1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

208 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

rong khuôn khổ của Luận án này, tác giả tập trung nghiên cứu theo 03 nhóm vấn đề của QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KHCN là: (i) phân bổ quyền lực và tổ chức bộ máy quản lý; (ii) xây dựng hệ thống văn bản quản lý; và (iii) cơ chế tài chính công

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, dữ liệu trong Luận án được trích dẫn đầy đủ và trung thực của các học giả đi trước

mà tôi nghiên cứu Kết quả nghiên cứu chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về những lời cam đoan này

Tác giả

Lương Văn Thắng

Trang 4

Lời cảm ơn

Gửi lời tri ân bố và mẹ: vì họ mà tôi đã theo đuổi học Tiến sĩ

Gửi lời yêu thương vợ và các con: vì họ mà tôi quyết xong Luận án

Ghi ân PGS.TS Lê Thị Vân Hạnh: vì những lời khích lệ ấm áp

Ghi ân PGS Trần Quốc Thắng: vì được làm học trò trong học thuật và ngoài đời Nhớ ơn Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ KH&CN, nơi tôi đã có 20 năm công tác, cũng là nơi tôi được trải nghiệm sâu sắc nghề và nghiệp

Nhớ ơn sự nhiệt tâm của những người bạn thân thiết đã giúp đỡ tài liệu và hỗ trợ tôi trong quá trình điều tra khảo sát

Trân trọng cảm ơn thầy, cô trong Ban giám đốc, Khoa Đào tạo sau đại học, Khoa Khoa học hành chính, cô chủ nhiệm Lê Anh Xuân đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quãng thời gian học tập và hoàn thành Luận án

Tác giả

Lương Văn Thắng

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình vẽ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học 11

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của Luận án 13

7 Kết cấu của Luận án 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 15

1.1 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN 15

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước 15

1.1.2 Các công trình trong nước 19

1.2 Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN 25

1.2.1 Nghiên cứu ngoài nước 25

1.2.2 Các công trình trong nước 27

CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÍ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 36

2.1 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN 36

2.1.1 Khái niệm 36

2.1.2 Đặc điểm 39

2.1.3 Nội dung chủ yếu 42

Trang 6

2.2 Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN 45

2.2.1 Khái niệm 45

2.2.2 Vai trò 52

2.2.3 Đặc điểm 54

2.2.4 Nội dung chính 59

2.2.5 Nguyên tắc cơ bản 64

2.3 Kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho Việt Nam 73

2.3.1 Hoa Kỳ 73

2.3.2 Nhật Bản 77

2.3.3 Trung Quốc 82

2.3.4 Một số gợi suy cho Việt Nam 86

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC KH&CN CỦA VIỆT NAM 90

3.1 Thực trạng 91

3.1.1 Về phân bổ quyền lực và tổ chức bộ máy 91

3.1.2 Về hệ thống văn bản quản lý 100

3.1.3 Về hệ thống tài chính công 107

3.2 Nhận xét và đánh giá 113

3.2.1 Về phân bổ quyền lực và tổ chức bộ máy 113

3.2.2 Về hệ thống văn bản quản lý 118

3.2.3 Về hệ thống tài chính công 121

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC KH&CN VIỆT NAM 128

4.1 Một số xu thế thế giới tác động đến hợp tác quốc tế về KH&CN 128

4.2 Mục tiêu hợp tác quốc tế về KH&CN của Việt Nam đến năm 2030 133

Trang 7

4.3 Giải pháp đổi mới QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

của Việt Nam đến năm 2030 138

4.3.1 Về phân công quyền lực và tổ chức bộ máy 138

4.3.2 Về hệ thống văn bản quản lý 143

4.3.3 Về hệ thống tài chính công 150

KẾT LUẬN 158

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 164

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 165

PHỤ LỤC 183

Trang 8

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

EC: Ủy ban châu âu (European Commision)

EU: Liên minh châu âu (European Union)

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

FTA: Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement)

HTQT: Hợp tác quốc tế

KH&CN: Khoa học và công nghệ

NCPT: Nghiên cứu và phát triển (Research and Development)

NGO: Tổ chức phi chính phủ (Non-governmental Organization)

NSNN: Ngân sách nhà nước

ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistant)

OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

(Organisation for Economic Co-operation and Development)

QLNN: Quản lý nhà nước

TBT: Hàng rào kỹ thuật liên quan đến thương mại

(Technical Barrier to Trade)

UN: Liên hợp quốc (United Nations)

VUSTA: Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam

WTO: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)

Trang 9

4 Hiệu quả phối hợp giữa cơ quan QLNN với

đối tượng quản lý

Trang 10

Danh mục các hình vẽ

1 Các thành tố liên quan đến quản lý Hình 2.1 46

2 Đối tượng và khách thể của QLNN về hợp tác

quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

Hình 2.2 51

3 Khung phân tích QLNN về hợp tác quốc tế

trong lĩnh vực KH&CN

Hình 2.3 55

4 Yếu tố tác động đến hiệu quả QLNN Hình 2.4 63

5 Mô hình liên kết các yếu tố cơ bản của QLNN

về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

(Tháp ICD35333)

Hình 2.5 72

8 Hệ thống KH&CN Trung Quốc Hình 2.8 82

9 Tổ chức bộ máy quản lý và thực hiện hợp tác

quốc tế về KH&CN

Hình 3.1 96

10 Tương tác giữa hệ thống văn bản vĩ mô, vi mô

và hành lang cho hoạt động HTQT về

Trang 11

Hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

(KH&CN) cũng có vai trò như vậy Trong từng giai đoạn phát triển kinh tế -

xã hội (KT-XH) của đất nước, KH&CN giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế Theo đó, hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN ngày càng được chú trọng với mục đích góp phần nâng cao trình độ nghiên cứu trong nước theo chuẩn quốc tế, rút ngắn khoảng cách công nghệ với thế giới, cải thiện cơ

sở hạ tầng kỹ thuật, tăng cường tiềm lực KH&CN cho Việt Nam Thêm vào

đó, hợp tác quốc tế về KH&CN còn là một thành tố trong các hoạt động ngoại giao của đất nước khi các hiệp định hợp tác toàn diện, hiệp định đối tác chiến lược của Việt Nam với một số nước đã lấy KH&CN làm trụ cột Việt Nam cũng tích cực trong các hiệp định quốc tế về sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; hợp tác bảo tồn đa dạng sinh học; Trước những năm 1990, trong giai đoạn kinh tế còn gặp khó khăn, hợp tác quốc tế về KH&CN đã giúp Việt Nam tranh thủ được sự hỗ trợ của các

Trang 12

nước về trang thiết bị, đào tạo cán bộ kỹ thuật, chuyên gia, xây dựng cơ sở vật chất cho nghiên cứu, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển KH&CN về sau Giai đoạn Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, Việt Nam hụt hẫng

vì mất đi nguồn viện trợ lớn Hợp tác quốc tế về KH&CN đã góp phần khắc phục được tình trạng trên thông qua việc đa đạng hóa, đang phương hóa quan

hệ, mở rộng lĩnh vực hợp tác từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, từ hội thảo, đào tạo đến trình diễn công nghệ Thông qua đó, Việt Nam đã tăng cường thêm cơ sở vật chất kỹ thuật cho các tổ chức KH&CN, nâng cao trình độ cán bộ, thúc đẩy KH&CN trong nước, từng bước hội nhập quốc tế [3] Từ năm 2000 đến nay, hợp tác quốc tế về KH&CN đã đạt được nhiều kết quả đáng kể Việt Nam đã có quan hệ về hợp tác KH&CN với gần 70 nước, tổ chức quốc tế và vùng lãnh thổ Hơn 80 hiệp định hợp tác KH&CN cấp Chính phủ và cấp Bộ đã được ký kết Việt Nam đang là thành viên của gần 100 tổ chức quốc tế và khu vực về KH&CN

