1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ tt

28 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 330,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QLNN đối với hoạt động này đang đối diện với một số thách thức lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và hiệu suất của hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN, cụ thể là i có sự đan xen, chồn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

Công trình được hoàn thành: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Lê Thị Vân Hạnh

2 PGS.TS Trần Quốc Thắng

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện Địa điểm: Phòng bảo vệ luận án tiến sĩ - Phòng họp nhà

Học viện Hành chính quốc gia 77 Nguyễn Chí Thanh - Đống Đa - Hà Nội

Thời gian: vào hồi giờ, ngày tháng năm 2020

Có thể tìm hiểu Luận án tại Thư viện Quốc gia

hoặc Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1 Lương Văn Thắng “Suy nghĩ về một số nét mới trong hoạt động hợp

tác quốc tế về KH&CN"; Tạp chí hoạt động khoa học và công nghệ (ISSN

1859 - 4794), Số 640 (9/2012), Năm thứ 54, Trang 52-55

2 Lương Văn Thắng, “Suy nghĩ về mô hình quản lý công mới và khả

năng áp dụng trong quản lý khoa học và công nghệ ở Việt Nam”; Tạp

chí chính sách và quản lý khoa học và công nghệ (ISSN 1859-3801); Tập

6, Số 1 (2017), Trang 1-13

3 Lương Văn Thắng, “Một số xu thế hợp tác quốc tế về khoa học và

công nghệ”, Tạp chí đối ngoại (ISSN 1859-2899), Số 96 (10/2017),

Trang 29-33

4 Lương Văn Thắng, “Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN của Việt

Nam”, Tạp chí đối ngoại (ISSN 1859-2899), Số 104 (6/2018), Trang

13-17

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

“Đối ngoại là cánh tay nối dài của đối nội” Điều này được hiểu

là hợp tác quốc tế là một kênh quan trọng để hợp lực với nguồn lực trong nước thực hiện thành công chính sách quốc gia Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) cũng có vai trò quan trọng như vậy Trong từng giai đoạn phát triển kinh tế

- xã hội của Việt Nam, KH&CN luôn được xác định là động lực, nền tảng, quốc sách hàng đầu KH&CN giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế Do vậy, hợp tác quốc tế trở thành một bộ phận không thể tách rời của phát triển KH&CN Hợp tác quốc tế về KH&CN góp phần nâng cao trình độ nghiên cứu trong nước, rút ngắn khoảng cách công nghệ với thế giới, cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tăng cường tiềm lực KH&CN cho Việt Nam Thêm vào đó, hợp tác quốc tế về KH&CN còn là một thành tố trong các hoạt động ngoại giao của đất nước

Thực tiễn thời gian qua, đặc biệt là từ khi Luật KH&CN đầu tiên được ra đời năm 2000, hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN đã có đạt được hiệu quả nhất định Tuy nhiên kết

quả của hoạt động này vẫn chưa như mong đợi QLNN đối với hoạt động này đang đối diện với một số thách thức lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và hiệu suất của hoạt động hợp tác quốc tế

về KH&CN, cụ thể là (i) có sự đan xen, chồng chéo giữa QLNN

đối với các ngành KH&CN, đối ngoại-kinh tế-an ninh chưa thúc đẩy hình thành được một hành lang thông suốt cho hoạt động hợp tác quốc tế; (ii) bộ máy tham gia vào công tác QLNN có nhiều đầu mối, nhiều tổ chức hành chính trung gian tạo ra những cản trở nhất định; (iii) hệ thống văn bản pháp lý trực tiếp hoặc gián tiếp điều chỉnh hợp tác quốc tế về KH&CN đồ sộ, khó phân tách,

Trang 5

chồng chéo, thiếu một chiến lược xuyên suốt và lâu dài; (iv) chưa

có được cơ chế tài chính công đủ mạnh, phù hợp với đặc thù để phát huy tối đa hiệu quả của hợp tác quốc tế về KH&CN Về mặt

lý luận, do QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN là một góc hẹp trong nghiên cứu về quản lý công, nên hiện nay có

rất ít công trình đề cập tổng thể đến nội dung này Do vậy, nghiên cứu để đổi mới công tác QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN cho Việt Nam trong giai đoạn tới trở nên rất cần thiết

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

(i) Nghiên cứu cơ sở lí luận về

- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN (khái niệm, đặc điểm, nội dung)

