1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ đối với lòng tự trọng, niềm tin vào năng lực của bản thân, và cảm xúc ở học sinh THPT

63 66 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 768,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng của ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý đến cảm xúc tích cực và tiêu cực thông qua lòng tự trọng và niềm tin năng lực của bản thân.. Thốn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG

“SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.1 Sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái 6

1.1.1 Khái niệm ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý 6

1.1.2 Cấu trúc sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý 6

1.1.3 Đo lường ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý 7

1.1.4 Tổng quan nghiên cứu về sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái 9

1.1.5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý 12

1.2 Mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với lòng tự trọng 13

1.2.1 Tổng quan nghiên cứu về mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ, kiểm soát tâm lý và lòng tự trọng 13

1.2.2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với lòng tự trọng 15

1.3 Mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với niềm tin vào năng lực của bản thân 15

1.3.1 Tổng quan nghiên cứu về mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với niềm tin năng lực của bản thân 15

1.3.2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với niềm tin vào năng lực của bản thân 18

1.4 Mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ kiểm soát tâm lý với cảm xúc tích cực, tiêu cực 18

1.4.1 Tổng quan nghiên cứu về mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với cảm xúc tích cực, tiêu cực 19

1.4.2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với cảm xúc tích cực, tiêu cực 20

1.5 Ảnh hưởng của ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý đến cảm xúc tích cực và tiêu cực thông qua lòng tự trọng và niềm tin năng lực của bản thân 20

1.5.1 Lý thuyết Tự quyết về sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý 21

Trang 3

1.5.2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng của ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý đến cảm xúc tích cực và tiêu cực thông qua lòng tự trọng và niềm

tin năng lực của bản thân 23

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP 26

2.1 Khách thể nghiên cứu 26

2.2 Mẫu nghiên cứu 27

2.3 Cách tiến hành 27

2.4 Công cụ nghiên cứu 28

2.5 Phân tích số liệu 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Thống kê mô tả mức độ ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ của con cái, lòng tự trọng, niềm tin vào năng lực của bản thân, cảm xúc tích cực và tiêu cực 31

3.2 Mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý 32

3.3 Mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với lòng tự trọng, niềm tin vào năng lực của bản thân, và cảm xúc tích cực, tiêu cực 34

3.4 Ảnh hưởng gián tiếp của ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý đến cảm xúc tích cực và tiêu cực thông qua lòng tự trọng và niềm tin năng lực của bản thân 37

THẢO LUẬN 40

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

PHỤ LỤC 57

1 Bảng Kê khai Cảm xúc Tích cực và Tiêu cực 57

2 Thang đo Niềm tin vào Năng lực của bản thân Chung 58

3 Thang đo Lòng Tự trọng Rosenberg 59

4 Thang đo Nhận thức về Sự Ủng hộ của Cha mẹ đối với Tính tự chủ 60

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tính tự chủ đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi con người và ảnh hưởng đến các khía cạnh tâm lý và xã hội (Ryan, Deci, Grolnick, & La Guardia, 2015) Tự chủ được hiểu là việc cá nhân chủ động điều chỉnh hành vi và làm chủ hành động của bản thân Theo Rogers (1951), tự chủ là một trong những cách để cá nhân phát triển những khả năng tiềm ẩn Bên cạnh nhu cầu năng lực và nhu cầu gắn kết, tự chủ cũng được coi là một trong ba nhu cầu tâm lý cơ bản của mỗi con người (Ryan & Deci, 2006), và chúng đều liên quan đến cảm xúc tâm lý lành mạnh ở tất cả các nền văn hóa (Black & Deci, 2000)

Tự chủ có liên quan đến mục tiêu đạt thành tựu, tính kiên trì, chất lượng mối quan hệ (Ryan & Deci, 2006), khả năng sáng tạo (Baum & Baumann, 2019), sự hài lòng trong công việc (Legault & Inzlicht, 2013; Skaalvik & Skaalvik, 2014), thành tích học tập, tiêu điểm kiểm soát bên trong (Fazey & Fazey, 2001), cảm xúc tâm lý lành mạnh (Van Ryzin, Gravely, & Roseth, 2009), hành vi sức khỏe (Spear & Kulbok, 2004), hoạt động chức năng đầy đủ, sức khỏe tinh thần và chức năng tối ưu (Black & Deci, 2000), hiệu quả trong tham vấn, trị liệu tâm lý và thay đổi hành vi (Ryan, Lynch, Vansteenkiste, & Deci, 2011, tr 20) Như vậy, có thể thấy rằng, tự chủ đóng vai trò quan trọng trong phát triển tâm lý người

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính tự chủ, Deci và Ryan (2008a) đã cho rằng con người có tính tự chủ khi được thỏa mãn ba nhu cầu cơ bản là năng lực, tự chủ và gắn kết Một vài nghiên cứu đã tổng hợp các yếu tố có ảnh hưởng đến tính tự chủ bao gồm phần thưởng, sự đe dọa, sự đánh giá, phản hồi tích cực từ người khác và sự lựa chọn (Deci & Ryan, 1987; Ryan và c.s., 2015) Ngoài những yếu tố được đề cập bên trên, nhiều nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng sự ủng hộ và kiểm soát của cha mẹ

có ảnh hưởng đến tính tự chủ

Ủng hộ tính tự chủ có liên quan đến cảm xúc tâm lý lành mạnh (Lekes, Gingras, Philippe, Koestner, & Fang, 2010; Lynch, La Guardia, & Ryan, 2009), thành tích học tập cao (Oriol-Granado, Mendoza-Lira, Covarrubias-Apablaza, & Molina-López, 2017; Soenens & Vansteenkiste, 2005), niềm tin vào năng lực của bản thân cao (Oriol-

Trang 5

Granado và c.s., 2017), sự hài lòng trong cuộc sống, hiện thực hóa bản thân, động lực đồng nhất và động lực nội sinh (Chirkov & Ryan, 2001), lòng tự trọng cao (Bean & Northrup, 2009; Deci và c.s., 2001, tr 20), điều chỉnh xã hội và học tập của học sinh ở trường (Joussemet, Landry, & Koestner, 2008), mức độ lo âu thấp, khả năng nhận thức cao, điều chỉnh tự chủ (Black & Deci, 2000), trầm cảm thấp (Duineveld, 2018), cảm xúc tích cực cao và cảm xúc tiêu cực thấp (Niemiec và c.s., 2006)

Trong khi đó, sự kiểm soát của cha mẹ liên quan đến các kết quả tiêu cực: triệu chứng trầm cảm (Costa, Cuzzocrea, Gugliandolo, & Larcan, 2016; Soenens & Vansteenkiste, 2005), niềm tin vào năng lực của bản thân thấp (Washington, 2018), lòng tự trọng thấp (Bean & Northrup, 2009), thành tích học tập kém (Soenens & Vansteenkiste, 2005), sự trì hoãn đối với các nhiệm vụ học tập (Won & Yu, 2018), mức độ điều chỉnh học tập, điều chỉnh xã hội thấp (Soenens, Vansteenkiste, & Sierens, 2009), mức độ tham gia học tập thấp (Marbell & Grolnick, 2013) và nhiều cảm xúc tiêu cực (Roth, Assor, Niemiec, Ryan, & Deci, 2009)

Các nghiên cứu về sự ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ của con cái phần

lớn được thực hiện với khách thể ở phương Tây, nơi mà chủ nghĩa cá nhân được đề cao Trong khi tại các nước có nền văn hóa đề cao tính cộng đồng như phương Đông thì chủ đề này ít được nghiên cứu và tìm hiểu Xét ở góc độ văn hóa, có nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra khi đề cập đến tính tự chủ Điều này dẫn đến những mâu thuẫn về kết quả khi nghiên cứu chủ đề này

Việt Nam cũng là một quốc gia đề cao tính cộng đồng Tuy nhiên ở Việt Nam, các nghiên cứu về chủ đề này còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng Chẳng hạn, nghiên cứu của Hoàng (2015) mới chỉ dừng lại ở việc mô tả khái niệm tự chủ và ủng

hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ mà chưa tìm hiểu mối liên hệ giữa ủng hộ của cha

mẹ đối với tính tự chủ và các các khía cạnh tâm lý, sinh lý hay xã hội Bên cạnh đó,

nghiên cứu này cũng gặp một số hạn chế về nền tảng lý thuyết và công cụ đo lường

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu có mục đích tìm hiểu về sự ủng hộ và kiểm soát của cha mẹ đối với tính tự chủ của con cái, qua đây cũng bước đầu áp dụng Lý thuyết Tự quyết trong việc nghiên cứu về chủ đề này ở Việt Nam Bên cạnh đó, nghiên cứu cung cấp thông tin ban đầu về ảnh hưởng có thể có của sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha

Trang 6

mẹ đối với đời sống tâm lý của con cái, từ đó làm cơ sở kiến nghị về việc nuôi dạy con của cha mẹ

Nghiên cứu hiện tại được tiến hành dựa trên mô hình Lý thuyết Tự quyết của Deci và Ryan (1987) nhằm tìm hiểu về sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái thông qua việc trả lời câu hỏi sau đây: (1) Sự ủng hộ tính tự chủ

và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái có mối liên hệ với nhau như thế nào? (2) Sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái có mối liên

hệ như thế nào với lòng tự trọng của con cái? (3) Sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái có mối liên hệ như thế nào với niềm tin vào năng lực của bản thân của con cái? (4) Sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái có mối liên hệ như thế nào với cảm xúc tích cực và tiêu cực của con cái? (5) Sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái có ảnh hưởng gián tiếp như thế nào đối với cảm xúc tích cực và tiêu cực của con thông qua lòng tự trọng và niềm tin vào năng lực của bản thân?

