1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi tiếng anh và tiếng việt tt

27 91 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 363,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng đã có những đề tài trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu về lĩnh vực tình thái và xoay quanh việc xác định nghĩa tình thái và phân loại nghĩa tình thá

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN NGHĨA TÌNH THÁI Ở HÀNH ĐỘNG HỎI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu

Mã số: 9 22 20 24

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI 2019

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:

Phản biện 1: GS TS Nguyễn Văn Khang

Phản biện 2: GS TS Hoàng Văn Vân

Phản biện 3: PGS TS Trần Kim Phượng

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam,

477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Vào hồi giờ ngày tháng năm 201

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học xã hội Việt Nam

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 Nguyễn Thị Vân Anh: “Nghĩa tình thái ở kiểu hỏi chính danh thể hiện ở câu trần thuật”, Tạp chí Từ điển học và bách khoa

thư, số 2 (58) 3/2019

2 Nguyễn Thị Vân Anh: “Tình thái trong kiểu hỏi chính

danh tiếng Anh và tiếng Việt”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số

2(69) - 3/2019

3 Võ Đại Quang- Nguyễn Thị Vân Anh “Nghiên cứu về

một số phương tiện biểu đạt tình thái trong câu hỏi tiếng Anh”, Tạp

chí ngôn ngữ và đời sống, số 9 (239) 2015

4 Võ Đại Quang- Nguyễn Thị Vân Anh “Một số đặc điểm

ngữ dụng của các kiểu câu hỏi chính danh tiếng Anh”, Tạp chí Khoa

học ngoại ngữ, trường ĐH Hà Nội, số 45/2015

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những sắc thái tình cảm, những cung bậc cảm xúc khác nhau của người nói và người nghe trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ chính là tình thái Tình thái trong ngôn ngữ là một mảng kiến thức rất rộng và ở bất kì ngôn ngữ nào, tình thái cùng với cách thức diễn đạt tình thái đều rất phong phú, đa dạng

Trên thế giới và cả ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tình thái và các phương tiện truyền tải tình thái đặc biệt là dưới góc nhìn của ngữ dụng học Tình thái là một phạm trù liên hệ với việc diễn đạt sự bắt buộc sự cho phép, sự cấm đoán, sự cần thiết, tính khả hữu, khả năng Không thể tạo ra ý nghĩa lời nói nếu trong lời nói ấy

ta không tìm thấy một biểu hiện nào đó của tính tình thái Tình thái không những là linh hồn của câu, của văn bản mà còn là của cả hoạt động giao tiếp Giao tiếp sẽ đạt được hiệu quả tối ưu khi chúng ta biết vận dụng những phương tiện biểu hiện tình thái Viêc vận dụng những phương tiện biểu hiện tình thái giúp người nói người nói tạo dựng phát ngôn cũng như để người nghe tiếp nhận và nắm bắt đúng ý định giao tiếp của người nói Bởi vậy nghiên cứu về tình thái và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái là một đề tài thú vị, ngày càng được mở rộng chú trọng và phát triển giúp chúng ta hướng tới thành công trong giao tiếp, ứng xử

Qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng đã có những đề tài trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu về lĩnh vực tình thái và xoay quanh việc xác định nghĩa tình thái và phân loại nghĩa tình thái, các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái, phạm vi nghiên cứu quan hệ của nghĩa tình thái trong câu hỏi hay câu cầu khiến, ý nghĩa tình thái và phương tiện tình thái cú pháp học ở các ngôn ngữ, tuy nhiên trong phạm vi tư liệu chúng tôi có được cũng chưa có công trình nào trực tiếp quan tâm chuyên sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về cách biểu đạt ý nghĩa tình thái của hành động hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt biểu hiện không chỉ bằng câu hỏi mà còn bằng các kiểu câu khác như câu mệnh lệnh, câu trần thuật ở bậc luận án tiến sĩ

Vì những lí do đã nêu ở trên, việc nghiên cứu các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái trong hành động ngôn từ hỏi của luận

