt đẹp của Việt Nam: sự đoàn kết hòa hợp của các dân tộc anh em cùng nhau giữ nước và dựng nước
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Năm: 1986
23. Trần Ngọc Hiên (2003), "Tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển đội ngũ trí thức và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam", Tin hoạt động các Hội Khoa học và Kỹ thuật, (4), tr.15-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển đội ngũ trí thức và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Hiên
Năm: 2003
24. Trần Đình Hoan (2002), "Luân chuyển cán bộ - khâu đột phá nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ngang tầm thời kỳ phát triển mới", Tạp chí Cộng sản, (7), tr.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luân chuyển cán bộ - khâu đột phá nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ngang tầm thời kỳ phát triển mới
Tác giả: Trần Đình Hoan
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w