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của nghiên cứu bao gồm: (1) Mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính tự chủ

và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái; (2) Mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái và lòng tự trọng của con cái; (3) Mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái

và niềm tin vào năng lực của bản thân của con cái; (4) Mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính

tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái và cảm xúc tích cực, và tiêu cực của con cái; (5) Ảnh hưởng gián tiếp của sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối cảm xúc tích cực và tiêu cực của con cái thông qua lòng tự trọng và niềm tin vào năng lực của bản thân của con cái

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu có các nhiệm vụ cụ thể đó là: (1) Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài (bao gồm trình bày mô hình lý thuyết nền tảng, giới thiệu các khái niệm ủng hộ, kiểm

Trang 7

soát tính tự chủ, lòng tự trọng, niềm tin vào năng lực của bản thân, cảm xúc; và tổng quan nghiên cứu); (2) Khảo sát và đo lường mức độ ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ của con cái; mức độ kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái, lòng tự trọng, niềm tin vào năng lực của bản thân, cảm xúc tích cực và tiêu cực của con cái; (3) Phân tích mối quan hệ giữa sự ủng hộ, kiểm soát của cha mẹ đối với tính tự chủ và niềm tin vào năng lực của bản thân, lòng tự trọng và cảm xúc tích cực, tiêu cực của con cái nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu

6 Giả thuyết nghiên cứu

Đối với câu hỏi thứ nhất về mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái, giả thuyết mà chúng tôi đặt ra đó là: Các cách ủng

hộ tính tự chủ có tương quan nghịch chiều đối với các cách kiểm soát tâm lý Hay nói cách khác, những cha mẹ có xu hướng sử dụng thường xuyên các cách ủng hộ tính tự chủ thì cũng có xu hướng ít sử dụng các cách kiểm soát tâm lý và ngược lại

Đối với các câu hỏi thứ hai, thứ ba và thứ tư, về mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính

tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái với lòng tự trọng, niềm tin vào năng lực của bản thân, và cảm xúc tích cực và tiêu cực của con cái, giả thuyết mà chúng tôi đặt ra đó là: Ủng hộ tính tự chủ có tương quan thuận chiều với lòng tự trọng, niềm tin vào năng lực của bản thân, cảm xúc tích cực và có tương quan nghịch chiều với cảm xúc tiêu cực Trong khi đó, kiểm soát tâm lý có tương quan nghịch chiều với lòng tự trọng, niềm tin vào năng lực của bản thân, cảm xúc tích cực, và tương quan thuận chiều với cảm xúc tiêu cực Nói cách khác, những học sinh có cha mẹ ủng hộ tính tự chủ thì có lòng tự trọng cao hơn, niềm tin vào năng lực của bản thân cao hơn, nhiều cảm xúc tích cực hơn, và ít cảm xúc tiêu cực hơn Ngược lại, những học sinh có cha mẹ kiểm soát tâm lý thì có lòng tự trọng thấp hơn, niềm tin vào năng lực thấp hơn, nhiều cảm xúc tiêu cực hơn, và ít cảm xúc tích cực hơn

Đối với câu hỏi thứ năm, về ảnh hưởng gián tiếp của ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý đối với cảm xúc tích cực và tiêu cực của con cái thông qua lòng tự trọng và niềm tin vào năng lực của bản thân của con cái, giả thuyết mà chúng tôi đặt ra đó là: (1) Ủng hộ tính tự chủ có ảnh hưởng trực tiếp làm tăng cảm xúc tích cực và làm giảm cảm xúc tiêu cực; (2) Ủng hộ tính tự chủ có ảnh hưởng gián tiếp làm tăng cảm xúc tích cực và làm giảm cảm xúc tiêu cực thông qua làm tăng lòng tự trọng và niềm tin vào năng lực của bản thân; (3) Kiểm soát tâm lý có ảnh hưởng trực tiếp làm giảm cảm xúc

Trang 8

tích cực và làm tăng cảm xúc tiêu cực; (4) Kiểm soát tâm lý có ảnh hưởng gián tiếp làm giảm cảm xúc tích cực và làm tăng cảm xúc tiêu cực thông qua làm giảm lòng tự trọng và niềm tin vào năng lực của bản thân

Trang 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái

1.1.1 Khái niệm ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý

Trong các nghiên cứu trước đây, sự ủng hộ tính tự chủ thường được tìm hiểu cùng với cấu trúc kiểm soát tâm lý Schaefer (1965) là người đầu tiên mô tả khái niệm kiểm soát tâm lý và ông đã định nghĩa rằng kiểm soát tâm lý trong đó đề cập đến việc cha mẹ cố gắng kiểm soát thế giới tâm lý của con (ví dụ: cảm xúc, suy nghĩ, sở thích, v.v.) Cụ thể, kiểm soát tâm lý gồm các khía cạnh: (1) xâm phạm đời tư của con cái, (2) dồn nén sự tức giận, (3) tạo cảm giác tội lỗi, (4) ép buộc con cái thực hiện mong muốn của cha mẹ Dựa trên cơ sở này, Barber (1996) đã định nghĩa kiểm soát tâm lý là những nỗ lực xâm phạm vào sự phát triển cảm xúc, tâm lý bên trong của con cái (chẳng hạn như quá trình suy nghĩ, tự bộc lộ cảm xúc và gắn kết với cha mẹ) Chính vì vậy, sự ủng hộ tính tự chủ được thể hiện thông qua việc không kiểm soát tâm lý Tuy nhiên, việc ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý có thể xảy ra đồng thời

Đã có rất nhiều quan điểm được đưa ra bởi những nhà nghiên cứu về sự ủng hộ

và kiểm soát tính tự chủ của cha mẹ đối với con cái Soenens và c.s (2007) đã xem xét

sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ như là sự thúc đẩy chức năng ý chí Điều này được thể hiện thông qua việc cha mẹ thấu cảm với quan điểm của con cái, sẵn sàng cung cấp những lựa chọn bất cứ khi nào có thể, giúp con cái khám phá và theo đuổi đam mê thực sự của bản thân và hạn chế việc sử dụng kiểm soát cũng như thể hiện quyền uy

1.1.2 Cấu trúc sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý

Dựa trên nền tảng của Lý thuyết Tự quyết, Deci và Ryan (2008b) cho rằng sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ được khái niệm hóa ở các khía cạnh: (1) chấp nhận cảm xúc của con cái (Bureau & Mageau, 2014; Joussemet và c.s., 2008; Mageau và c.s., 2015), (2) cung cấp cơ hội lựa chọn có ý nghĩa (Joussemet và c.s., 2008; Mageau và c.s., 2015), (3) khuyến khích con cái bắt đầu hành động (Lekes và c.s., 2010; Vasquez, Patall, Fong, Corrigan, & Pine, 2016), (4) hạn chế sử dụng các kỹ thuật kiểm soát (Joussemet và c.s., 2008; Vasquez và c.s., 2016) và (5) đưa ra lý do hợp lý cho những quy định hoặc yêu cầu (Lekes và c.s., 2010; Mageau và c.s., 2015) Thêm vào đó, sự ủng hộ tính tự chủ được mở rộng với yếu tố: phản hồi với các nhu cầu của con cái (Lekes và c.s., 2010)

Trang 10

Phần lớn các khái niệm và quan điểm của những nhà nghiên cứu được đưa ra dựa trên quan điểm Lý thuyết Tự quyết và có sự mở rộng trong những khái niệm được đưa

ra trong nghiên cứu của mình Mageau và c.s (2015) đã đưa ra khái niệm ủng hộ tự chủ gồm ba khía cạnh: (1) công nhận các cảm nhận của con cái, (2) đưa ra những lý giải hợp lý về yêu cầu và giới hạn, (3) cung cấp lựa chọn có giới hạn Khía cạnh công nhận những cảm nhận của con cái nghĩa là bố mẹ nhận ra và chấp nhận cảm xúc của con, đặt mình vào vị trí của con để hiểu cảm nhận của chúng Đối với khía cạnh đưa ra những lý giải hợp lý về yêu cầu và giới hạn, bố mẹ luôn muốn con cái hiểu lý do thực

sự của những yêu cầu, quy định hay cấm đoán Khía cạnh cung cấp lựa chọn có giới hạn, bất cứ khi nào có thể, bố mẹ đều tạo cơ hội cho con cái được lựa chọn, quyết định những việc liên quan đến bản thân chúng trong giới hạn nhất định

Ngược lại về sự kiểm soát tính tự chủ, ông đã đưa ra khái niệm gồm ba khía cạnh: (1) đe dọa trừng phạt, (2) chỉ trích gây cảm giác có lỗi, (3) gây áp lực về thành tích Khía cạnh đe dọa trừng phạt được hiểu là cha mẹ tạo bầu không khí sợ hãi, lo lắng nhằm ép buộc con cái tuân theo ý muốn của mình Chỉ trích tạo cảm giác tội lỗi được hiểu là một trong những cách mà cha mẹ rút lại tình yêu sau những hành vi của con cái mà cha mẹ cho là không đúng mực Cuối cùng, gây áp lực thành tích là một trong những cách cha mẹ thể hiện tình yêu có điều kiện đối với con cái bằng cách yêu cầu con cái phải đạt được thành công nhất định

1.1.3 Đo lường ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý

Phương pháp được sử dụng để đo lường sử ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ bao gồm: phỏng vấn, quan sát, bảng hỏi tiêu chuẩn hoặc thang đo đánh giá Tùy vào mục đích nghiên cứu, các tác giả lựa chọn phương pháp phù hợp: quan sát tự nhiên được thực hiện trong nhà hoặc quan sát bán cấu trúc về tương tác giữa cha mẹ - con cái khi thực hiện nhiệm vụ cụ thể, phỏng vấn cấu trúc hoặc bán cấu trúc, sử dụng bảng hỏi tiêu chuẩn tự báo cáo hoặc đánh giá người khác hoặc thang đo đánh giá; hoặc kết hợp các phương pháp