Tuy nhiên, kết quả của hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN thu được vẫn còn phân tán về nội dung, nguồn lực chất xám, nguồn lực tài chính và vì vậy chưa giải quyết những vấn đề lớn về KH&CN đang đặt ra trong nước Hợp tác quốc tế chưa thực sự trở thành một bộ phận của hoạt động KH&CN, một kênh không thể thiếu để huy động nguồn lực từ bên ngoài hỗ trợ thực hiện thành công các mục tiêu của ngành KH&CN quốc gia Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, hợp tác quốc tế về KH&CN của Việt Nam đứng trước những trách nhiệm lớn hơn Đó là cần phải tranh thủ hiệu quả được nguồn lực quốc tế phục vụ cho phát triển kinh tế; chủ động

‘khơi dòng’ các nguồn tri thức và công nghệ tiên tiến chảy vào đất nước, góp phần nâng cao năng lực hấp thụ tri thức công nghệ nhập khẩu, đưa KH&CN trong nước tiếp cận với KH&CN quốc tế Đồng thời, hợp tác quốc tế cần góp phần ngăn chặn được công nghệ lạc hậu từ nước ngoài, bảo đảm an ninh công

Trang 13

nghệ quốc gia, và trở thành một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng

KH&CN thế giới Đây là những khó khăn thách thức rất lớn của hoạt động

này trong thời gian tới, đòi hỏi Nhà nước cần phải đổi mới hoạt động quản lý

để gia tăng hiệu quả của hoạt động này

QLNN đối với hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN đã được đặt ra và thể chế hóa đầu tiên trong Luật KH&CN Việt Nam năm 2000

Luật đã dành riêng một chương để quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN (Chương V), đánh dấu mốc quan trọng của QLNN đối với hoạt động này Luật KH&CN sửa đổi năm 2013 cũng dành Chương VIII tiếp tục quy định về nội dung này nhưng được nâng cấp về quy mô quản lý Các Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Công nghệ cao đều có các quy định tạo hành lang để quản lý hợp tác quốc tế về KH&CN Bên cạnh đó, Chính phủ cũng phê duyệt một số Đề án, Chương trình tạo thêm công cụ quản

lý như Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030 (Quyết định 40/QĐ-TTg ngày 07/01/2016), Đề án hội nhập quốc tế về KH&CN đến năm 2020 (Quyết định 735/QĐ- TTg ngày 18/5/2011); hoặc một số chương trình quốc gia như Chương trình hợp tác song phương và đa phương (Quyết định 538/QĐ-TTg ngày 16/4/2014), Chương trình tìm kiếm

và chuyển giao công nghệ từ nước ngoài (Quyết định 1069/QĐ-TTg ngày 4/7/2014) QLNN đối với hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

đã đưa hoạt động này đạt được nhiều thành tựu đối với sự phát triển KH&CN, góp phần vào phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh công nghệ quốc gia

Tuy nhiên, QLNN đối với hoạt động này cũng đang đối diện với một số thách thức lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và hiệu suất của hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN, cụ thể là (i) có sự đan xen giữa QLNN đối với các ngành đối ngoại - KH&CN - kinh tế - an ninh dẫn đến các khoảng trống trong quản lý (chính sách chưa tác động đến), có trường hợp chồng chéo, mâu

Trang 14

thuẫn, chưa thúc đẩy để hình thành được một hành lang thông suốt cho hoạt động hợp tác quốc tế; (ii) bộ máy tham gia vào công tác QLNN có nhiều đầu mối, nhiều tổ chức hành chính trung gian, trải rộng từ trung ương đến địa phương tạo ra những cản trở nhất định; (iii) hệ thống văn bản pháp lý trực tiếp hoặc gián tiếp điều chỉnh hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN đồ sộ, khó phân tách, chồng chéo, thiếu một chiến lược xuyên suốt và lâu dài cho hoạt động này; (iv) chưa có một cơ chế tài chính công đủ mạnh, phù hợp với đặc

thù để phát huy tối đa hiệu quả của hợp tác quốc tế về KH&CN Thực tiễn đó

cho thấy nghiên cứu để đổi mới công tác QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN cho Việt Nam trong giai đoạn tới càng trở nên cần thiết hơn

1.2 Về mặt lí luận

Nghiên cứu về quản lý công thu hút được nhiều thế hệ các học giả trong

và ngoài nước và đã tạo nên những học thuyết, tư tưởng quản lý có ảnh hưởng lớn đến các nhà nước trong việc tổ chức hoạt động QLNN Tiêu biểu như Frederick Taylor với triết lý tập trung vào từng loại người cụ thể trong quá trình sản xuất (1911, “Principles of Scientific Management), Henri Fayol với triết lý tập trung vào tổ chức một cách tổng thể và luôn đặt ra các nguyên tắc quản lý cơ bản phải tuân thủ (1916, “Industrial and General Administration”), Max Weber với triết lý xem tổ chức như một bộ máy thư lại - Bureaucracy, gồm một hệ thống quyền hạn được phân bổ hợp lý (1947, “The Theory of Social and Economic Organization”), Một số học thuyết hay mô hình quản

lý đã được nêu ra có tác động mạnh mẽ đến cách thức quản lý trong các tổ chức nhà nước; điển hình như Học thuyết quản lý mới (Peter Martin) lấy lợi nhuận làm trung tâm; mô hình Quản lý công mới (New Public Management) với triết lý những gì khu vực tư nhân làm tốt cần được nghiên cứu để áp dụng vào khu vực công; mô hình Governance (tạm dịch là quản lý điều hành) nhấn mạnh đến các yếu tố “Tham gia”, “Minh bạch”, “Định hướng kết quả”, “Bình

Trang 15

đẳng”, “Hiệu quả”, “Trách nhiệm giải trình”, để xây dựng nên một hệ thống quản lý điều hành tốt (Good governance); hay mô hình chính phủ điện tử (e-Government) theo đó QLNN sử dụng công nghệ làm công cụ, chủ yếu là công nghệ thông tin sẽ được áp dụng tối đa nhằm tăng cường hiệu quả giao dịch giữa người dân với các tổ chức nhà nước và ngược lại

Kho tàng lí luận đó đã tạo cơ sở khoa học cho nhiều quốc gia trên thế giới trong những giai đoạn khác nhau nghiên cứu, áp dụng và thiết kế nên các

nội dung quản lý nhà nước Tuy vậy, lí luận liên quan đến QLNN dành cho

hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN vẫn còn rất mới - có thể do

đây là một góc hẹp trong nghiên cứu về quản lý công Ngoài ra, nghiên cứu

về QLNN trong các ngành, lĩnh vực thường đi theo lối cũ là đề cập đầy đủ các

nội dung của QLNN như (i) xây dựng văn bản pháp luật, xây dựng và tổ chức triển khai chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách; (ii) tổ chức nhân sự và

bộ máy; (iii) huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát triển ngành; (iv) thực hiện kiểm tra, giám sát; (v) thi đua, khen thưởng; (vi) tài chính công

