2.1.1. Sự ra đời và phát triển của đánh giá tác động môi trường2.1.1.1. Trên thế giớiQuá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong các thập niên 1950 – 1960 đã gây tác động đến môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe , tài nguyên thiên nhiên và thậm chí cản trở phát triển kinh tế xã hội. Nhằm hạn chế xu hướng này, phong trào bảo vệ tự nhiên đã đòi hỏi chính quyền pải có biện pháp thẩm định về mặt môi trường đối với các dự án phát triển trước khi cho phép đầu tư.Năm 1696, “Đạo luật môi trường” đầu tiên Mỹ ra đời nhắm thiết lập những chính sách và luật định cho việc bảo vệ môi trường. Yêu cầu đánh giá tác động môi trường (ĐTM) ở Mỹ cũng bắt đầu từ thời điểm đó.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để có được điều kiện thực hiện báo cáo thực tập nghề nghiệp của mình cũngnhư hoàn thành chương trình học, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhiều cơquan, tổ chức, cá nhân Với tình cảm sâu sắc, chân thành, cho phép tôi được bày tỏlòng biết ơn đến tất cả các cá nhân và cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trìnhhọc tập và nghiên cứu đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô khoa Tài nguyên Môi trường, Trường Đạihọc Nông - Lâm Bắc Giang đã quan tâm, dạy dỗ, chỉ bảo tận tình chu đáo tôi trongsuốt quá trình học tập và sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ Trung tâm Quan trắc tàinguyên và môi trường Bắc Giang, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốtthời gian thực tập tại Trung tâm
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới ThS Phan Lê Na đã quan tâm giúp
đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành báo cáo này trong thời gian qua
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè nhữngngười đã hết lòng động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trìnhhọc tập và thực hiện đề tài này
Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một sinh viên,khóa luận này không thể tránh được những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉbảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô để tôi có điều kiện bổ sung, nâng cao ý thức củamình, phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Hoàng Văn Hiệu
Trang 2PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, ở Việt Nam nền kinh tế đang trên đà phát triển mạnh mẽ, những ứngdụng của khoa học công nghệ ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vựckhác nhau Cùng với đó là sự đầu tư và chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư của ViệtNam cũng phần nào tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển về kinh tế, công nghiệp
Tỉnh Bắc Giang là địa điểm được các nhà đầu tư quan tâm bởi điều kiện tựnhiên, kinh tế xã hội và mạng lưới giao thông thuận lợi Từ đó, ngày càng có nhiềukhu công nghiệp, cụm công nghiệp được mở ra trên địa bàn của tỉnh Thời gian gầnđây, đã xuất hiện hiện khá nhiều các công ty, nhà máy sản xuất với các công nghệ mới,hiện đại và hiệu quả hơn các công nghệ cũ Trong đó, có một số doanh nghiệp đã đầu
tư các dây chuyền thiết bị sản xuất các loại sản phẩm từ nhựa Tuy nhiên, theo đánhgiá chung việc sản xuất các sản phẩm từ nhựa đặc biệt là các sản phẩm thân thiện môitrường phần lớn vẫn là các cơ sở sản xuất với ở quy mô nhỏ, trình độ kỹ thuật thấp,công nghệ sản xuất chưa được đầu tư đúng mức, tốn nhiều lao động, năng suất và hiệuquả thấp, các trang thiết bị thì hầu hết được chế tạo trong nước hoặc tự tạo theo kiểubán tự động Cho tới nay, ngành nhựa Việt Nam chỉ tự cung cấp cho mình được 10%nguyên liệu Con số này quá thấp so với các nước trong khu vực
Nắm bắt được tình hình này, Công ty TNHH Công nghệ vật liệu mới DemingViệt Nam đã đầu tư dự án: “Nhà máy vật liệu công nghệ mới Deming Việt Nam” tại lôA2, A3 thuộc KCN Đình Trám, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Dự án nếu đi vào hoạtđộng sẽ tạo ra thành một trong những nhà máy điển hình của KCN Đình Trám trongviệc tạo ra các loại sản phẩm mới là cuộn nhựa, công suất: 3000 tấn sản phẩm/năm
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động sản xuất không thể tránh khỏi những tácđộng xấu tới môi trường xung quanh, cũng như cuộc sống của người dân Xuất phát từ
thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác động môi trường giai đoạn vận hành của dự án nhà máy vật liệu công nghệ mới Deming Việt Nam, khu công nghiệp Đình Trám, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang’’ nhằm đánh giá một cách khách
quan các tác động của các nguồn gây ô nhiễm đến môi trường trong giai đoạn vậnhành của dự án, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu các tác động xấu đếnmôi trường của dự án
Trang 3- Số liệu thu thập phải đảm bảo tính chính xác, khách quan và trung thực.