- QLNN đối với hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN (khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc cơ bản để tổ chức và vận hành QLNN

về hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN)

(ii) Nghiên cứu kinh nghiệm một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam liên quan đến QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

(iii) Nghiên cứu thực trạng QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2017; và phân tích đánh giá những điểm mạnh và điểm hạn chế tác động đến kết quả QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN ở Việt Nam

Trang 6

(iv) Nghiên cứu các mục tiêu, định hướng nội dung hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN của Việt Nam, một số xu thế lớn trên thế giới tác động đến phát triển KH&CN quốc gia

(v) Áp dụng cơ sở lí luận về những nguyên tắc QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN để đề xuất các giải pháp đổi mới công tác QLNN đối với nội dung này cho Việt Nam giai đoạn 2018 - 2030

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

lý luận; (iii) thực trạng ở Việt Nam; (iv) giải pháp đổi mới QLNN

về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Việt Nam Trong đó, ngoài phần “Tổng quan nghiên cứu”, 03 phần còn lại đều phân tích sâu vào 03 nhóm vấn đề nói trên

+) Về thời gian: Giai đoạn từ 2000 (từ sự ra đời của Luật KH&CN đầu tiên) cho đến năm 2030 (thời điểm kết thúc của tầm nhìn chiến lược KH&CN đến 2030)

+) Về không gian: Hoạt động QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN ở Việt Nam

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận: Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử;

tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại; quan điểm của Đảng về QLNN, tổ chức bộ máy, tầm nhìn và định hướng phát triển của Việt Nam

Trang 7

4.2 Các phương pháp: Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ

cấp, điều tra xã hội, phỏng vấn chuyên gia, lịch sử, phân tích, so sánh và tổng hợp, dự báo, quan sát,

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

5.1 Câu hỏi nghiên cứu:

(i) QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN cần được

tổ chức thực hiện trên những nguyên tắc nào?

(ii) Trong giai đoạn 2018 - 2030, những giải pháp cơ bản để đổi mới QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN ở Việt Nam là gì?

5.2 Giả thuyết khoa học:

(i) QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN cần được thực hiện trên một số nguyên tắc sau:

- Thứ nhất: Kết hợp giữa tập quyền và phân quyền trong phân

bổ quyền lực và tổ chức bộ máy quản lý, trong đó tập quyền tập trung một số ít nội dung, đẩy mạnh phân quyền triệt để;

- Thứ hai: Đồng bộ hóa các quy định vĩ mô, tối giản các quy định vĩ mô trong hệ thống văn bản quản lý;

- Thứ ba: Tạo lập cơ chế tài chính công sử dụng đồng thời

“lực đẩy” và “lực hút” của ngân sách và phân bổ tài chính dựa trên kết quả đầu ra

(ii) Giai đoạn 2018 - 2030, QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN của Việt Nam cần đổi mới theo một số định hướng và giải pháp như sau:

- Trong phân bổ quyền lực và tổ chức bộ máy quản lý: Cơ quan QLNN chỉ nên giữ quyền ra quyết định đối với một số ít nội dung, phân cấp đồng bộ đến trực tiếp cho các đơn vị/tổ chức thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN; giảm đầu mối cơ quan quản lý trung gian; khuyến khích sự ra đời và tham gia của các đơn vị sự nghiệp tự chủ, doanh nghiệp tư nhân trong việc xúc tiến hợp tác quốc tế về KH&CN

- Trong xây dựng hệ thống văn bản quản lý: giảm số lượng văn bản vĩ mô (chỉ tập trung vào một số ít văn bản lớn quy định

Trang 8

mục tiêu chiến lược, nguyên tắc phân bổ kinh phí, cơ chế giám sát kết quả đầu ra, ); hình thành một số chương trình hợp tác quốc tế về KH&CN có mục tiêu chiến lược dài hạn (đây là một dạng xây dựng các văn bản vĩ mô có tính hiện thực cao)

- Trong sử dụng tài chính công: cần đồng bộ hóa và đơn giản hóa các quy định về sự dụng ngân sách cho hợp tác quốc tế về KH&CN; áp dụng triệt để cơ chế cấp phát ngân sách dựa vào hiệu quả chi tiêu đồng vốn quốc gia; sử dụng tối ưu ngân sách quốc gia thông qua các hình thức vốn đối ứng để huy động các nguồn tài chính ngoài ngân sách (trong đó có một phần lớn từ đối tác nước ngoài); hình thành cơ chế tài chính “đặc biệt” cho một số chương trình HTQT về KH&CN có tính chiến lược lâu dài (nhập khẩu công nghệ, thu hút chuyên gia giỏi nước ngoài, )