án này là cần thiết, giúp mang đến một cái nhìn bao quát hơn về vấn

đề tình thái trong ngôn ngữ đáp ứng nhu cầu học thuật mà còn đáp

Trang 5

ứng nhu cầu thực tiễn Luận án ở chừng mực nào đó có thể đóng góp thêm cho việc biên soạn tài liệu tham khảo phục vụ cho học tập giảng dạy chuyên sâu, nâng cao hiểu biết cho những ai quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu của luận án

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án này được thực hiện mục đích nghiên cứu các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt nhằm tìm hiểu về những tương đồng và dị biệt của phương tiện biểu hiện loại nghĩa này về phương diện ngữ nghĩa- ngữ dụng ở

cả hai ngôn ngữ.Thông qua việc nghiên cứu luận án, tác giả trau dồi thêm những hiểu biết cần thiết, nâng cao trình độ phục vụ cho công tác giảng dạy và dịch thuật ngoại ngữ

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án tập trung vào việc tìm hiểu những vấn đề sau:

1 Lí thuyết hành động ngôn từ (speech act theory), hành động hỏi, nghĩa tình thái và các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái trong các ngôn ngữ

2 Nhận diện hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt

3 Miêu tả những phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt

4 Nhận xét về sự tương đồng và khác biệt về nghĩa tình thái

và phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt, nghĩa là trong khuôn khổ của luận án này chúng tôi tập trung khảo sát các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt trên các nguồn

tư liệu như nguồn câu hỏi Anh -Việt, nguồn câu trần thuật, câu mệnh lệnh dùng để hỏi do một nhóm tác giả xử lí ngôn ngữ tự nhiên thuộc trường đại học Stanford (The Stanford Natural Language Processing Group) tiến hành ghi âm lại lời thoại trong các video TED talks (corpus song ngữ Anh -Việt: http://nlp.stanford.edu/project/nmt/), các tác phẩm văn học như “Gone with the Wind” (Cuốn theo chiều gió) của Margaret

Trang 6

Mitchell, “The Da Vinci Code” (Mật mã Da Vinci) của Dan Brown, tập truyện ngắn Nguyễn Hào Hải, truyện ngắn Chu Lai, truyện ngắn Ngô Tự Lập “ Tháng có 15 ngày”, tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, tuyển tập truyện ngắn Nam Cao, Ngô Tất Tố và các truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Quân đội Nhân dân từ các năm 2000 đến 2016

Hiện nay có nhiều loại tình thái được xác lập theo các tiêu chí khác nhau Phạmvi nghiên cứu của luận án này chúng tôi tập trung vào tình thái và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái hành động

ngôn từ , tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa (deontic modality) ở hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp

tiếng Anh và tiếng Việt Các phương tiện biểu hiện tình thái ở hỏi tu từ tiếng Anh và tiếng Việt nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của luận án này

Hành động hỏi là một hành động mà người nói thực hiện thông qua ngôn ngữ, là một một kiểu ngôn trung cố gắng gợi ra một thông tin nào đó dưới hình thức một câu trả lời Nói cách khác, đây là hành động mà người nói thực hiện nhằm thu thập thông tin chưa biết cần biết Hành động hỏi có thể có nhiều phương tiện biểu đạt và cùng một cách thức biểu đạt có thể thực hiện được nhiều hành động ngôn

từ khác nhau Hành động hỏi dùng kết cấu hỏi và các kết cấu khác để yêu cầu cung cấp thông tin hay thực hiện các mục đích giao tiếp Người nói có thể sử dụng phương tiện câu hỏi (hay cấu trúc câu khác như câu trần thuật hoặc là câu mệnh lệnh) để thực hiện một hành động ngôn từ hỏi Hành động hỏi thể hiện bằng câu hỏi là hành động hỏi trực tiếp Hành động hỏi thực hiện bởi các câu trần thuật hay mệnh lệnh được gọi là hành động hỏi gián tiếp

Như vậy, có nhiều cách khác nhau để thực hiện cùng một hành động ngôn từ, bởi vì có nhiều câu khác nhau thực hiện cùng một mục đích nói Từ sự phân tích đã đề cập ở trên chúng tôi nêu ra hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt như sau :

(1) Hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh và tiếng Việt là hành động hỏi thể hiện bằng câu nghi vấn;

(2) Hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt là hành động hỏi thể hiện bằng câu trần thuật và câu mệnh lệnh