- Các phân tích đánh giá phải dựa trên cơ sở khoa học đáng tin cậy
- Các biện pháp đề xuất giảm thiểu tác động phải khả thi và phù hợp với điềukiện thực tế của dự án
Trang 4Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong các thập niên 1950 – 1960
đã gây tác động đến môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe , tài nguyên thiên nhiên vàthậm chí cản trở phát triển kinh tế - xã hội Nhằm hạn chế xu hướng này, phong trào bảo vệ tựnhiên đã đòi hỏi chính quyền pải có biện pháp thẩm định về mặt môi trường đối với các dự ánphát triển trước khi cho phép đầu tư
Năm 1696, “Đạo luật môi trường” đầu tiên Mỹ ra đời nhắm thiết lập những chính sách
và luật định cho việc bảo vệ môi trường Yêu cầu đánh giá tác động môi trường (ĐTM) ở Mỹcũng bắt đầu từ thời điểm đó
Sau Mỹ, ĐTM đã được áp dụng ở nhiều nước (xem bảng 2.1) Nhóm nước thực hiệnsớm công tác này là Nhật, Singapore, Hồng Kông (1972), tiếp đến là Canada (1973), Úc(1974), Philippines (1977) Không phải chỉ có các nước lớn có nền công nghiệp phát triển màngay cả các nước nhỏ, đang phát triển cũng nhận thức được các vấn đề môi trường và vai tròcủa ĐTM trong việc giải quyết các vấn đề này
Bảng 2.1 Thời gian thực hiện ĐTM của các Quốc gia trên thê giới
Trang 5Pháp 1976 Hà Lan 1986 Czech Republic 1991
(Nguồn: Đặng Văn Minh, Giáo trình ĐGTĐMT, NXB Nông nghiệp, 2013)
Nhìn chung, chỉ trong vòng 20 năm, ĐTM đã được rất nhiều nước xem xét, áp dụng.Ngoài các quốc gia, các tổ chức Quốc tế cũng rất quan tâm đến công tác ĐTM Một số tổ chức
có nhiều đóng góp cho công tác này:
- Ngân hàng thế giới (WB)
- Cơ quan phát triển Quốc tế của Mỹ (USAID)
- Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP)
Một công việc mà các tổ chức này thực hiện rất có hiệu quả là mở các khóa học vềĐTM ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
2.1.1.2 Tại Việt Nam
Ngay từ đầu những năm 80 nhiều nhà khoa học Việt Nam bắt đầu tiếp cận với công tácĐánh giá tác động môi trường (ĐTM) thông qua các hội thảo và các khóa đào tạo, Chính phủViệt Nam cũng sớm nhận thức được vấn đề bảo vệ môi trường và công tác ĐTM nên đã tạođiều kiện cho các cơ quan, cá nhân tiếp cận lĩnh vực này
Sau năm 1990, Nhà nước cho tiến hành chương trình nghiên cứu môi trường mang mã
số KT 02, trong đó có một đề tài trực tiếp nghiên cứu về ĐTM là KT 02-16 do GS Lê Thạcchủ trì Mặc dù chưa có Luật Bảo vệ môi trường, nhưng Nhà nước đã yêu cầu một số dự ánphải có báo cáo ĐTM Điều này thể hiện sự quan tâm của các cấp chính quyền đến công tácnày
Việc biên soạn, thông qua và ban hành Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông
Trang 6qua ngày 7/12/1993 đã mở ra một bước ngoặt trong công tác BVMT nói chung và ĐTM nóiriêng ở nước ta Luật gồm 07 chương và 55 điều, nhiều thuật ngữ chung về môi trường đã đượcđịnh nghĩa, những quy định về bảo vệ môi trường trên lãnh thổ Việt Nam đã được đưa ra Đặcbiệt, Điều 11, 17 và 18 trong luật này có định nghĩa ĐTM và những quy định các dạng dự ánđang hoạt động và sẽ triển khai trên lãnh thổ Việt Nam nhất thiết phải lập báo cáo ĐTM Ngoài
ra, Chính phủ đã ra Nghị định về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường vào tháng10/1994
Sau khi Luật Bảo vệ môi trường được thông qua và có hiệu lực, nhiều báo cáo ĐTM đãđược thẩm định giúp những người ra quyết định có thêm tài liệu để xem xét toàn diện các dự ánphát triển ở Việt Nam
Từ 1994 đến 1998, Bộ KHCN&MT ban hành nhiều văn bản hướng dẫn công tác ĐTM
và tiêu chuẩn môi trường
Đến năm 2005, Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam đã sửa đổi và được Quốc hội thôngqua ngày 29 tháng 11 năm 2005 Trong đó có nhiều quy định bổ sung về ĐTM tại chương 3 vàkèm theo Nghị định 80 quy định chi tiết hơn về ĐTM và cam kết bảo vệ môi trường
Năm 2014, Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 thôngqua ngày 23/6/2014 Luật này quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biệnpháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổchức, hộ gia đình và cá nhân trong bảo vệ môi trường Kèm theo Nghị định 18/2015/NĐ-
CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ cùng với Thông tư số BTNMT ngày 29 tháng 5 năm 2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giámôi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
27/2015/TT-Cho đến nay hệ thống pháp lý cho thực hiện ĐTM đã tương đối đầy đủ và tiếp cận đượcyêu cầu của thực tế Việc thực hiện ĐTM dần đi vào nề nếp đã đóng góp đáng kể cho thực hiệnphát triển bền vững của đất nước
2.1.2 Khái niệm đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường là một quá trình nghiên cứu nhằm dự báo các hậuquả xấu về môi trường của một dự án phát triển kinh tế - xã hội hoặc một công trình
Trang 7xây dựng cơ bản quan trọng của một nước, xem xét việc thực hiện công trình và dự án
đó sẽ gây ra những vấn đề gì đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đối với đờisống của con người tới khu vực thực hiện dự án, xem xét hiệu quả chính của dự án vàcác hoạt động khác tới vùng khai thác dự án.Trên cơ sở đó dự báo các tác động môitrường sẽ diễn ra sao, xác định các biện pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực để dự ánthích hợp hơn với môi trường
Có nhiều khái niệm về ĐTM:
Theo Luật BVMT của Việt Nam số 55/2014/QH13 thông qua ngày 23 tháng 6
năm 2014 thì: “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến
môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triểnkhai dự án đó”
Theo Lê Thạc Cán và tập thể tác giả định nghĩa “ĐTM của hoạt động phát triển kinh tế
- xã hội là xác minh, phân tích và dự báo những tác động lợi và hại, trước mắt và lâu dài mà việc thực hiện hoạt động đó có thể gây ra cho tài nguyên và môi trường sống của con người tới nơi liên quan đến hoạt động, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng tránh khắc phục các tác động tiêu cực”.
Theo Chu trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP): “Đánh giá tác động môi trường là một quá trình nghiên cứu nhằm dự báo các hậu quả môi trường của một dự án quan trọng ĐTM xem xét việc thực hiện dự án sẽ gây ra những vấn đề gì đối với đời sống cong người tại khu vực dự án, tới hiệu quả của chính dự án và các hoạt động phát triển tại các vùng
đó Sau dự báo ĐTM phải xác định được các biện pháp làm giảm thiểu đến mức tối thiểu các hoạt động tiêu cực, làm cho dự án thích hợp hơn với môi trường của nó”.
Theo DO E.Coli, 1989: “Đánh giá tác động môi trường được coi là một kỹ thuật, một quá trình thu thập thông tin về ảnh hưởng môi trường của một dự án từ người chủ dự án và các nguồn khác, được tính đến trong việc ra quyết định cho dự án tiến hành hay không”.