Với tác giả, lối đi này đã không phù hợp để áp dụng cho nghiên cứu về QLNN

đối với hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN, vì nội dung này có đặc thù

riêng, và là một nội dung nhỏ đan xen trong tổng thể QLNN của các ngành, lĩnh vực rộng hơn như KH&CN, kinh tế - xã hội, an ninh hoặc đối ngoại

Do vậy, tác giả nhận thấy rằng nghiên cứu về đề tài này sẽ góp phần bổ sung thêm về mặt lí luận đối với QLNN

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

(i) Tìm ra được những nguyên tắc cơ bản để tổ chức và vận hành QLNN

về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

(ii) Chỉ ra được những giải pháp đổi mới công tác QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN ở Việt Nam giai đoạn 2018 - 2030

Trang 16

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

(i) Nghiên cứu cơ sở lí luận về

- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN (khái niệm, đặc điểm, nội dung)

- QLNN đối với hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN (khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc cơ bản để tổ chức và vận hành QLNN phù hợp với hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN, )

(ii) Nghiên cứu kinh nghiệm một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam liên quan đến QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN (iii) Nghiên cứu thực trạng QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2017; và phân tích đánh giá những điểm mạnh và điểm hạn chế tác động đến kết quả QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN ở Việt Nam

(iv) Nghiên cứu các mục tiêu, định hướng nội dung hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN của Việt Nam; và một số xu thế lớn trên thế giới tác động đến hợp tác quốc tế về KH&CN quốc gia trong giai đoạn 2018 - 2030

(v) Áp dụng cơ sở lí luận về những nguyên tắc tổ chức và vận hành QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN để đề xuất giải pháp đổi mới công tác QLNN đối với nội dung này ở Việt Nam giai đoạn 2018 - 2030

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

ở Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

(i) Về nội dung: Trong khuôn khổ của Luận án này, tác giả tập trung

nghiên cứu theo 03 nhóm vấn đề của QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN là: (i) phân bổ quyền lực và tổ chức bộ máy quản lý; (ii) xây dựng hệ thống văn bản quản lý; và (iii) cơ chế tài chính công

Trang 17

Để triển khai, tác giả chia Luận án thành 04 phần bao gồm: (i) tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước; (ii) cơ sở lý luận; (iii) thực trạng ở Việt Nam; (iv) giải pháp đổi mới QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Việt Nam Trong đó, ngoài phần “Tổng quan nghiên cứu”, 03 phần còn lại đều phân tích sâu vào 03 nhóm vấn đề nói trên

(ii) Về thời gian: Luận án tập trung vào giai đoạn từ 2000 (từ sự ra đời

của Luật KH&CN đầu tiên, bắt đầu chiến lược KH&CN 10 năm lần thứ nhất

2001 - 2010) cho đến năm 2030 (thời điểm kết thúc của tầm nhìn chiến lược KH&CN đến 2030)

(iii) Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động QLNN về

hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN ở Việt Nam

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận án sử dụng phương pháp luận tư duy, nhận thức và nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, hợp tác quốc tế; quan hệ giữa đối nội và đối ngoại; quản lý nhà nước, mô hình nhà nước, tổ chức bộ máy nhằm tìm hiểu và luận giải các vấn đề liên quan đến hợp tác quốc tế về KH&CN, các lý thuyết về hành chính/quản lý công theo tư duy biện chứng có tính khách quan, toàn diện, đảm bảo sự gắn kết với các điều kiện hoàn cảnh

cụ thể của Việt Nam về KT-XH và KH&CN trong từng giai đoạn

Tác giả cũng áp dụng hệ quan điểm khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến quản lý nhà nước, tổ chức bộ máy, cải cách hành chính, tầm nhìn và định hướng phát triển KT-XH và KH&CN của Việt Nam để định hướng nghiên cứu

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả đã sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Trang 18

(i) Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Tổng hợp tư liệu trong và

ngoài nước chiếm một phần rất lớn trong Luận án Thông qua đó, tác giả đặt mục tiêu là sẽ hệ thống được (i) cơ sở lí luận liên quan đến hợp tác quốc tế về KH&CN và QLNN đối với nội dung này; (ii) thực trạng của Việt Nam về QLNN đối với hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN giai đoạn 2000 - 2017,

và các thông tin về mục tiêu, định hướng hợp tác quốc tế về KH&CN của Việt Nam trong giai đoạn 2018 - 2030 Để triển khai, tác giả đã tổng hợp các tài liệu nghiên cứu, công bố trên các tạp chí uy tín trong nước và nước ngoài viết về khái niệm, đặc điểm, nội dung chính của hợp tác/hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa, hợp tác quốc tế về KH&CN, các tài liệu về các lý thuyết, mô hình QLNN Đồng thời, tác giả cũng nghiên cứu các Văn kiện đại hội, Nghị quyết của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết/đề án của Chính phủ, báo cáo tổng hợp của các Bộ, ngành địa phương liên quan đến QLNN, cải cách hành chính, tài chính công, mục tiêu chiến lược phát triển KT-XH, đối ngoại, an ninh, KH&CN của Việt Nam; các sách tham khảo, luận án tiến

sĩ liên quan đến đề tài Luận án

(ii) Phương pháp điều tra xã hội học: Đây là phương pháp rất hữu ích để

tác giả làm rõ hơn được thực trạng QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN ở Việt Nam (tập trung giai đoạn 2000 - 2017), đồng thời có được nhận định chính xác hơn về các định hướng đổi mới QLNN đối với nội dung này giai đoạn 2018 - 2030 Trong khuôn khổ Luận án, tác giả tiến hành điều tra xã hội học với những người có kinh nghiệm, bao gồm những cán bộ trực tiếp làm quản lý hợp tác quốc tế ở các trường đại học/viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, và một số cán bộ, công chức làm việc ở Bộ, ngành trực tiếp QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực liên quan đến KH&CN Số phiếu phát ra dự kiến là 700, số phiếu nhận về dự kiến hơn 550 (tỷ lệ phản hồi 78%), trong đó đặc biệt đối với 100 chuyên gia kinh nghiệm về hợp tác quốc

Trang 19

tế, tác giả sẽ tập trung ưu tiên để có tỷ lệ cao hơn nhằm củng cố thêm nhận định về các hướng giải pháp đổi mới QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN đến năm 2030 Từ các số liệu thu về, tác giả sẽ sử dụng các phương pháp thống kê định lượng và tạo nên các sơ đồ/bảng biểu để phân tích đánh giá Tác giả điều tra trên 03 trụ cột chính gồm: (i) tổ chức bộ máy và quyền ra quyết định; (ii) hệ thống văn bản quản lý; (iii) cơ chế tài chính công, trong đó

đi sâu vào 03 khía cạnh: thực trạng, đánh giá và giải pháp Bên cạnh đó, tác giả cũng kế thừa kết quả điều tra xã hội học của những học giả đi trước phục

vụ cho việc phân tích và chứng minh các luận điểm của mình trong Luận án

(iii) Phương pháp chuyên gia: Do nội dung chính của Luận án có thể

xem là mới, vì vậy nghiên cứu phân tích tài liệu và điều tra khảo sát xã hội học vẫn chưa cung cấp hoàn toàn đầy đủ cơ sở để khẳng định các nguyên tắc chính trong tổ chức và vận hành QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN, đặc biệt là các giải pháp chính để đổi mới QLNN đối với nội dung này Để bổ sung thêm luận cứ, tạo cơ sở khoa học chắc chắn, tác giả đã tiến hành phỏng vấn chuyên sâu với 06 chuyên gia có kinh nghiệm nghiên cứu và thực tiễn về QLNN trong lĩnh vực ngoại giao (01 người), kinh tế (01 người), KH&CN (02 người), an ninh - quốc phòng (01 người), và 01 chuyên gia quốc

tế làm việc tại Ngân hàng thế giới (WB) Sau khi có ý kiến các chuyên gia, tác giả đã tập hợp, nghiên cứu theo hướng hợp lý và khoa học nhất Từ đó chủ động đề xuất các giải pháp đổi mới QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN cho Việt Nam giai đoạn đến năm 2030