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp miêu tả và đối chiếu Phương pháp miêu tả nhằm làm sáng tỏ các kiểu nghĩa tình

Trang 7

thái và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt.Trong phương pháp miêu tả, chúng tôi đã vận dụng các thủ pháp như thủ pháp thống kê, phân loại và thủ pháp phân tích ngữ cảnh trên các ngữ liệu cụ thể mà chúng tôi thu thập được Bên cạnh đó chúng tôi vận dụng phương pháp so sánh đối chiếu nhằm tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt giữa các bộ phận nghĩa tình thái, những phương tiện biểu thị chúng, hiệu quả của việc

sử dụng những phương tiện ấy trong thực tế, qua đó mà hiểu rõ hơn

về nghĩa tình thái, và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt giúp nâng cao hiệu quả trong giao

tiếp bằng ngôn ngữ

5 Những đóng góp của luận án

Luận án đã nhận diện được hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt Nghiên cứu tập trung vào phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp cụ thể với các đặc trưng về nội dung, ý nghĩa và các mối quan hệ tương ứng giữa hình thức và nội dung Qua phân tích, nghiên cứu đã bước đầu nhận ra những nét tương đồng và khác biệt về phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức, phương tiện biểu hiện tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

Về lí luận: Thông qua việc đối chiếu tình thái và phương tiện

biểu hiện nghĩa tình thái trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt, luận án giúp làm nhận thức rõ hơn về biểu hiện của các nghĩa tình thái như tình thái hành động ngôn từ , tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa

ở hành động hỏi hỏi trực tiếp và gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời tìm ra sự tương đồng và khác biệt của phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt

Về thực tiễn: Vấn đề tình thái từ xưa đến nay tuy không mới

nhưng luôn là đề tài thú vị thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học Trên tinh thần kế thừa và phát huy các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đi trước về vấn đề nghĩa tình thái và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái, ở khuôn khổ luận án này chúng tôi tập trung tìm hiểu nhằm nêu bật nội dung tình thái nào và cách thức truyền tải nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt Không có nhiều công trình nghiên cứu về phương tiện

Trang 8

biểu hiện nghĩa tình thái ở các kiểu ngôn trung trong hành động ngôn

từ hỏi ở cả hai ngôn ngữ: tiếng Anh và tiếng Việt Kết quả sau nghiên cứu của luận án giúp phục vụ cho công tác giảng dạy ngoại ngữ, hay một tài liệu tham khảo phục vụ cho những ai quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài

VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu nghĩa tình thái và phương tiện biểu hiện tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Nhà nghiên cứu ngôn ngữ nước ngoài như Ch.Bally

(1905), O Jespersen (1949),V.Wright(1951) ,N Rescher (1968),

J Lyons(1995), J.R Searle (1969), T Givón (1993), F.Palmer (2001) đã có những đóng góp không nhỏ cho việc xây dựng

khung lí luận chung về tình thái, phân loại tình thái Trong đó Ch.Bally là người đầu tiên phân biệt Modus (bộ phận tình thái)

là một trong hai thành phần thiết yếu, quan trọng của cấu trúc nghĩa của phát ngôn gắn với bình diện tâm lí, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong quan hệ với thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp Hầu hết các nhà nghiên cứu về tình thái ở nước ngoài như O Jepersen (1949), V.Wright (1951), N.Reacher (1968), Quirk et al.(1972), T Givón (1993), M.A K Halliday (1994), J.Lyons (1995), F.Palmer ( 2001) đều bàn về hai loại tình thái chính đó là tình thái trong ngôn ngữ học và tình thái trong logic học

Trang 9

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam các nhà ngôn ngữ học như Hoàng Phê (1989), Cao Xuân Hạo (1991), Hồ Lê (1992), Lê Đông (1996), Nguyễn Thị Lương (1996), Nguyễn Đức Dân(1998), Diệp Quang Ban(2000), Hoàng Tuệ (2001), Phạm Hùng Việt(2003), Bùi Mạnh Hùng (2003), Nguyễn Văn Hiệp (2001, 2004, 2007, 2015) trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái với những nghiên cứu rất chi tiết và có nhiều kiến giải sâu sắc vấn đề tình thái trên nhiều phương diện khác nhau Trong đó Cao Xuân Hạo (1999)