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

Về lý luận, Luận án góp phần củng cố lý thuyết về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN và QLNN đối với hoạt động này, bao gồm khái niệm, đặc điểm, mô hình (nguyên tắc chính để thiết

kế và vận hành công tác QLNN)

Về mặt thực tiễn, Luận án sẽ cung cấp thực trạng và những nhận xét đánh giá về công tác QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN giai đoạn 2000 - 2017; và các định hướng để đổi mới công tác QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN trong giai đoạn 2018 - 2030

7 Kết cấu của Luận án

Luận án sẽ bao gồm các nội dung chính sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Chương 4: Định hướng và giải pháp đổi mới quản lý nhà nước

về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Kết luận

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

Nhiều học giả nghiên cứu về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN, trong đó đề cập đến các vấn đề như: khái niệm; quan điểm (xem hợp tác quốc tế về KH&CN là công cụ phát triển KH&CN hay là một công cụ của đối ngoại); xu hướng phát triển; tác động đối với quốc gia (đến các nước phát triển và đang phát triển); nội dung và hình thức Hợp tác quốc tế về KH&CN của Việt Nam chủ yếu được nghiên cứu bởi các nhà khoa học trong nước, trong đó chủ yếu nhìn hợp tác quốc tế là một nội dung nhỏ trong hoạt động KH&CN

Tác giả nhận thấy rằng, khái niệm hợp tác quốc tế về KH&CN

hiện đang sử dụng chưa nêu rõ được nội hàm cũng như yếu tố

ngoại diên của khái niệm này Quan điểm về hợp tác quốc tế trong

lĩnh vực KH&CN chưa phân tích được sự tương thích của mỗi quan điểm đối với quốc gia phát triển hay đang phát triển, hoặc cụ thể hơn là từng giai đoạn phát triển của một quốc gia Thêm vào

đó, quan điểm này cũng chưa được xem xét trong bối cảnh hội

nhập quốc tế đang là một xu thế tất yếu trên mọi lĩnh vực Xu hướng hợp tác quốc tế về KH&CN chưa đề cập nhiều và hệ thống;

chưa nghiên cứu về lộ trình để thích ứng hoặc khai thác cơ hội do

xu hướng đem lại cho các nước, đặc biệt là nước đang phát triển

Nội dung và hình thức hợp tác quốc tế về KH&CN nghiên cứu khá

đa dạng, tuy nhiên vẫn chưa phù hợp để chỉ ra được đâu là mô hình QLNN tương thích với hợp tác quốc tế

1.2 QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

Hiện nay tác giả chưa được tiếp cận tài liệu nghiên cứu nào

về QLNN đối với hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Các nghiên cứu chủ yếu về QLNN nói chung hoặc QLNN về KH&CN Các công bố đến nay chỉ giới hạn ở một số gợi ý, khuyến nghị chính sách nhất định để thúc đẩy hợp tác quốc tế

Trang 10

trong lĩnh vực KH&CN, và thường bị đóng khung trong các chính sách phát triển KH&CN, hoặc kinh tế, đối ngoại và an ninh

Do đó, các vấn đề chủ yếu liên quan đến QLNN về hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN như khái niệm, chủ thể, đối tượng, vai trò, đặc điểm, nội dung quản lý, mô hình hoặc các nguyên tắc cơ bản để tổ chức và vận hành công tác QLNN đối với nội dung này vẫn cần phải được nghiên cứu để bổ sung đầy

đủ hơn, tạo cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả công tác QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

Như vậy, QLNN đối với hợp tác quốc tế về KH&CN là một vấn đề mới, các nghiên cứu hiện có đề cập rất ít và không hệ thống về nội dung này Tác giả sẽ thực hiện đề tài này với sự kế thừa những kết quả của các công trình công bố trước đây, đồng thời đưa ra một số quan điểm và chứng minh một số luận điểm của mình liên quan đến chủ đề nghiên cứu