Từ các khái niệm trên có thể thấy sự nhất trí về mục đích và bản chất của ĐTM Một sốđiểm khác biệt của các khải niệm thể hiện trong nhận thức về nghĩa của từ “môi trường” và bảnchất của dự án được đánh giá
2.1.3 Mục đích, ý nghĩa và đối tượng của đánh giá tác động môi trường
Trang 82.1.3.1 Mục đích của đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường có thế đạt được nhiều mục đích bởi ý nghĩa thiếtthực của nó Theo Lan Gilpin mục đích của ĐTM trong xã hội có 10 điểm chính sau:
1 Đánh giá tác động môi trường nhằm cung cấp một quy trình xem xét tất cảcác tác động có hại đến môi trường của các chính sách, chương trình và của các dự án
Nó góp phần loại trừ cách “đóng cửa” ra quyết định như vẫn thường làm trước đây,không tính đến ảnh hưởng môi trường trong các khu vực công cộng và tư nhân
2 Đánh giá tác động môi trường tạo ra cơ hội để có thể trình bày với người raquyết định về tính phù hợp của chính sách, chương trình, hoạt động, dự án về mặt môitrường, nhằm ra quyết định có tiếp tục thực hiện hay không
3 Đối với các chương trình, chính sách, hoạt động, dự án được chấp nhận thựchiện thì đánh giá tác động môi trường tạo ra cơ hội trình bày sự phối kết hợp các điềukiện có thể giảm nhẹ tác động có hại tới môi trường
4 Đánh giá tác động môi trường tạo ra phương thức để cộng đồng có thể đónggóp cho quá trình ra quyết định, thông qua các để nghị bằng văn bản hoặc ý kiến gửitới người ra quyết định Công chúng có thế’ tham gia vào quá trình này trong các cuộchọp công khai hoặc trong việc hòa giải giữa các bên (thường là bên gây tác động vàbên chịu tác động)
5 Với đánh giá tác động môi trường, toàn bộ quá trình phát triển được côngkhai để xem xét một cách đồng thời lợi ích của tất cả các bên: bên đề xuất dự án,Chính phủ và cộng đồng Điều đó góp phần lựa chọn được dự án tốt hơn để thực hiện
6 Những dự án mà vể cơ bản không đạt yêu cầu hoặc đặt sai vị trí thì có xuhướng tự loại trừ không phải thực hiện đánh giá tác động môi trường và tất nhiên làkhông cần cả đến sự chất vấn của công chúng
7 Thông qua đánh giá tác động môi trường nhiều dự án được chấp nhận nhưngphải thực hiện những điều kiện nhất định, chảng hạn chủ dự án phải đảm bảo quá trìnhquan trắc, giám sát, lập báo cáo hàng năm, phải có phân tích sau dự án và kiểm toánmôi trường độc lập
8 Trong đánh giá tác động môi trường phải xét cả đến các khả năng thay thế,chẳng hạn như công nghệ, địa điểm đặt dự án phải được xem xét hết sức cẩn thận
9 Đánh giá tác động môi trường được coi là công cụ phục vụ phát triển, khuyến
Trang 9khích phát triển tốt hơn, trợ giúp cho tăng trưởng kinh tế.
10 Trong nhiều trường hợp, đánh giá tác động môi trường chấp nhận sự phátthải, kể cả phát thải khí nhà kính cũng như việc sử dụng không hợp lý tài nguyên ởmức độ nào đấy, nghĩa là chấp nhận phát triển tăng trưởng kinh tế
2.1.3.2 Ý nghĩa của đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường đạt được nhiều ý nghĩa, song có thể nêu bốn ýnghĩa cơ bản là:
1 Đánh giá tác động môi trường là công cụ quản lý môi trường quan trọng.Song nó không nhằm thủ tiêu, loại trừ hoặc gây khó dễ cho phát triển kinh tế – xã hộinhư nhiều người lầm tưởng mà hỗ trợ phát triển theo hướng đảm bảo hiệu quả kinh tếbảo vệ môi trường Vì vậy nó góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững Điều đó thểhiện qua một số điểm cụ thể sau:
- Đánh giá tác động môi trường khuyến khích công tác quy hoạch tốt hơn vàgiúp cho dự án hoạt động hiệu quả hơn
- Đánh giá tác động môi trường có thế tiết kiệm được thời gian và tiền của trongthời hạn phát triển lâu dài Qua các nhân tố môi trường tổng hợp, được xem xét đếntrong quá trình ra quyết định ở giai đoạn quy hoạch của các cơ sở, địa phương vàChính phủ sẽ tránh được những chi phí không cần thiết, tránh được những hoạt độngsai lầm mà hậu hoạ của nó phải khắc phục một cách rất tốn kém trong tương lai
- Đánh giá tác động môi trường giúp cho Nhà nước, các cơ sở và cộng đồng cómối liên hệ chặt chẽ hơn Các đóng góp của cộng đồng trước khi dự án được đầu tư,đảm bảo hiệu quả đầu tư dược nâng cao, góp phần cho sự phát triển thịnh vượng chungtrong tương lai Thông qua các kiến nghị của đánh giá tác động môi trường, việc sửdụng tài nguyên sẽ thận trọng hơn và giảm được sự đe dọa của suy thoái môi trườngđến sức khỏe con người và hệ sinh thái
2 Đánh giá tác động môi trường không xét các dự án một cách riêng lẻ mà đặtchúng trong xu thế phát triển chung của khu vực, của quốc gia và rộng hơn là toàn Thếgiới Khi đánh giá một dự án cụ thể, bao giờ cũng xét thêm các dự án, phương án thaythế, nghĩa là xét đến các dự án có thể cho cùng đầu ra, nhưng có công nghệ sử dụngkhác nhau hoặc đặt ở vị trí khác Hơn nữa ở mỗi một khu vực luôn có chất lượng môitrường “nền”, mà khi đặt dự án vào, cần phải cân nhắc kỹ, tránh gây tác hại tích lũy ởmức độ cao cho một khu vực
Trang 103 Đánh giá tác động môi trường huy động được sự đóng góp của đông đảo tầnglớp trong xã hội Nó góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý, của chủ
dự án đến việc bảo vệ môi trường Đồng thời liên kết được các nhà khoa học ở các lĩnhvực khác nhau, nhằm giải quyết công việc chung là đánh giá mức độ tác động môitrường các dự án, giúp cho người ra quyết định chọn được dự án phù hợp với mục tiêubảo vệ môi trường Đánh giá tác động môi trường cũng phát huy được tính công khaicủa việc lập, thực thi dự án và ý thức của cộng đồng trong việc tham gia đánh giá tácđộng môi trường nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung
4 Đánh giá tác động môi trường còn giúp kết hợp các công tác bảo vệ môi trường trongthời gian dài Mọi tác động được tính đến không chí qua mức độ mà còn theo khả năng tích lũy,khả năng kéo dài theo thời gian Trong thực tế nhiều vấn đề được bỏ qua trong quá khứ đã gâytác động có hại cho hiện tại và tương lai, nhiều hoạt động gây rủi ro lớn đã xảy ra buộc chúng taphải cân nhắc kỹ
2.1.4 Mối quan hệ giữa tiến trình dự án và công tác đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường phải tiến hành trong tất cả các giai đoạn thực hiệncủa chu trình dự án với yêu cầu, mức độ và nội dung khác nhau tùy thuộc vào mỗi giaiđoạn thực hiện Trình tự thực hiện ĐTM trong chu trình của dự án trên thế giới hiện naythể hiện trong hình 2.1:
ĐTM chi tiếtĐTM sơ bộ
LẬP BÁO CÁO ĐẦU TƯ
QUẢN LÝ VẬN HÀNH
Các vấn đề môitrường trong thiết kế
LẬP DỰ ÁN ĐẦU TƯ
THIẾT KẾ KỸ THUẬT
Các vấn đề môi trườngtrong thi công
Trang 11Hình 2.1 Chu trình dự án và trình tự thực hiện ĐTM 2.2 Tình hình thực hiện công tác đánh giá tác động môi trường trên thế giới và Việt Nam hiện nay
2.2.1 Tình hình thực hiện công tác đánh giá tác động môi trường trên thế giới
Mỗi quốc gia đều có những đặc điểm riêng biệt về kinh tế, xã hội, chính trị… vì
thế vấn đề đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của họ cũng có sự khác biệt Đánh giá
tác động môi trường là yêu cầu cần làm theo quy định của tất cả các quốc gia, tổ chứcquốc tế
Tại nhiều quốc gia, ĐTM được quan niệm không chỉ là công cụ pháp lý cầnphải thực hiện cho dự án hoặc chiến lược, quy hoạch, kế hoạch mà còn là các nghiêncứu khoa học về tác động đến môi trường tự nhiên, sức khỏe và xã hội Theo quanđiểm đó, ĐTM được thực hiện rất nghiêm túc thu hút nhiều viện, trường đại học vànhà khoa học tham gia Cụ thể tình hình thực hiện công tác đánh giá tác động môitrường tại một số quốc gia phát triển như sau:
2.2.1.1 Nhật Bản
ĐTM đã được giới thiệu vào Nhật Bản từ 1972 Tuy nhiên đến năm 1984 Chínhphủ mới quy định chính thức về thực hiện ĐTM cho các dự án và Luật riêng về “Đánhgiá tác động môi trường” được ban hành tháng 6 năm 1997
Đặc điểm hệ thống ĐTM Nhật Bản: Số loại hình cần bắt buộc ĐTM rất hạnchế, chỉ có 13 loại hình dự án cần lập ĐTM bao gồm: đường bộ, chỉnh trị sông, đườngsắt, cảng hàng không, nhà máy điện, khu đổ thải, cải tạo đất, điều chỉnh sử dụng đất,khu dân cư mới, cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng thành phố mới, tổ hợptrung tâm phân phối, phát triển đất ở và đất công nghiệp do các tổ chức chuyên dụng;ĐTM được thực hiện rất thận trọng cả khâu nghiên cứu lập báo cáo và cả khâu thẩmđịnh Một báo cáo ĐTM cần trung bình 3 năm từ khi nghiên cứu đến khi được cấpphép thẩm định Chính sự thận trọng này giúp các dự án tại Nhật Bản hạn chế đến mứcthấp nhất các tác động xấu đến môi trường tự nhiên và xã hội
Mặc dù ĐTM Nhật Bản là tổng hợp các kết quả nghiên cứu khoa học, tuy nhiênchính các nhà môi trường nước này cũng cho rằng vẫn còn lạc hậu so với một số quốcgia phương Tây
2.2.1.2 Trung Quốc
Trang 12ĐTM đã được quy định và thực hiện tại Hong Kong (Hương Cảng) – TrungQuốc trước cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hiện nay hệ thống ĐTM của HongKong đã hài hòa với các quốc gia tiên tiến: không chỉ xem xét các tác động đến môitrường vật lý, môi trường sinh học mà còn đến tác động xã hội, chú trọng sự tham giacộng đồng và công khai thông tin minh bạch nên được đánh giá thuộc loại tốt nhấtchâu Á và Hong Kong hiện nay được đánh giá là một trong các nước/vùng lãnh thổ cónăng lực cạnh tranh tốt nhất, mức tham nhũng vào loại thấptrên thế giới (tốt hơn nhiều
so với CHND Trung Hoa)
Trong khi đó, theo Triệu Tiểu Hồng (Zhao Xiaohong), Bộ Bảo vệ môi trườngTrung Quốc, mặc dù đã ban hành Luật ĐTM từ 2003 và mỗi năm có đến 30.000 dự ánlập ĐTM mà thực chất là “ĐTM cho quy hoạch: Plan - EIA” đã được thực hiện chocác quy hoạch phát triển các vùng kinh tế, địa phương, ngành lĩnh vực, các lưu vựcsông, các vùng kinh tế ven biển, vịnh biển….nhưng nhiều học giả Trung Quốc tự đánhgiá: chất lượng ĐTM ở nước này vẫn còn nhiều vấn đề
2.2.1.3 Hàn Quốc
ĐTM của Hàn Quốc khá tiên tiến: cơ sở pháp lý về ĐTM rõ ràng, các phươngpháp, quy trình đã được xây dựng hoàn chỉnh và ĐTM/ĐMC đã đi vào chi tiết, cónghiên cứu khoa học Do vậy, ĐTM đang là công cụ tốt cho định hướng “Tăng trưởngXanh” với tham vọng đến 2020 Hàn Quốc trở thành 1 trong 5 quốc gia hàng đầu thếgiới về Kinh tế Xanh
Các xu hướng chính trong nghiên cứu khoa học về ĐTM ở Hàn Quốc được tómtắt trong báo cáo của Kim Taehyoung cho thấy từ năm 2008 đến 2012 riêng Viện Môitrường Hàn Quốc đã công bố 106 bài báo trong đó có đến 57 nghiên cứu về ĐTM(chiếm 53,8%) Số lượng công trình nghiên cứu về các vấn đề môi trường đặc thù tăngnhanh và chiếm đến 70,4% tổng số công trình về ĐTM, trongkhi số công trình về kỹthuật ĐTM chỉ chiếm 18,9%
Trong các năm gần đây các công trình nghiên cứu về tác động do biến đổi khíhậu (BĐKH)và tác động sức khỏe, về năng lượng tái tạo ngày càng nhiều, trong đó sốlượng công trình về BĐKH chiếm 4,4% trong tổng số các công trình trong 5 năm quacủa KEI
2.2.1.4 Mỹ
ĐTM đầu tiên được hình thành ở Mỹ vào đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, sau
đó phát triển sang các nước khác, khi mà mối quan tâm lo lắng của nhân dân Mỹ đốivới vấn đề suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi
Trang 13trường sống ngày càng gia tăng do tác động của phát triển kinh tế – xã hội đã trở thànhvấn đề bức bách trong xã hội.