đã phân biệt hai loại tình thái là tình thái hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Nguyễn Thị Lương (1996) vận dụng

lí thuyết hành động ngôn từ vào việc nghiên cứu mười tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi nhằm tìm ra các hành động ngôn từ

mà tiểu từ tình thái dứt câu có khả năng biểu thị trong những ngữ cảnh cụ thể mà chúng xuất hiện, miêu tả đánh giá hiệu lực của các hành động đó” Phạm Hùng Việt cho rằng để biểu thị ý nghĩa tình thái của câu cần có các phương tiện như: phương tiện ngữ

âm (ngữ điệu, trọng âm), từ vựng (động từ tình thái, phụ từ, trợ

từ, thán từ, quán ngữ tình thái), ngữ pháp (đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc câu )và trợ từ tiếng Việt có khả năng tham gia biểu thị một số loại hành động ngôn từ khác nhau gồm cả các hành động ngôn từ trực tiếp và các hành động ngôn từ gián tiếp Nguyễn Văn Hiệp (2007) nêu ra những phạm trù tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ dựa trên sự đối lập của các cặp nghĩa tình thái như sự

đối lập giữa tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa (deontic modality), sự đối lập giữa tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái căn bản (root modality), đối lập giữa tình thái hướng tác thể (agent- oriented modality) và tình thái hướng người nói ( speaker- oriented modality), đối lập giữa

tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Những đối lập về tình thái mà ông nêu ra cho thấy phạm vi rất rộng trong việc nghiên cứu về tình thái

Việc nghiên cứu tình thái và phương tiện biểu hiện tình thái trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt bước đầu giúp chúng tôi chúng tôi xác định được thế nào là hành động hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt, nhận diện về hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp, tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa cùng phương tiện biểu hiện những tình thái này

Trang 10

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu hành động hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt

Nghiên cứu hành động hỏi là một vấn đề tuy không mới và được các nhà ngôn ngữ học rất quan tâm song quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng có những khác nhau Đối với tiếng Anh, đặc biệt chú ý có công trình của J Austin (1969) và J Searle (2001) khi các nhà nghiên cứu đề cập đến thuyết hành động ngôn từ Các nhà nghiên cứu như A.Wierzbicka, J Sadock, G.Gazdar, R.M Harnis, G.Yule cùng có chung quan điểm với J.Searle về tiêu chí phân loại hành động ngôn từ, đó là các đặc tính chủ yếu, quan trọng của hành động ngôn từ Tuy nhiên điểm khác nhau trong nghiên cứu của các tác giả

về hành động ngôn từ nằm ở những tiêu chí bổ sung cho các đặc tính quyết định hành động ngôn trung như là các điều kiện sử dụng, hay điều kiện thỏa mãn, định hướng sắp xếp các tiêu chí nhỏ thuộc các tiêu chí lớn trong phân loại Các công trình của J Austin (1969) O Ducrot (1972) J.Searle (1979) hướng nghiên cứu về vấn đề ngữ nghĩa, ngữ dụng học của câu hỏi J Searle là người khởi xướng trong việc nghiên cứu về hành động ngôn từ gián tiếp O Ducrot với quan điểm nghiên cứu câu hỏi trong mối quan hệ giữa câu- phát ngôn Đối với tiếng Việt, nghiên cứu của Nguyễn Kim Thản (1979) cho thấy việc nhận diện câu nghi vấn qua mục đích nói Hồ Lê (1992), Cao Xuân Hạo(1995), Diệp Quang Ban (2000) nhận diện câu nghi vấn thông qua các tiêu chí hỏi có dấu hiệu hỏi và dấu hiệu tình thái hỏi Việc đảo trật tự, thay đổi cấu trúc của câu hỏi có thể thể hiện ý định của người nói nhằm tập trung vào điểm nhấn nào đó trong phát ngôn hỏi.Ở bình diện ngữ dụng học, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Lê Đông (1996) về câu nghi vấn Ông xem xét vấn đề câu nghi vấn trong các mối quan hệ giao tiếp liên nhân như người tham giao tiếp, vai giao tiếp, ngữ cảnh, mục đích nói, thái độ của người nói Lê Đông nghiên cứu sâu về ngữ nghĩa ngữ dụng của câu hỏi chính danh, các tiểu loại câu hỏi, thông tin ngữ dụng bổ trợ, tình thái trong câu hỏi chính danh Nguyễn Thị Thìn (1996) tập trung bàn về 11 kiểu câu hỏi không dùng để hỏi, câu hỏi gián tiếp, câu hỏi không chính danh trong mối quan hệ giữa cấu trúc ngữ pháp và cách sử dụng, quan hệ của cấu trúc với chức năng cho nên nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc miêu tả mục đích và đặc điểm cú pháp, đặc điểm cách dùng của

