1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y tế hiện nay

102 177 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 713,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế giới quan duy vật biện chứng của triết học MácLênin là thế giớiquan khoa học, tiên tiến, triệt để và cách mạng. Thế giới quan đó phản ánhđúng đắn những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy con người;là cơ sở phương pháp luận khoa học cho hoạt động nhận thức và thực tiễn củacon người; “cung cấp cho loài người nhất là giai cấp công nhân những côngcụ nhận thức vĩ đại 32, tr.54. Chính vì thế việc bồi dưỡng, giáo dục thế giớiquan duy vâṭ biêṇ chứng có ý nghiã vô cùng quan troṇ g

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới quan duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin là thế giới quan khoa học, tiên tiến, triệt để và cách mạng Thế giới quan đó phản ánh đúng đắn những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy con người;

là cơ sở phương pháp luận khoa học cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người; “cung cấp cho loài người nhất là giai cấp công nhân những công

cụ nhận thức vĩ đại" [32, tr.54] Chính vì thế việc bồi dưỡng, giáo dục thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng có ý nghĩa vô cùng quan tro ̣ng

Hiện nay nước ta đang trong thời kì đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Muốn thực hiện thành công sự nghiệp này, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội thì chúng ta cần phải có những con người có trình độ cao

về tri thức khoa học, giàu lý tưởng phấn đấu cho sự nghiệp cao cả của đất nước Trong những con người đó có sinh viên ngành y Họ sẽ là người thầy thuốc trong tương lai đảm nhiê ̣m vai trò chăm sóc và bảo vê ̣ , nâng cao sức khỏe cho nhân dân , góp phần đảm bảo cho tiến trình hoạt động sản xuất xã

hô ̣i được điều hòa , phát triển, qua đó sẽ góp phần không nhỏ vào sự nghiê ̣p dựng xây đất nước nói chung Để phục vụ tốt cho ngành y , họ phải là những con người có lương tâm, trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc, không ngừng học tập nâng cao trình độ, khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ Những sinh viên

đó cần được trang bị, bồi dưỡng thế giới quan duy vật biê ̣n chứng , từ đó góp phần rèn luyện đạo đức nghề nghiệp Mặt khác trong bối cảnh hiê ̣n nay, trước sự biến đổi phức ta ̣p của tình hình kinh tế , chính trị trên thế giới , trước chiến lược diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch, các luồng văn hóa tư tưởng xấu đang tác động trực tiếp tới giới trẻ, làm cho họ dao động về lâ ̣p trường tư tưởng , mơ hồ về chính tri ̣, ỷ lại cho số phận Bên cạnh đó,

mă ̣t trái của cơ chế thi ̣ trường đang hàng ngày, hàng giờ tác động đến mọi mặt

Trang 2

của đời sống kinh tế - xã hội, đang làm cho một số cán bộ , công chức, viên chức ngành y tế có biểu hiê ̣n lê ̣ch la ̣c trong suy nghĩ và hành đô ̣ng, có lối sống hưởng thu ̣, thực du ̣ng, chạy theo đồng tiền , lười lao đô ̣ng , không có tâm với nghề Điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến viê ̣c rèn luyê ̣n, tu dưỡng đa ̣o đức của sinh viên ngành y Trong bối cảnh như vậy, những sinh viên nói chung và sinh viên ngành y nói riêng cần có thế giới quan đúng đắn -thế giới quan duy

vâ ̣t biê ̣n chứng để đi ̣nh hướng quá trình nhâ ̣n thức và hoa ̣t đô ̣ng thực tiễn , từ đó xác lâ ̣p quan điểm sống tích cực , có ý thức tự rèn luyện đa ̣o đức nghề nghiê ̣p của mình Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò và ý nghĩa hết sức quan tro ̣ng đối với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên nói chung và sinh viên ngành y nói riêng Để góp phần làm rõ vai trò quan trọng đó, tôi cho ̣n đề

tài: “Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y tế hiện nay” (qua thực tế của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định) làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề về vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng mácxít đã được

đề cập đến trong nhiều công trình khoa học , các cuốn sách, các bài viết, luận

án tiến sĩ, thạc sĩ Chẳng ha ̣n, trong những năm gần đây có các công trình sau:

Bùi Ngọc,“Thế giới quan khoa học một tất yếu lịch sử”, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, 1981, số 8; Lê Xuân Vũ, "Thế giới quan Mác-Lênin trong đời sống tinh thần nhân dân ta", Tạp chí Cộng sản số 6-1986; Bùi Ỉnh, "Vấn

đề xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng đối với cán bộ, đảng viên là người dân tộc, thiểu số trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta",

Luận án PTS Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1988;

Nguyễn Trọng Chuẩn, “Một số khía cạnh về vai trò của sinh học hiện đại đối với sự hình thành và củng cố thế giới quan khoa học”, Tạp chí Triết học

1988, số 3; Trần Thanh Hà, "Vấn đề giáo dục thế giới quan khoa học cho cán

bộ, đảng viên người dân tộc Khơmer ở đồng bằng sông Cửu Long trong giai

Trang 3

đoạn cách mạng hiện nay", Luận án Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1993; Trần Phước, "Sự hình thành thế giới quan xã hội chủ nghĩa ở tầng lớp trí thức Việt Nam", Luận án PTS triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1993; Đặng Văn Loạt, “Mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan - nhân tố chủ quan trong phát triển thế giới quan khoa học ở sỹ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, Luận

văn thạc sỹ triết học, Học viện Chính trị quân sự, 1996; Nguyễn Văn Vinh,

“Phát triển thế giới quan duy vật biện chứng cho sỹ quan cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ triết học, Học viện Chính trị quân sự, 2001; Trần Viết Quân: "Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Tây Nguyên", Luận văn thạc

sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002; v.v

Trong các công trình này, các tác giả trên đã đề cập đến khái niệm thế giới quan nói chung và đi sâu phân tích khái niệm, cấu trúc, vai trò thế giới quan duy vật biện chứng nói riêng Các tác giả cũng góp phần làm rõ tầm quan trọng và tính tất yếu của việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho các đối tượng sinh viên, cán bộ nói chung; những nhân tố cơ bản trong việc hình thành, tác động phát triển thế giới quan duy vật biện chứng; từ đó đưa ra một số phương hướng chung và giải pháp cụ thể để phát triển thế giới quan đó Tuy nhiên, đây là vấn đề rộng lớn và phức tạp, vẫn còn những khoảng trống cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu Đặc biệt về vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y tế hiện nay (qua thực tế Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định) thì chưa có tác giả nào nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

* Mục đích

Trên cơ sở chỉ rõ vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với viê ̣c rèn luyện đạo đức cho sinh viên ngành y tế hiện nay, phân tích thực tra ̣ng

Trang 4

của việc phát huy vai trò thế giới quan duy vật biện chứng đối với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y (qua thực tế Trường Đa ̣i ho ̣c Điều dưỡng), luâ ̣n văn đưa ra mô ̣t số giải pháp nhằm giáo du ̣c thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng để rèn luyện đạo đức cho sinh viên ngành y hiê ̣n nay

* Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên luận văn hướng vào giải quyết bốn nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất , phân tích những chuẩn mực đa ̣o đức của người thầy thuốc

mà sinh viên ngành y cần phấn đấu, rèn luyện

Thứ hai, trình bày vai trò của thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng đối với viê ̣c rèn luyê ̣n đa ̣o đức của sinh viên ngành y

Thứ ba, phân tích thực tra ̣ng phát huy vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y tế hiện nay qua thực tế của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

Thứ tư, đề xuất một số giải pháp về việc giáo dục thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng để rèn luyê ̣n đa ̣o đức cho sinh viên ngành y

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sơ ̉ lý luận

Cơ sở lý luận của luận văn là các quan điểm của triết học Mác -Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam

* Phương pha ́ p nghiên cứu

Luâ ̣n văn sử du ̣ng mô ̣t số phương pháp nghiên cứu khoa ho ̣c cu ̣ thể như: phương pháp lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa, điều tra xã hội học

5 Đóng góp của luận văn

- Bướ c đầu nêu lên vai trò của thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng đối với viê ̣c rèn luyê ̣n đa ̣o đức của sinh viên ngành y

Trang 5

- Góp phần làm rõ thêm thực tra ̣ng phát huy vai trò thế giới quan duy

vâ ̣t biê ̣n chứng với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y hiê ̣n nay (qua thực tế Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định ) Từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ngành y

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn cu ̉ a luâ ̣n văn

- Luận văn góp phần đưa ra những cơ sở khoa ho ̣c nhằm phát huy vai trò thế giới quan duy vật biện chứng đối với việc rèn luyện đạo đức cho sinh viên ngành y

- Luận văn có thể dùng làm tài liê ̣u tham khảo cho cá c công tác giáo dục, đào ta ̣o ở các trường đa ̣i ho ̣c, cao đẳng

7 Kết cấu cu ̉ a luâ ̣n văn

Ngoài phần mở đầu , kết luâ ̣n , danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , luâ ̣n văn được kết cấu làm 3 chương, 8 tiết:

Chương 1: Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với việc

rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y tế hiện nay

Chương 2: Thực trạng phát huy vai trò của thế giới quan duy vật biện

chứng đối với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y tế hiện nay (qua thực tế tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định) và một số vấn đề đặt ra

Chương 3: Một số giải pháp về việc giáo dục thế giới quan duy vật

biện chứng để rèn luyện đạo đức cho sinh viên ngành y tế hiện nay

Trang 6

Chương 1 VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG ĐỐI VỚI VIỆC RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC

CỦA SINH VIÊN NGÀNH Y TẾ HIỆN NAY

1.1 Như ̃ng chuẩn mực đa ̣o đức của người thầy thuốc mà sinh viên ngành y cần phấn đấu và rèn luyện

Chuẩn mực đa ̣o đức nói chung và chuẩn mực đa ̣o đức người thầy thuốc nói riêng là những quy tắc, những yêu cầu của xã hô ̣i đối với cá nhân , đối với người thầy thuốc, trong đó xác đi ̣nh tính chất và những giới ha ̣n của cái có thể

và cái được phép trong hành vi của mỗi người Các quy tắc, các yêu cầu này được phản ánh trong sách báo chính tri ̣ , chuyên môn , trong văn hoá nhằm

đi ̣nh hướng hành vi của cá nhân người thầy thuốc hay của tâ ̣p thể thầy thuốc trong điều kiê ̣n nhất đi ̣nh ; được sử dụng làm căn cứ đánh giá (tốt - xấu, cao thượng - thấp hèn, công bằng - bất công) các hiện tượng, hành vi đạo đức

Chuẩn mực đạo đức của người thầy thuốc chỉ điều tiết hành vi mang tính xã hội, tức là hành vi có liên quan đến mối quan hệ qua lại giữa cá nhân, các tập thể Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội Vì vậy các chuẩn mực đạo đức nói chung, đạo đức người thầy thuốc nói riêng bao giờ cũng có tính thời đại, tính giai cấp Điều đó có nghĩa, các thời đại khác nhau, các dân tộc khác nhau, các giai cấp khác nhau bao giờ cũng có những chuẩn mực đạo đức khác nhau Từ khi y ho ̣c ra đời đến nay , đã có nhiều tài liê ̣u viết về đạo đức nghề y và những yêu cầu đối với người làm nghề y

Trong nền y ho ̣c Ấn Đô ̣ cổ đa ̣i , kinh Aiur Vêđa (ở thế kỷ III TCN ) yêu cầu người thầy thuốc phải đa ̣o ma ̣o , có giọng nói thanh thoát, tính tình cương nghị, không vu ̣ lợi , thông minh, có lý trí và trí nhớ , khiêm tốn, giản dị trong

ăn mă ̣c , sạch sẽ , ôn hoà, đứng đắn, thành kính, tháo vát, chăm chỉ ho ̣c tâ ̣p

Trang 7

Cũng theo sách ấy, Xushuruta, nhà phẫu thuật đức độ cho rằng, thầy thuốc chỉ biết kỹ năng mổ mà khinh rẻ kiến thức y ho ̣c , không đáng được kính trọng vì người ấy có thể đẩy con người vào những nguy hiểm , người thầy thuốc phải trở thành người cha đối với người bê ̣nh, người bảo vê ̣ đối với người đang bình phục và là người bạn đối với người đang khoẻ mạnh

Trong xã hô ̣i Trung Hoa cổ đa ̣i , nền y ho ̣c cũng đa ̣t được những đỉnh cao Trong cuốn “Bàn về thiên nhiên và cuộc sống” có nêu mô ̣t nguyên lý đă ̣c sắc là người thầy thuốc cần làm ch o người bê ̣nh tin tưởng sẽ khỏi bệnh Người thầy thuốc phải chú ý tới người bê ̣nh về t ính tình, luôn khuyên bê ̣nh nhân thay đổi chế đô ̣ dinh dưỡng , áp dụng phương pháp thể dục trị liệu , xoa bóp với mục đích tăng cường sức lực cho cơ thể; thể du ̣c hàng ngày, không để xảy ra những phản ứng quá mức Cũng trong sá ch ấy, có lời giáo huấn nổi tiếng là “y ho ̣c không cứu ta khỏi chết nhưng giúp ta sống lâu”