Năm 1969, nước Mỹ đã thông qua Đạo luật Chính sách môi trường quốc gia(NEPA), quy định rằng tất cả các dự án phát triển kinh tế – xã hội ở cấp Liên bang khiđưa ra xét duyệt đều phải kèm theo báo cáo ĐTM
2.2.2 Tình hình thực hiện công tác đánh giá tác động môi trường tại Việt Nam
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã và đang diễn ra nhanhchóng và đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực Vấn đề đặt ra là làm thếnào để tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội mà không tổn hại tới môi trường sống củacon người; để đạt tới sự hài hòa, bền vững giữa phát triển sản xuất và môi trường thiênnhiên Để đáp ứng yêu cầu cấp thiết đó, Việt Nam đã và đang tiệm cận các chính sáchphát triển, sử dụng tổng hợp các công cụ như hệ thống pháp luật, công cụ kinh tế(thuế, phí, ký quỹ), chế tài (hành chính, hình sự), các quy chuẩn về môi trường, cáccông cụ như đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường(ĐTM) và trong thời gian tới sẽ là quy hoạch BVMT
Đối với công tác ĐTM, các quy định pháp luật đã được hình thành, phát triển
và có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam, đặc biệttrong bối cảnh cả nước đẩy mạnh chính sách mở cửa, khuyến khích đầu tư phát triển
để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhiệm vụ đặt ra chocông tác ĐTM là tạo sự thông thoáng cho môi trường đầu tư nhưng vẫn đảm bảo cácyêu cầu của công tác BVMT Trong thời gian qua, công tác ĐTM đã đạt được nhữngkết quả quan trọng Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều vấn đềcần được nghiên cứu, thảo luận rộng rãi nhằm đáp ứng các yêu cầu trong tình hình mớicủa Việt Nam
Hiện nay, tại Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ĐTM đã đượchoàn thiện với Luật, Nghị định và Thông tư hướng dẫn lập báo cáo ĐTM đối với cácloại hình dự án đầu tư khác nhau Bên cạnh đó, Chính phủ đã hình thành bộ máy quản
lý nhà nước về BVMT từ Trung ương cho đến địa phương Ngoài Bộ TN&MT,UBND cấp tỉnh, các Bộ/ngành khác và Ban quản lý các khu công nghiệp cũng có thẩmquyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM Theo kết quả điều tra chưa đầy đủ, từ khiNghị định số 29/2011/NĐ-CP có hiệu lực cho đến nay (hiện đang áp dụng Nghị định
số 18/2015/NĐ-CP), cả nước có khoảng 7.000 báo cáo ĐTM và 2.500 Đề án BVMTchi tiết (áp dụng đối với dự án đã đi vào vận hành nhưng chưa có ĐTM) đã được thẩmđịnh, phê duyệt
Trang 14Trong những năm gần đây, trung bình mỗi năm Bộ TN&MT đã thẩm địnhkhoảng 200 - 250 báo cáo ĐTM; ở cấp tỉnh, số liệu này rất khác nhau, tính trung bìnhtrên toàn quốc mỗi địa phương là 33 - 35 báo cáo ĐTM; các Bộ/ngành thẩm định rất ít
từ 1 - 30 báo cáo ĐTM, riêng Bộ Giao thông vận tải thẩm định khoảng 70 báo cáo mỗinăm Tuy nhiên, đến nay chưa có số liệu cụ thể về các đơn vị tư vấn ĐTM, ước tínhkhoảng gần 1.000 tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ ĐTM trên phạm vi cả nước Ngoài
ra, Việt Nam cũng chưa áp dụng hệ thống cấp Chứng chỉ hành nghề tư vấn ĐTM
Về cơ chế tài chính, hiện chưa có quy định về kinh phí thực hiện ĐTM do tính
đa dạng về loại hình dự án, quy mô, công suất, địa điểm thực hiện… Đối với phí thẩmđịnh các báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền thẩm định của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơquan thuộc Chính phủ, Bộ Tài chính đã có Thông tư số 218/2010/TT-BTC ngày29/12/2010 quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí thẩm địnhĐTM Theo Thông tư này, mức thu phí thẩm định đối với 1 báo cáo ĐTM dao động từ
6 - 96 triệu đồng, tùy thuộc vào tổng vốn đầu tư và loại hình dự án
Đối với báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền thẩm định của UBND cấp tỉnh, việc tổchức thu phí được thực hiện trên cơ sở Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh vàThông tư số 2/2014/TT-BTC ngày 2/1/2014 của Liên Bộ Tài chính - Bộ TN&MThướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh,
TP trực thuộc Trung ương Với mức thu phí từ 5 - 26 triệu đồng trên 1 báo cáo ĐTM,các địa phương sẽ có điều kiện thuận lợi hơn so với trước đây trong việc tổ chức thẩmđịnh báo cáo ĐTM
Trang 15PHẦN 3.