3 loại câu hỏi trong số các kiểu câu hỏi điển hình không dùng để hỏi

Trang 11

Võ Đại Quang (2000) nghiên cứu về đặc điểm câu hỏi chính danh tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ dụng học với các quan điểm phân loại chúng thành câu hỏi lựa chọn hiển ngôn, câu hỏi lựa chọn ngầm ẩn và câu hỏi không lựa chọn qua đó rút ra những tương đồng và khác biệt về phương diện ngữ nghĩa ngữ dụng của câu hỏi chính danh tiếng Anh và tiếng Việt Nguyễn Việt Tiến (2006) nghiên cứu về hành động hỏi và câu hỏi theo quan điểm ngữ dụng học trên

cứ liệu tiếng Pháp với những phân tích cụ thể hành động hỏi và câu hỏi tiếng Việt và tiếng Pháp trong hành chức cụ thể của chúng Nguyễn Phúc Trung (2011) nghiên cứu về hành động hỏi trong ngôn

ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp) theo quan điểm dụng học Nghiên cứu tập trung

tìm hiểu về hành động hỏi và các hành động ngôn ngữ khác nữa với mục đích khai thác được thông tin cần thiết mà người nói mong muốn trong các hình thức hồi đáp trên khía cạnh cặp thoại, tham thoại liên quan đến tính lịch sự và thể diện của các hành động ngôn ngữ trong phỏng vấn truyền hình

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN BIỆN HIỆN NGHĨA TÌNH THÁI Ở HÀNH ĐỘNG HỎI TRỰC TIẾP TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

2.1 Khái quát về hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh

và tiếng Việt

2.1.1 Định nghĩa hành động hỏi trực tiếp

Những hành động ngôn từ thực hiện các chức năng của chúng một cách trực tiếp và theo nghĩa đen được gọi là những hành động ngôn từ trực tiếp Tức là cái chức năng mà câu thực hiện trong diễn ngôn là từ nghĩa đen của nó Các hành động ngôn từ trực tiếp có thể được thực hiện theo hai cách:

1) Bằng cách tạo ra một phát ngôn theo nghĩa đen, trực tiếp; 2) Bằng cách sử dụng một động từ ngôn hành gọi tên hành động ngôn từ đó

Như vậy hành động hỏi trực tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện bằng câu nghi vấn mang biểu thức hỏi nhằm tìm kiếm thông tin chưa biết cần biết Chúng ta có thể sử dụng câu nghi vấn để thực hiện hành động hỏi trực tiếp

Trang 12

2.1.2 Nhận diện hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh

Hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh được thực hiện bằng câu nghi vấn Hình thức của câu nghi vấn trong tiếng Anh thể hiện như sau:

1 Vị trí đầu tiên của động từ làm vị ngữ (hay còn được gọi là

vị từ) trong tiếng Anh

2 Câu nghi vấn với từ nghi vấn bắt đầu bằng what, when, where, who, whom, which, whose, why và how…

3 Câu nghi vấn với từ nghi vấn what, who, which or whose là

chủ ngữ hay một phần của chủ ngữ, câu nghi vấn này không có trợ động từ

4 Câu nghi vấn có từ nghi vấn mang nghĩa phủ định được hình thành bằng cách thêm ‘not’ vào sau trợ động từ

5 Câu nghi vấn mang nghĩa phủ định

Như vậy hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh được nhận diện như sau:

(1) Hành động được thực hiện bằng câu nghi vấn như (Câu

nghi vấn tổng quát (Overview questions or Yes-No questions), Câu

nghi vấn bộ phận (Wh- questions), Câu nghi vấn lựa chọn sử dụng

OR ( Questions with OR) hoặc sử dụng động từ ngôn hành gọi tên hành động ngôn từ hỏi (ask)

(2) Đại từ nghi vấn trong câu nghi vấn đóng vai trò là phương

tiện chuyển tải tình thái

(3) Ngữ điệu hỏi

Trong tiếng Anh ngữ điệu hỏi thường được sử dụng là ngữ

điệu đi lên (glide-up) trong các câu nghi vấn tổng quát (yes-no

questions, tag questions) và xuống giọng ở các câu nghi vấn bộ phận

(Wh-questions)

(4) Trợ từ tình thái trong câu nghi vấn

(5) Cuối câu nghi vấn có dấu hỏi chấm (?) ở dạng viết

2.1.3 Nhận diện hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Việt

Hành động hỏi trực tiếp là hành động mà hiệu lực ngôn trung hỏi của nó phù hợp với hình thức và chức năng của kiểu câu nghi vấn được dùng để biểu thị nó” Hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Việt được nhận diện như sau:

- Hành động hỏi được thực hiện bằng câu câu nghi vấn

Trang 13

- Hành động hỏi được sử dụng đúng với điều kiện sử dụng

- Hành động hỏi sử dụng đúng với đích ngôn trung hỏi của chúng Hình thức của câu nghi vấn tiếng Việt được thể hiện như sau:

1 Câu nghi vấn thường sử dụng những đại từ nghi vấn ai, gì,

nào, sao, tại sao, đâu, bao giờ, bao nhiêu, à, ư, hả, chứ, các tiểu từ

hỏi chuyên dụng trong các khuôn hỏi như (có)… không ,có phải

không (đã,… chưa…)

2 Các tiểu từ hỏi chuyên dụng trong các khuôn hỏi như (có)… không ,có phải không (đã,… chưa…) hoặc có từ hay (nối các vế có

quan hệ lựa chọn)

3 Tiểu từ tình thái (à, ư, nhỉ, nhé )

4 Kết thúc câu nghi vấn là dấu hỏi chấm (?) ở dạng viết và ngữ điệu nghi vấn ở dạng nói ( thường là ngữ điệu lên giọng ở cuối câu) Trong tiếng Việt, hành động hỏi trực tiếp là hành động được thực hiện bằng câu nghi vấn tổng quát, Câu nghi vấn bộ phận, Câu nghi vấn lựa chọn, và Câu nghi vấn vọng lại

2.2 Các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh

2.2.1 Phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh

Tình thái trong hành động hỏi trực tiếp là tình thái nghi vấn Tình thái nghi vấn được người nói dùng để biểu hiện ý muốn tìm hiểu điều chưa biết hoặc còn hồ nghi và mong đợi sự trả lời, sự giải thích của người nghe Phương tiện truyền tải tình thái nghi vấn là câu nghi vấn Theo tổng hợp từ nguồn ngữ liệu phát ngôn nghi vấn trong

corpus song ngữ Anh -Việt (http://nlp.stanford.edu/project/nmt/), các tác phẩm văn học như “Gone with the Wind”(Cuốn theo chiều gió) của Margaret Mitchell, “The Da Vinci Code” (Mật mã Da Vinci) của

Dan Brown, chúng tôi thống kê có có 545 câu nghi vấn tổng quát,

525 câu nghi vấn bộ phận, 485 câu nghi vấn lựa chọn, 465 câu nghi vấn vọng lại trên tổng số hơn 2020 phát ngôn nghi vấn

Tình thái nghi vấn thể hiện bằng phương tiện các câu nghi vấn

thường chứa đựng những động từ vị ngữ tình thái (look like, suppose,

think, would of ask, may, will, must, should,…), khung cấu trúc hỏi

với or/ or maybe, từ nghi vấn what, why, how, where, when,…,các động từ Say, tell, ask đứng trước toàn bộ mệnh đề nghi vấn hay từ

nghi vấn dùng để hỏi

Ngày đăng: 27/04/2020, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w