(iv) Phương pháp lịch sử: Mặc dù nghiên cứu về các nguyên tắc cơ bản

để tổ chức và vận hành công tác QLNN đối với hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN là một nội dung mới, nhưng nghiên cứu về QLNN nói chung đã được nhiều học giả thực hiện từ rất lâu cũng như nhiều quốc gia áp dụng ở những giai đoạn lịch sử khác nhau Ngoài ra, quan điểm, đường lối, chính

Trang 20

sách của Việt Nam liên quan đến QLNN, đến phát triển đối ngoại, KH&CN

và về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN ở những thời kỳ cũng cần phải được tìm hiểu theo trình tự thời gian, gắn kết với bối cảnh cụ thể Do vậy, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử để đảm bảo được tính hệ thống, tránh phiến diện Thêm vào đó, mục đích nghiên cứu chính của Luận án là tìm

ra các nguyên tắc cơ bản để từ đó chỉ ra được một số giải pháp đổi mới QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN của Việt Nam giai đoạn

2018 - 2030 Do vậy, Luận án sẽ triệt để sử dụng phương pháp này để đảm bảo theo tiến trình lịch sử của nội dung vấn đề cần nghiên cứu, phù hợp với thực tiễn của đất nước

(v) Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp: Trên cơ sở tổng hợp

được thông tin từ nhiều tài liệu, công bố của các nghiên cứu đi trước, dữ liệu điều tra xã hội học, kết quả phỏng vấn chuyên sâu với một số chuyên gia, tác giả cần chỉ ra được các khái niệm, đặc điểm chính, nội dung cơ bản của hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN, đặc biệt là QLNN đối với nội dung này để

có thể đúc rút thành các nguyên tắc tổ chức và vận hành QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Vì vậy, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá để xem xét tất cả các vấn đề liên quan ở khía cạnh khoa học quản lý Tác giả cũng đã triệt để áp dụng phương pháp so sánh để tìm ra những điểm chung và những điểm riêng đặc thù của QLNN về hợp tác quốc

tế trong lĩnh vực KH&CN so với QLNN về KH&CN, an ninh - quốc phòng,

và ngoại giao nhà nước Việc sử dụng các phương pháp nói trên đã giúp tác giả tổng hợp thành các kết luận, đề xuất phù hợp với lí luận và thực tiễn về QLNN đối với hợp tác quốc tế về KH&CN của Việt Nam

(vi) Phương pháp dự báo: Do mục tiêu chính của Luận án là đề xuất

được giải pháp đổi mới QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN của Việt Nam trong hơn 10 năm tới, nên phương pháp này được tác giả sử dụng

Trang 21

để dự báo được một số xu thế trên thế giới có khả năng tác động đến hợp tác quốc tế về KH&CN của Việt Nam trong thời gian tới Ngoài ra, bằng phương pháp này, tác giả cũng sẽ tổng hợp thông tin về mục tiêu và định hướng kinh

tế, KH&CN, đối ngoại của Việt Nam đến năm 2030, từ đó tập trung dự báo mục tiêu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Kết quả dự báo sẽ là thông tin đầu vào để tác giả đưa ra những nhận định và đề xuất của mình

(vii) Ngoài các phương pháp nêu trên, để hoàn thành Luận án, tác giả đã kết hợp thêm một số phương pháp khác như thống kê, quan sát,

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

5.1 Câu hỏi nghiên cứu:

(i) QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN cần được tổ chức thực hiện trên những nguyên tắc nào?

(ii) Trong giai đoạn 2018 - 2030, những giải pháp cơ bản để đổi mới QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN ở Việt Nam là gì?

5.2 Giả thuyết khoa học:

Luận án được xây dựng trên cơ sở các giả thuyết khoa học sau đây:

(i) QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN có tính liên ngành cao, phụ thuộc một phần vào các quy định quốc tế (do có thỏa thuận với đối tác nước ngoài), và có tính “hỗ trợ” nổi trội hơn “cai trị” Bản thân hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN cũng có những đặc điểm riêng, có sự liên quan chặt chẽ với KH&CN, kinh tế - xã hội, ngoại giao và an ninh Do vậy, QLNN cần phải bám sát các nội dung chính cũng như phù hợp với những đặc điểm của hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN để giúp phát huy đầy đủ chức năng của loại hoạt động này đối với phát triển KH&CN, kinh tế - xã hội, an ninh và đối ngoại quốc gia Để đảm bảo điều đó, QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN cần được thực hiện trên một số nguyên tắc sau:

Trang 22

- Nguyên tắc thứ nhất: Kết hợp giữa tập quyền và phân quyền trong phân

bổ quyền lực và tổ chức bộ máy quản lý, trong đó tập quyền tập trung một số

ít nội dung, đẩy mạnh phân quyền triệt để;

- Nguyên tắc thứ hai: Đồng bộ hóa các quy định vĩ mô, tối giản các quy

định vĩ mô trong hệ thống văn bản quản lý;

- Nguyên tắc thứ ba: Tạo lập cơ chế tài chính công sử dụng đồng thời “lực

đẩy” và “lực hút” của ngân sách và phân bổ tài chính dựa trên kết quả đầu ra (ii) Giai đoạn 2018 - 2030, Việt Nam có nhiều mục tiêu quan trọng để trở thành một quốc gia thịnh vượng, hiện đại, sáng tạo và dân chủ; trong đó hợp tác quốc tế về KH&CN là một bộ phận trong 3 nội dung chủ lực là (1) phát triển KH&CN và đổi mới sáng tạo (innovation), (2) phát triển kinh tế, và (3) thúc đẩy công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế Đây là giai đoạn Việt Nam đẩy mạnh cải cách hành chính và quản lý nhà nước như là một trong những giải pháp chính để đạt được mục tiêu phát triển đã đề ra

Trong giai đoạn này, QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN của Việt Nam cần bám sát các mục tiêu đặt ra cho hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN, đảm bảo đúng định hướng cải cách hành chính công của Việt Nam, đồng thời cần đổi mới theo một số hướng giải pháp như sau:

- Trong phân bổ quyền lực và tổ chức bộ máy quản lý: Cơ quan QLNN

chỉ nên giữ quyền ra quyết định đối với một số ít nội dung, phân cấp đồng bộ đến trực tiếp cho các đơn vị/tổ chức thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN; giảm đầu mối cơ quan quản lý trung gian; khuyến khích sự ra đời và tham gia của các đơn vị sự nghiệp tự chủ, doanh nghiệp tư nhân xúc tiến hợp tác quốc tế về KH&CN;

- Trong xây dựng hệ thống văn bản quản lý: giảm số lượng văn bản vĩ mô

(chỉ nên tập trung vào một số ít văn bản lớn quy định mục tiêu chiến lược, nguyên tắc phân bổ kinh phí, cơ chế giám sát kết quả đầu ra, ); hình thành một

Trang 23

số chương trình hợp tác quốc tế về KH&CN có mục tiêu chiến lược dài hạn (đây là một hình thức xây dựng các văn bản vĩ mô có tính hành động cao);