Ở Hy Lạp cổ đại , khi ra trường các thầy thuốc thuộc phái Axelefiat thề rằng luôn đem hết khả năng , hết sức lực và trí tuê ̣ để xây dựng lối sống riêng cho người bê ̣nh theo lợi ích riêng của ho ̣ ; sẽ giữ gìn cuộc số ng và ho ̣c thuâ ̣t

mô ̣t cách thành kính và trong sa ̣ch Những tư tưởng ấy sau này được Hypocrate phát triển trong lời thề nghề nghiê ̣p được phổ bi ến rộng rãi trong tất cả các trường đa ̣i ho ̣c y khoa ở châu Âu tới tâ ̣n thế kỷ XIX và hiê ̣n nay ở Viê ̣t Nam cũng sử du ̣ng lời thề của Hypocrate làm lời thề tốt nghiê ̣p

Nguời thầy thuốc nổi tiếng của đế chế La Mã là Galien đã chỉ trích gay gắt sự dốt nát và tham lam của những người thầy thuốc đương thời , thô ba ̣o trong quan hê ̣ với bê ̣nh nhân Ông nhấn ma ̣nh người thầy thuốc phải có lòng thương người, mềm dẻo, tế nhi ̣ khi giao tiếp, không nói to, đi đứng nhe ̣ nhàng Avixen mô ̣t thầy thuốc nổi tiếng thời phong kiến ở châu Âu cho rằng đă ̣c tính

và nhân cách người thầy thuốc là phải có đôi mắt của chim đại bàng , đôi tay của người con gái, sự không ngoan của con rắn và trái tim của con sư tử

Trang 8

Với lòng nhân ái cao cả “thương người như thể thương thân” nhân dân

ta rất quý trọng nghề y và tôn vinh những người thầy thuốc hết lòng vì người bệnh Các bậc danh y như Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV), Hải Thượng Lãn Ông (1720 - 1791) đều hết sức chú trọng xây dựng và truyền đạt y đức tới người thầy thuốc Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là một trong những tấm gương sáng về y đức, y đạo, y thuật của y học cổ truyền Việt Nam Ông đề cao y đức, yêu cầu đối với người thầy thuốc Ông viết: “Tôi đã hiến thân cho nghề thuốc nên lúc nào tôi cũng muốn dồn hết khả năng trí óc thật rộng rãi để dựng lên ngọn cờ đỏ thắm giữa y trường”; “Tôi thường thấm thía rằng: Thầy thuốc

là người có nhiệm vụ bảo vệ sinh mạng của người ta, lẽ sống chết, điều phúc họa đều ở trong tay mình xoay chuyển Lẽ nào người có trí thức không đầy

đủ, hành động không chu đáo, tâm hồn không thoáng đạt, trí quả cảm không thận trọng mà giám theo đòi bắt trước nghề y”; “Đạo làm thầy thuốc là nhân thuật, có nhiệm vụ là giữ gìn tính mạng cho con người, chỉ lấy việc giúp mình

mà không cầu lợi kể công”; “Vui cái vui của người bệnh, lo cái lo của người bệnh, làm hết những việc đáng là để giúp đỡ mọi người Thế rồi lòng này không hổ thẹn với trời đất” Từ những quan niệm đó ông đã đưa ra các chuẩn mực của người thầy thuốc cần phải có: nhân, minh, trí, đức, thành, lượng,

khiêm, cần Nhân là sự nhân từ bác ái cộng hưởng mọi người và quan tâm đến người khác, không cá nhân ích kỷ Minh là phải hiểu biết rộng, sáng suốt minh bạch, không nhầm lẫn Trí là khôn khéo nhạy bén, để tâm lo nghĩ việc làm, không cẩu thả tuỳ tiện Đức là phải có đạo đức nhân hậu, cốt làm điều lành để của đức về sau, chống điều ác Thành là thành thật, ngay thẳng, trung thực vô

tư, không dối trá không thiên lệch Lượng là phải độ lượng, hoà nhã, đúng mức vừa phải Khiêm là phải chuyên cần học hỏi và phải thực sự cầu thị, không tự phụ chủ quan Cần là phải chuyên cần nhẫn nại và cần cù chịu khó

Ông khuyên rằng: “không nên thấy người giàu sang quyền quý thì hết lòng phục vụ, thấy người khổ tàn tật thì thờ ơ”; “Chớ nên vì giàu sang hay nghèo

Trang 9

hèn mà nơi đến trước, chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém Khi lòng mình không thành thật thì khó lòng thu được hiệu quả” Theo ông, người thầy thuốc phải có “lòng nhân”, lòng nhân này là nhân ái vị tha, phải có lương tâm nghề nghiệp; “Khi người thầy thuốc khoanh tay trước một bệnh hiểm nghèo thì đó là thầy thuốc chỉ nghĩ đến danh tiếng cá nhân; Chính vì sợ chết

mà bệnh nhân tìm đến thầy thuốc, bây giờ đứng trước tình trạng vô vọng mà người thầy thuốc lại khoanh tay, thì thầy thuốc để làm gì”; “Đạo làm thầy thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người và phải vui cái vui của người, phải lấy việc cứu mạng người làm cái vui của mình, không nên cầu lợi, không kể công, tuy không có báo ứng ngay nhưng để lại ân đức cho đời sau Người thầy thuốc là “nơi để người ta gửi gắm tính mạng” nên phải “nhiệt tình khám chữa bệnh, không phân biệt sang hèn, không cầu lợi kể công, không đem nhân thuật làm chước lừa dối, đem lòng nhân ra đổi lòng mua bán”

Những đức tính của người thầy thuốc là yêu nghề, yêu người, nhân từ, khiêm tốn, lạc quan, thận trọng, biết cách đối xử Hải Thượng Lãn Ông cũng đưa ra tám tội của người thầy thuốc mà theo ông đó là biểu hiện “suy đồi” về

đạo đức Tội lười: là chẩn đoán qua loa đại khái, ngại vất vả không chịu đến nơi khám bệnh cho cẩn thận mà vội kê đơn, bốc thuốc cho xong Tội keo kiệt:

bủn xỉn, sợ bệnh nhân không có đủ tiền trả cho mình đủ vốn mà không cho

thuốc tốt, cần thiết Tội thâm: là trường hợp bệnh nhân đã chết rõ ràng mà không báo thật với gia đình mà nói lờ mờ để làm tiền Tội lừa dối: là khi thấy

người bệnh đã nói ngay là bệnh khó, bệnh nặng, làm cho người bệnh sợ để lấy

nhiều tiền Tội bất nhân: là khi thấy bệnh khó, đáng lý nói thật rồi hết lòng

cứu chữa, nhưng sợ thất bại, không được lợi lộc gì nên từ chối cứu chữa để

người bệnh phải bó tay chịu chết Tội hẹp hòi: là gặp trường hợp người bệnh

ngày thường có chuyện xích mích với mình, khi mắc bệnh phải nhờ cậy, vì nảy sinh thù oán mà không chạy chữa bệnh hoặc chạy chữa không hết lòng

Trang 10

Tội thất đức: gặp người bệnh mồ côi, nghèo hèn, tàn tật không nơi nương tựa

từ chối chữa bệnh hoặc chữa bệnh không hết lòng Tội dốt: là kiến thức còn

non kém, kinh nghiệm ít, chẩn đoán bệnh lờ mờ đã dùng thuốc, có khi dùng thuốc nhầm làm nguy hại cho người bệnh

Đối với đồng nghiệp, Hải Thượng Lãn Ông luôn thể hiện đức tính của mình trong việc kế thừa cũng như học hỏi giúp đỡ lẫn nhau “Khi gặp bạn đồng nghiệp cần nên khiêm tốn hòa nhã, giữ gìn thái độ kính cẩn không khinh nhờn Người hơn tuổi mình thì kính trọng, người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì nên nhân nhượng, người kém mình thì dìu dắt họ Giữ được lòng đức hậu như thế sẽ đem lại nhiều hạnh phúc cho mình”

Như vậy, có thể thấy rằng Hải Thượng Lãn Ông là một trong những danh y nổi tiếng trong lịch sử y học dân tộc ta, ông đã nêu ra những chuẩn mực sâu sắc về đạo nghề y Mặc dù có những hạn chế về mặt lịch sử nhưng những giá trị chung mà ông để lại là rất to lớn

Kế thừ a truyền thống đa ̣o đức y ho ̣c của dân tô ̣c và những giá tri ̣ đa ̣o đức của nền y ho ̣c thế giới , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có quan điểm rất cu ̣ thể về đa ̣o đức nghề y (y đức ) Nô ̣i dung y đức được Người đưa ra cho toàn ngành thảo luận, quán triệt và tổ chức thực hiện là “Lương y kiêm từ mẫu” và

“Thâ ̣t thà đoàn kết”

Trong thư gửi Hô ̣i nghi ̣ quân y tháng 3 năm 1948, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Người thầy thuốc chẳng những có nhiê ̣m vu ̣ cứu chữa bê ̣nh tâ ̣ t mà còn phải nâng đỡ tinh thần cho những người ốm yếu Khi gă ̣p những ca anh em thương binh thiếu trấn tĩnh , người thầy thuốc nên lấy lòng nhân loa ̣i và tình nhân ái mà cảm hoá ho ̣ Người đã có câu “Lương y như từ mẫu” Trong thư gửi Hô ̣i nghi ̣ cán bô ̣ y tế toàn quốc năm 1953, Người chỉ rõ: Phòng bệnh cũng cần thiết như viê ̣c tri ̣ bê ̣nh, để làm tròn nhiệm vụ ấy người thầy thuốc cần phải thương yêu người bê ̣nh như anh em ruô ̣t thi ̣t Cần phải tâ ̣n tâm , tâ ̣n lực phu ̣c

vụ nhân dân Lương y phải kiêm từ mẫu Trong thư gửi hô ̣i nghi ̣ cán bô ̣ y tế

Trang 11

ngày 27-2-1955, Hồ Chí Minh viết : Người bê ̣nh phó thác tính mê ̣nh của ho ̣ nơi các cô các chú , Chính phủ phó thác việc khám chữa bệnh v à phòng bệnh cho các cô các chú Đó là mô ̣t nhiê ̣m vu ̣ rất vẻ vang Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bê ̣nh như anh em ruô ̣t thi ̣t của mình , coi ho ̣ đau đớn cũng như mình đau đớn Lương y phải như từ mẫu, câu ấy nói rất đúng

Với những chỉ dẫn trên, điểm cốt yếu trong quan điểm đa ̣o đức nghề y của Hồ Chí Minh là “Lương y kiêm từ mẫu” “Lương y kiêm từ mẫu” được biểu hiê ̣n trước hết là người thầy thuốc phải có lương tâm và nghĩa vu ̣ vớ i người bê ̣nh như lương tâm và nghĩa vu ̣ của người mẹ đối với con

Lương tâm của người thầy thuốc trong quan hê ̣ với người bê ̣nh thể hiê ̣n

ở hành vi đạo đức và tình cảm đạo đức Hành vi đạo đức là những hành vi có

đô ̣ng cơ bên trong phù hợp với những yêu cầu và chuẩn mực đa ̣o đức của xã

hô ̣i Tình cảm đạo đức của người thầy thuốc là động lực , những đức tính đã trở thành thói quen, thúc đẩy người thầy thuốc hành động sao cho phù hợp với chuẩn mực đa ̣o đức của xã hô ̣i Tình cảm đạo đức có hai chức năng : thúc đẩy người thầy thuốc thực hiê ̣n hành vi đa ̣o đức và tự đánh giá hành vi đa ̣o đức Lương tâm có chức năng tự đánh giá hành vi đa ̣o đức của con người , vừa là hiê ̣n tượng tình cảm vừ a là hiê ̣n tượng trí tuê ̣ Lương tâm nghề nghiê ̣p trong sáng là cơ sở để hình thành những đức tính cần phải có của người thầy thuốc đối với người bê ̣nh như là sự di ̣u dàng , niềm nở khi tiếp xúc với người bệnh: chịu khó, chịu khổ, tâ ̣n tâm, tâ ̣n lực khi thăm khám và điều tri ̣ ; kính già yêu trẻ, lịch sự với phụ nữ trong quan hệ Đồng thời, lương tâm còn là cơ sở để hình thành sự cảm thông sâu sắc với nỗi đau c ủa người bệnh , từ đó thương yêu săn sóc người bê ̣nh ; hình thành đức tính cần , kiê ̣m, liêm, chính, chí công

vô tư của đa ̣o đức cách ma ̣ng trong công viê ̣c chuyên môn Giữ cho lương tâm trong sa ̣ch là yêu cầu khách quan của xã hô ̣i đố i với người thầy thuốc Để đáp ứng yêu cầu ấy , người thầy thuốc phải luôn lấy viê ̣c phu ̣c vu ̣ người bê ̣nh làm mục đích cho hành động của mình, lấy lao đô ̣ng chính đáng bằng tài năng