Trang 11

CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC KH&CN

2.1 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

2.1.1 Khái niệm

“Hợp tác quốc tế về KH&CN là tất cả các hoạt động tương tác quốc tế giữa các cá nhân, tổ chức bao gồm cả chính phủ và phi chính phủ, lợi nhuận và phi lợi nhuận trong lãnh thổ một quốc gia với đối tác bên ngoài quốc gia liên quan đến KH&CN nhằm đạt được mục tiêu đề ra”

2.1.2 Đặc điểm

Hợp tác quốc tế về KH&CN có 5 đặc điểm chính (i) tính tự nhiên; (ii) tính cạnh tranh; (iii) tính lan tỏa lợi ích; (iv) tính hợp lực với ngoại giao quốc gia; (v) tính trách nhiệm quốc tế

2.1.3 Nội dung chủ yếu

Nhóm 1: hợp tác tạo ra tri thức khoa học Gồm hợp tác nghiên

cứu khoa học; trao đổi các nhà khoa học; đào tạo tiến sĩ, sau tiến

sĩ (gắn với các dự án nghiên cứu); chia sẻ thông tin KH&CN; cùng xuất bản các công trình khoa học dưới hình thức đồng tác giả; và việc sử dụng tài chính cho các nội dung này

Nhóm 2: hợp tác tạo ra công nghệ Gồm hợp tác ươm tạo và

phát triển ý tưởng công nghệ; hợp tác phát triển, thử nghiệm và đổi mới công nghệ; đào tạo kỹ sư, chuyên gia công nghệ; chia sẻ hạ tầng nghiên cứu; chia sẻ/chuyển giao/tìm kiếm các bí quyết công nghệ, và sử dụng tài chính cho các nội dung này

Nhóm 3: hợp tác ứng dụng KH&CN vào thực tiễn Gồm: (i)

hợp tác thương mại hóa công nghệ (ví dụ: hợp tác chuyển giao công nghệ, hợp tác thích hợp công nghệ, nhập khẩu công nghệ); (ii) hợp tác trong các dự án KH&CN quy mô lớn (ví dụ: nghiên cứu không gian); (iii) hợp tác để xử lý các thách thức về KH&CN quy mô khu vực và toàn cầu (ví dụ: biến đổi khí hậu); và (iv) sử dụng tài chính cho các nội dung này

Trang 12

2.2 Quản lý nhà nước về HTQT trong lĩnh vực KH&CN

2.2.1 Khái niệm

2.2.1.1 Quản lý

“Quản lý là việc sử dụng các công cụ và huy động nguồn lực

để tác động lên một hệ thống nào đó nhằm đưa hệ thống đó đạt được mục tiêu đề ra, trong đó bao gồm 2 mục tiêu chính là duy trì sự ổn định và phát triển hệ thống”

2.2.1.2 Quản lý nhà nước

“QLNN là sự chỉ huy, điều hành và phục vụ xã hội của các cơ quan quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước nhằm đảm bảo mục đích của quốc gia trong từng giai đoạn phát triển, trong đó mục đích chủ đạo

là duy trì sự ổn định và thúc đẩy phát triển bền vững”

2.2.1.3 QLNN về HTQT trong lĩnh vực KH&CN

“QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN là sự chỉ huy, điều hành và phục vụ của các cơ quan quyền lực nhà nước đối với các tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động hợp tác KH&CN với đối tác nước ngoài (trong khuôn khổ song phương

và đa phương) nhằm hỗ trợ phát triển KH&CN, phục vụ phát triển kinh tế và đối ngoại quốc gia”

2.2.2 Vai trò

- “Chỉ huy” và “điều hành” (chức năng cai trị): QLNN đảm bảo (i) thống nhất định hướng và chiến lược phát triển, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở quy mô quốc tế; (ii) hạn chế các công nghệ lạc hậu, độc hại gây ô nhiễm môi trường từ nước ngoài; (iii) đảm bảo an ninh công nghệ quốc gia thông qua HTQT

- “Phục vụ” (chức năng hỗ trợ): QLNN đảm bảo quốc gia trở thành một nơi hấp dẫn cho cộng đồng KH&CN quốc tế hợp tác thực hiện hoạt động KH&CN tiên tiến, giúp quốc gia (i) chia sẻ và tối đa hóa chi phí đầu tư; (ii) nâng cao chất lượng KH&CN nội sinh; (iii) thu hút thêm nguồn lực công nghệ để tạo ra những hàng hóa mới có giá trị gia tăng cao; (iv) tham gia xử lý các vấn đề KH&CN toàn cầu, tham gia các dự án KH&CN lớn của thế giới; (v) tránh tụt hậu về KH&CN