Về đo lường sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ, có hai cách tiếp cận chính, đó là loại báo cáo và mục tiêu báo cáo Mỗi cách tiếp cận đều có ưu điểm và hạn chế trong việc thể hiện cách tiếp cận nuôi dạy con cái (Duineveld, 2018) Đối với loại báo cáo, đánh giá nhận thức hành vi của cha mẹ được đo lường với 3 loại: (1) nhận thức của con cái, (2) nhận thức của cha mẹ và (3) đánh giá của người quan sát Phần lớn các

Trang 11

nghiên cứu sử dụng loại báo cáo nhận thức của con cái về cách tiếp cận nuôi dạy của cha mẹ Bởi vì nhận thức của con cái về hành vi của cha mẹ có liên quan đến hành vi điều chỉnh của con hơn là hành vi thực sự của cha mẹ (Schaefer, 1965) Về mục tiêu báo cáo được chia thành 3 loại: (1) cách nuôi dạy của mẹ, (2) cách nuôi dạy của bố, (3) cách nuôi dạy của cả bố lẫn mẹ Hầu hết các nghiên cứu sử dụng thang đo báo cáo cách nuôi dạy con cái của cả bố lẫn mẹ (Bureau & Mageau, 2014; Costa và c.s., 2016; Roth và c.s., 2009) Một số nghiên cứu cũng tìm hiểu về sự ủng hộ tính tự chủ của mẹ đối với con cái (Grolnick, Gurland, DeCourcey, & Jacob, 2002; Wuyts, Soenens, Vansteenkiste, Van Petegem, & Brenning, 2017) Tuy nhiên có rất ít nghiên cứu tìm hiểu về cách nuôi dạy của bố (Chua & Philippe, 2015), điều này là một hạn chế trong việc hiểu hành vi nuôi dạy con cái và kết quả liên quan đến con cái Các loại báo cáo

và các mục tiêu báo cáo khác nhau có thể ảnh hưởng đến mức độ ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý được báo cáo, cũng như các cách nuôi dạy con cái có liên quan với nhau như thế nào (Duineveld, 2018)

Để đo lường sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý trong việc nuôi dạy con cái của cha mẹ, các nhà nghiên cứu đã xây dựng một loạt các thang đo Tiểu thang Tự chủ Tâm lý và Kiểm soát Tâm lý (Psychological Autonomy versus Psychological Control) trong Bảng Kiểm kê Báo cáo của Con cái về Hành vi của Cha mẹ (Children’s Report of Parenting Behaviour Inventory) được đề xuất năm 1965 bởi Schaefer Tuy nhiên 10 item trong tiểu thang này chỉ đề cập đến khía cạnh kiểm soát tâm lý mà không đề cập đến tự chủ tâm lý Điều này dẫn đến một số nhà nghiên cứu nhìn nhận rằng ủng hộ tính tự chủ thực ra chính là việc không có sự kiểm soát tâm lý Nói cách khác, ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý cùng nằm trên một phổ

Dựa trên công trình nghiên cứu của Schaefer (1965), Barber (1996) đã xây dựng Thang đo Kiểm soát Tâm lý - Tự báo cáo của Con cái (Psychological Control Scale - Youth Self-Report) Thang đo 16 item với 6 tiểu thang bao gồm: biểu hiện ép buộc bằng lời, cảm xúc không có hiệu lực, công kích cá nhân, tạo cảm giác tội lỗi, rút lại tình yêu thương và hành vi cảm xúc mơ hồ Thông qua thang đo này, con cái đánh giá kiểm soát tâm lý của cha mẹ ở ba khía cạnh: nhận thức, hành vi, cảm xúc Tuy nhiên, thang đo này vẫn chưa khắc phục được hạn chế từ công trình của Schaefer (1965)

Trang 12

Thang đo đa Khía cạnh Nhận thức của Con cái về Kiểm soát (Multidimensional Measure of Children’s Perception of Control) của Connell (1985) đo nhận thức về kiểm soát của cha mẹ được đánh giá ở 3 khía cạnh: nhận thức, xã hội và thể chất Mỗi khía cạnh lại có 3 nguồn kiểm soát bao gồm nguồn kiểm soát bên trong, nguồn kiểm soát từ những người có uy quyền và nguồn kiểm soát khác Các item được thiết kế với hai yếu tố đối lập là thành công và thất bại

Thang đo Nhận thức của Cha mẹ - dành cho Con cái (Perception of Parents Scale - Children Scale) của Grolnick, Weiss, McKenzie, và Wrightman (1996) gồm 22 item trong đó có 11 item đo nhận thức của con cái về mẹ và 11 item đo nhận thức của con cái về bố Ở mỗi item, học sinh lựa chọn 1 trong 4 mệnh đề để mô tả sự ủng hộ tính tự chủ và sự tham gia của cha mẹ Thang đo này cung cấp sự phân biệt rõ ràng giữa bố và mẹ trong các câu hỏi ở hai tiểu thang ủng hộ tính tự chủ và sự tham gia

Mageau và c.s (2015) đã xây dựng Thang đo Nhận thức Sự ủng hộ của Cha mẹ đối với Tính tự chủ (Perceived Parental Autonomy Support Scale, P-PASS) nhằm đo lường nhận thức của con cái về sự ủng hộ tính tự chủ với hai khía cạnh: ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý Các item trong thang đo đánh giá về sự ủng hộ tính tự chủ giữa bố và mẹ một cách riêng biệt Các item được thiết kế dựa trên khái niệm ủng hộ

và kiểm soát của cha mẹ đối với tính tự chủ theo Lý thuyết Tự quyết Nghiên cứu hiện tại sử dụng Thang đo Nhận thức Ủng hộ tính Tự chủ của Cha mẹ (P-PASS) nhằm đo lường sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái

1.1.4 Tổng quan nghiên cứu về sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha

mẹ đối với con cái

Trong các nghiên cứu trước, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan giữa

sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ với những biến số về mặt tâm lý Costa, Gugliandolo, Barberis, Cuzzocrea, và Liga (2019) chỉ ra sự thất vọng hoặc hài lòng về nhu cầu của cha mẹ có liên hệ với sự ủng hộ và kiểm soát tính tự chủ đối với tính tự chủ của con cái Cụ thể, các bậc cha mẹ thất vọng về nhu cầu của bản thân sẽ có xu hướng kiểm soát tâm lý của con, ngược lại những cha mẹ hài lòng về nhu cầu bản thân

có xu hướng ủng hộ tính tự chủ của con

Nghiên cứu của Grolnick và c.s (2002) đã cho thấy áp lực cũng là một yếu tố khiến người mẹ sử dụng kiểm soát tâm lý Cụ thể, những bà mẹ trong điều kiện chịu

áp lực cao thì sử dụng hình thức kiểm soát con cái bằng lời nhiều hơn là những bà mẹ

Trang 13

trong điều kiện áp lực thấp Cũng trong nghiên cứu này, tác giả kết luận rằng hành vi của con cũng ảnh hưởng đến sự ủng hộ hay kiểm soát của cha mẹ Cụ thể, những bà

mẹ mà thành tích học tập của con kém có xu hướng kiểm soát nhiều hơn bởi họ cho rằng việc kiểm soát sẽ giúp con cái đạt được thành tích học tập tốt hơn Không chỉ vậy Divia và Swaminathan (2014) cũng chỉ ra hứng thú học tập và hứng thú với các hoạt động ngoại khóa là chỉ báo quan trọng với sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ đối với con cái Cụ thể, những sinh viên thể hiện mức độ hứng thú học tập cao thì có sự ủng

hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ cao Trong khi đó, những sinh viên có mức độ hứng thú với các hoạt động ngoại khóa cao thì có sự ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ của con cái thấp

Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa sự ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ của con cái và các biến số khác Kết quả của các nghiên cứu trước đây cho thấy sự ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ của con cái có liên quan đến những hệ quả tích cực trong khi kiểm soát của cha mẹ thường liên hệ với những hệ quả tiêu cực

Các nghiên cứu trước cũng chỉ ra mối tương quan thuận giữa sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ với các biến số liên quan đến nhận thức, động lực và thành tích học tập của con cái Cụ thể, trong nghiên cứu của Soenens và Vansteenkiste (2005) những học sinh có sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ thì có thành tích học tập cao Nghiên cứu của Oriol-Granado và c.s (2017) cũng đưa ra kết quả tương tự Black và Deci (2000) cho thấy mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê của sự ủng hộ của cha mẹ với năng lực nhận thức, tự điều chỉnh tự chủ, động lực và mức độ hiện thực hóa bản thân, khả năng điều chỉnh xã hội cao (Joussemet và c.s., 2008)

Các nghiên cứu trước cũng đi tìm hiểu mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ với biến số sức khỏe tinh thần của con cái Chẳng hạn, nghiên cứu của Lekes và c.s (2010), Lynch và c.s (2009) cho thấy ảnh hưởng tích cực giữa sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ với trạng thái lành mạnh về cảm xúc Niemiec và c.s (2006) cho rằng sự ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ của con cái càng cao thì con cái càng có cảm xúc tích cực cao và cảm xúc tiêu cực thấp Ngoài ra, sự ủng hộ của cha

mẹ cũng có tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với niềm tin vào năng lực của bản thân của con cái (Oriol-Granado và c.s., 2017) Nói cách khác, những học sinh nhận được sự ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ thì có niềm tin vào năng lực của

Trang 14

bản thân cao Kết quả nghiên cứu của Bean & Northrup (2009) cho thấy sự ủng hộ của cha mẹ càng cao thì học sinh có lòng tự trọng càng cao Bên cạnh đó, sự ủng hộ của cha mẹ có tương quan nghịch với mức độ trầm cảm và lo âu (Black & Deci, 2000; Duineveld, 2018) Nghiên cứu của Chirkov và Ryan (2001) cho thấy mối tương quan thuận chiều giữa sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ với mức độ hài lòng cuộc sống Trong một nghiên cứu khác, sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ có mối liên hệ tích cực với cảm giác thỏa mãn nhu cầu (Deci và c.s., 2001)