Trang 12

và trí tuệ của mình làm lẽ sống ; biết chăm lo, rèn luyện phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc ; bồi dưỡng những tình cảm đe ̣p như sự đồng cảm , yêu thương và biết hối hâ ̣n khi có khuyết điểm , day dứt khi không làm tốt phần viê ̣c của mình gây hâ ̣u quả cho người khác; chú tâm học tập nâng cao trình độ

lý luận và lâm sàng để có điều kiện thể hiện đầy đủ tình cảm đạo đức

Nghĩa vụ của người thầy thuốc là ý thức và tình cả m trách nhiê ̣m với người bê ̣nh và xã hội Khi người thầ y thuốc phu ̣c tùng ý chí của người bê ̣nh

và của xã hội như là phục tùng sự công bằng , sự tất yếu, không thể làm khác thì khi đó trách nhiệm đạo đức có nguồn gốc từ bên ngoài Nghĩa vụ pháp lý của người t hầy thuốc đã được thực hiê ̣n Khi người thầy thuốc tự giác phu ̣c tùng ý chí xã hội , hoàn toàn tự do trong động cơ hành động thì trách nhiệm

đa ̣o đức có nguồn gốc từ bên trong Nghĩa vụ ấy được thự c hiê ̣n do tình cảm

đa ̣o đức, trong nghĩa vụ đạo đức, yếu tố chủ quan bên trong là yếu tố chủ đa ̣o Sự tất yế u khách quan của nghề nghiê ̣p đã biến thành ý chí chủ quan của người thầy thuốc

Lương tâm và nghĩa vu ̣ là hai mă ̣t thống nhất biê ̣n chứng với nhau trong đạo đức của người thầy thuốc Trong quan hê ̣ này , lương tâm là nô ̣i dung nghĩa vu ̣ là hình thức biểu hiê ̣n của lương tâm, do lương tâm quy đi ̣nh

Lương y kiêm từ mẫu còn được hiểu là người thầy thuốc vừa phải có

đa ̣o đức vừa phải có tài Theo Hồ Chí Minh “ Đức” là lương tâm và nghĩa vu ̣

của người thầy thuốc , là yêu cầu căn bản , là gốc của người thầy thuốc Còn

“Tài” là năng lực chuyên môn biểu hiê ̣n ở hiê ̣u quả trong viê ̣c chăm sóc , bảo

vê ̣ sức khoẻ nhân dân Mối quan hê ̣ đức - tài theo Hồ Chí Minh thì đức đứng trước tài , cũng như hồng đứng trước chuyên vì “phải có chính tri ̣ trước rồi mới có chuyên môn , chính trị là đạo đức , chuyên môn là tài” Có tà i mà không có đức là hỏng Trong nghề y, đức là cơ sở , đô ̣ng lực cho mo ̣i hành vi của thầy thuốc đối với người bệnh Khi có đức , tài góp phần làm cho đức

Trang 13

càng cao hơn Tài càng cao đức càng lớn Ngược lại có tài mà không có đức thì tài đã bị lợi dụng để phục vụ cho âm mưu ích kỷ

Năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hô ̣i n ghị cán bộ y tế toàn quốc Trong thư Người chỉ rõ : “Cần trau dồi tư tưởng và đa ̣o đức của người cán bô ̣ trong chế đô ̣ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nô ̣i

bô ̣, thi đua ho ̣c tâ ̣p, thi đua công tác” [39, tr.265] Tháng 2 năm 1955, trong thư gửi Hô ̣i nghi ̣ cán bô ̣ y tế , người khẳng đi ̣nh : Trước hết là phải thật thà đoàn kết - đoàn kết là sức mạnh của chúng ta Đoàn kết giữa cán bô ̣ cũ và cán

bô ̣ mới Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế , từ các bô ̣ trưởng, thứ trưởng , bác sỹ, dược sỹ cho đến các anh chi ̣ em giúp viê ̣c Bởi vì công viê ̣c và đi ̣a vị tuy có khác nhau nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong viê ̣c phu ̣c vu ̣ nhân dân

Quan điểm thâ ̣t thà đoàn kết của Hồ Chí Minh cần được quán triê ̣t ở tất

cả các ngành, ở mọi lĩnh vực hoạt đô ̣ng của xã hô ̣i Quan điểm này không chỉ

là đường lối , là phương trâm đối với ngành y mà còn thuộc về đạo đức của người thầy thuốc Trong hai cuô ̣c kháng chiến , bảo vệ độc lập , tự do cho Tổ quốc và trong thời kỳ đổi mới, hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng của ngành y biểu hiê ̣n ở sự kết hợp chă ̣t chẽ giữa y và dược , giữa nô ̣i khoa và ngoa ̣i khoa, giữa đông y và tây y, giữa phòng bê ̣nh và chữa bê ̣nh , giữa câ ̣n lâm sàng với lâm sàng , giữa chẩn đoán và điều trị, Mô ̣t chút mất đoàn kết , mất sự gắn kết trong chữa

bê ̣nh cũng c ó thể đưa lại tác hại khôn lường Vì vậy , trong y đức Hồ Chí Minh đưa vấn đề đoàn kết thành mô ̣t nô ̣i dung quan tro ̣ng, nó vừa mang giá trị truyền thống dân tô ̣c vừa có ý nghĩa thời đa ̣i Ngày nay, y ho ̣c đã phát triển rất rực rỡ, phân công điều tri ̣ tỷ mỷ , sâu sắc thì sự đoàn kết đồng lòng trong toàn ngành lại càng phải được nâng cao

Cơ sở về quan điểm của y đức của Hồ Chí Minh là tư tưởng nhân văn cao cả và tấm gương về cuô ̣c đời hoa ̣t đô ̣ng cách ma ̣ng của Người, biểu hiê ̣n trước hết ở tình yêu thương con người , thương yêu nhân dân bao la và sâu

Trang 14

sắc Người đã khái quát triết lý cuô ̣c sống : Nghĩ cho cùng là làm người phải thương nước , thương dân , thương nhân loa ̣i đau khổ bi ̣ áp bức Ở Hồ Chí Minh, lòng yêu nước thương dân , yêu nhân loại mang mô ̣t nô ̣i dung mới , sâu sắc toàn diê ̣n Đó là sự đồng cảm với những người cù ng cảnh ngô ̣, từng trải

và chứng kiến biết bao đau thương , ngang trái, bất công Con người trong tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ mang nghĩa “đồng bào” trong nước , mà còn lan rộng ra thế giới Đối với tất cả những người khá c thì ta phải yêu quý , kính trọng, giúp đỡ… phải thực hành chữ Bác - Ái

Thực hiê ̣n lời da ̣y của Người , trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ , nhiều cán bô ̣, chiến sỹ quân , dân y đã quên cả tính ma ̣ng của mình để cứu chữa th ương binh , bê ̣nh nhân Những gương sáng về đa ̣o đức người thầy thuốc được nhân dân ca ngợi và ghi danh như : Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch, bác

sỹ Đặng Văn Ngữ, bác sỹ Tôn Thất Tùng, y tá Trần Xuân Đâ ̣u,…

Tuy nhiên trong những năm đổi mớ i, bên ca ̣nh những thành tựu đã đa ̣ t được về y đức nói chung , mă ̣t trái của nền kinh tế thi ̣ trường đã tác đô ̣ng vào mối quan hê ̣ cơ bản của nghề y (mối quan hê ̣ của người thầy thuốc với người

bê ̣nh, mối quan hê ̣ đồng nghiê ̣p) dẫn tới sự thoái hoá đa ̣o đức nghề nghiê ̣p của

mô ̣t bô ̣ phâ ̣n thầy thuốc gây nên nỗi băn khoăn, lo lắng, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với truyền thống nhân đa ̣o của nghề y Mă ̣t khác, do thiếu nhiều sự chủ đô ̣ng đổi mới của ngành y tế, nhiều chính sách đối với ngành chưa phù hợp với điều kiê ̣n kinh tế mới đã làm tha hoá bản chất nghề nghiê ̣p của đô ̣i ngũ này

Trong tình hình như vậy, những quan điểm về y đức của Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu nghiêm túc và tổ chức thực hiện Lời dạy “Lương y như

từ mẫu” của người bao hàm một nội dung sâu sắc, phong phú Đó là cái “bất biến” mà toàn ngành y tế thường xuyên rèn luyện, dùng để “ứng vạn biến”, là đường lối, phương châm hoạt động của nghề y, của mọi tổ chức cá nhân trong ngành y

Trang 15

Xã hội hiện đại tiếp tục đặt ra nhiều yêu cầu đối với người thầy thuốc về tài và trí để có thể phu ̣c vu ̣ tốt hơn nhu cầu của người bê ̣nh Trong hoạt

đô ̣ng chữa bê ̣nh , người thầy thuốc điều tri ̣ chỉ mô ̣t cơ thể bi ̣ bê ̣nh mà còn chăm sóc sức khoẻ về mă ̣t tinh thần cho mô ̣t con người Để làm tốt viê ̣c chữa

bê ̣nh, người thầy thuốc phải có tầm nhìn rô ̣ng, bao quát thấm nhuần kiến thức chuyên môn trong nhiều lĩnh vực , có học v ấn cao và uyên bác Người thầy thuốc cần phải yêu nghề của mình , có sự đồng cảm , thái độ lạc quan , tính cương quyết , thâ ̣n tro ̣ng khi giải quyết vấn đề của bê ̣nh nhân Uy tín của người thầy thuốc tuỳ thuô ̣c vào kinh nghiê ̣m nghề nghiê ̣p, kiến thức, sự uyên bác và quan hệ tốt với người bệnh Những tố chất này để có được ở những người thầy thuốc thì ho ̣ luôn phải tu dưỡng , rèn luyện cả cuộc đời của mình Chính vì vậy những sinh viên ngành y sau khi ho ̣c ra trường sẽ trở thành những bác sĩ , thầy thuốc phu ̣c vu ̣ nhân dân ho ̣ cần được rèn luyê ̣n đa ̣o đức nghề nghiê ̣p ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường , họ cần phải lấy những chuẩn mực đa ̣o đức đó để làm mu ̣c tiêu cho sự phấn đấu , rèn luyện, tu dưỡng của mình

1.2 Thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của nó đối với viê ̣c rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y tế hiện nay

1.2.1 Thế giới quan duy vật biện chứng

Con người là mô ̣t bô ̣ phâ ̣ n được cấu thành hữu cơ của tự nhiên , đồng thời con người la ̣i có tính đô ̣c lâ ̣p tương đối với tự nhiên bởi vì con người là chủ thể hoạt động có ý thức Với khả năng nhâ ̣n thức và hoa ̣t đô ̣ng sáng ta ̣o của mình, con người luôn có nhu cầu tìm hiểu , nhâ ̣n thức thế giới cũng như nhâ ̣n thức bản thân mình Trong quá trình tìm hiểu nhâ ̣n thức đó sẽ hình thành ở con người những quan điểm, quan niê ̣m về thế giới về vi ̣ trí và vai trò của con người trong thế giới Thế giớ i quan là hê ̣ thống những quan điểm của mô ̣t chủ thể (có thể là của mô ̣t người , mô ̣t giai cấp hay toàn xã hô ̣i ) về thế giới , về vi ̣ trí, vai

Trang 16

trò của con người trước thế giới đó Trên cơ sở đó, thế giới quan đi ̣nh hướng, chỉ dẫn cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

Thế giới quan ra đời , hình thành, phát triển luôn gắn với sự phát triển của thực tiễn xã hội Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hô ̣i loài người, thế giới quan được thể hiê ̣n dưới nhiều hình thức khác nhau , song có 3 hình thức

cơ bản là: thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết ho ̣c Thế giới quan thần thoại là hình thức thế giới quan đặc trưng của người nguyên thuỷ trong buổi sơ khai của lịch sử loài người Đó là sự phản ánh mang tính chất cảm nhận ban đầu của người nguyên thuỷ về thế giới mà trong đó các yếu tố hiện thực và ảo tưởng, sự thực và hoang đường, lý chí và tín ngưỡng, tư duy và xúc cảm hoà quyện vào nhau Thế giới quan thần thoại phản ánh thế giới bằng các hình thức thần thoại Nó còn tiếp tục tồn tại ở các giai đoạn sau này của con người và mọi dân tộc trên thế giới

Từ khi tôn giáo ra đời thế giới quan có một hình thái biểu thị mới thể hiện tính đa dạng của mình cũng như thâm nhập sâu rộng hơn vào cuộc sống thường nhật của con người Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo hiện thực, là