- Trong sử dụng tài chính công: cần đồng bộ hóa và đơn giản hóa các quy

định về sự dụng ngân sách cho hợp tác quốc tế về KH&CN; áp dụng triệt để cơ chế cấp phát ngân sách dựa vào hiệu quả chi tiêu ngân sách quốc gia; sử dụng tối ưu ngân sách quốc gia thông qua các hình thức vốn đối ứng (matching grant) để huy động các nguồn tài chính ngoài ngân sách (trong đó có một phần lớn từ đối tác nước ngoài); hình thành một số cơ chế tài chính “đặc biệt” cho một số chương trình hợp tác quốc tế về KH&CN có tính chiến lược lâu dài (nhập khẩu công nghệ, thu hút chuyên gia giỏi nước ngoài, )

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của Luận án

6.2 Về mặt thực tiễn: Luận án góp phần:

Làm rõ thực trạng QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2017 ở cả 03 khía cạnh: (i) phân bổ quyền lực và tổ chức bộ máy; (ii) hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để thực thi quản lý nhà nước; và (iii) hệ thống cơ chế tài chính công có liên quan Tác giả cũng đưa ra

nhận xét đánh giá về những “điểm mạnh” và “điểm hạn chế” của QLNN về

hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Việt Nam

Trang 24

- Đề xuất được một số hướng giải pháp cụ thể để đổi mới công tác QLNN

về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN ở Việt Nam giai đoạn 2018 - 2030 Các đề xuất này được xây dựng trên cơ sở lý luận đã được nghiên cứu và dựa

vào kết quả phân tích đánh giá những “điểm mạnh” và “điểm hạn chế” của hệ

thống QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN giai đoạn vừa qua Tác giả hi vọng những đề xuất của mình sẽ có giá trị tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý có liên quan đến hoạt động hợp tác quốc

tế về KH&CN trong quá trình thực thi công việc ở Việt Nam

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, Luận án được chia thành các chương như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lí luận quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ của Việt Nam

Chương 4: Giải pháp đổi mới công tác quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ của Việt Nam

Kết luận

Trang 25

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước

Archibugi D và Iammarino S trong bài viết “The Policy imlications of

the globalization of innovation” (Gợi suy về chính sách toàn cầu hóa đổi mới

sáng tạo) trên Tài liệu nghiên cứu của Trường đại học Cambridge đã nghiên cứu về hợp tác quốc tế và toàn cầu hóa trong lĩnh vực KH&CN và đổi mới sáng tạo (innovation) từ đó đưa ra khuyến nghị chính sách Họ cho rằng cách thức để các công ty đưa kết quả sáng tạo của mình ra thị trường quốc tế là xuất khẩu sản phẩm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp (FDI là một kênh quan trọng) Còn đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư, sự ổn định về kinh tế và thể chế, năng lực công nghệ là yếu tố quan trọng để thúc đẩy hợp tác Hợp tác quốc tế về KH&CN cần lưu ý rằng trong thế giới hàn lâm, hoạt động chuyển giao tri thức giữa các học giả có thể không yêu cầu chi phí Tuy nhiên, điều này có thể khác so với hợp tác giữa các doanh nghiệp Toàn cầu hóa KH&CN

và đổi mới sáng tạo đều mang lại cơ hội và thách thức Các nước phát triển có lợi thế vì họ nắm nhiều cơ hội mang lại từ việc năng lực công nghệ quốc gia rất tiên tiến, tạo ra được những công nghệ chuyên biệt và đặc biệt (niche and specification technology) Tiến trình toàn cầu hóa trong lĩnh vực KH&CN và đổi mới sáng tạo đã tạo nên sức ép cho QLNN vì đều có tác động đối với đời sống kinh tế - xã hội Trong bối cảnh đó, các chính phủ phải giải quyết các vấn đề như tài chính công, thu hút đầu tư nhà nước, phát triển giáo dục, bảo

vệ công nghệ bản địa, bảo vệ các doanh nghiệp trong nước, thậm chí bảo vệ các phòng thí nghiệm NCPT

Chọn đối tượng là tập đoàn đa quốc gia, trong công trình công bố của

mình, tiêu biểu như bài viết “Globalization of R&D: recent changes in the

Trang 26

management of innovation in transnational corporations” (Toàn cầu hóa

NCTK: những thay đổi mới nhất trong quản lý đổi mới sáng tạo ở các tập

đoàn xuyên quốc gia) trên Tạp chí Elsevier, Gerybadze, Alexander và Reger,

Guido đã chỉ ra sự mạnh mẽ và tất yếu của toàn cầu hóa về NCPT, thông qua

đó khẳng định hợp tác quốc tế về KH&CN là cần thiết với nhiều quốc gia, phát triển cũng như đang phát triển Kết quả của nghiên cứu này cho thấy các tập đoàn công nghệ đa quốc gia có xu hướng thành lập các đơn vị NCPT ở ngoài lãnh thổ mặc dù ban đầu chỉ giới hạn ở việc thích hợp sản phẩm và công nghệ xử lý ở quốc gia sở tại, sau đó mở rộng hơn trên phạm vi toàn cầu Động cơ chính là: tìm kiếm thị trường mới, kiểm tra và thử nghiệm các ý tưởng sản phẩm mới, tham gia ngay từ đầu ở những quốc gia có khe hở về quy định (regulatory niche), tiếp cận tới nguồn lực độc đáo, kết quả nghiên cứu mới và nguồn nhân lực chất lượng cao ở các trung tâm nghiên cứu xuất sắc Điều này đã thúc đẩy nhu cầu phải hợp tác giữa các quốc gia về KH&CN Các tác giả cũng chỉ ra một số hình thức có thể hợp tác trong KH&CN như: tiếp cận các hoạt động NCPT tiên tiến được đặt tại các quốc gia phát triển có năng lực NCPT mạnh; hoặc dựa vào các nghiên cứu được thực hiện ở những quốc gia nhỏ, thậm chí có năng lực NCPT thấp hơn Nghiên cứu đã đưa ra một số gợi ý cho chính sách công về KH&CN, trong đó cho rằng cần tập trung chính sách vào các quy trình NCPT và đổi mới công nghệ ở những công đoạn gần với thị trường, cần chú trọng xác lập vị trí dẫn đầu một cách bền vững trong một số lĩnh vực dựa trên năng lực NCPT, các doanh nghiệp sở hữu công nghệ và thị trường

Một số nghiên cứu khác như của Cees van Beers và đồng nghiệp trong

bài “R&D internationalization, R&D collaboration and public knowledge

institution in small economies: evidence from Finland and the Netherlands”

(quốc tế hóa NCTK, hợp tác về NTK và thể chế tri thức công ở các nền kinh

Trang 27

tế nhỏ: bằng chứng từ Phần Lan và Hà Lan) trên Research Policy, Von Zedtwitz và Gassmann với “Market versus technology drive in R&D

internationalization: four different patterns of managing research and development” (Động lực thị trường và công nghệ trong quốc tế hóa về

NKTK: bốn mô hình quản lý NCTK khác nhau) trên Research Policy cùng

một số học giả khác đã đề cập sâu hơn về vai trò của các tập đoàn đa quốc gia trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về KH&CN qua các giai đoạn, đồng thời