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các tác động đến môi trường trong giai đoạn vận hànhcủa dự án nhà máy vật liệu công nghệ mới Deming Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Lô A2, A3 Khu Công nghiệp Đình Trám huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang
-+ Thời gian: Từ ngày 10/12/2018 đến ngày 05/4/2019
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Các thông tin chung về địa điểm nghiên cứu
- Đánh giá các tác động gây ảnh hưởng tới môi trường dự án trong giai đoạnvận hành:
+ Nguồn tác động liên quan tới chất thải: chất thải khí, chất thải lỏng, chất thảirắn thông thường, chất thải nguy hại
+ Nguồn tác động không liên quan tới chất thải: tiếng ồn
+ Tác động đến hệ sinh thái và các rủi ro, sự cố môi trường trong quá trìnhhoạt động của dự án
- Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường trong giaiđoạn vận hành của dự án
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Các tài liệu, số liệu thứ cấp được thu thập từ :
- Báo cáo đầu tư của dự án bao gồm: tên dự án, chủ dự án, các nhu cầu nguyên,nhiên liệu, hạng mục công trình của dự án
- Các thông tin khác từ sách, báo, internet,…
3.3.2 Phương pháp liệt kê
Sử dụng phương pháp này để sắp xếp một cách logic nhằm chỉ ra các tác động
và thống kê đầy đủ các tác động đến môi trường cũng như các yếu tố kinh tế - xã hộicần chú ý, quan tâm giảm thiểu trong quá trình hoạt động của dự án
Trang 163.3.3 Phương pháp đánh giá nhanh
Phương pháp này do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thiết lập và được Ngân hàngThế giới (WB) phát triển thành phần mềm IPC nhằm dự báo tải lượng các chất ô nhiễm(khí thải, nước thải, chất thải rắn) Trên cơ sở các hệ số ô nhiễm tuỳ theo từng ngành sảnxuất và các biện pháp bảo vệ môi trường kèm theo, áp dụng phương pháp này để dự báocác tải lượng ô nhiễm về không khí, nước, chất thải rắn khi dự án triển khai
3.3.4 Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát tại dự án bao gồm:
Trang 17PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Tổng quan về dự án “Nhà máy vật liệu công nghệ mới Deming Việt Nam”
4.1.1 Các đặc điểm chính của dự án đầu tư ‘‘Nhà máy vật liệu công nghệ mới Deming Việt Nam’’
4.1.1.1 Tên dự án
Tên dự án: Nhà máy vật liệu công nghệ mới Deming Việt Nam
4.1.1.2 Chủ dự án
- Chủ dự án: Công ty TNHH công nghệ vật liệu mới Deming Việt Nam
- Người đại diện: Ông ZHONG CHUANFAN Chức vụ: Giám đốc
- Địa chỉ thực hiện dự án: Lô A2, A3, khu công nghiệp Đình Trám, huyện Việt Yên,tỉnh Bắc Giang
- Điện thoại: 0961991813
4.1.1.3 Vị trí địa lý của dự án
Dự án “Nhà máy vật liệu công nghệ mới Deming Việt Nam” của Công tyTNHH công nghệ vật liệu mới Deming Việt Nam được thực hiện tại lô A2, A3 (thuênhà xưởng số 7 của Công ty TNHH giày Nam Giang), Khu Công nghiệp Đình Trám, huyệnViệt Yên, tỉnh Bắc Giang Tổng diện tích nhà xưởng sử dụng là tích 3000 m2
Khu nhà xưởng của Dự án có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp với đường nội bộ của Công ty TNHH Giày Nam Giang;
- Phía Đông giáp với Công ty TNHH Sungjing Vina;
- Phía Nam giáp với Công ty TNHH Hoa Hạ Việt Nam;
- Phía Tây giáp với đường nội bộ của Công ty TNHH Giày Nam Giang
Tọa độ địa lý các điểm khép góc của dự án theo hệ VN-2000 kinh tuyến trục
105000’; Mũi chiếu 3 thì các điểm khép góc có tọa độ theo bảng sau:
Bảng 4.1: Tọa độ khống chế góc của dự án (theo hệ tọa độ VN-2000)
Trang 18Khu vực thực hiện dự án được thể hiện trong hình 4.1:
Hình 4.1 Sơ đồ vị trí thực hiện dự án
4.1.2 Mục tiêu của dự án
- Sản xuất cuộn nhựa: 3000 tấn sản phẩm/năm
4.1.3 Tổ chức quản lý dự án
* Số lượng lao động hiện tại của dự án khoảng 10 lao động Trong đó:
- Số lao động nước ngoài là: 2 người
- Số lao động Việt Nam là: 8 người
Cơ cấu tổ chức:
Hình 4.2 Sơ đồ tổ chức của doanh nghiệp
4.1.4 Khối lượng và quy mô các hạng mục công trình của dự án
Chủ đầu tư – Công ty TNHH Công nghệ vật liệu mới Deaming Việt Nam đã kýhợp đồng thuê nhà xưởng của Công ty giày Nam Giang với diện tích là 3.000 m2
Bộ phận kế toán
Tổng giám đốc
Bộ phận kinh doanh
Bộ phận kỹ thuật
Bộ phận sản xuất
Bộ phận Hành
chính, nhân sự
Bộ phận kho
Trang 19Để thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như sử dụng hiệu
quả diện tích đã thuê, Chủ đầu tư tiến hành bố trí mặt bằng sản xuất trên diện tích đã
thuê ở trên Chi tiết các hạng mục công trình thể hiện qua bảng dưới đây:
Bảng 4.2: Các hạng mục công trình của dự án
sử dụng
I Hạng mục công trình chính
đổ bê tông cốt thép, máicác tấm panel và thạchcao chống cháy
Mới 100%
III.Các hạng mục công trình bảo vệ môi trường
1 Nhà vệ sinh khu vực văn phòng 4 m2 Tường xây gạch, nền bê
6 Khu vực lưu chứa CTRSX 20 m2 Nền bê tông cốt thép,
(Nguồn: Dự án: ‘‘Nhà máy vật liệu công nghệ mới Deming Việt Nam’’)
Trang 204.1.5 Công nghệ sản xuất, vận hành