“thuốc phiện của nhân dân” Nó xuất hiện khi nhận thức của con người còn hết sức thấp kém, hoạt động thực tế của con người còn chưa đa dạng phức tạp, con người chưa lý giải được các hiện tượng tự nhiên tác động mạnh mẽ đến đời sống của con người Con người thần thánh hoá các hiện tượng tự nhiên, tôn sùng chúng thành các hiện tượng siêu tự nhiên Đồng thời con người còn thần thánh hoá những thuộc tính tốt đẹp và những thuộc tính xấu

xa của con người (ông Thiện, ông Ác) cũng như thần thánh hoá những con người có công lao to lớn đối với đất nước, đối với dân tộc và dân làng Tuy nhiên tôn giáo cũng là sự thể hiện ước mong của con người vì sự giải thoát khỏi những nỗi khổ, về sự vươn tới hạnh phúc, về sự hướng thiện Niềm tin tôn giáo bao gồm cả niềm tin vào khả năng đạt tới một cuộc sống tươi đẹp một cuộc sống hoàn thiện, nhất là đạo đức là nền tảng của thế giới tôn giáo

Trang 17

Mặt tích cực của tôn giáo đã và sẽ còn ảnh hưởng tới đời sống tinh thần của con người, của xã hội với nhiều mức độ khác nhau Như vậy thế giới quan tôn giáo là thế giới quan phản ánh hiện thực một cách ảo tưởng vào đầu óc con người, chưa mang tính khoa học

Thế giới quan triết học là hình thức phát triển cao của thế giới quan Thực tiễn của con người ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp đã kéo theo sự phát triển tư duy của họ Sản xuất xã hội tăng lên dẫn đến phân công lao động chân tay và lao động trí óc Với sự xuất hiện của tầng lớp lao động trí óc, tính tích cực của tư duy đạt đến sự chuyển biến về mặt chất, ý thức về bản thân cũng xuất hiện ở con người Tư duy của con người hướng sự suy ngẫm, đánh giá vào chính hoạt động của mình Một phương thức mới của tư duy cũng bắt đầu hình thành nhằm nhận thức thế giới - tư duy triết học Từ đó thế giới quan triết học ra đời

Khác với thần thoại, tôn giáo, triết học thể hiện thế giới quan của con người dựa vào hệ thống các khái niệm, phạm trù, hệ thống khái niệm, phạm trù đánh dấu những nấc thang trong quá trình nhận thức thế giới của con người Tư duy lý luận là yếu tố chủ đạo trong triết học, triết học không chỉ khái quát những quan điểm của con người thông qua hệ thống khái niệm, phạm trù mà còn chứng minh, khẳng định sự đúng đắn của những quan điểm

đó bằng lý tính trí tuệ và thực tiễn Các khoa học cụ thể cũng đưa lại tri thức làm cơ sở trực tiếp cho sự hình thành những quan điểm về từng mặt, từng lĩnh vực nhất định của thế giới Còn triết học ngay từ khi ra đời với phương thức

tư duy đặc trưng của mình đã tạo lên một hệ thống quan điểm lý luận chung nhất về thế giới với tính cách là một chỉnh thể về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó cũng như quan hệ của con người với con người, con người với xã hội Với ý nghĩa như vậy, triết học được coi như là trình độ tự giác trong quá trình phát triển của thế giới quan; là học thuyết, là hạt nhân lý luận của thế giới quan; là hệ thống những quan điểm chung nhất về thế giới, trong

Trang 18

đó có con người và quan hệ giữa con người với con người Thế giới quan triết học luôn giữ vai trò chủ đạo , đi ̣nh hướng các hành vi chính tri ̣ và đa ̣o đức lối sống của con người Nó giúp con người biết nhận thức và hành động theo mục tiêu của mình

Lịch sử triết học là lịch sử đấu tranh giữa hai đường lối triết học cơ bản, đó là triết ho ̣c duy vâ ̣t và triết ho ̣c duy tâm và đó cũng là cuô ̣c đấu tranh giữa hai loa ̣i hình thế giới quan : duy vâ ̣t và duy t âm Triết ho ̣c duy vâ ̣t thường là thế giới quan, cơ sở lý luâ ̣n của những lực lượng xã hô ̣i tiến bô ̣ ; còn triết học duy tâm thường là thế giới quan , cơ sở lý luâ ̣n của các giai cấp thống tri ̣ phản tiến bô ̣ Trong quá trình đấu tranh đó, thế giới quan duy vâ ̣t đã từng bước phát triển tương ứng với trình đô ̣ phát triển tư duy của con người ở mỗi giai đoa ̣n lịch sử Nhờ kế thừa những giá tri ̣ tinh hoa của triết ho ̣c trong li ̣ch sử , đă ̣c biê ̣t

là kế th ừa có phát triển sáng tạo hạt nhân hợp lý của triết học cổ điển Đức , C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lâ ̣p ra mô ̣t hê ̣ thống triế t ho ̣c mới khác về chất

so vớ i các triết học trước đó Các tư tưởng triết ho ̣c trước Mác chỉ nhằm mu ̣c đích giải thích thế giới , còn triết học Mác là công cụ hữu hiệu để cải tạo thế giới hiê ̣n thực “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới” [36, tr.12]

Nhờ sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vâ ̣t và phép biê ̣n chứng khoa học, chủ nghĩa duy vật triết học của Mác là chủ nghĩa duy vật triệt để, duy vâ ̣t không chỉ trong tự nhiên mà cả trong xã hô ̣i Nô ̣i dung của thế giới quan duy

vâ ̣t biê ̣n chứng bao gồm viê ̣c giải quyết vấn đề về mối quan hê ̣ giữa con người với tự nhiên và xã hô ̣i Thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng là thế giới quan của giai cấp công nhân, giai cấp tiến bô ̣ và cách ma ̣ng trong thời đa ̣i chúng ta Thế giới quan vừa có tính cách ma ̣ng , vừa có tính khoa ho ̣c Bởi lẽ, sự ra đời của thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng được xây dựng trên những tiền đề kinh tế -xã

hô ̣i và tư tưởng văn hoá tiên tiến của nhân loại, mà trực tiếp nhất là sự phản

Trang 19

ánh khái quát đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc những tư liê ̣u do khoa ho ̣c thực tiễn mang la ̣i

Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan khoa học vì nó giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học Vấn đề cơ bản lớn nhất của toàn

bộ triết học, nhất là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại Thế giới quan duy vật biện chứng đã giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản đó của triết học Thế giới quan duy vật trước Mác trải qua quá trình phát triển lịch sử lâu dài; đã đạt được những thành tựu quan trọng và đã góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, vào quá trình biến đổi thế giới (tự nhiên và xã hội) Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, thế giới quan duy vật trước Mác không thể tách khỏi những thiếu sót, hạn chế Điều

đó thể hiện trước hết ở chỗ, thế giới quan đó, mặc dù đứng trên quan điểm duy vật để xem xét tự nhiên, song lại đứng trên quan điểm duy tâm để giải quyết đời sống xã hội Mặt khác, do ảnh hưởng của tính chất trực quan, máy móc, siêu hình thế giới quan duy vật đó chưa thấy được tính năng động, sáng tạo của ý thức

Chủ nghĩa duy tâm đã quá đề cao vai trò của ý thức Chủ nghĩa duy vật trước Mác lại hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò của ý thức, nó không thấy sự tác động to lớn của ý thức đối với cơ sở vật chất trên cơ sở hoạt động của con người Nhiều nhà duy vật trước Mác do chịu ảnh hưởng bởi quan điểm siêu hình và do không có quan điểm thực tiễn đầy đủ, đã coi ý thức là sự phản ánh thụ động, giản đơn, máy móc, không thấy rõ tính năng động, sáng tạo của ý thức Triết học Mác ra đời đã cải biến thế giới quan duy vật thành thế giới quan duy vật biện chứng - công cụ nhận thức và cải tạo sáng tạo hiện thực

Chủ nghĩa duy vật khẳng định rằng vật chất có trước sinh ra và quyết định ý thức, ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Đó là nguyên tắc cơ bản, đầu tiên là điểm xuất phát của chủ nghĩa duy vật biện chứng Không tuân theo nguyên tắc đó sẽ dẫn tới sự xa rời thế

Trang 20

giới quan duy vật biện chứng, sẽ rơi vào thế giới quan duy tâm Vật chất và ý thức tác động qua lại lẫn nhau Trong đó vật chất giữ vai trò quyết định Ý thức tác động vào thế giới vật chất phải thông qua thực tiễn Bản thân ý thức,

tư tưởng tách khỏi thực tiễn sẽ không trực tiếp làm thay đổi hiện thực Nhờ thực tiễn con người mới biến những ý tưởng chương trình, kế hoạch, mục đích của mình thành hiện thực vật chất cụ thể ở từng lĩnh vực hoạt động

Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan thống nhất giữa quan niệm duy vật và phép biện chứng Thế giới quan duy vật trước Mác thường có sự tách rời với phép biện chứng hoặc kết hợp với phép siêu hình, đặc biệt là thế giới quan thế kỷ XVII, XVIII ở Tây Âu Tuy nhiên trong các trào lưu triết học duy vật trước Mác cũng chứa đựng những tư tưởng biện chứng nhất định Trong khi đó, một số hệ thống triết học duy tâm lại quan tâm nghiên cứu và phát triển phép biện chứng, đặc biệt là hệ thống triết học Hêghen Hêghen đã có công lao to lớn trong việc khôi phục và phát triển phép biện chứng, song phép biện chứng của ông là phép biện chứng duy tâm C.Mác đã cải tạo thế giới quan duy vật cũ, siêu hình lẫn phép biện chứng duy tâm để xây dựng hệ thống triết học của mình Triết học Mác đã tạo nên sự thống nhất, chặt chẽ, hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng Hai đặc trưng, hai yếu tố có mối quan hệ khăng khít với nhau trong triết học mácxít, tạo nên tính thống nhất không thể tách rời đặc trưng duy vật

và đặc trưng biện chứng

Thế giới quan trước Mác đã đứng trên quan điểm duy vật để xem xét tự nhiên, nhưng lại sử dụng quan điểm duy tâm để xem xét xã hội C.Mác và Ăngghen đã đánh giá cao Phoiơbắc và tiếp thu những nguyên lý đúng đắn của thế giới duy vật, cải tạo và phát triển những tư tưởng đó Đồng thời hai ông lại phê phán những hạn chế siêu hình, trực quan duy tâm về mặt xã hội của Phoiơbắc Khi nói đến những vấn đề xã hội, Phoiơbắc xuất phát từ vấn đề chủ nghĩa nhân bản, chỉ nói đến con người chung chung trừu tượng, siêu giai cấp

Trang 21

tách khỏi mọi quan hệ xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Khi Phoiơbắc là nhà duy vật thì ông không nhìn thấy lịch sử, còn khi ông xem xét lịch sử thì ông không hoàn toàn là nhà duy vật Ở Phoiơbắc lịch sử và chủ nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau” [37, tr.73] C.Mác và Ănghen đã quán triệt thế giới quan duy vật một cách triệt để từ lĩnh vực tự nhiên đến vấn đề xã hội, sáng lập

ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đó là hình thức cao nhất và triệt để nhất của thế giới quan duy vật trong lịch sử triết học từ trước đến nay Lênin viết: “Trong khi nghiên cứu sâu và phát triển chủ nghĩa duy vật triết học, Mác đã đưa học thuyết đó tới chỗ hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học” [32, tr.53] Trên cơ sở tổng kết lịch sử, kế thừa có phê phán toàn bộ tư tưởng

về xã hội và khái quát được thực tiễn, C.Mác đã sáng tạo chủ nghĩa duy vật về lịch sử Quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử của Mác đã đem lại cho nhân loại tiến bộ một công cụ to lớn để nhận thức và cải tạo thế giới vì nhu cầu và lợi ích của chính mình

Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng, thống nhất giữa hệ tư tưởng tiên tiến nhất của thời đại với lý luận khoa học Trong lịch sử phát triển của xã hội, mỗi giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất bao giờ cũng có hệ tư tưởng riêng của mình Cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp

vô sản (giai cấp công nhân) xuất hiện; đó là giai cấp tiến bộ và cách mạng của thời đại mới Ngay từ khi mới ra đời giai cấp vô sản chưa có thế giới quan khoa học và hệ tư tưởng đúng đắn Chỉ khi triết học duy vật biện chứng hay triết học mácxít ra đời thì thế giới quan của giai cấp công nhân mới được xác lập, lợi ích của giai cấp công nhân phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động Triết học duy vật biện chứng xuất hiện không những là thế giới quan của giai cấp công nhân mà còn là thế giới quan của toàn thể nhân dân lao động tiến bộ

Trang 22

trên toàn thế giới Thế giới quan đó mang tính khoa học cách mạng, là vũ khí

tư tưởng trong cuộc đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột, thống trị của giai cấp tư sản giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn nhân loại

Thế giới quan duy vật biện chứng phản ánh đúng đắn bản chất qui luật của thế giới, trong đó có xã hội Nhờ nhận thức đúng đắn cái bản chất và qui luật đó, con người mới có khả năng thực hiện những cuộc cách mạng làm biến đổi tự nhiên, xã hội theo đúng qui luật của chúng, phục vụ nhu cầu, lợi ích của con người Vì thế triết học Mác hay thế giới quan duy vật biện chứng mới có sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng

Thế giới quan duy vật biện chứng cũng là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân cách mạng Hệ tư tưởng đó phản ánh đúng đắn qui luật vận động và phát triển của lịch sử xã hội, nghĩa là được luận chứng bằng lý luận khoa học Vì thế nó là hệ tư tưởng khoa học Nó chứa đựng sự thống nhất giữa tính khoa học và tính Đảng, giữa lý luận và thực tiễn Do đó triết học duy vật biện chứng hay thế giới quan duy vật biện chứng mang sức mạnh cải tạo thế giới bằng cách mạng thông qua hoạt động của con người Chính vì những đặc trưng

cơ bản đã nêu ra ở trên mà thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan tiên tiến nhất, khoa học nhất Nó có giá trị to lớn trong việc xem xét, giải quyết đúng đắn các vấn đề của tự nhiên, xã hội, tư duy

Tóm lại, thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng là mô ̣t hê ̣ thống quan điểm hoàn chỉnh về thế giới trên cơ sở những tri thức về tự nhiên , xã hội và tư duy cùng những định hướng giá trị của con người trong quan hệ với hiện thực dựa trên viê ̣c giải quyết mô ̣t cách duy vâ ̣t biê ̣n chứng vấn đề cơ bản của triết ho ̣c

Cấu trúc của thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng gồm 3 yếu tố cơ bản là : tri thức khoa ho ̣c, niềm tin khoa ho ̣c và lý tưởng sống Tri thức khoa ho ̣c là sự hiểu biết sâu sắc của con người về thế giới hiê ̣n thực; là kết quả của quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn đúng đắn của con người Tri thứ c khoa ho ̣c

là yếu tố cơ bản chủ yếu nhất quyết định nhất của thế giới quan duy vật biện

Trang 23

chứng Tri thức khoa ho ̣c có nhiều loa ̣i khác nhau , trong đó có tri th ức về tự nhiên, về xã hô ̣i và về con người Nhưng trong nô ̣i dung tri thức khoa ho ̣c của thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng , tri thức triết ho ̣c Mác-Lênin đóng vai trò nền tảng Bởi lẽ, triết ho ̣c Mác-Lênin là hệ thống tri thức khái quát nhất về thế giới hiê ̣n thực, là bức tranh khái quát về tự nhiên , xã hội và tư duy ; xác định

mô ̣t cách khoa ho ̣c và chân thực vai trò , vị trí của con người đối với thế gi ới đó Tuy vâ ̣y, không phải có tri thức khoa ho ̣c là có thế giới quan duy vật biện chứng Tri thức chỉ gia nhâ ̣p vào thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng khi nó chuyển thành niềm tin khoa ho ̣c của con người qua sự trải nghiê ̣m lâu dài trong cuô ̣c sống của ho ̣ Chỉ khi đó thì tri thức mới trở nên bền vững và sâu sắc, mới có giá tri ̣ đi ̣nh hướng cho hoa ̣t đô ̣ng của con người

Niềm tin là mô ̣t tra ̣ng thái tâm lý, tinh thần đă ̣c biê ̣t được phát triển trên

cơ sở của tri thức Nó là động lực thúc đẩy k hát vọng nhận thức và cải tạo hiê ̣n thực của con người Niềm tin khoa ho ̣c được hình thành trên cơ sở tri thức khoa ho ̣c là chủ yếu, bên ca ̣nh đó còn là tra ̣ng thái cảm xúc và tình tra ̣ng tâm lý ổn đi ̣nh là sự tin tưởng , không dao đô ̣ng trong nguyên tắ c sống, quan điểm tư tưởng Nó chi phối tình cảm, lương tâm và thể hiê ̣n qua ý chí hành

đô ̣ng của con người , thể hiê ̣n tính tích cực của cá nhân mang thế giới quan trong quan hê ̣ đối với thế giới bên n goài Niềm tin khoa ho ̣c có vai trò như

mô ̣t đô ̣ng lực, thúc đẩy con người vươn tới khát vọng nhận thức và cải tạo thế giới hiê ̣n thực Nếu con người làm mô ̣t viê ̣c gì đó mà không có niềm tin vào sự đúng đắn của tri thức , của tư tưởng, thì họ sẽ mất đi những rung động của

ý chí, nghị lực, lòng nhiệt tình và sự cổ vũ cần thiết đối với hiệu quả công viê ̣c Không có mô ̣t niềm tin mãnh liê ̣t vào tri thức thì mô ̣t tri thức khoa ho ̣c cũng sẽ không sản sinh ra cái gì vĩ đa ̣i Niềm tin chính là đô ̣ng lực ma ̣nh mẽ , giúp cho mỗi con người có nghị lực phi thường , có thể vượt qua những giây phút nguy hiểm, dám hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng mà mình cho là cao cả

Trang 24

Niềm tin khoa ho ̣c chi phối ma ̣nh mẽ nhâ ̣n thức, tư tưởng, chính trị, đa ̣o đức, lối sống và hành đô ̣ng cách ma ̣ng của mỗi con người Nó đòi hỏi hành

đô ̣ng của mỗi người cách ma ̣ng phải dựa trên cơ sở tri thức khoa ho ̣c và tuân theo những giá tri ̣ và chuẩn mực đúng đắn của xã hô ̣i Nếu người ta sống mà không có niềm tin khoa ho ̣c hoă ̣c thiếu niềm tin khoa ho ̣c thì dễ bi ̣ mất phương hướng hoa ̣t đô ̣ng nhâ ̣n thức và thực tiễn , có thể bị đẩy vào tình trạng bế tắc không có đường ra

Lý tưởng cách mạng là một trong những nhân tố cơ bản trong cấu trúc của thế giới quan duy vật biện chứng Lý tưởng là sự phản ánh hiện thực khách quan mô ̣t cách đă ̣c biê ̣t trong ý thức của con người dư ới dạng hình tượng, kiểu mẫu hay chuẩn mực mà con người cần phải phấn đấu đa ̣t tới Lý tưởng cách ma ̣ng đóng vai trò đi ̣nh hướng đối với hoa ̣t đô ̣ng nhâ ̣n thức và thực tiễn của con người Nó là nhân tố kích thích sự phấn đấu vươn lên làm chủ của con người trong tự nhiên , xã hội và cả bản thân Lý tưởng đúng đắn , cao cả sẽ làm cho mỗi người hình thành niềm hy vo ̣ng lớn , góp phần giúp cho

họ vươn tới những giá tri ̣ cao đe ̣p như lòng nhân ái, lòng vị tha, những phẩm chất chân, thiê ̣n, mỹ; giúp cho họ đấu tranh với cái ác, cái xấu, cái tiêu cực và lạc hâ ̣u trong xã hô ̣i và có thể sẵn sàng hy sinh cả tính ma ̣ng của mình cho lý tưởng cao đe ̣p đó

Ba nhân tố cơ bản tr ong cấu trúc của thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng

có mối quan hệ biện chứng vớ i nhau, tác động qua lại lẫn nhau , đan xen nhau

và thâm nhập vào nhau trong một chỉnh thể thống nhất Từ khi ra đời cho đến nay, thế giớ i quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng luôn có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới Thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng là vũ khí lý luâ ̣n sắc bén của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nó góp phần rất quan trọng để giúp cho

họ nhận thức và hành động đúng đắn trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chống áp bức bóc lô ̣t và bất công vì hoà bình đô ̣c lâ ̣p dân tô ̣c , dân chủ

Trang 25

và tiến bô ̣ xã hô ̣i Thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng là thế giới quan khoa ho ̣c

“Đó là mô ̣t thế giới quan hoàn chỉnh , không thoả hiê ̣p với bất cứ mô ̣t sự mê tín nào, mô ̣t thế lực phản đô ̣ng n ào, mô ̣t hành vi nào bảo vê ̣ sự áp bứ c của tư sản” [31, tr.50]

1.2.2 Vai tro ̀ của thế giới quan duy vật biê ̣n chứng đối với viê ̣c rèn luyê ̣n đạo đức của sinh viên ngành y tế hiê ̣n nay

Trong tiếng Latinh thuật ngữ "sinh viên" có nghĩa là người làm việc, học tập, người tìm kiếm, khai thác tri thức Thuật ngữ này được dùng tương

tự với "Student" trong tiếng Anh để chỉ những người đang theo học ở bậc cao đẳng, đại học Theo cuốn "Từ điển tiếng việt" (2001, Nxb Đà Nẵ ng), "sinh viên" là người học ở bậc đại học Theo tác giả Nguyễn Lân thì "sinh viên" (sinh: người học, viên: người làm việc) là học sinh các trường đại học, cao đẳng [25 tr.1580] Các nhà xã hội học cho rằng, sinh viên được xem như một nhóm xã hội đặc biệt, bao gồm những người đang trong quá trình chuẩn bị cho hoạt động lao động thuộc một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định của xã hội

"Giới sinh viên không có vị trí độc lập trong các tổ chức lao động xã hội nên không phải là một giai cấp, vị trí thực của sinh viên trong xã hội chưa có, mà còn phụ thuộc vào một giai cấp, một tầng lớp nào đó’’[50, tr.38] Sinh viên là một nhóm xã hội có vai trò đặt biệt quan trọng, là nguồn bổ sung cho lực lượng tri thức xã hội- một lực lượng đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức của xã hội hiện đại Lứa tuổi sinh viên

là một lứa tuổi hết sức phức tạp, gắn liền với những biến đổi Đặc biệt tâm lý quan trọng ở lứa tuổi này đó là sự phát triển mạnh mẽ của năng lực trí tuệ, nhận thức, sự phong phú, phức tạp của đời sống tình cảm và sự phát triển cao của năng lực tự ý thức, tự đánh giá, tự giáo dục và hoàn thiện Chính sự phát triển mạnh mẽ này đã khiến cho sinh viên trở nên hết sức nhạy cảm đối với những thay đổi dù là rất nhỏ trong đời sống xã hội Trong sự phát triển kinh tế

xã hội nước ta hiện nay, thanh niên nói chung và thanh niên sinh viên nói

Trang 26

riêng là một lực lượng xã hội quan trọng; là sức mạnh, là hy vọng là tương lai của dân tộc Với vị trí xã hội đặc biệt như vậy, cho nên nhiệm vụ thực sự quan trọng hàng đầu của mỗi sinh viên là học tập; "Học để biến toàn bộ kiến thức của nhân loại thành những hiểu biết của chính chúng ta" [29, tr.713] Đây là nhiệm vụ quan trọng của sinh viên hiện nay Nhưng để thực hiê ̣n được điều đó thì mỗi sinh viên phải có thế giới quan khoa học đi ̣nh hướng cho quá trình nhâ ̣n thức của mình Có thể hình dung thế giới quan khoa học như một “thấu kính” qua đó mỗi sinh viên có thể nhìn nhận thế giới xung quanh một cách đúng đắn, nhâ ̣n thức được vai trò vi ̣ trí của bản thân mình để từ đó xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống, chủ động lựa chọn phương thức hành động của riêng mình Đặc biệt là những sinh vi ên ngành y la ̣i có những đă ̣c thù riêng

Họ học và theo nghề y để trở thành những chuyên gia, các thầy thuốc thực sự Ngay từ khi bước chân vào giảng đường đa ̣i ho ̣c những sinh viên y khoa cần trau dồi chuyên môn cũng như rèn luyê ̣n đa ̣o đức nghề nghiê ̣p Trong việc trau dồi chuyên môn cũng như rèn luyê ̣n đa ̣o đức nghề nghiê ̣p của sinh viên ngành y, thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng có vai trò quan trọng Điều đó

được thể hiện ở những nội dung sau

1.2.2.1 Thế giới quan duy vật biện chứng góp phần xây dựng niềm tin, lý tưởng sống cao đe ̣p cho sinh viên ngành y

Niềm tin được xây dựng trên cơ sở quan niê ̣m đúng về thế giới , phù hợp với hiê ̣n thực khách quan và là mô ̣t trong các yếu tố cơ bản cấu thành thế giới quan Vì vậy khi sinh viên được trang bị , bồi dưỡng thế giới quan khoa học thì họ sẽ có niềm tin khoa học Niềm tin khoa ho ̣c có quan hê ̣ trực tiếp với hành động hàng ngày của nhân cách , nó thôi thúc và hướng dẫn nhân cách trong lao đô ̣ng trong ho ̣c tâ ̣p cũng như sự thể hiê ̣n các hành vi đa ̣o đức Đồng thời niề m tin khoa ho ̣c còn là sự thống nhất giữa lời nói và viê ̣c làm lâ ̣p

trường và hành đô ̣ng tích cực trong cuô ̣c sống

Trang 27

Hiê ̣n nay, những biến đô ̣ng nhanh chón g và sâu sắc của tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế , đặc biệt là sự tác động của nền sản xuất hàng hoá với cơ chế thị trường , đã làm cho sinh viên có nhiều thay đổi về lý tưởng, niềm tin và lối sống Bên ca ̣nh những sinh viên có trình đô ̣ ho ̣c vấn cao, tầm nhìn rô ̣ng, lối sống năng đô ̣ng, thực tế thì vẫn còn mô ̣t số sinh viên

có lối sống văn hoá thiếu lành mạnh , thiếu kỷ cương , pháp luật , thực du ̣ng chạy theo đồng tiền Mô hình chủ nghĩa xã hô ̣i ở Liên Xô bi ̣ su ̣p đổ làm cho một số sinh viên giảm niềm tin, lý tưởng cách mạng với Đảng , mất niềm tin vào CNXH Vì vậy, mô ̣t trong những nô ̣i dung của viê ̣c rèn luyê ̣n đa ̣o đức cho sinh viên là xây dựng niềm tin cho sinh viên Điều đó có thể thực hiê ̣n được bằng nhiều con đường , nhưng nô ̣i dung quan tro ̣ng nhất là phải trang bi ̣ , bồi dưỡng thế g iới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng cho sinh viên Bởi lẽ, thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng góp phần xây dựng niềm tin khoa ho ̣c cho sinh viên , giúp sinh viên có niềm tin vào hệ tư tưởng Mác -Lênin, tin vào sự nghiê ̣p đổi mới của Đảng và Nhà nước và sự lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta

Có niềm tin khoa học, sinh viên sẽ đi ̣nh hướng cho mình lý tưởng sống cao đe ̣p Lý tưởng sống là mụ c tiêu cuô ̣c sống được phản ánh vào đầu óc con người dưới hình ảnh mẫu mực và hoàn chỉnh có tác du ̣ng lôi cuốn ma ̣nh mẽ toàn bộ cuộc sống cá nhân , chỉ đạo sự tu dưỡng và hành động của cá nhân trong mô ̣t thời gian dài để vươn tới mu ̣c tiêu đó Như vâ ̣y lý tưởng của thanh niên, sinh viên có vai trò rất quan tro ̣ng trong viê ̣c rèn luyê ̣n đa ̣o đức của ho ̣ Nếu xác đi ̣nh lý tưởng đúng đắn , cao đe ̣p, họ sẽ trở thành một nhân cách có ích cho xã hội, gia đình và bản thân mình, còn không thì ngược lại

Trong những năm qua , đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới với chính sách mở cửa nhằm xây dựng và phát triển đất nước đã đa ̣t được những thành tựu đáng kể về mo ̣i mă ̣t Nhưng bên ca ̣nh đó viê ̣c chuyển từ kinh tế tâ ̣p trung theo kiểu bao cấp sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường đã làm thay đổi căn bản tâm lý của dân cư , trước hết là sinh viên

Trang 28

Vì vậy về mặt lý tưởng sống của thanh niên hiện nay cần phải xác định cho phù hợp, đúng đắn động viên họ vươn lên làm chủ xã hội, làm chủ đất nước

Lý tưởng sống cao đẹp của sinh viên ngày nay là độc lập dân tộc và CNXH, học tập, rèn luyện vì ngày mai lập thân, lập nghiệp, vì tương lai của bản thân

và tiền đồ của đất nước Mỗi sinh viên phải biết phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Sinh viên Việt Nam nói chung, sinh viên ngành y nói riêng là những người có tuổi đời còn trẻ, họ có nhiều hoài bão ước mơ, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn thử thách, cống hiến trí tuệ và sức lực của mình cho mục tiêu cao cả của dân tộc Nhưng ở họ lại có những hạn chế, tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm sống chưa nhiều Vì vậy trong cuộc sống họ nhiều lúc còn bồng bột, chưa thực sự chín chắn trong suy nghĩ và hành động Do đó, sinh viên cần được giáo dục hướng dẫn để hình thành lý tưởng cao đẹp, biết biến lý tưởng thành hiện thực, biết cụ thể hoá lý tưởng của mình trong cuộc sống lao động, học tập và sinh hoạt Lý tưởng cao đẹp là những giá trị chỉ đạo, điều khiển hoạt động, hành vi hàng ngày của mỗi sinh viên Lý tưởng cao đẹp không hình thành tự phát trong mỗi sinh viên mà phải thông qua giáo dục mới có được Lý tưởng cao đẹp chỉ được xây dựng trên cơ sở thế giới quan khoa học, ở đó có sự thống nhất giữa khoa học và niềm tin, giữa lý trí và tình cảm

1.2.2.2 Thế giới quan duy vật biện chứng góp phần hình thành ở sinh viên ngành y nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, con người phát triển toàn diện

Sự hình thành và phát triển thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng được coi

là một trong những tiêu chí quan trọng của quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người Nhân cách của sinh viên ngành y ở đây được hiểu mô ̣t cách toàn diê ̣n là đức và tài , là năng lực thể chất và năng lực trí tuê ̣ , là trạng thái tinh thần , nhâ ̣n thức tình cảm , hành động, phong thái, tính khí, lối sống

Trang 29

Đó là sự thống nhất giữa mă ̣t cá nhân và m ặt xã hội, là thái độ ứng xử trước hiê ̣n thực cuô ̣c sống của mỗi con người cu ̣ thể Con người xã hô ̣i chủ nghĩa phải là con người phát triển toàn diện cả về đạo đức và tài năng , phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chí nh tri ̣ vững vàng , tự lâ ̣p, tự chủ, năng đô ̣ng và sáng tạo Sự hình thành nhân cách con người xã hội chủ nghĩa mới ở sinh viên không thể mô ̣t sớm mô ̣t chiều mà phải thông qua quá trình giáo du ̣c toàn diê ̣n trong thời gian sinh viên còn đang ngồi trên ghế nhà trường Những sinh viên ngành y ngoài việc tu dưỡng đạo đức, nhân cách như những người khác thì họ cần phải phấn đấu rèn luyê ̣n đa ̣o đức nghề nghiê ̣ p Chữ “đức” của người thầy thuốc là lương tâm và nghĩa vụ, là yêu cầu căn bản , là gốc của người thầy thuốc; chữ “tài” là năng lực chuyên môn biểu hiê ̣n ở hiê ̣u quả chăm sóc , bảo

vê ̣ sức khỏe cho nhân dân Trong mối quan hê ̣ đức - tài, thì chữ đức để trướ c chữ tài cũng n hư hồng đứ ng trước chuyên Trong nghề y , đức là cơ sở ; là

đô ̣ng lực cho mo ̣i hành vi của thầy thuố c với bê ̣nh nhân Tài góp phần làm cho đức càng sáng hơn, tài càng cao đức càng lớn Ngược la ̣i, có tài mà không có đức thì tài đã bị lợi dụng để phục vụ cho âm mưu ích kỷ Để hình thành được những giá tri ̣ đa ̣o đức đó đòi hỏi sinh viên phải ra sức phấn đấu tu dưỡng lâu dài

và cần có môi trường giáo dục lành mạnh

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mă ̣t trái của nó đã hướng n gười

ta thiên về lợi nhuâ ̣n , làm cho mối quan hệ giữa người với người , với đồng loại trở nên thờ ở , lạnh nhạt Điều đó dẫn đến chủ nghĩa thực du ̣ng , ích kỷ trong thế hê ̣ trẻ Khi được giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng sinh viên sẽ được trang bị những tri thức khoa học về xã hội và nhân văn cơ bản giúp

họ nâng cao tình cảm , ý trí và đạo đức cách mạng Đó là ý trí ho ̣c tâ ̣p , tu dưỡng đa ̣o đức, học tập theo quan điểm, đường lối của Đảng có ý thức tự giác tham gia vào các phong trào chính tri ̣ , xã hội do Đoàn thanh n iên, Hô ̣i sinh viên phát đô ̣ng ; tự giác rèn luyê ̣n tu dưỡng đa ̣o đức , lối sống có niềm tin và

Trang 30

hoài bão, lý tưởng cộng sản Từ đó xác đi ̣nh được bổn phâ ̣n và trách nhiệm của mình; ý thức được ý nghĩa cao cả của nghề nghiê ̣p mà mình đã lựa cho ̣n

1.2.2.3 Thế giơ ́ i quan duy vật biê ̣n chứng góp phần đi ̣nh hướng đúng đắn về thái độ, hành vi đạo đức , lối sống cho sinh viên ngành y trong thực tiễn cuộc sống

Là mô ̣t hình thái ý thức xã hội , đa ̣o đức mô ̣t mă ̣t được hình thành mô ̣t cách tự phát từ chính cuộc sống hàng ngày của con người để đáp ứng đòi hỏi khách quan của sinh hoạt cộng đồng Mă ̣t khác, ý thức đạo đức ở trình độ lý luâ ̣n phản ánh đời sống đa ̣o đức xã hô ̣i được hình thành và phát triển chủ yếu bằng con đường giáo du ̣c nói chung , giáo dục đạo đứ c nói riêng Trong đó giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng là cơ sở phương pháp luận giúp

đi ̣nh hướng các giá tri ̣ đa ̣o đức , hành vi đa ̣o đức của mỗi sinh viên ; đồng thời giúp sinh viên tự đánh giá, nhìn nhận các giá trị đa ̣o đức, hành vi đạo đức theo các nguyên tắc cơ bản của lý luận Mác-Lênin (tính khách quan, quan điểm toàn diê ̣n, quan điểm li ̣ch sử-cụ thể, quan điểm phát triển và quan điể m thực tiễn) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau, có tình có nghĩa như thế từ khi có Đảng lãnh đạo và giáo dục , tình nghĩa ấy ngày càng cao đẹp hơn , trở thành tình nghĩa đồng bào , đồng chí, tình nghĩa, năm châu bốn biển mô ̣t nhà Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là sống với nhau có tình, có nghĩa Nếu thuô ̣c bao nhiêu sách vở mà không có tình nghĩa thì sao g ọi là chủ nghĩa Mác-Lênin” [42, tr 554]

Thế giớ i quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng là cơ sở đị nh hướng cho s inh viên những giá tri ̣ đa ̣o đức phù hợp với sự biến đổi và phát triển của đất nước Sự

đi ̣nh hướng về nhâ ̣n thức những giá tri ̣ đa ̣o đức nói trên có tác du ̣ng rất lớn đối với sinh viên; giúp họ hình thành nếp nghĩ, lối sống, hành vi, đa ̣o đức của người lao đô ̣ng mới đáp ứng yêu cầu sự nghiê ̣p công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa của đất nước Đối với sinh viên ngành y nói riêng , sự đi ̣nh hướng này có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi ngoài quá trì nh tu dưỡng đa ̣o đức nói chung, họ

Trang 31

còn luôn rèn luyện đạo đức nghề nghiệp Đứng trước thực trạng suy thoái về

đa ̣o đức hiê ̣n nay , viê ̣c xây dựng phẩm chất đa ̣o đức và lối sống lành ma ̣nh cho sinh viên là mô ̣t vấn đề hết sức k hó khăn Do tác đô ̣ng khách quan của cơ chế thi ̣ trường nên nhiều sinh viên có lối sống thực du ̣ng, ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân, sùng bái đồng tiền Khi được giáo dục thế giới quan khoa học thì sinh viên sẽ hình thành nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa Nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa là quan niệm của người ta về cuộc đời, ý nghĩa, mục đích của con người là phải đấu tranh để thực hiện một xã hội không còn áp bức, bóc lột giữa con người với con người, để đi đến một xã hội công bằng, ở đó con người có một cuộc sống đầy đủ về vật chất và có đời sống văn hoá tinh thần phong phú Từ đó sinh viên thấy được giá trị, ý nghĩa và mục đích cuộc sống của con người, "không có gì quý hơn độc lập tự do" và hình thành tình cảm, ý chí và đạo đức cách mạng Đó là "bức tường thép" để ngăn chặn lối sống vô đạo đức, thực dụng trọng đồng tiền trong sinh viên ngày nay Họ sẽ biết nêu cao tinh thần đấu tranh bảo vệ chân lý, bảo vệ cái đúng, cái tốt, lên án cái ác, cái xấu và cái tiêu cực, có thái độ kiên quyết, dứt khoát đấu tranh ngăn chặn

và đẩy lùi mọi cái tiêu cực, sa đọa, suy thoái về đạo đức và lối sống trong nhà trường cũng như ngoài xã hội

Mặt khác, giáo dục thế giới quan khoa học giúp họ biết sống đoàn kết, đoàn kết giữa cá nhân và tập thể, biết hoà chung vào sự phát triển của tập thể

từ lớp, khoa, trường đến toàn xã hội Nó giúp cho sinh viên biết giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và xã hội, biết đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, biết hy sinh cái riêng để phục vụ cái chung Thế giới quan khoa học giúp sinh viên biết yêu lao động, thường xuyên lao động, học tập một cách nghiêm túc, đem lại chất lượng và hiệu quả cao, từ đó họ có khả năng vươn lên làm chủ khoa học, công nghệ tiên tiến để xứng đáng với vị trí

và vai trò của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta

Trang 32

Tóm lại, thế giớ i quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng có vai trò hết sức quan tro ̣ng trong hoa ̣t đô ̣ng nhâ ̣n thức và thực tiễn của sinh viên ngành y Giáo dục thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng để ho ̣ có được mô ̣t lập trường cách ma ̣ng vững chắc,

có phương pháp luâ ̣n khoa ho ̣c, từ đó ho ̣ có niềm tin vào CN XH, vào sự lãnh

đa ̣o đúng đắn của Đảng ta Khi đã có niềm tin và lâ ̣p trường vững vàng thì sinh viên tham gia vào thực tiễn cuô ̣c sống với tư cách người lao đô ̣ng có trình đô ̣ cao phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đa ̣i hoá xã hô ̣i chủ nghĩa