đề cập đến cách thức một quốc gia cần lưu ý để tận dụng hợp tác quốc tế nhằm tăng năng lực công nghệ bản địa Các công bố đã hệ thống rằng cho đến giữa thập kỷ 80, tri thức và hoạt động NCPT quan trọng được thực hiện chủ yếu tại chính quốc, hoạt động liên quan đến công nghệ ở nước ngoài chỉ là thích hợp và vì vậy vẫn phụ thuộc vào trụ sở chính Từ giữa thập niên 80 trở

về sau, xu thế này thay đổi theo hướng đầu tư thêm cho các cơ sở NCPT ở nước ngoài được tăng cường để tìm kiếm công nghệ, tranh thủ nguồn nhân lực tài năng, khai thác hệ thống đổi mới sáng tạo của nước sở tại Điều này thúc đẩy sự hợp tác ngày càng tăng giữa doanh nghiệp nước ngoài với các trường đại học/viện nghiên cứu trong nước Do đó, năng lực NCPT quốc gia trở thành điểm then chốt để thu hút FDI có chất lượng

Với góc nhìn biện chứng, Hsu Chia-Wen, Lien Yung-Chih và Chen

Homin trong bài viết “R&D internationalization and innovation

performance” (quốc tế hóa về NCTK và năng lực đổi mới sáng tạo) trên International Business Review đã tiến hành nghiên cứu tác động của hợp tác

và hội nhập quốc tế về KH&CN đến năng lực đổi mới sáng tạo Một mặt, các tác giả thừa nhận cạnh tranh toàn cầu khốc liệt đã thúc đẩy doanh nghiệp tìm kiếm tri thức ở nước ngoài Vì vậy, hợp tác quốc tế về KH&CN, mà trọng tâm

là NCPT được đẩy mạnh hơn Mặt khác, Hsu và đồng nghiệp tái khẳng định không chỉ các nước phát triển, mà cả các nước đang phát triển cũng thúc đẩy hợp tác quốc tế về KH&CN bởi vì thông qua đó, họ có thể sở hữu được nguồn

Trang 28

lực quan trọng, bù đắp cho những thiếu hụt của người đi sau và tận dụng được việc sở hữu những lợi thế cạnh tranh chiến lược trên thị trường toàn cầu Hợp tác quốc tế về NCPT có tác động hình chữ U (U-shape) đối với năng lực đổi mới sáng tạo, hợp tác quốc tế giúp đảm bảo tăng tính sáng tạo cho doanh nghiệp và giúp họ bù đắp được những yếu điểm trong cạnh tranh quốc tế Von Zedtwitz M và Gassmann O trong các nghiên cứu của mình về

toàn cầu hóa và hợp tác quốc tế về KH&CN, ví dụ như trong bài viết “Market

versus technology drive in R&D internationalization: four different patterns

of managing research and development” trên Research Policy đã chấp nhận

góc nhìn khác của De Meyer và Mizushima về vấn đề này Đó là: toàn cầu hóa về KH&CN được nhìn nhận là sự chịu đựng hơn là sự hài lòng Họ cho rằng thiết lập mạng lưới KH&CN quốc tế cũng như quản lý các dự án hợp tác quốc tế về KH&CN không hề đơn giản và luôn tiềm ẩn rủi ro Tuy nhiên, hai học giả khẳng định lợi ích tiềm năng mang lại từ hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN là quá lớn để có thể bỏ qua, đồng thời chỉ ra 4 xu hướng chính của hoạt động này, bao gồm: (i) hợp tác nghiên cứu khoa học (thành lập các đơn

vị nghiên cứu ở nước ngoài); (ii) hợp tác phát triển công nghệ (thành lập đơn

vị phát triển công nghệ ở nước sở tại); (iii) phát triển công nghệ dựa vào các kết quả nghiên cứu (thành lập nhiều tổ chức phát triển công nghệ đặt cạnh các

cơ quan nghiên cứu xuất sắc ở nước ngoài); (iv) nghiên cứu phục vụ nhu cầu phát triển công nghệ (hợp tác với các tổ chức khoa học đủ mạnh để hỗ trợ phát triển và bảo hành công nghệ) Tác giả chỉ ra sự khác biệt giữa hợp tác về nghiên cứu khoa học với hợp tác phát triển công nghệ, từ đó cho rằng quản lý

và xây dựng chính sách cần khác nhau giữa hai loại hình hợp tác này

Carlsson Bo dành nhiều nghiên cứu về Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (NIS) và nhu cầu hợp tác quốc tế của NIS Trong công bố

“Internationalization of innovation system: a survey of the literature” (quốc tế

hóa hệ thống đổi mới sáng tạo: khảo sát các bài viết) trên Research Policy,

Trang 29

Carlson Bo chỉ ra rằng các quốc gia nhỏ thường chịu tác động lớn từ dòng chảy mạnh mẽ của tri thức KH&CN và những công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài Trong khi đó, các quốc gia lớn hơn có tính tự chủ về công nghệ cao hơn nên ít chịu ảnh hưởng Tuy nhiên, hợp tác quốc tế về KH&CN vẫn là tất yếu,

do bản thân hệ thống NIS càng ngày càng có ít tính quốc gia hơn Hình thức hợp tác quốc tế cũng khác nhau về mật độ Hợp tác về khoa học nhiều hơn so với hợp tác về công nghệ Điều này cũng phản ánh bản chất của tri thức thuần túy và sự hỗ trợ của chính phủ cho hợp tác quốc tế chủ yếu dành cho các đơn vị công lập hoặc bán công lập Carlson Bo đã chỉ ra những rào cản đối với hợp tác quốc tế về KH&CN như thể chế (bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, giáo dục đại học), năng lực những ngành công nghiệp có hàm lượng R&D cao (như công nghệ sinh học, phần mềm và máy tính)

1.1.2 Các công trình trong nước

Cho đến nay, các nghiên cứu trong nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN chủ yếu nêu bật các kết quả của loại hình hoạt động này, hoặc đánh giá về vai trò đối với sự phát triển của KH&CN, đào tạo nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội Nghiên cứu về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN thường được đề cập bổ sung trong các công trình nghiên cứu về KH&CN nói chung, thay vì có những nghiên cứu tổng thể dành riêng cho đối tượng này Xin tóm tắt một số nghiên cứu chính như sau:

“Tổng luận các mô hình hợp tác quốc tế về KH&CN và vai trò của chính sách quốc gia trong việc thu hút R&D nước ngoài” do Đặng Bảo Hà biên soạn

năm 2007 đến nay vẫn được xem là một công bố trong nước đề cập khá tổng thể về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Tổng luận đề cập đến định nghĩa hợp tác quốc tế về KH&CN, nhấn mạnh về vai trò, hình thức, đối tượng cũng như khẳng định một số yếu tố mới tác động đến xu hướng và hình thức hợp tác quốc tế về KH&CN (như phương pháp tạo ra tri thức mới, sự phát

Trang 30

triển của công nghệ thông tin và truyền thông, mạng lưới liên kết toàn cầu) Ngoài ra, Tổng luận cũng đề cập đến các mô hình hợp tác quốc tế về KH&CN trên thế giới và thông qua đó nêu vai trò của chính sách quốc gia trong việc thu hút hoạt động NCTP Hợp tác quốc tế được nhìn nhận là mở ra nhiều cơ hội cho các quốc gia đang phát triển (và mặt khác cũng tạo ra những khó khăn cho chính phủ của quốc gia này) như nhập khẩu nguồn nhân lực quốc tế về KH&CN; thành lập các trung tâm xuất sắc đạt chuẩn quốc tế, có sự kết nối mạng lưới tri thức tiên tiến toàn cầu; hay thúc đẩy hoạt động hợp tác NCPT với các tập đoàn đa quốc gia thông qua việc thực thi hiệu quả chính sách bảo

hộ quyền sở hữu trí tuệ; Do vậy, hợp tác quốc tế về KH&CN cần phải được xây dựng một cách kỹ lưỡng như một chiến lược quốc gia nhằm tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa những tác động không mong muốn