Trái ngược với kết quả tích cực mà sự ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ của con cái mang lại, kiểm soát của cha mẹ thường gắn với hệ quả tiêu cực Cụ thể, khi xem xét các biến số liên quan đến học tập, các nhà nghiên cứu chỉ ra mối tương quan nghịch giữa kiểm soát tâm lý của cha mẹ với thành tích học tập (Soenens & Vansteenkiste, 2005), điều chỉnh học tập, điều chỉnh xã hội (Soenens và c.s., 2009), mức độ tham gia học tập (Marbell & Grolnick, 2013; Roth và c.s., 2009) và sự trì hoãn với các nhiệm vụ học tập (Won & Yu, 2018) Kết quả nghiên cứu của Bean và Northrup (2009) cho thấy sự kiểm soát của cha mẹ có tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê với lòng tự trọng Nói cách khác, học sinh trải nghiệm kiểm soát tâm lý của cha mẹ có lòng tự trọng thấp Roth và c.s (2009) kết luận rằng sự kiểm soát của cha

mẹ có tương quan thuận với cảm xúc tiêu cực Nghiên cứu của Washington (2018) chỉ

ra rằng kiểm soát của cha mẹ có tương quan nghịch với niềm tin vào năng lực của bản thân Ngoài ra, Soenens và c.s (2009) và Bean và Northrup (2009) kết luận rằng sự kiểm soát của cha mẹ có ảnh hưởng tiêu cực đến triệu chứng trầm cảm Thêm vào đó, cảm giác thất vọng nhu cầu cũng là hệ quả tiêu cực từ sự kiểm soát tâm lý của cha mẹ, cảm xúc tiêu cực (Roth và c.s., 2009)

Trái ngược với các nghiên cứu trên, kết quả từ một số nghiên cứu khác cho thấy cha mẹ kiểm soát hay giới hạn tính tự chủ của con cái không có mối liên hệ hoặc có mối liên hệ tích cực đến sự điều chỉnh tâm lý của con cái Cụ thể, nghiên cứu của McWayne, Owsianik, Green, & Fantuzzo (2008) cho thấy hành vi nuôi dạy con cái của cha mẹ không có mối liên hệ với năng lực xã hội, cảm xúc, hành vi của con cái đến từ các gia đình người Mỹ gốc Phi có thu nhập thấp Kết quả nghiên cứu của Chao (2001) cho thấy tương quan thuận giữa phong cách giáo dục của cha mẹ độc đoán với thành tích học tập của học sinh Trung Quốc Nghiên cứu xuyên văn hóa của Dwairy, Achoui, Abouserie và Farah (2006) được thực hiện với nhóm khách thể thanh thiếu

Trang 15

niên của một số quốc gia của hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng không có mối liên hệ giữa kiểm soát tâm lý của cha mẹ và các rối nhiễu tâm lý ở nhóm thanh thiếu niên thuộc nền văn hóa phương Đông Bên cạnh

đó, tác giả cũng chỉ ra rằng sự kiểm soát của cha mẹ tương quan thuận với mức độ gắn kết trong mối quan hệ giữa cha mẹ - con cái Sự thiếu nhất quán giữa các kết quả nghiên cứu trên đây đòi hỏi cần thêm các nghiên cứu để khẳng định mối quan hệ giữa

sự ủng hộ và kiểm soát tính tự chủ của cha mẹ với các biến số được xem là hệ quả của

& Fincham, 2012)

Trong khi trên thế giới có nhiều nghiên cứu tìm hiểu mối liên hệ giữa sự ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ của con cái và các biến số khác thì ở Việt Nam, các nghiên cứu về chủ đề này còn hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng Trong một nghiên cứu định tính, sử dụng phỏng vấn bán cấu trúc bố mẹ và con cái, Hoàng (2015)

đã đưa ra quan điểm của người Việt về tính tự chủ bao gồm 3 khía cạnh: trách nhiệm,

tự bộc lộ, tự đưa ra quyết định Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng con cái cảm nhận cha mẹ ấm áp, dân chủ và ủng hộ tính tự chủ Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc mô tả khái niệm tự chủ và ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ mà chưa tìm hiểu mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ với các biến số khác Thêm vào

đó, nghiên cứu cũng gặp phải hạn chế về nền tảng lý thuyết và công cụ đo lường

1.1.5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý

Trang 16

Một phần của nghiên cứu này được thiết kế theo kiểu tương quan nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của cha mẹ đối với con cái Giả thuyết được đặt ra đó là sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ đối với con cái có tương quan nghịch với kiểm soát tâm lý

1.2 Mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với lòng tự trọng 1.2.1 Tổng quan nghiên cứu về mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ, kiểm soát tâm lý và lòng tự trọng

Đề cập đến lòng tự trọng đã có rất nhiều quan điểm được đưa ra Trong đó Rogers (1951) cho rằng lòng tự trọng là mức độ mà một người thích, coi trọng và chấp nhận bản thân mình Maslow (1968) đã định nghĩa lòng tự trọng là khát khao về sức mạnh, thành tích, sự tương xứng cũng như quyền làm chủ và năng lực của bản thân vì

sự độc lập và tự do trong cuộc sống Fitts (1972) lại có quan điểm khác khi cho rằng lòng tự trọng chủ yếu là những kết quả, đánh giá của những người quan trọng Trong khi đó, Guindon (2002) cho rằng lòng tự trọng bao gồm: ý thức về năng lực (năng lực, sức mạnh, hiệu quả) đề cập đến mức độ mà mọi người thấy mình có khả năng và làm hiệu quả và ý thức về giá trị (phẩm chất, đức hạnh, giá trị đạo đức) dựa trên ý thức về giá trị bản thân, chuẩn mực về hành vi của cá nhân hoặc giữa cá nhân với cá nhân

Rosenberg, Schooler, Schoenbach, và Rosenberg (1995) đã đưa ra quan điểm là lòng tự trọng liên quan đến những yếu tố của bản thân tự đánh giá hoặc những đánh giá từ người khác dựa trên giá trị bản thân; phát triển xuyên suốt thời thơ ấu đến thanh thiếu niên Ông cũng lý giải cho điều này rằng cá nhân đánh giá về lòng tự trong thông qua hai quá trình liên quan đến nhau Thứ nhất, việc cá nhân so sánh bản sắc cũng như khả năng của mình với những người khác, trong phạm vi họ cảm thấy bản thân thấp kém hơn những người mà họ tương tác, đồng nghĩa với việc lòng tự trọng của họ bị ảnh hưởng tiêu cực Thứ hai, lòng tự trọng của cá nhân bị ảnh hưởng khi cá nhân nhận được những nhận xét phản hồi tiêu cực từ những người có vai trò quan trọng đối với

họ Ông cũng đã định nghĩa lòng tự trọng là nhìn nhận bản thân một cách tích cực, vô điều kiện mà bản thân độc lập, không phụ thuộc vào thành tích hay phẩm chất

Với những nghiên cứu trước đây, Rosenberg và c.s (1995) đã chỉ ra những nhận xét, phản hồi từ những người có vai trò quan trọng đối với cá nhân có ảnh hưởng đến lòng tự trọng của họ trong cuộc sống Bên cạnh đó, Guindon (2002) kết luận những biến đổi môi trường trong đó có yếu tố gia đình cũng có ảnh hưởng đến lòng tự

Trang 17

trọng Bednar và Peterson (1995) cho rằng những gì cá nhân chọn hành động và những cách họ hành động phụ thuộc vào lòng tự trọng và điều này có sự tương quan với chức năng hành vi cũng như sự hài lòng cuộc sống, sức khỏe tâm thần và lòng tự trọng Witmer và Sweeney (1992) chỉ ra rằng chất lượng của mối quan hệ cha mẹ và con cái

có tương quan với lòng tự trọng của thanh thiếu niên Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra màu da có ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tự trọng và niềm tin vào năng lực của bản thân cũng như những khía cạnh khác của con người (Thompson & Keith, 2001)

Theo Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê về các Rối loạn Tinh thần, Phiên bản 4(DSM – IV), lòng tự trọng cũng nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán một số rối loạn tâm thần trong đó có liên quan đến trầm cảm và trương lực cơ (Guindon, 2002) Rosenberg

và c.s (1995) khi đề cập đến đến khía cạnh năng lực của lòng tự trọng đã chỉ ra rằng lòng tự trọng có nhiều điểm chung với khái niệm niềm tin vào năng lực của bản thân Trong khi đó, khi bàn về niềm tin vào năng lực của bản thân, Bandura (1983) đã chỉ ra: Những cá nhân tự đánh giá bản thân không hiệu quả trong việc ứng phó với những kích thích từ môi trường thì bận tâm nhiều đến thiếu sót của bản thân và tự cảm thấy khó khăn hơn Và những lo ngại này làm giảm sự tin tưởng của cá nhân vào khả năng của mình Điều này gợi ý rằng lòng tự trọng và niềm tin vào năng lực của bản thân có mối liên hệ với nhau

Liên quan đến yếu tố giới, Josephs (1992) đã chỉ ra rằng lòng tự trọng và giới tính có mối liên hệ với nhau, trong đó ông giải thích phụ nữ có mức độ tự tin thấp hơn nam giới ở tuổi trưởng thành Nhất quán với nghiên cứu trước, McMullin và Cairney (2004) đã báo cáo nữ giới có lòng tự trọng thấp hơn nam giới Và các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ tự trọng thấp giải thích một thực tế tại sao nữ giới lại có khả năng gặp phải trầm cảm cao hơn nam giới (Avison & McAlpine, 1992)

Gecas (1971) đã nghiên cứu 620 thanh thiếu niên, chủ yếu là 16 đến 17 tuổi, được chọn từ năm trường trung học ngoại thành xung quanh khu vực đô thị của Thành phố New York đã tìm thấy sự ủng hộ của cha mẹ liên quan mật thiết đến lòng tự trọng của trẻ trong mẫu học sinh trung học Cùng với đó, Josephs (1992) nghiên cứu trong một mẫu nam sinh trung học quốc gia, nhận thấy lòng tự trọng cao có liên quan đến mối quan hệ gia đình "tốt", được đặc trưng bởi tình cảm giữa các thành viên trong gia đình, các hoạt động chung và đưa trẻ em vào việc ra quyết định gia đình Coopersmith (1967) lại chỉ ra ba điều kiện chung có liên quan đến lòng tự trọng cao ở trẻ: (a) sự