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG ĐỐI VỚI VIỆC RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN NGÀNH Y TẾ HIỆN NAY (QUA THỰC TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐI ̣NH) VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

2.1 Thư ̣c tra ̣ng phát huy vai trò của thế giớ i quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng đối với viê ̣c rèn luyê ̣n đa ̣o đức của sinh viên ngành y tế hiê ̣n nay (qua thư ̣c tế tại Trường Đại ho ̣c Điều dưỡng Nam Đi ̣nh)

Để đánh giá về thực tra ̣ng phát huy vai trò của thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng đối với viê ̣c rèn luyê ̣n đa ̣o đức của sinh viên ngà nh y, cần căn cứ vào những tiêu chí chủ yếu như sau: những tiến bô ̣, những mă ̣t tích cực về hoa ̣t đô ̣ng nhâ ̣n thức và hoa ̣t đô ̣ng thực tiễn sau khi được trang bi ̣, bồi dưỡng thế giới quan duy vật biê ̣n chứng; mức đô ̣ niềm tin, lý tưởng của ho ̣ với chế đô ̣ XHCN , với Đảng cô ̣ng sản Viê ̣t Nam, với nghề nghiê ̣p mà họ đã lựa chọn ; cách xem xét, đánh giá và giải quyết các vấn đề của ho ̣ trong thực tiễn cuô ̣c sống, nhất là căn cứ vào mức đô ̣ hoàn thành nhiê ̣m vu ̣ ho ̣c tâ ̣p, tu dưỡng đạo đức của họ

2.1.1 Về mặt tích cực

2.1.1.1 Đa số sinh viên đươ ̣c trang bi ̣ một khối lượng tri thức khoa học

cơ bản cần thiết cho chuyên ngành của mình , nhất là họ được trang bi ̣ những kiến thức c ơ bản về lý luận chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh , đường lối quan điểm của Đảng , chính sách pháp luật của Nhà nước Do đó

đa số sinh viên đã biết liên hê ̣ , vâ ̣n du ̣ng những kiến thức khoa ho ̣c nói trên vào việc học tâ ̣p, hoạt động thực tiễn ; nhất là ho ̣ đã biết xem xét , đánh giá, giải quyết các vấn đề trong cuộc sống cũng như trong học tập mô ̣t cách khoa học, sáng tạo và hiệu quả

Sinh viên ngành y sau khi ra trường sẽ trở thành những người thầy thuốc có vai trò chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân, họ

Trang 34

đất nước đi theo con đườ ng CNXH Nhiê ̣m vu ̣ nă ̣ng nề nhưng vinh quang ấy chỉ có thể thực hiện được khi họ được trang bị đầy đủ về tri thức , phẩm chất, thể chất, đă ̣c biê ̣t là tri thức về thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng Vì cuộc cách mạng XHCN là cuộc cách mạng toàn diện nhất, sâu sắc nhất trong mọi mặt của đời sống xã hội, trong toàn bộ những điều kiện vật chất cũng như tinh thần của xã hội, trong tồn tại xã hội cũng như trong ý thức xã hội Đây là cuộc cách mạng lật đổ toàn bộ xã hội cũ, xoá bỏ nguồn gốc đẻ ra chế độ áp bức, bóc lột, thủ tiêu sự khác nhau về giai cấp, xoá bỏ mọi quan hệ đối kháng nảy sinh trên điều kiện kinh tế đó, mà còn thực hiện cuộc cách mạng trên toàn bộ lĩnh vực tinh thần, tư tưởng, tâm lý xã hội, tập quán, lối sống của xã hội cũ còn đang để lại tàn dư trong xã hội mới, tạo tiền đề để tiến tới giải phóng hoàn toàn con người

Chủ nghĩa Mác-Lênin khi được truyền bá vào Việt Nam đã tạo ra bước ngoặt vĩ đại cho cách mạng Việt Nam Đi theo con đường của chủ nghĩa Mác- Lênin, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên những trang sử oanh liệt Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với chúng ta - những người cách mạng, không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng Chính vì vậy ngay từ khi bước chân vào giảng đường đại học, ngoài những môn học thuộc chuyên ngành, một trong những kiến thức mà sinh viên được tiếp cận đó là các môn khoa học Mác-Lênin Viê ̣c ho ̣c tâ ̣p những môn khoa ho ̣c này góp phần hình thành thế giới quan khoa ho ̣c, nhân sinh quan

cô ̣ng sản chủ nghĩa và phương pháp luâ ̣n khoa ho ̣c cho sinh viên

Sự hình thành và phát triển thế giới quan được coi là một trong những tiêu chí quan trọng của quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người Trong thế giới quan có sự thống nhất của tri thức, niềm tin, lý trí và tình cảm Nhưng tri thức chỉ gia nhập thế giới quan khi chuyển thành niềm tin

và trên cơ sở có niềm tin, tri thức mới trở thành cơ sở cho hành động Như

Trang 35

vậy, niềm tin có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người, nhờ có nó, giúp con người có nghị lực, vượt mọi khó khăn trong cuộc sống để phấn đấu cho một lý tưởng cao đẹp

Nhân sinh quan cách mạng là hệ thống quan niệm về cuộc đời, về ý nghĩa mục đích cuộc sống của người cộng sản Nhân sinh quan cách mạng được hình thành trên cơ sở thế giới quan khoa học Mác - Lênin Theo chủ tịch Hồ Chí Minh "Không có lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thể

có lập trường giai cấp vững vàng" [42, tr.92] Sinh viên là đối tượng rất nhảy cảm, khát khao khám phá cái mới để tự khẳng định vị thế xã hội của mình Chính vì vậy lý luận Mác-Lênin giúp sinh viên xây dựng được thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa; xây dựng niềm tin khoa học, củng cố định hướng chính trị, tăng cường lập trường giai cấp vững vàng, giúp

họ sống, lao động và học tập vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, kiên trì độc lập dân tộc gắn liền với CNXH

Như trong giai đoạn hiện nay đứng trước tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến đổi (sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu), các thế lực thù địch đã tấn công vào sự nghiệp xây dựng CNXH của nước ta bằng chiêu bài "diễn biến hoà bình", được gọi là chiến tranh không tiếng súng Chúng âm mưu thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, chúng rêu rao cho rằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà chúng ta lựa chọn là không thể thực hiện được, chúng vu cáo Đảng ta chuyên quyền độc đoán, nhằm chia rẽ nhân dân với Đảng và Nhà nước; nói xấu, bôi nhọ Đảng và Nhà nước nhằm tách dân với Đảng Đặc biệt, chúng còn tấn công vào những người chủ tương lai của đất nước - thanh niên, sinh viên Nguy hiểm nhất là chúng đánh vào chính

tư tưởng, lối sống, đạo đức của sinh viên nhằm làm lung lay tinh thần kiên định chủ nghĩa xã hội của thanh niên, sinh viên Nhưng khi được trang bị những nội dung cơ bản về lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, sinh viên hiểu rõ bản

Trang 36

chất và cảnh giác trước những âm mưu "diễn biến hoà bình", giúp sinh viên

có sức "đề kháng" tốt, chiến thắng được âm mưu của các thế lực thù địch Từ

đó họ càng tin tưởng hơn vào công cuộc đổi mới và sự phát triển của đất nước, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn Theo kết quả khảo sát, trưng cầu ý kiến của Viện nghiên cứu Thanh niên thì số thanh niên tin tưởng, ủng hộ công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, hàng năm tăng lên đáng kể: năm

1990 tỷ lệ này là 71.4%, năm 1993 là 83.6%, năm 1995 là 92%, năm 2000 là 95.2% , năm 2002 là 96.4% [45, tr.56]

Theo kết quả một cuộc điều tra 600 sinh viên của các trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, Đại học Y Thái Bình, Cao đẳng Y tế Hà Nam sau khi học xong môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin thì 30,7% sinh viên tỏ ra hứng thú khi học môn học này, 56% tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta (phụ lục 2) Nhiều sinh viên đã hiểu được bản chất , quy luâ ̣t vâ ̣n đô ̣ng , phát triển chung nhất, khái quát nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy , trên cơ sở đó có được sự

đi ̣nh hướng đúng đắn về mă ̣t thế giới quan và phương pháp luâ ̣n trong viê ̣c tìm hiểu , nghiên cứ u những vấn đề cu ̣ thể của từng môn ho ̣c theo chuyên ngành đào tạo Thực tiễn cho thấy , từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức nhiều sinh viên đã nhâ ̣n thức được tính tất yếu dựa vào những

cơ sở thực tế khách quan, xuất phát từ những thuô ̣c tính và mối liên hê ̣ sẵn có của đối tượng , từ những qu y luâ ̣t vâ ̣n đô ̣ng và phát triển của bản thân đối tượng nghiên cứu để rút ra kết luâ ̣n , kiểm tra kết luâ ̣n và kiểm tra kết quả đa ̣t được, hiểu được vì sao la ̣i không thể dựa vào ý muốn , suy diễn chủ quan để rút ra kết luận, vì sao lại không được cắt xén gán ghép cho đối tượng những gì

mà chúng vốn không có Hầu hết sinh viên về cơ bản nắm được sự đối lập giữa quan điểm biê ̣n chứng và quan điểm siêu hình trong viê ̣c xem xét các sự

vâ ̣t, hiê ̣n tượng Từ chỗ hiểu được tính tất yếu khách quan của sự phát triển

Trang 37

thế giới, tính biện chứng mâu thuẫn của quá trình phát triển, sinh viên đã nhâ ̣n

ra được tính chất nghèo nàn, khô khan, chết cứng của quan điểm siêu hình Từ viê ̣c nghiên cứu phép biê ̣n chứng duy vâ ̣t , nhiều sinh viên đã nắm được cơ sở

lý luận và yêu cầu chủ yếu của các nguyên tắc , phương pháp luâ ̣n cơ bản của phép biện chứng duy vật như : nguyên tắc toàn diê ̣n , nguyên tắc phát tri ển, nguyên tắc li ̣ch sử cu ̣ thể Kết quả điều tra cũng cho thấy, có 37% sinh viên được hỏi xác định thái độ học tập nghiêm túc với các môn học này, 41% sinh viên các trường trên được hỏi cho rằng việc học tập kiến thức triết ho ̣c giúp ích rất nhiều cho ho ̣ trong viê ̣c bồi dưỡng thế giới quan và phương pháp luâ ̣n khoa ho ̣c (phụ lục 2) Những con số trên đã cho thấy rằng trong những năm gần đây, hầu hết sinh viên đã được bồi dưỡng, đào tạo một cách cơ bản, chính quy, có sự đổi mới sâu sắc cả nội dung chương trình và phương phương pháp giảng dạy các môn học nói chung và các môn khoa học Mác-Lênin nói riêng

Đa số sinh viên đã hiểu và nắm được thực chất những nội dung cơ bản của lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Từ đó họ đã biết liên hệ, vận dụng kiến thức khoa học nói trên vào thực tiễn cuộc sống, vào quá trình học tập của bản thân

Như vậy, mỗi môn khoa học trong chương trình đào tạo ở các trường

đa ̣i ho ̣c đều góp phần hình thành thế giới quan khoa học cho sinh viên ở những mức độ khác nhau Nhưng giáo dục các môn lý luận chính trị sẽ cung cấp cho sinh viên ngành y phương pháp và cách thức nhìn nhận để giải thích

tự nhiên và lịch sử một cách đúng đắn, cũng như trang bị cho họ phương pháp luận đúng đắn trong nghiên cứu khoa học và thực hành Đối với sinh viên, nắm được tinh thần của chủ nghĩa Mác cũng là để tiếp thu các môn khoa học khác có hiệu quả và chất lượng cao hơn Bởi vì, chủ nghĩa Mác-Lênin là thế giới quan khoa học và phương pháp luận chung cần thiết cho sự phát triển của các khoa học V.I.Lênin viết: "Triết học của Mác là một chủ nghĩa duy vật

Trang 38

triết học hoàn bị, nó cung cấp cho loài người và nhất là giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại" [30, tr.54] Hồ Chí Minh cũng đã từng nói:

"Nắm được tinh thần chủ nghĩa Mác-Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta" [40, tr.497] Như vậy, giảng dạy các môn khoa ho ̣c Mác-Lênin giúp cho sinh viên, có một thế giới quan khoa học, truyền thụ cho

họ một học thuyết cách mạng triệt để nhất, có tính khoa học và nhân văn sâu sắc nhất, giúp họ có những công cụ nhận thức và hoạt động trong thực tiễn luôn vận động và phát triển không ngừng; trên cơ sở đó, giúp sinh viên có thái