Trần Hữu Cận, Đỗ Minh Cương, Hồ Mỹ Duệ, Phạm Chí Trung nghiên cứu về phát triển KH&CN hay đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức KH&CN của Việt Nam đã đề cập đến hợp tác quốc tế như là một bộ phận của

hoạt động KH&CN Trần Hữu Cận với Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện hệ

thống tổ chức quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ nhằm phục vụ cho

sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”, Hồ Mỹ Duệ với Luận

án khoa học kinh tế “Đổi mới quản lý nhà nước về nghiên cứu triển khai các

hoạt động khoa học - công nghệ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Đỗ

Minh Cương với Luận án tiến sĩ khoa học triết học “Vai trò của quản lý đối

với sự phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta”, Phạm Chí Trung với

Luận án tiến sĩ kinh tế “Đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức nghiên

cứu và phát triển ở Việt Nam” Các tác giả đều khẳng định vai trò quan trọng

của hợp tác quốc tế trong phát triển KH&CN, do đó Nhà nước cần có các chính sách thúc đẩy hợp tác quốc tế Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp thu KH&CN tiên tiến, lựa chọn kỹ thuật,

Trang 31

công nghệ nước ngoài nhằm phát triển năng lực công nghệ quốc gia, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Là một quốc gia

đi sau, Việt Nam cần phải có những chính sách và cách thức QLNN hiệu quả nhắm đến việc thu hút lượng tri thức và công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, từ

đó nghiên cứu thích hợp, đổi mới và làm chủ công nghệ để đuổi kịp và vượt lên về công nghệ so với các nước tiên tiến

Ở góc phân tích về kinh tế, đối ngoại và an ninh, các tác giả Đỗ Hoàng

Long (trong Luận án tiến sĩ kinh tế “Tác động của toàn cầu hóa kinh tế đối

với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”), Đỗ Văn Thuyết

(trong Luận án tiến sĩ luật học“Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý

nhà nước về an ninh kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay”), Lê Nguyễn

Đương (trong Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế “Phát triển kinh tế đối ngoại

trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tác động của nó đến củng cố quốc phòng nước ta hiện nay”), Đặng Văn Thái, Nguyễn Thị Giang (trong Đề tài

nghiên cứu cấp Bộ “Quan điểm của Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế và vận

dụng vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay”) cũng đề cập đến hợp tác

quốc tế trong lĩnh vực KH&CN, tuy nhiên họ cho rằng hợp tác khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ với nước ngoài (bao gồm hợp tác đào tạo, nghiên cứu chung, trao đổi kinh nghiệm, tài liệu kỹ thuật, hội thảo khoa học, trong đó việc nhận và chuyển giao khoa học công nghệ là trung tâm) là một

bộ phận của hoạt động kinh tế, đối ngoại Việt Nam bên cạnh các hoạt động như hợp tác quốc tế về đầu tư, hoạt động ngoại thương, du lịch quốc tế, giao thông vận tải và viễn thông quốc tế Mặc dù vậy, các tác giả vẫn khẳng định vai trò của hợp tác quốc tế về KH&CN trong phát triển kinh tế, đối ngoại và

an ninh quốc tế Họ cho rằng thông qua hợp tác quốc tế KH&CN, Việt Nam

có thể tranh thủ được các nguồn lực từ bên ngoài, khai thác được nhiều loại tiềm năng, mở rộng thị trường cho hàng hóa, dịch vụ và sức lao động, phát

Trang 32

huy cao nhất lợi thế so sánh của Việt Nam Hợp tác quốc tế để thu hút ngoại lực bổ sung cho những mặt còn yếu và còn thiếu trong việc xây dựng và bảo

vệ đất nước; giúp tiếp thu những thành quả khoa học - kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của các nước tiên tiến, nâng cao năng lực quản lý, trình độ của đội ngũ khoa học kỹ thuật và người lao động; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; và tham gia giải quyết những vấn đề chung của thế giới và khu vực Từ

đó, các tác giả đã đề cập đến một số định hướng chính sách để thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN như: đẩy mạnh có chọn lọc việc nhập công nghệ hiện đại; mua sáng chế kết hợp công nghệ nội sinh để nhanh chóng đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các ngành có lợi thế cạnh tranh,

có tỉ trọng lớn trong GDP; thu hút công ty xuyên quốc gia đầu tư và chuyển giao công nghệ mới cho doanh nghiệp Việt Nam; thu hút nhà khoa học, công nghệ giỏi người Việt ở nước ngoài; phát triển mạng lưới đại diện KH&CN Việt Nam ở nước ngoài

Đề cập đến một nội dung cụ thể của hợp tác quốc tế trong lĩnh vực

KH&CN, Đỗ Hoài Nam trong Luận án tiến sĩ kinh tế “Chính sách thu hút

công nghệ nước ngoài vào Việt Nam” nghiên cứu về chuyển giao công nghệ

giữa các quốc gia và đề xuất chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam Tác giả phân tích xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và khẳng định chuyển giao công nghệ trên thế giới là một tất yếu khách quan Tác giả

đã chỉ ra một số thách thức của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng trong nước trong việc thu hút công nghệ cao từ nước ngoài như năng lực KH&CN còn thấp, ngân sách cho NCPT hạn hẹp, thiếu đội ngũ chuyên gia, năng lực của một số ngành công nghiệp chế tạo thấp, khó khăn trong việc tự tạo ra công nghệ tiên tiến, ít có được công nghệ hạng nhất Từ

đó, tác giả đề xuất một số giải pháp chính sách như cần xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, thông thoáng và lành mạnh; đáng lưu ý là giải pháp

Trang 33

khuyến khích hợp tác, đầu tư trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, khuyến khích và tạo điều kiện tối đa cho việc thành lập các cơ sở NCPT nước ngoài tại Việt Nam; khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao; hỗ trợ các nhà khoa học, các chuyên gia kỹ thuật trong mọi lĩnh vực, không phân biệt thành phần kinh tế, tham gia các hội nghị, hội thảo quốc

tế, trao đổi học thuật, giao lưu với cộng đồng khoa học và công nghệ quốc tế

Tóm lại, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN được các học giả trong

và ngoài nước nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, chủ yếu xuất phát từ 2 quan điểm xem hợp tác quốc tế là một bộ phận quan trọng của KH&CN hoặc

là một bộ phận quan trọng của kinh tế, đối ngoại và an ninh quốc gia Hợp tác quốc tế về KH&CN cũng được nghiên cứu ở cả góc độ khách quan là xu thế toàn cầu hóa/quốc tế hóa KH&CN cũng như chủ quan là căn cứ theo mục tiêu, chiến lược phát triển KH&CN của quốc gia, tập đoàn kinh tế Nghiên cứu của học giả nước ngoài chủ yếu xuất phát từ các nước phát triển, và nhìn nhận hợp tác quốc tế về công nghệ từ góc độ của quốc gia có nền KH&CN tiên tiến thúc đẩy hợp tác với bên ngoài Trong khi đó, nghiên cứu trong nước liên quan đến vấn đề này chưa nhiều, chủ yếu lồng ghép vào các chủ đề nghiên cứu về KH&CN, kinh tế, đối ngoại, an ninh Do vậy, các nội dung cơ bản về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN vẫn còn rất hạn chế