Trang 18

chấp nhận của cha mẹ đối với đứa trẻ; (b) được xác định rõ ràng và thực hiện các giới hạn đối với hành vi của trẻ em; và (c) tôn trọng hành động cá nhân trong giới hạn xác định Những phát hiện của Coopersmith có liên quan đặc biệt đến sự kiểm soát của cha

mẹ, cũng như sự chấp nhận và tình cảm ảnh hưởng đến lòng tự trọng của trẻ

1.2.2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với lòng tự trọng

Một phần của nghiên cứu này được thiết kế theo kiểu tương quan nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ, kiểm soát tâm lý với lòng tự trọng Dựa trên các nghiên cứu trước đây, giả thuyết được đặt ra đó là ủng hộ tính tự chủ có tương quan thuận với lòng tự trọng của con cái trong khi kiểm soát tâm lý của cha mẹ có tương quan nghịch với lòng tự trọng của con cái Nói cách khác, những học sinh nhận được sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ thì có lòng tự trọng cao hơn Trong khi đó, những học sinh bị kiểm soát tâm lý bởi cha mẹ thì có lòng tự trọng thấp hơn

1.3 Mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với niềm tin vào năng lực của bản thân

1.3.1 Tổng quan nghiên cứu về mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với niềm tin năng lực của bản thân

Bandura (1983) định nghĩa niềm tin vào năng lực của bản thân là niềm tin vào khả năng của bản thân có thể đạt được thành tích nhất định Niềm tin về năng lực của bản thân quyết định cách mọi người cảm nhận, suy nghĩ, cư xử và thúc đẩy bản thân

Và Bandura (1983) cũng chỉ ra bốn yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin vào năng lực của bản thân đó là: thành tích của bản thân, các trải nghiệm gián tiếp, thuyết phục xã hội

và kích thích cảm xúc Dựa trên quan điểm của Lý thuyết Tự quyết, niềm tin vào năng lực của bản thân (được gọi là khả năng nhận thức) là một điều kiện cần thiết cho động lực; là việc tin rằng một người có thể thực hiện hành động một cách thành công hoặc kiểm soát kết quả (Ryan & Deci, 2006)

Các nghiên cứu về trước cũng được thực hiện với mục đích tìm hiểu về tiền đề của niềm tin vào năng lực của bản thân Về mặt lý thuyết, Bandura (1994) cho rằng thành tích của bản thân là yếu tố có ảnh hưởng nhất đến niềm tin vào năng lực của bản thân Nghĩa là nếu cá nhân trải nghiệm thành công thì người đó sẽ hình thành niềm tin vào năng bản thân Ngược lại, trải nghiệm thất bại làm suy giảm niềm tin vào năng lực của bản thân Yếu tố thứ hai có ảnh hưởng đến niềm tin vào năng lực của bản thân là các

Trang 19

trải nghiệm gián tiếp Nói cách khác, theo lý thuyết học tập xã hội của Bandura, nếu cá nhân quan sát một người tương tự như mình thành công trong việc hoàn thành một nhiệm vụ nào đó thì cá nhân sẽ nghĩ rằng mình cũng có khả năng làm được như vậy Cách thứ ba để củng cố niềm tin vào năng lực của bản thân đó là thuyết phục xã hội Điều này có thể giải thích như sau, người mà được khuyến khích, động viên rằng họ có khả năng thực hiện các hoạt động được giao phó thì sẽ ý thức về niềm tin vào năng lực của bản thân Tiền đề về tâm lý và sinh lý là yếu tố cuối cùng có liên quan đến niềm tin vào năng lực của bản thân Cá nhân dựa vào trạng thái sinh lý và cảm xúc của mình trong việc đánh giá khả năng của bản thân Sự mệt mỏi, đau nhức, suy nhược cơ thể khiến họ đánh giá thấp niềm tin vào năng lực của bản thân Tâm trạng cũng ảnh hưởng đến niềm tin vào năng lực của bản thân Chẳng hạn, tâm trạng tích cực sẽ thúc đẩy niềm tin vào năng lực của bản thân và tương tự, tâm trạng tuyệt vọng sẽ dẫn đến suy giảm niềm tin vào năng lực của bản thân

Về mặt thực tiễn, khi nghiên cứu về vấn đề này, Oriol-Granado và c.s (2017)

đã chỉ ra rằng niềm tin vào năng lực của bản thân có tương quan thuận với cảm xúc tích cực Kết quả này phù hợp với nghiên cứu về mặt lý thuyết của Bandura (1994) khi cho rằng tâm trạng có ảnh hưởng đến nhận thức của cá nhân về niềm tin vào năng lực của bản thân Cùng trong nghiên cứu này, tác giả chỉ ra rằng sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ có tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với niềm tin vào năng lực của bản thân Nghiên cứu của Guay, Ratelle, Senécal, Larose, và Deschênes (2006) cũng đưa

ra kết quả tương tự, những người trải nghiệm sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ ở mức

độ thấp thì có niềm tin vào năng lực của bản thân thấp Divia và Swaminathan (2014)

đã đưa ra kết luận về nghiên cứu của mình: mức độ hứng thú với hoạt động ngoại khóa

là chỉ báo quan trọng với niềm tin vào năng lực của bản thân của sinh viên đại học Nói cách khác, sự tham gia các hoạt động ngoại khóa thúc đẩy niềm tin vào năng lực của bản thân của sinh viên đại học

Nhiều nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa sự ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ và niềm tin vào năng lực của bản thân của con cái được tiến hành Kết quả cho thấy, sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ có tương quan thuận với niềm tin vào năng lực của bản thân của con cái Và ngược lại, sự kiểm soát của cha mẹ đối với tính tự chủ có tương quan nghịch với niềm tin vào năng lực của bản thân của con cái Chẳng hạn, nghiên cứu của Yomtov, Plunkett, Sands, và Reid (2015) được thực hiện với

Trang 20

khách thể người nhập cư Latino cho thấy sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ có tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với niềm tin vào năng lực của bản thân Trong khi

đó, sự kiểm soát của cha mẹ có tương quan nghịch và có ý nghĩa thống kê với niềm tin vào năng lực của bản thân Nghiên cứu của Oriol-Granado và c.s., (2017) và Washington (2018) cũng cho thấy kết quả tương tự Cụ thể, thanh thiếu niên báo cáo

sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ ở mức độ cao cũng báo cáo niềm tin vào năng lực của bản thân cao và dẫn đến các hệ quả tích cực như thành tích học tập, lòng tự trọng Ngược lại, thanh thiếu niên báo cáo sự tuân thủ ở mức độ cao thì có niềm tin vào năng lực của bản thân giảm và điều này có liên quan đến các hệ quả tiêu cực, chẳng hạn

thành tích học tập, niềm tin vào năng lực của bản thân

Các nghiên cứu về hệ quả được tiến hành nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa niềm tin vào năng lực của bản thân với các biến số về tâm lý, sinh lý, xã hội Nghiên cứu về mặt lý luận của Bandura (1994) cho thấy niềm tin vào năng lực của bản thân có ảnh hưởng đến chức năng của con người thông qua 4 quá trình tâm lý chính: quá trình nhận thức, quá trình động lực, quá trình cảm xúc và quá trình lựa chọn Ở quá trình nhận thức, niềm tin vào năng lực của bản thân càng cao thì mục tiêu và cam kết thực hiện của cá nhân càng cao Một trong những chức năng chính của quá trình nhận thức

đó là cho phép cá nhân dự đoán kết quả có liên quan đến sự kiện Cụ thể, những người

có niềm tin vào năng lực của bản thân cao thì hình dung kết quả của sự kiện thành công, điều này cung cấp những hướng đi tích cực và ủng hộ phần thể hiện và ngược lại Đối với quá trình động lực, niềm tin vào năng lực của bản thân thúc đẩy động lực theo một vài cách: niềm tin vào năng lực của bản thân xác định mục tiêu mà cá nhân

đề ra, cá nhân nỗ lực như thế nào để đạt được mục tiêu, kiên trì trong bao lâu khi đối mặt với khó khăn và mất bao nhiêu thời gian để hồi phục sau thất bại Cụ thể, khi đối mặt với khó khăn, cá nhân mà nghi ngờ vào năng lực của bản thân thì sẽ cảm thấy nhụt chí và dễ dàng từ bỏ Trong khi đó, những cá nhân có niềm tin vào năng lực của bản thân cao thể hiện sự nỗ lực, cố gắng để vượt qua thách thức Đối với quá trình cảm xúc, niềm tin vào năng lực của bản thân có thể ảnh hưởng đến mức độ stress hay trầm cảm khi mọi người trải nghiệm tình huống khó khăn hay bị đe dọa Bên cạnh đó, niềm tin vào năng lực của bản thân có tương quan thuận với các hành vi sức khỏe Cuối cùng niềm tin vào năng lực của bản thân có ảnh hưởng đến quá trình lựa chọn Niềm tin vào năng lực của bản thân có thể định hình cuộc sống thông qua các loại hoạt động và môi trường con

Trang 21

người lựa chọn Nghĩa là người ta tránh các hoạt động, tình huống mà họ tin rằng vượt qua khả năng ứng phó của mình và sẵn sàng thực hiện những tình huống đầy thách thức nếu họ tin rằng chúng ở trong khả năng của họ Hơn nữa, việc lựa chọn và phát triển nghề

nghiệp cũng có liên quan đến niềm tin vào năng lực của bản thân ở quá trình lựa chọn