độ đúng đắn đối với hiện thực, có phương hướng chính trị vững vàng trong cuộc sống Đa số sinh viên Viê ̣t Nam nói chung, sinh viên ngành y nói riêng khi ra trường đều sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu để cống hiến sức trẻ và trí tuê ̣ của mình cho sự giàu có và phát triển của đất nước Nhờ được giáo du ̣c rèn luyê ̣n phẩm chất chính tri ̣, đa ̣o đức, lối sống trong nhà trường, họ đã biết đem những

lý luận đã học vận dụng vào thực tiễn cuộc sống Ở họ sẽ có sự thống nhất giữa học và hành; lời nói và viê ̣c làm, tích cực tham gia vào hoa ̣t đô ̣ng thực tiễn đa ̣t kết quả tốt Đồng thời khi được trang bị thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng giúp cho sinh viên rèn luyê ̣n năng lực giải quyết công viê ̣c của mình , cũng như tự rèn luyện bản thân tu dưỡng đạo đức để hoà nhập vào hoạt động chung của toàn xã hội

2.1.1.2 Đa số sinh viên nga ̀ nh y có niềm tin vững vàng vào chủ nghĩa

xã hội, vào mục tiêu , lý tưởng của Đảng , niềm tin vào cuộc sống , vào chính bản thân và vào chính nghề nghiệp của mình đã chọn Viê ̣c nắm vững những

nguyên tắc phương pháp luâ ̣n được rút ra từ thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng giúp phần lớn sinh viên nhâ ̣n thức đúng đắn thực tế khách quan của thời đa ̣i , của đất nước với tất cả những mối quan hệ giai cấp dân tộc , những tương quan lực lượng cu ̣ thể trong từng thời kỳ nhất đi ̣nh Trong thế giới quan duy

Trang 39

vâ ̣t biê ̣n chứng khẳng đi ̣nh sự phát triển của xã hô ̣i loài người là mô ̣t quá trình lịch sử tự nhiên với những quy luật nhất định Từ đó, luâ ̣n chứng về sự diê ̣t vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của chế đô ̣ xã hô ̣i chủ nghĩa và

cô ̣ng sản chủ nghĩa mà giai cấp công nhân là người gánh vác sứ mê ̣nh li ̣ch sử đó Nếu công lao của C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra những dự đoán thiên tài về m ột chế độ xã hội mới tốt đẹp thì V.I.Lênin bằng tài năng của mình đã phát triển, vâ ̣n du ̣ng tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thực tiễn nước Nga và cách ma ̣ng xã hô ̣i chủ nghĩa đã nổ ra và giành thắng lợi vẻ vang Thắng lợi của cách ma ̣ng tháng Mười Nga cùng với sức ma ̣nh và tính chất ưu việt của nhà nước công nông đầu tiên đã tạo ra điều kiện khách quan , chỗ dựa vững chắc, nguồn cổ vũ ma ̣nh mẽ đối với giai cấp vô sản và nhân dân lao đô ̣ng khắp các châu lục trên con đường giải phóng dân tộc và tiến lên xã hội chủ nghĩa Sự

ra đời của hê ̣ thống xã hô ̣i chủ nghĩa đã đóng góp to lớn vào viê ̣c giữ gìn hòa bình, bình đẳng và tiến bô ̣ xã hô ̣i, làm nức lòng triệu triệu trái tim trên thế giới

Mă ̣c dù hiê ̣n nay , chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu tan vỡ và chủ nghĩa xã hội đi vào thoái trào , nhưng đó chỉ là sự khủng hoảng trong sự trưởng thành nhất đi ̣nh, loài người vẫn tiến lên chủ nghĩa xã hội đó là quy luật phù hợp với dòng chảy lịch sử Sự kiên đi ̣nh và p hát triển con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn cùng với những thành công trong công cuộc đổi mới , cải cách ở Việt Nam và Trung Quốc đã càng củng cố lòng t in của nhân loa ̣i đối với tí nh ưu viê ̣t và trường tồn của chủ nghĩa xã hô ̣i Vì thế đa số thanh niên nước ta nói chung và sinh viên nói riêng có niềm tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào mục tiêu và lý tưởng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt với những thành tựu mà đất nước đã đạt được trong những năm qua làm cho họ ngày càng tin tưởng hơn vào công cuộc đổi mới và sự phát triển của đất nước, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn Theo ý kiến của 2000 thanh niên của 8 tỉnh, thành phố về tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội

Trang 40

của đất nước hiện nay thì “phần lớn thanh niên (72%) cảm thấy lạc quan, phấn khởi nhưng cũng có nhiều băn khoăn (22,7%); 5,3% bi quan, lo lắng Lý

do băn khoăn của thanh niên tập trung chủ yếu vào những vấn đề tiêu cực, tham nhũng và tệ nạn xã hội” [15, tr.16]

Viê ̣c thấm nhuần sâu sắc thế giớ i quan duy vâ ̣t biê ̣n chứn g giúp sinh viên hiểu được đúng bản chất của chủ nghĩa tư bản , các quy luật vận động khách quan của lịch sử để có niềm tin vững chắc vào sự lựa chọn con đường

đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta Từ đó ho ̣ ra sức ho ̣c tâ ̣ p, cống hiến vì mục tiêu cao cả , hình thành lý tưởng cô ̣ng sản , phấn đấu cho sự phát triển , tiến bô ̣ của bản thân và xã hô ̣i Qua số liệu điều tra có 67% sinh viên tin vào đất nước ta sẽ xây dựng thành công CNXH và tỏ thái độ kiên định theo mục tiêu, lý tưởng con đường cách mạng XHCN mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta

đã lựa chọn Đặc biệt có 82% sinh viên khi được hỏi đều trả lời hoàn toàn không tin vào số phận, thần thánh, trời phật, 10% cho rằng đôi khi cũng tin vào điều đó, chỉ có 8% trả lời có tin (Phụ lục 2) Như vậy phần lớn các em sinh viên đã xác định được cho mình lập trường lý tưởng đúng đắn từ đó định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của mình

Bên cạnh đó mô ̣t nét đặc thù của sinh viên là thường xuyên học t ập xa nhà Trong quãng đời sinh viên nhiê ̣m vu ̣ của ho ̣ không chỉ đơn thuần là ho ̣c

tâ ̣p mà còn phải bươn trải trước những khó khăn hoàn thành mu ̣c đích ho ̣c tâ ̣p của mình Trong những khó khăn ho ̣c tâ ̣p đó , những khó khăn thường xuyên

đă ̣t ra trước sinh viên , là họ phải biết nỗ lực khắc phục Bất kỳ sinh viên nào

để hoàn thành mục đích học tập phải có một ý chí phấn đấu vượt qua những khó khăn trong đời sống Nhiều sinh viên đi làm thêm , dạy thêm để giúp đỡ gia đình và phu ̣c vu ̣ cho quá trình ho ̣c tâ ̣p của m ình Trong ho ̣c tâ ̣p ho ̣ vượt qua những thử thách để đa ̣t được kết quả cao Tuy nhiên còn rất nhiều sinh viên sống thiếu ý chí , dễ thất ba ̣i trước những khó khăn bước đầu, dễ bi ̣ cám dỗ bởi những tê ̣ na ̣n xã hô ̣i Nhiều người câ ̣y thế ỷ la ̣i vào cha me ̣ không biết

Ngày đăng: 27/04/2020, 12:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo (2000), "Giáo dục đạo đức, nhân cách cho sinh viên đa ̣i học ở nước ta hiện nay - quan niê ̣m, vấn đề và giải pháp ", Tạp chí Lýluận chính trị, (39), tr.31-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức, nhân cách cho sinh viên đa ̣i học ở nước ta hiện nay - quan niê ̣m, vấn đề và giải pháp
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2000
2. Bô ̣ Y tế (1995), Sơ lược li ̣ch sử y tế Viê ̣t Nam , tâ ̣p 1, Nxb. Y ho ̣c, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược li ̣ch sử y tế Viê ̣t Nam
Tác giả: Bô ̣ Y tế
Nhà XB: Nxb. Y ho ̣c
Năm: 1995
3. Bô ̣ Y tế (1996), Sơ lược li ̣ch sử y tế Viê ̣t Nam , tâ ̣p 2, Nxb. Y ho ̣c, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược li ̣ch sử y tế Viê ̣t Nam
Tác giả: Bô ̣ Y tế
Nhà XB: Nxb. Y ho ̣c
Năm: 1996
4. Bun Nhôông Khin Samơn (1991), Xây dựng thế giới quan duy vật biê ̣n chứng cho đa ̉ng viên Đả ng nhân dân cách mạng Lào trong giai đoạn hiê ̣n nay, Luâ ̣n án phó tiến sĩ khoa ho ̣c Triết ho ̣c, Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng thế giới quan duy vật biê ̣n "chứng" cho đảng viên Đả ng nhân dân cách mạng Lào trong giai đoạn hiê ̣n nay
Tác giả: Bun Nhôông Khin Samơn
Năm: 1991
5. Hoàng Đình Cầu (1991), Đạo đức y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức y học
Tác giả: Hoàng Đình Cầu
Năm: 1991
7. Nguyễn Tro ̣ng Chuẩn (1988), “Mô ̣t số khía ca ̣nh về vai trò của sinh học hiê ̣n đa ̣i đối với sự hình thành và củng cố thế giới quan khoa ho ̣c ", Tạp chí Triết học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô ̣t số khía ca ̣nh về vai trò của sinh học hiê ̣n đa ̣i đối với sự hình thành và củng cố thế giới quan khoa ho ̣c
Tác giả: Nguyễn Tro ̣ng Chuẩn
Năm: 1988
8. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc (Đồng chủ biên, 2003), Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
9. Phạm Văn Chúc (1994), "Góp phần xây dựng phương án tối ưu trong giảng dạy, học tập môn triết học", Tạp chí Triết học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần xây dựng phương án tối ưu trong giảng dạy, học tập môn triết học
Tác giả: Phạm Văn Chúc
Năm: 1994
10. Lê Minh Cừ (2003), “Một số ý kiến về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên hiện nay”, Tạp chí Giáo dục, (60) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên hiện nay”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Lê Minh Cừ
Năm: 2003
11. Phạm Tất Dong (Chủ biên, 1995), Cải tiến công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân, Đề tài khoa học mã số NN.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tiến công tác giáo dục chính trị, tư "tưởng", đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân
12. Dương Tự Đam (2002), Định hướng giá trị cho thanh niên, sinh viên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị cho thanh niên, sinh viên "trong" thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2002
13. Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam (1997), Văn kiê ̣n Hội nghi ̣ Trung ương 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII , tr. 29, 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiê ̣n Hội nghi ̣ Trung ương 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam
Năm: 1997
14. Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam (2001), Văn kiê ̣n đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX , Nxb. Sư ̣ thâ ̣t, Hà Nội, tr.108-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiê ̣n đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thâ ̣t
Năm: 2001
15. Đoàn thanh niên Cô ̣ng sản Hồ Chí Minh (2005), Tổng quan tình hình thanh niên, công ta ́ c Đoàn và phong trào thanh thiếu niên 2002-2007 , Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tình hình thanh niên, công tá c Đoàn và phong trào thanh thiếu niên 2002-2007
Tác giả: Đoàn thanh niên Cô ̣ng sản Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2005
16. Nguyễn Ngo ̣c Hà (2002), "Những nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng suy thoái đạo đức ở nước ta hiện nay", Tạp chí Triết học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng suy thoái đạo đức ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Ngo ̣c Hà
Năm: 2002
17. Phạm Mỹ Hạnh (2000), "Đi ̣nh hướng giá tri ̣ của thanh niên trong thiên niên kỷ mới", Tạp chí Thanh niên, Hà Nội, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi ̣nh hướng giá tri ̣ của thanh niên trong thiên niên kỷ mới
Tác giả: Phạm Mỹ Hạnh
Năm: 2000
18. Nguyễn Văn Hiền (1992), Đạo đức học và y đức Việt Nam, Nxb. Y học, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học và y đức Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hiền
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1992
19. Nguyễn Ngo ̣c Hợi , Phan Minh Hùng (2002), "Vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường đại học", Tạp chí Giáo dục, (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường đại học
Tác giả: Nguyễn Ngo ̣c Hợi , Phan Minh Hùng
Năm: 2002
20. Nguyễn Tuấn Hùng (2001), "Góp phần đổi mới giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin", Tạp chí Giáo dục, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần đổi mới giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin
Tác giả: Nguyễn Tuấn Hùng
Năm: 2001
21. Ngô Gia Hy (1998), Nguồn gốc của y đứ c, sự đóng góp của nền y học và văn hóa Việt Nam, Nxb. Y ho ̣c, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của y đứ c, sự đóng góp của nền y học và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Ngô Gia Hy
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w