Trang 13

2.2.3 Đặc điểm

Có 3 đặc điểm chính: (i) tính liên ngành cao; (ii) tính quốc tế; (iii) tính nổi trội của “hỗ trợ” so với “cai trị”

2.2.4 Nội dung chính: Có 3 nội dung chính:

(i) Phân công quyền lực và tổ chức bộ máy QLNN: bao gồm các hoạt động như phân công trách nhiệm/thẩm quyền ra quyết định, điều hành, điều phối, thanh tra, giám sát, đánh giá của chủ thể đối với đối tượng quản lý, giữa chủ thể với nhau liên quan đến hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Ngoài ra còn bao gồm nội dung sắp xếp bộ máy (thành lập, sát nhập, giải thể đơn vị; quy định chức năng nhiệm vụ, ), tổ chức nhân sự (tuyển dụng, điều động, bổ nhiệm, đào tạo, ) Nội dung này được thực hiện cùng với nội dung của QLNN đối với ngành (ii) Xây dựng các văn bản quản lý: bao gồm các hoạt động như xây dựng chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, luật, các quy định dưới luật liên quan đến hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN; ngoài ra còn bao gồm các hoạt động xây dựng, đàm phán và ký kết các hiệp định, văn bản thỏa thuận hợp tác với đối tác nước ngoài về KH&CN

(iii) Sử dụng công cụ tài chính công: bao gồm các hoạt động như tìm kiếm, sử dụng và quản lý nguồn ngân sách, các khoản đầu tư công thông qua chương trình/dự án; quản lý các khoản thu chi; thu hút nguồn vốn từ đối tác nước ngoài để hỗ trợ hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN

2.2.5 Nguyên tắc cơ bản: Có 3 nguyên tắc chính:

(i) Nguyên tắc thứ nhất: Kết hợp giữa phân quyền và tập quyền trong phân bổ quyền lực và tổ chức bộ máy quản lý; (ii) Nguyên tắc thứ hai: Đồng bộ hóa các quy định vĩ mô, tối giản quy định vi mô trong xây dựng hệ thống văn bản quản lý; (iii) Nguyên tắc thứ ba: Tạo lập cơ chế tài chính công sử dụng đồng thời “lực đẩy”/ “lực hút” của ngân sách và áp dụng phân bổ

tài chính dựa trên kết quả đầu ra

Trang 14

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC KH&CN

3.1 Thực trạng

3.1.1 Về quyền lực và tổ chức bộ máy

Về phân bổ quyền QLNN, QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh

vực KH&CN không chỉ chịu sự quản lý thống nhất của Bộ KH&CN; mà còn chịu sự quản lý của nhiều bộ, ngành có liên quan như Bộ Ngoại giao, Công an, Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính,

và UBND các địa phương Trong khi đó, về quyền trực tiếp thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN được trao

quyền rất lớn đến các tổ chức KH&CN, doanh nghiệp, cá nhân nhà khoa học

Về tổ chức bộ máy QLNN và thực hiện hoạt động HTQT về KH&CN, gồm 3 nhóm chính như sau:

Nhóm 1, các cơ quan QLNN đối với hợp tác quốc tế về KH&CN: Chính phủ trực tiếp và thống nhất quản lý hoạt động

này Trong đó, Bộ KH&CN được giao là đầu mối thống nhất quản lý về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Tuy nhiên, các bộ khác như Ngoại giao, Công an, Quốc phòng, các Bộ chuyên ngành như Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Xây dựng, Giao thông vận tải, và UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương cũng được phân công trách nhiệm quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN

Nhóm 2, các cơ quan hỗ trợ quản lý hợp tác quốc tế về KH&CN: Đó là các tổ chức như 2 viện hàn lâm quốc gia là Viện

Hàn lâm KH&CN Việt Nam (VAST) và Viện Hàn lâm khoa học

xã hội (VASS) Đây là 2 cơ quan thuộc Chính phủ, không có chức năng QLNN nhưng lại quản lý nhiều viện/trung tâm nghiên cứu trực thuộc, nơi thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế Một số Bộ

tổ chức các học viện/viện để quản lý các cơ sở nghiên cứu chuyên ngành Các cơ quan này đều tổ chức đầu mối quản lý hoạt động

Ngày đăng: 28/04/2020, 07:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w