Với các nghiên cứu về mặt thực tiễn, các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra niềm tin vào năng lực của bản thân có tương quan thuận với các biến số liên quan đến vấn đề học tập và sức khỏe tinh thần Nghiên cứu của Oriol-Granado và c.s (2017) được thực hiện với khách thể là 428 sinh viên đại học ở Chi-lê cho thấy mối tương quan thuận và

có ý nghĩa thống kê với sự tham gia và thành tích học tập Cụ thể sinh viên có niềm tin vào năng lực của bản thân cao thể hiện thái độ lạc quan, hy vọng với mức độ tham gia học tập Kết quả nghiên cứu của Divia và Swaminathan (2014) chỉ ra rằng niềm tin vào năng lực của bản thân có ảnh hưởng tích cực đến trạng thái lành mạnh về tâm lý Kết quả nghiên cứu của Endler, Speer, Johnson, và Flett (2001); Soysa và Wilcomb (2015) chỉ ra rằng niềm tin vào năng lực của bản thân có tương quan thuận với tinh thần lạc quan, tự điều chỉnh, lòng tự trọng, định hướng tương lai Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra mối tương quan nghịch giữa niềm tin vào năng lực của bản thân với mức

độ trầm cảm và lo âu (Endler và c.s., 2001), giận dữ và cảm xúc tiêu cực và stress (Soysa & Wilcomb, 2015)

1.3.2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về mối liên hệ giữa sự ủng hộ tính tự chủ

và kiểm soát tâm lý với niềm tin vào năng lực của bản thân

Một phần của nghiên cứu được thiết kế theo kiểu tương quan nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa sự ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ và niềm tin vào năng lực của bản thân Dựa trên tổng quan tài liệu, nghiên cứu đặt ra giả thuyết sau: Ủng hộ của cha

mẹ đối với tính tự chủ của con cái có tương quan thuận với niềm tin vào năng lực của bản thân trong khi đó kiểm soát tâm lý có tương quan nghịch với niềm tin vào năng lực của bản thân Nói cách khác, những học sinh nhận được sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ thì có niềm tin vào năng lực của bản thân cao hơn Trong khi đó, những học sinh bị kiểm soát tâm lý bởi cha mẹ thì có niềm tin vào năng lực của bản thân thấp hơn

1.4 Mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ kiểm soát tâm lý với cảm xúc tích cực,

tiêu cực

Trang 22

1.4.1 Tổng quan nghiên cứu về mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với cảm xúc tích cực, tiêu cực

Cảm xúc tích cực được hiểu là trạng thái mà cá nhân cảm thấy nhiệt tình, chủ động và hoạt bát đồng thời có một nguồn năng lượng dồi dào, tham gia vào các hoạt động với niềm yêu thích cùng sự tập trung cao độ Ngược lại, cảm xúc tích cực thấp được mô tả là các trạng thái cảm xúc buồn bã, thờ ơ với những biểu hiện của sự đau buồn và tham gia hoạt động mà không có hứng thú, cùng với đó là sự xuất hiện hàng loạt các trạng thái cảm xúc bao gồm giận dữ, coi thường, phẫn nộ, cảm giác tội lỗi, sợ hãi và lo lắng (Watson, 1988)

Các nghiên cứu trước đây được tiến hành nhằm tìm hiểu quan hệ giữa sự ủng

hộ tính tự chủ của cha mẹ đối với con cái và cảm xúc Với mẫu thuận tiện là 210 người nói tiếng Pháp, nghiên cứu của Mageau và c.s (2015) chỉ ra rằng sự ủng hộ của cha

mẹ với tính tự chủ của con cái có tương quan thuận với với cảm xúc tích cực và tương quan nghịch với cảm xúc tiêu cực Nghiên cứu của Niemiec và c.s (2006) cũng có kết quả tương tự, sự ủng hộ của cha mẹ có tương quan thuận cảm xúc tích cực Và sự kiểm soát của cha mẹ có tương quan thuận với cảm xúc tiêu cực Cụ thể, học sinh có sự ủng

hộ tính tự chủ của cha mẹ có cảm xúc tích cực, ngược lại học sinh chịu sự kiểm soát của cha mẹ trải nghiệm cảm xúc tiêu cực Oriol-Granado và c.s (2017) khi nghiên cứu với nhóm khách thể là sinh viên 3 trường đại học tại Chi-lê cũng cho kết quả tương tự

Các nghiên cứu về hệ quả của cảm xúc cũng được tiến hành nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa cảm xúc và các biến số khác Trong đó, Oriol-Granado và c.s (2017) đã chỉ ra cảm xúc dự đoán thành tích học tập, niềm tin vào năng lực của bản thân và sự tham gia học tập Cụ thể, cảm xúc tích cực có tương quan thuận với thành tích học tập, niềm tin vào năng lực của bản thân và mức độ tham gia học tập Trong khi đó, cảm xúc tiêu cực có tương quan nghịch với thành tích học tập, niềm tin vào năng lực của bản thân và mức độ tham gia học tập Bên cạnh đó, cảm xúc có mối liên hệ với sự hài lòng cuộc sống (Extremera & Rey, 2016) Những cá nhân có cảm xúc tích cực cao thì

có mức độ hài lòng cuộc sống cao, ngược lại những cá nhân có cảm xúc tiêu cực cao thì có mức độ hài lòng cuộc sống thấp Kết quả nghiên cứu của King, Hicks, Krull và Del Gaiso (2006) cho thấy cảm xúc tích cực có tương quan thuận với ý nghĩa cuộc sống và cảm xúc tiêu cực có tương quan nghịch với ý nghĩa cuộc sống

Trang 23

Khi nghiên cứu về vấn đề này, đã có nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra mối tương quan giữa các biến số về tâm lý, sinh lý, xã hội với cảm xúc tích cực, tiêu cực Các nghiên cứu này cho thấy cảm xúc tích cực, tiêu cực có liên quan đến niềm tin vào năng lực của bản thân, trí tuệ cảm xúc (Extremera & Rey, 2016), tương tác với môi trường

tự nhiên (McMahan & Estes, 2015), sự ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ của con cái, nhân cách (Leger, Charles, Turiano, & Almeida, 2016), tầng lớp xã hội và thu nhập (Piff & Moskowitz, 2018), khó khăn về kinh tế (Rusu, Hilpert, Falconier, & Bodenmann, 2018), độ tuổi (Charles, Reynolds, & Gatz, 2001), mức độ tham gia các hoạt động xã hội, tập thể dục, tình trạng sức khỏe, stress (Watson, 1988) Bên cạnh đó, yếu tố về sự khác biệt giới tính và văn hóa cũng có liên quan cảm xúc tích cực, tiêu cực (Bagozzi, Wong, & Yi, 1999; Scollon, Diener, Oishi, & Biswas-Diener, 2004))

Sau khi tổng quan tài liệu chúng tôi nhận thấy phần lớn các nghiên cứu dựa trên nền tảng Lý thuyết Tự quyết Nghiên cứu hiện tại được tiến hành dựa trên mô hình Lý thuyết Tự quyết của Deci và Ryan (1987) nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa sự ủng hộ

tự chủ của cha mẹ đối với con cái và niềm tin vào năng lực của bản thân, lòng tự trọng

và cảm xúc Đồng thời, nghiên cứu cũng sử dụng khái niệm ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của Mageau và c.s (2015), khái niệm lòng tự trọng của Rosenberg, Schooler và Schoenbach (1995), khái niệm niềm tin vào năng lực của bản thân của Bandura (1983), khái niệm cảm xúc tích cực và tiêu cực của Watson (1988)

1.4.2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với cảm xúc tích cực, tiêu cực

Một phần nghiên cứu được thiết kế theo kiểu tương quan nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý với cảm xúc tích cực và tiêu cực Dựa trên tổng quan tài liệu, nghiên cứu đặt ra giả thuyết sự ủng hộ của cha mẹ đối với tính tự chủ của con cái có tương quan thuận chiều với cảm xúc tích cực và tương quan nghịch chiều với cảm xúc tiêu cực Trong khi đó, kiểm soát tâm lý có tương quan nghịch với cảm xúc tích cực và tương quan thuận chiều với cảm xúc tiêu cực Nói cách khác, những học sinh nhận được sự ủng hộ tính tự chủ từ cha mẹ thì có nhiều cảm xúc tích cực hơn và ít cảm xúc tiêu cực hơn Ngược lại, những học sinh bị kiểm soát tâm lý

có nhiều cảm xúc tiêu cực hơn và ít cảm xúc tích cực hơn

1.5 Ảnh hưởng của ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý đến cảm xúc tích cực

và tiêu cực thông qua lòng tự trọng và niềm tin năng lực của bản thân

Trang 24

1.5.1 Lý thuyết Tự quyết về sự ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý

Lý thuyết Tự quyết của Deci và Ryan (1987) là một trong những lý thuyết được

sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu về tính tự chủ Lý thuyết Tự quyết là lý thuyết về động lực và nhân cách con người; nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn lực phát triển bên trong đối với sự phát triển nhân cách và khả năng tự điều chỉnh hành vi của mỗi người Những năm 1970 đã xuất hiện các công trình nghiên cứu theo hướng tiếp cận của Lý thuyết Tự quyết, nhưng đến những năm 80 của thế kỷ 20, Lý thuyết Tự quyết mới được công bố chính thức bởi hai nhà tâm lý học người Mỹ E Deci và Ryan (2008a)

Deci và Ryan (1987) cho rằng tự quyết đề cập đến nhu cầu bên trong của mỗi người góp phần vào việc thực hiện các hành vi thúc đẩy động lực nội tại của cá nhân Theo các nhà nghiên cứu này, bản chất của con người là hoạt động tích cực và có động lực nội sinh để tham gia vào các hoạt động mà không chịu sự chi phối của phần thưởng