Hình 4.3: Quy trình sản xuất cuộn nhựa kèm theo dòng thải
* Thuyết minh quy trình:
Thuyết minh: Nguyên liệu là các hạt nhựa nguyên sinh, chất phụ gia được để
trong các thùng chứa và được máy tiếp liệu hút vào máy ép đùn màng nhựa tạo thànhmàng PET(PS) bằng phương pháp nóng chảy ở nhiệt độ 120oC (tại công đoạn này sẽphát sinh khí thải, hơi hữu cơ) rồi được tự động đưa sang máy làm mát để làm mát sảnphẩm Tiếp đó sản phẩm sẽ được đưa sang máy xử lý tĩnh điện để khử tĩnh điện Sảnphẩm sau khi được xử lý tĩnh điện sẽ được tự động cuộn thành những cuộn màng, sảnphẩm hoàn chỉnh cuối cùng đóng gói, xuất xưởng tiêu thụ Sản phẩm của dự án đượcbán cho các đơn vị có nhu cầu trong nước
Đóng gói, xuất xưởng tiêu thụ
Hơi hữu cơ, nước thải
Khí thải: CO2, CO, Hơi hữu cơ,…
SP thừa, lỗi được thu gom, tái chế
Tiếng ồn
Bụi
Trang 214.1.6 Nhu cầu nguyên nhiên, vật liệu phục vụ dự án
4.1.6.1 Nhu cầu nguyên liệu
Nguyên, vật liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất của dự án được nhập khẩu từnước ngoài và được cung cấp của một số đơn vị trong nước Nhu cầu sử dụng nguyênvật liệu được dự tính như sau:
Bảng 4.3 Nhu cầu sử dụng các loại nguyên, vật liệu phục vụ giai đoạn vận hành
của dự án ST
T Tên nguyên liệu
Sản lượng vật liệu
4.1.7.3 Nhu cầu sử dụng nước
- Lượng nước cấp cho công nhân lấy theo Tiêu chuẩn TCXD 33:2006 của BộXây Dựng dùng nước cho ăn uống, sinh hoạt và các nhu cầu khác tính theo đầu người
áp dụng theo lượng nước dự báo cho giai đoạn năm 2020) áp dụng theo lượng nước dựbáo là 100 lít/người.ngày Do đó:
Tổng lượng nước cấp cho sinh hoạt được tính như sau: 100 lít x 10 người =1.000lít/ngày = 1m3/ngày
- Nước sử dụng cho làm mát sản phẩm: Khoảng 2 m3/ngày đêm
=> Tổng nhu cầu dùng nước của dự án là 3 m3/ngày đêm
- Nguồn nước: Dự án mua nước sạch của Công ty TNHH MTV nước sạch BắcGiang cung cấp qua hệ thống cấp nước của KCN Đình Trám
Trang 224.2 Đánh giá tác động môi trường khi dự án đi vào hoạt động
4.2.1 Các tác động liên quan tới chất thải
4.2.1.1 Nguồn thải chất thải khí
a Nguồn phát sinh
- Bụi và khí thải phát sinh từ hoạt động của phương tiện giao thông vận tảitrong quá trình vận chuyển nguyên vật liệu đầu vào và sản phẩm đi tiêu thụ; Hoạt độngcủa phương tiện giao thông của công nhân viên
- Bụi, khí thải từ máy phát điện dự phòng của dự án
- Bụi, khí thải phát sinh trong quá trình sản xuất của dự án
b Thành phần và tải lượng
* Bụi và khí thải phát sinh từ hoạt động của phương tiện giao thông vận tải trong quá trình vận chuyển nguyên vật liệu đầu vào và sản phẩm đi tiêu thụ; Hoạt động của phương tiện giao thông của công nhân viên.
Khi dự án đi vào hoạt động, sẽ làm gia tăng thêm một lượng lớn phương tiệntham gia giao thông, cụ thể:
- Xe vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu và sản phẩm tiêu thụ;
- Xe của cán bộ công nhân viên (chủ yếu là xe máy)
Với nhiên liệu tiêu thụ chủ yếu là xăng và dầu diezel, khi hoạt động, các loại máynày thường sinh ra các loại khí gây ô nhiễm như: NO2, CxHy, CO, CO2, SOx,cacbonhydro, aldehyd, bụi, chì,… Nguồn ô nhiễm này phân bố rộng rãi và nhất là vàothời điểm giờ đi làm và tan ca của công nhân Chúng có khả năng bay cao và xa hơn dướitác dụng của gió Tuy nhiên, với số lượng xe không nhiều nên tác động này là không lớn
- Tải lượng ô nhiễm đối với các phương tiện vận chuyển nguyên vật liệu, và sản phẩm đầu ra:
Dựa trên phương pháp xác định nhanh nguồn thải của các loại xe theo “hệ số ônhiễm không khí”, căn cứ vào tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới WHO, có thể xác địnhđược mức độ ảnh hưởng do hoạt động vận chuyển của các phương tiện giao thông
Trang 23Bảng 4.4 Hệ số ô nhiễm của 1 số loại xe của một số chất ô nhiễm chính
(Nguồn: Môi trường không khí - GS.TS Phạm Ngọc Đăng - Nxb Khoa học và kỹ thuật)
S: Hàm lượng lưu huỳng trong dầu (0,5 %)
Việc vận chuyển nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra được thực hiện bởicác loại xe tải chạy bằng dầu Diezel, có trọng tải trung bình là 5 tấn Các phương tiệnnày phát sinh ra một lượng khí thải đáng kể có thành phần là bụi, SO2, NO2,
Tổng số lượt xe dùng để vận chuyển là: 2400 xe
Thời gian làm việc trong một năm là 300 ngày, 1 ngày làm 8 giờ Do vậy, mật
độ xe ra vào dự án trong giai đoạn hoạt động khoảng: 1 xe/h
Áp dụng công thức tính hệ số ô nhiễm đối với xe có trọng tải > 3,5 tấn tính đượctải lượng các chất gây ô nhiễm phát sinh từ các phương tiện vận chuyển thể hiện trongcác bảng sau:
Bảng 4.5 Tải lượng chất ô nhiễm phát sinh từ phương tiện vận chuyển trong giai
Từ tải lượng của các chất ô nhiễm đã tính toán ở trên, áp dụng mô hình tínhtoán Sutton xác định nồng độ trung bình của bụi TSP trên tuyến đường vào khu vực dự
án trong quá trình thi công xây dựng như sau:
Trang 24z: Hệ số khuếch tán theo phương z (m) là hàm số của x theo phương gió thổi.