Lý thuyết Tự quyết chia động lực thành 6 loại bao gồm: thiếu động lực, động lực điều chỉnh bên ngoài, động lực điều chỉnh nội nhập, động lực điều chỉnh đồng nhất, động lực điều chỉnh hợp nhất và động lực nội sinh Các loại động lực này được

sắp xếp theo thứ tự tăng dần về mức độ tự chủ Trong đó, thiếu động lực là trạng thái

không có ý định thực hiện hành động Những người thiếu động lực, hành động của họ không bắt nguồn từ chính ý muốn chủ quan nên họ không cảm thấy mình có năng lực

và vì thế không đạt được kết quả như mong đợi Ví dụ, tôi không hiểu tại sao mình phải đi học Với động lực điều chỉnh bên ngoài, cá nhân thực hiện hành vi để đạt được phần thưởng hay tránh hình phạt Ví dụ, học giỏi để nhận được phần thưởng của bố

mẹ Đối với những người có động lực điều chỉnh nội nhập, hành vi của họ được thực hiện bởi các sức ép từ bên trong hoặc những ảnh hưởng từ bên ngoài để đạt được sự khen ngợi hoặc tránh cảm giác tội lỗi Ví dụ, làm bài tập về nhà để tránh cảm thấy có lỗi với giáo viên Deci và Ryan (2000) xếp hai loại động lực này vào nhóm động lực bị kiểm soát Với hai loại động lực này, cá nhân có mức độ tự chủ thấp

Tiếp theo là động lực điều chỉnh đồng nhất đề cập đến hành vi của cá nhân được thực hiện vì nhận thấy tầm quan trọng của hành động và lựa chọn thực hiện một cách tự nguyện Ví dụ, học sinh làm bài tập về nhà vì ý thức được rằng bài tập về nhà

sẽ giúp củng cố kiến thức trên lớp Kế đến, khi cá nhân có động lực điều chỉnh hợp

Trang 25

nhất thì hành vi của người đó được thực hiện hoàn toàn phù hợp với cá nhân Ví dụ, học sinh lựa chọn trường thi đại học dựa trên sở thích, năng lực của bản thân Hai loại động lực này được ghép vào nhóm động lực tự chủ Nói cách khác, với hai loại động lực này, cá nhân có mức độ tự chủ cao Cuối cùng, mức độ tự chủ cao nhất là động lực nội sinh Động lực nội sinh gắn với việc thực hiện hành vi bởi cảm giác hứng thú, hài lòng liên quan trực tiếp đến hành động chứ không phải một kết quả không liên quan, ví

dụ học sinh đam mê thực hành các thí nghiệm vì họ cảm thấy vui sướng, hài lòng khi thực hiện hoạt động mà bản thân quan tâm Theo lý thuyết này, động lực tự chủ và động lực nội sinh có ảnh hưởng tích cực đến thành tích và sức khỏe tinh thần của cá nhân Ngược lại, thiếu động lực và động lực bị kiểm soát thường gắn với những hệ quả tiêu cực liên quan đến thành tích học tập và sức khỏe thể chất và tinh thần Nghiên cứu của Chirkov và Ryan (2001) chỉ ra rằng, sự ủng hộ tính tự chủ của cha mẹ có liên quan đến động lực đồng nhất và động lực nội sinh

Bên cạnh đó, Lý thuyết Tự quyết tiếp cận động lực của con người bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của nhu cầu tâm lý cơ bản: năng lực, gắn kết và tự chủ (Deci & Ryan, 2000) Nhu cầu năng lực được đáp ứng khi cá nhân cảm thấy các nhiệm

vụ nằm trong khả năng của họ và họ nhận thấy bản thân có thể làm chủ môi trường Nghĩa là, cá nhân biết mình phải làm gì, làm như thế nào và tự tin để thực hiện nhiệm

vụ đó Nhu cầu năng lực có thể được thúc đẩy bằng cách cung cấp phương tiện, thông tin rõ ràng để hoàn thành nhiệm vụ, phản hồi Nhu cầu gắn kết được đáp ứng khi cá nhân cảm thấy được chấp nhận, được yêu thích bởi nhóm, cộng đồng hoặc gia đình Những người thỏa mãn nhu cầu gắn kết không cảm thấy bị bỏ rơi, bị cách ly khỏi xã hội Sự quan tâm, ấm áp, xây dựng mối quan hệ cá nhân, và dành thời gian cho người khác là những yếu tố thúc đẩy nhu cầu được gắn kết Nhu cầu tự chủ được đáp ứng khi

cá nhân cảm thấy hành động của nó bắt nguồn từ chính bản thân Cá nhân tự do lựa chọn, cảm thấy sự lựa chọn có ý nghĩa, không bị ép buộc hoặc kiểm soát Có thể thúc đẩy nhu cầu tự chủ bằng cách cung cấp sự lựa chọn, chấp nhận cảm xúc của người khác, và cung cấp lý do hợp lý cho những giới hạn Và các yếu tố thúc đẩy nhu cầu tự chủ bắt nguồn từ khái niệm sự ủng hộ tính tự chủ

Ba nhu cầu tâm lý cơ bản đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển tâm lý và điều chỉnh của cá nhân ở tất cả các nền văn hóa Sự thỏa mãn ba nhu cầu này có tương quan thuận với trạng thái tâm lý lành mạnh, cảm xúc tích cực (Wei, Shaffer, Young, &

Trang 26

Zakalik, 2005), sự tham gia, động lực và điều chỉnh (Deci và c.s., 2001) Ngược lại, sự thỏa mãn một trong ba nhu cầu ở mức độ thấp đều cản trở đến sự phát triển của cá nhân, sự thất vọng nhu cầu có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần,

cụ thể là cảm xúc tiêu cực và các triệu chứng lo âu (Deci và c.s., 2001), xấu hổ, trầm cảm, cô đơn (Wei và c.s., 2005)

1.5.2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng của ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý đến cảm xúc tích cực và tiêu cực thông qua lòng tự trọng và niềm tin năng lực của bản thân

Các lý thuyết, quan điểm, và các nghiên cứu trước đây cho thấy cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực cũng chịu ảnh hưởng bởi niềm tin vào năng lực của bản thân

và lòng tự trọng của cá nhân Bên cạnh đó, lòng tự trọng lại chịu tác động một phần của niềm tin vào năng lực của bản thân Dựa trên những lý thuyết, quan điểm, và các nghiên cứu đó, chúng tôi đặt ra giả thuyết về ảnh hưởng của ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát tâm lý của mẹ đối với con cái đến cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực thông qua niềm tin vào năng bản thân và lòng tự trọng của con cái Mô hình giả thuyết được mô tả cụ thể ở Hình 1

Hình 1 Mô hình giả thuyết về ảnh hưởng của ủng hộ tính tự chủ và kiểm soát

tâm lý của mẹ đối với con cái đến cảm xúc tích cực và tiêu cực của con cái

thông qua niềm tin vào năng lực của bản thân và lòng tự trọng của con cái

Theo đó, (1) ủng hộ tính tự chủ có ảnh hưởng trực tiếp làm tăng cảm xúc tích cực và làm giảm cảm xúc tiêu cực; (2) ủng hộ tính tự chủ có ảnh hưởng gián tiếp làm tăng cảm xúc tích cực và làm giảm cảm xúc tiêu cực thông qua làm tăng lòng tự trọng

Trang 27

và niềm tin vào năng lực của bản thân; (3) kiểm soát tâm lý có ảnh hưởng trực tiếp làm giảm cảm xúc tích cực và làm tăng cảm xúc tiêu cực; (4) kiểm soát tâm lý có ảnh hưởng gián tiếp làm giảm cảm xúc tích cực và làm tăng cảm xúc tiêu cực thông qua làm giảm lòng tự trọng và niềm tin vào năng lực của bản thân

Trong nghiên cứu này ủng hộ sự tự chủ được hiểu gồm ba khía cạnh: (1) công nhận các cảm nhận của con cái, (2) đưa ra những lý giải hợp lý về yêu cầu và giới hạn, (3) cung cấp lựa chọn lựa chọn có giới hạn (Mageau và c.s., 2015) Khía cạnh công nhận những cảm nhận của con cái nghĩa là bố mẹ nhận ra và chấp nhận cảm xúc của con cái, đặt mình vào vị trí của con cái để hiểu cảm nhận của chúng, ví dụ: bố mẹ cởi

mở với suy nghĩ của con cái ngay cả khi suy nghĩ đó khác với suy nghĩ của họ Đối với khía cạnh đưa ra những lý giải hợp lý về yêu cầu và giới hạn, bố mẹ đưa ra những giải thích về về những yêu cầu, quy định hoặc các giới hạn, chẳng hạn như: bố mẹ luôn đưa ra lời giải thích cho những cấm đoán về một số việc Khía cạnh cung cấp lựa chọn lựa chọn có giới hạn, bất cứ khi nào có thể, bố mẹ cung cấp những sự lựa chọn có ý nghĩa cho con cái, ví dụ: bố mẹ cho phép con cái đưa ra những lựa chọn phù hợp với

sở thích, nguyện vọng của con cái

Ngược lại về sự kiểm soát tính tự chủ ông đã đưa ra khái niệm gồm ba khía cạnh: (1) đe dọa trừng phạt, (2) chỉ trích gây cảm giác có lỗi, (3) gây áp lực về thành tích Ở khía cạnh đe dọa trừng phạt được hiểu cha mẹ tạo bầu không khí sợ hãi, lo lắng

ép buộc con cái tuân theo ý muốn của mình, ví dụ: bố mẹ dọa lấy đi một số quyền lợi

để buộc con cái thực hiện một yêu cầu nào đó Đối với khía cạnh chỉ trích tạo cảm giác tội lỗi được hiểu là một trong những cách mà cha mẹ rút lại tình yêu sau những hành vi cha mẹ cho rằng không đúng mực của con cái, ví dụ: bố mẹ khiến con cái cảm thấy áy náy, có lỗi bằng cách tỏ ra muộn phiền hay không quan tâm con cái như mọi khi Cuối cùng, gây áp lực thành tích là một trong những cách cha mẹ thể hiện tình yêu có điều kiện đối với con cái, chẳng hạn: các bậc cha mẹ kỳ vọng con của họ phải giỏi hơn những bạn khác

Theo Rosenberg, Schooler, Schoenbach, và Rosenberg (1995), lòng tự trọng được coi là sự nhìn nhận bản thân một cách tích cực, vô điều kiện mà bản thân độc lập không phụ thuộc vào thành tích hay phẩm chất phẩm chất

Bandura (1983) định nghĩa niềm tin vào năng lực của bản thân là niềm tin vào khả năng của bản thân có thể đạt được thành tích nhất định

Trang 28

Cảm xúc tích cực được hiểu là trạng thái mà cá nhân cảm thấy nhiệt tình, chủ động và hoạt bát đồng thời có một nguồn năng lượng dồi dào, tham gia vào các hoạt động với niềm yêu thích cùng sự tập trung cao độ

Ngược lại, cảm xúc tiêu cực được mô tả là các trạng thái cảm xúc buồn bã, thờ

ơ, giận dữ, coi thường, phẫn nộ, cảm giác tội lỗi, sợ hãi và lo lắng cùng với sự tham gia hoạt động mà không có hứng thú (Watson, 1988)

Trang 29

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP 2.1 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là học sinh của một trường trung học phổ thông thuộc thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Địa bàn chúng tôi nghiên cứu là khu vực có điều kiện kinh tế phát triển và quy định sự phát triển của nhiều lĩnh vực khác như văn hóa, xã hội và đặc biệt là giáo dục

Cụ thể, Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, văn hóa xã hội và đặc biệt là giáo dục đang ngày một phát triển Thành phố Vĩnh Yên – một khu đô thị loại II của tỉnh Vĩnh Phúc, nơi có mật độ dân số cao và cũng tập trung nhiều nhiều trường học nhất so với những địa bàn khác trong tỉnh

Về giáo dục, Vĩnh Phúc liên tục đổi mới và phát triển không ngừng, luôn là địa phương trong top đầu cả nước về chất lượng giáo dục đào tạo Trong những năm tới Vĩnh Phúc tiếp tục đẩy mạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng cho

sự phát triển của xã hội cũng như nhu cầu tất yếu của nhân dân Chính bởi những đặc điểm đó, các bậc phụ huynh ở địa phương luôn hết sức đặc biệt quan tâm đến con cái

và đặt kì vọng cao vào con của mình

Bên cạnh đó, mẫu khách thể chúng tôi nghiên cứu trong độ tuổi THPT, độ tuổi thanh thiếu niên 15-17 tuổi Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn với nhiều diễn biến mang tính khủng hoảng, với những đặc trưng về tâm sinh lý hết sức đặc biệt

Về mặt thể chất, thanh thiếu niên là giai đoạn với nhiều thay đổi về sinh học Lứa tuổi này đặc trưng bởi giai đoạn dậy thì với sự thay đổi về hooc-môn Ở giai đoạn này các em cảm nhận sự biến đổi của cơ thể và lo lắng về ngoại hình của mình

Về mặt xã hội, hoạt động chủ đạo của giai đoạn này là giao tiếp với bạn bè bên cạnh hoạt động học tập Trong quá trình giao tiếp, thanh thiếu niên tìm thấy ở bạn bè những điểm tương đồng, sự thấu hiểu, chấp nhận, điều mà họ không thấy khi tương tác với người lớn và trẻ nhỏ Ở giai đoạn này, giao tiếp với cha mẹ vẫn giữ một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển tâm lý của thanh thiếu niên Thông qua tương tác và giáo dục của cha mẹ, thanh thiếu niên định hướng giá trị, chuẩn mực và quan điểm xã hội Bên cạnh đó, phát triển tính độc lập ở trẻ vị thành niên khiến các em muốn tự đưa

Trang 30

ra các quyết định liên quan đến bản thân và giảm sự phụ thuộc vào cha mẹ Tuy nhiên cha mẹ vẫn ứng xử với con theo cách như hồi bé Điều này, dẫn đến mâu thuẫn cha mẹ con cái Cách nuôi dạy con cái của cha mẹ ở giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng đến phát triển nhân cách của thanh thiếu niên

Vể mặt tâm lý, sự phát triển nhận thức ở lứa tuổi này lên một trình độ mới đó là

tư duy trừu tượng Thanh thiếu niên cũng bắt đầu quan tâm đến các vấn đề đạo đức, kinh tế, chính trị, xã hội Bên cạnh đó tự ý thức cũng phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn này, có khả năng ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống tâm lý, hoạt động và giao tiếp của thanh thiếu niên Một số biểu hiện của tự ý thức bao gồm: cảm giác mình là người lớn với những mong muốn tự quyết định các vấn đề liên quan đến phong cách, mối quan hệ, sở thích muốn được người lớn đối xử bình đẳng Thanh thiếu niên cũng tự đánh giá, tự phân tích bản thân với một loạt các câu hỏi với nội dung liên quan đến hình thành bản sắc cá nhân Ở lứa tuổi này, thanh thiếu niên cần thực hiện hai nhiệm vụ: tính tự chủ, độc lập với cha mẹ và hình thành bản sắc cá nhân Sự ủng hộ của cha

mẹ đối với tính tự chủ của con cái đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ này

Vì là lứa tuổi chuyển giao từ trẻ em đến người lớn với diễn biến khủng hoảng nên thanh thiếu niên gặp một số khó khăn: nhân cách chưa ổn định, dễ có những hành

vi nguy cơ và dễ bị lợi dụng Chính vì vậy, sự ủng hộ của cha mẹ, thầy cô, bạn bè có vai trò quan trọng đối với sự phát triển về mặt tâm lý, sinh lý và xã hội của thanh thiếu niên (Trương Thị Khánh Hà, 2015)

2.2 Mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu là mẫu thuận tiện bao gồm 262 học sinh của một trường trung

học phổ thông ở thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Độ tuổi trung bình là 16.76 với

độ lệch chuẩn là 84 Trong đó, nam chiếm 40.10%, nữ chiếm 58.40%, và 1.50% là giới tính khác Học sinh thuộc các khối 10, 11, và 12 chiếm tỷ lệ lần lượt là 50.40%, 23.30%, và 26.30% tổng số khách thể Học sinh có học lực giỏi chiếm 64.50%, học lực khá chiếm 35.10%, và học lực trung bình chiếm 0.40%

2.3 Cách tiến hành

Các khách thể tham gia nghiên cứu một cách tự nguyện bằng cách trả lời một bảng câu hỏi được phát trực tiếp Số bảng câu hỏi thu được là 263 Một trường hợp bị loại bỏ do có số lượng giá trị khuyết thiếu lớn hơn 10% tổng số biến quan sát đối với một biến nghiên cứu

Trang 31

2.4 Công cụ nghiên cứu

Công cụ nghiên cứu là một bảng hỏi bao gồm các câu hỏi về năm sinh, giới tinh, khối lớp, và học lực, cùng với Bảng Kê khai Cảm xúc Tích cực và Tiêu cực (Positive and Negative Affect Schedule; Phụ lục 1; Watson, 1988), Thang đo Niềm tin vào Năng lực của bản thân Chung (General Self-Efficacy Scale; Phụ lục 2; Schwarzer

& Jerusalem, 1995), Thang đo Lòng Tự trọng Rosenberg (Rosenberg Self-Esteem Scale; Phụ lục 3; Rosenberg và c.s., 1995), và Thang đo Nhận thức về Sự Ủng hộ của Cha mẹ đối với Tính tự chủ (Perceived Parental Autonomy Support Scale; Phụ lục 4; Mageau và c.s., 2015)

Bảng Kê khai Cảm xúc Tích cực và Tiêu cực bao gồm 20 item tương ứng với

20 cảm xúc hoặc thuộc loại tích cực (chẳng hạn như thú vị, tự hào, hay quyết tâm) hoặc thuộc loại tiêu cực (chẳng hạn như buồn bã, hoảng sợ, hay lo lắng) Khách thể

được yêu cầu đánh giá mức độ thường xuyên trải nghiệm những cảm xúc này theo

thang điểm Likert 5 mức độ từ 1 (hiếm khi) đến 5 (rất thường xuyên) Tổng điểm của

các item thuộc một tiểu thang thể hiện mức độ thường xuyên trải nghiệm loại cảm xúc tương ứng Tổng điểm càng cao cho thấy mức độ thường xuyên trải nghiệm càng lớn

Hệ số Cronbach’s alpha của tiểu thang cảm xúc tích cực là 82 và cảm xúc tiêu cực là 85 Hệ số tương quan biến tổng của các item thuộc tiểu thang cảm xúc tích cực đều lớn hơn 38, và đối với tiểu thang cảm xúc tiêu cực đều lớn hơn 43

Thang đo Niềm tin vào Năng lực của bản thân Chung bao gồm 10 item tương ứng với 10 câu mô tả về niềm tin của cá nhân vào năng lực của bản thân Ví dụ như

“tôi luôn giải quyết được vấn đề khó khăn khi tôi đủ cố gắng” hay “khi gặp phải rắc rối, tôi thường nghĩ ra được một giải pháp” Khách thể được yêu cầu đánh giá mức độ

chính xác của mỗi câu trong việc mô tả bản thân mình theo thang điểm Likert 4 mức

độ từ 1 (rất không chính xác) đến 4 (rất chính xác) Tổng điểm của 10 item càng cao

thì niềm tin của cá nhân vào năng lực của bản thân càng cao Hệ số Cronbach’s alpha của thang đo là 76 và hệ số tương quan biến tổng của các item đều lớn hơn 31

Thang đo Lòng Tự Trọng Rosenberg bao gồm 10 item tương ứng với 10 câu

mô tả về cảm nhận của cá nhân về bản thân Ví dụ như “tôi cảm thấy mình là một người có giá trị, ít nhất là cũng bình đẳng với người khác” hay “tôi có khả năng làm việc hiệu quả như hầu hết những người khác” Khách thể được yêu cầu đánh giá mức

độ chính xác của mỗi câu trong việc mô tả cảm nhận của cá nhân về bản thân theo

Ngày đăng: 27/04/2020, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w