z được xác định theo công thức Slade với cấp độ ổn định khí quyển loại B (là cấp độ
ổn định khí quyển đặc trưng của khu vực) có dạng sau:
z = 0,53.x0,73
x: khoảng cách của điểm tính so với nguồn thải, tính theo chiều gió thổi
u: Tốc độ gió trung bình (m/s), tại khu vực có tốc độ gió trung bình là 2,5 m/s z: độ cao của điểm tính (m), tính ở độ cao 0,5m
h: độ cao của mặt đường so với mặt đất xung quanh (m), coi mặt đường bằngmặt đất, h = 0m
Bỏ qua sự ảnh hưởng của các nguồn ô nhiễm khác trong khu vực, các yếu tốảnh hưởng của địa hình, Dựa trên tải lượng ô nhiễm tính toán, thay các giá trị vàocông thức tính toán, nồng độ các chất ô nhiễm ứng với khoảng cách khác nhau so vớinguồn thải được thể hiện ở bảng 4.6:
Bảng 4.6 Nồng độ các chất ô nhiễm do phương tiện vận chuyển
trong giai đoạn hoạt động
C(x) = 0,8.E (e +e )/σz.uz.u
-(z+h)2/2σz2 -(z-h)2/2σz2
Trang 25- Tải lượng ô nhiễm đối với phương tiện đi lại của cán bộ, công nhân làm việc
xe mô tô 2 bánh do công nhân tự túc đi lại trong ngày như trình bày trong bảng 4.7như sau:
Bảng 4.7 Tải lượng các chất ô nhiễm trong khí thải xe mô tô 2 bánh STT Chất ô
nhiễm
Hệ số ô nhiễm (kg/1.000 km)
Chiều dài tính toán (km)
Tải lượng (g/10km.h)
Quãng đường vận chuyển trung bình cho 1 lượt xe được ước tính là 10 km
Ô nhiễm do các phương tiện giao thông chủ yếu ảnh hưởng trên các tuyếnđường và tại cổng dự án vào giờ đi làm và giờ tan ca
* Bụi, khí thải từ máy phát điện dự phòng
Trong quá trình hoạt động, dự án chủ yếu sử dụng điện để vận hành máy móc,thiết bị, nên khi có sự cố về điện Nguồn nhiên liệu cần cho hoạt động của máy phátđiện là dầu DO Khi máy phát điện hoạt động sẽ phát sinh ra khí thải, trong đó có cácthành phần ô nhiễm: bụi, SO2, SO3, NOx, CO, VOC
Nhu cầu sử dụng nhiên liệu của máy phát điện dự phòng trong một giờ là: 120lít dầu DO/giờ
Trang 26Theo tài liệu hướng dẫn của Tổng Công ty Xăng Dầu Việt Nam (Petrolimex) thì:
- Hàm lượng lưu huỳnh trong dầu DO: S = 0,5%
- Tỷ trọng của dầu: 0,85 tấn/m3 (khoảng 0,82 - 0,89 theo “Hướng dẫn sử dụngnhiên liệu - dầu - mỡ, trang 100” của Vũ Tam Huề - Nguyễn Phương Tùng)
Khối lượng dầu DO sử dụng trong một giờ:
m = 120 lít/giờ x 0,85 tấn/m3 = 102 kg/giờ
Bảng 4.8 Hệ số phát thải các chất ô nhiễm trong khí thải máy phát điện sử dụng dầu DO
Stt Thông số Hệ số phát thải (g/tấn dầu) Tải lượng
(Nguồn: Assessment of Sources of Air, Water, Land Pollution, Who, Geneva, 1993)
Trong quá trình đốt nhiên liệu, tỷ lệ không khí dư là 30% Lượng khí thải thực tế sinh
ra được tính theo công thức:
T d
c b
5 , 7 100 2
25 , 4 100 28 100 32
5 , 7
Trong đó:
a : % lưu huỳnh có trong dầu DO (0,5%)
b : % Nitơ có trong DO (0,3%)
c : % hydro có trong dầu DO (10,5%)
d : % carbon có trong dầu DO (86,3%)
T : Nhiệt độ khí thải (273 0 K)
V t : Thể tích khí thải ở nhiệt độ T (với hệ số dư 30%)
Thay số liệu về thành phần dầu DO vào công thức trên ta có:
Vt = 17,1m3/kg nhiên liệu
Lưu lượng khí thải của máy phát điện trong một giờ là:
QK = 17,1 x 102 x (473/273) = 3.022 m3/h
Nồng độ các chất ô nhiễm do đốt dầu DO được trình bày trong Bảng 4.9
Bảng 4.9 Nồng độ các chất ô nhiễm trong khí thải của máy phát điện
Stt Chất ô
nhiễm
Hệ số phát thải (g/tấn dầu)
Tải lượng (g/h)
Nồng độ (mg/Nm 3 )
QCVN 19:2009/BTNMT,
Trang 27* Bụi, khí thải phát sinh trong quá trình sản xuất của dự án:
Trong quá trình sản xuất của dự án, bụi và khí thải phát sinh chủ yếu ở côngđoạn gia nhiệt và ép màng nhựa:
- Quá trình gia nhiệt, ép màng nhựa phát sinh khí thải chủ yếu là các hợp chấthơi hữu cơ bay hơi (VOCs) sẽ tạo thành một nhóm các chất ô nhiễm không khí gâymùi khó chịu như: Andehyt, Hydrocacbon mạch vòng Theo Tổ chức Quản lý môitrường bang Michigan – Mỹ các thông số phát thải VOCs đối với quá trình sản xuấtsản phẩm từ nhựa là 0,032kg/tấn Với khối lượng nhựa sử dụng hàng năm là 3.040 tấn.Lượng VOCs phát sinh là:
MVOCs = (0,032kg/tấn x 3040 tấn)/300 = 0,324 kg/ngày
Lượng VOCs phát sinh một ngày là tương đối lớn, căn cứ vào thành phần nhựađầu vào cho thấy VOC phát sinh chứa nhiều chất độc hại do liên kết hóa học của nhựachứa nhiều gốc Benzen là một hợp chất hữu cơ độc hại Ngoài ra, khí VOCs này còn
có mùi rất khó chịu nếu không có biện pháp giảm thiểu sẽ tác động đến sức khỏe côngnhân và ảnh hưởng đến hiệu suất công việc Đây là một nguồn thải nhỏ song có tácđộng lớn đến sực khỏe người lao động
Ngoài ra, bụi và khí thải còn phát sinh trong quá trình làm mát sản phẩm, chủyếu là các loại khí như CO2, CO, NOx Các loại khí này nếu phát tán ra ngoài môitrường mà không qua xử lý sẽ gây ra hậu quả nghiệm trọng