Tác giả nhận thấy rằng, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tổng

thể về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Khái niệm hợp tác quốc tế về

KH&CN hiện đang sử dụng chưa có mối liên hệ với các lý thuyết về hợp tác quốc tế, chưa nêu rõ được nội hàm cũng như yếu tố ngoại diên của khái niệm

này Quan điểm về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN chưa phân tích

được sự tương thích của mỗi quan điểm đối với quốc gia phát triển hay đang phát triển, hoặc theo từng giai đoạn phát triển của một quốc gia Thêm vào đó, quan điểm này cũng chưa được xem xét trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang

Trang 34

là một xu thế tất yếu trên mọi lĩnh vực Xu hướng hợp tác quốc tế về KH&CN

chưa đề cập nhiều và hệ thống; chưa nghiên cứu về lộ trình để thích ứng hoặc khai thác cơ hội do xu hướng đem lại cho các nước, đặc biệt là nước đang

phát triển Đặc điểm, nội dung và hình thức hợp tác quốc tế về KH&CN

nghiên cứu khá đa dạng, nhưng vẫn chưa chỉ ra được các nguyên tắc cơ bản

để tổ chức và vận hành QLNN phù hợp với nội dung hợp tác quốc tế

Tuy vậy, rất nhiều công bố của các học giả đi trước có giá trị tham khảo quan trọng để tác giả thực hiện được các nội dung nghiên cứu chính của luận văn, gồm có: (i) vai trò của hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN đối với sự phát triển của một quốc gia, cả phát triển và đang phát triển; (ii) cách tiếp cận

để phân loại, chia nhóm nội dung hợp tác quốc tế về KH&CN: chẳng hạn như cách phân loại theo hợp tác quốc tế về khoa học (chủ yếu được thực hiện trong giới hàn lâm) và hợp tác quốc tế về công nghệ (chủ yếu thực hiện giữa các doanh nghiệp), hay phân chia theo các loại hình hoạt động như đào tạo, chuyển giao và phổ biến tri thức, chuyển giao, nhập khẩu công nghệ, ; (iii) tác động của hợp tác quốc tế về KH&CN đối với từng quốc gia, kể cả quốc gia phát triển cũng như đang phát triển Tác động bao gồm cả thúc đẩy (tận dụng thời cơ) lẫn rủi ro (đối diện với thách thức); (iv) xu thế hợp tác quốc tế, toàn cầu hóa/quốc tế hóa về KH&CN đang được xem là tất yếu, không chỉ được thúc đẩy từ các nước phát triển, mà còn từ các nước đang phát triển và đều tạo ra những cơ hội lẫn thách thức Nghiên cứu xu thế này giúp tạo cơ sở khoa học cho việc đề xuất các khuyến nghị giải pháp về QLNN; (v) một số chính sách hợp tác quốc tế về KH&CN của quốc gia bao gồm yếu tố khoa học

và yếu tố công nghệ, trong đó đặc biệt lưu ý những yếu tố thể chế cản trở dòng chảy của tri thức, công nghệ quốc tế chẳng hạn như bảo hộ sở hữu trí tuệ, giáo dục (đặc biệt là giáo dục đại học); hoặc các yếu tố phi thể chế như năng lực của hệ thống các ngành công nghiệp, sự sẵn có và năng lực của các

Trang 35

cụm đổi mới sáng tạo (innovation clusters), ; (vi) những phân tích, nhận định liên quan đến hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN của Việt Nam như thuận lợi, khó khăn, vai trò của nhà nước liên quan đến hợp tác quốc tế trong một số lĩnh vực khác như an ninh, kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế, một số khuyến nghị chính sách

1.2 Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN

1.2.1 Nghiên cứu ngoài nước

Jacobs D trong công bố “Innovation Policies within the framework of

internationalization” (Chính sách về đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ quốc

tế hóa) trên Research Policy đã chỉ ra rằng chính sách quản lý KH&CN có

tính quốc tế, do vậy quản lý KH&CN cần thiết phải quản lý cả hoạt động hợp tác quốc tế Tác giả cho rằng chính sách KH&CN và đổi mới sáng tạo cần được xây dựng giữa 04 lôgic phát triển chính là (i) tương thích quốc tế; (ii) hợp tác quốc tế; (iii) cạnh tranh chính sách dưới hình thức vận dụng sáng tạo các luật lệ chung đã được quốc tế thừa nhận; và (iv) Sự khác biệt giữa hình thức tăng cường và nâng cấp chuyên môn hóa hiện có Quản lý về hợp tác quốc tế phải đảm bảo vừa bảo vệ và vừa chủ động thúc đẩy Trước đây, chính sách KH&CN chỉ được xem là chính sách đối nội của quốc gia Tuy nhiên tư duy này đang thay đổi trong bối cảnh các thị trường trở nên hội nhập quốc tế mạnh mẽ hơn Chính sách KH&CN cần phải tính đến cả 3 yếu tố (i) thương mại hàng hóa, (ii) thương mại công nghệ với các hiệu ứng lan tỏa quốc tế; và (iii) hoạt động NCPT cần được điều phối toàn cầu QLNN về KH&CN của một quốc gia cần phải tính đến yếu tố toàn cầu, do bản thân hoạt động KH&CN đã và đang có tác động xuyên quốc gia (bao gồm cả tác động tích cực cũng như tiêu cực) Chức năng quản lý KH&CN toàn cầu bao gồm: Dự báo các xu hướng phát triển KH&CN trên thế giới; xây dựng các chương trình KH&CN lớn với sự tham gia của nhiều nước; tổ chức và điều hành việc thực hiện các chương trình,

Trang 36

dự án KH&CN quốc tế, thúc đẩy sự trợ giúp tài chính đào tạo và chuyển giao công nghệ giữa hai nhóm nước Bắc và Nam;

Gerybadze A và Reger G trong bài viết “Globalization of R&D: recent

changes in the management of innovation in transnational corporations”

(Toàn cầu hóa về NCTK: những thay đổi mới nhất trong quản lý đổi mới sáng

tạo ở các công ty xuyên quốc gia) trên Research Policy cùng với các đồng

nghiệp được trích dẫn như Ohmae, Lundvall, Nelson, Freeman, Archibugi và Michie đã nghiên cứu về quá trình toàn cầu hóa về KH&CN từ đó chỉ ra một

số thay đổi trong chính sách quản lý của các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC) Mặc dù chọn TNC là đối tượng nghiên cứu, và bàn về chính sách quản lý của các doanh nghiệp này, nhưng các tác giả đã đề cập đến chính sách KH&CN nói chung và hợp tác quốc tế về KH&CN nói riêng Họ đã tổng hợp các nghiên cứu đi trước và chỉ ra hai trường phái xây dựng chính sách KH&CN

và hợp tác quốc tế về KH&CN xuất phát từ hai quan điểm khác nhau về tính quốc tế của hoạt động KH&CN Một trường phái cho rằng bản thân tri thức

và công nghệ có thể được chuyển giao xuyên biên giới mà không gặp khó khăn gì Bản thân các doanh nghiệp, các tập đoàn hoàn toàn chủ động thực hiện hoạt động phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ mà không đòi hỏi các yếu tố can thiệp từ bên ngoài của quốc gia Trong khi đó, quan điểm khác cho rằng trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa về KH&CN đang diễn ra mạnh mẽ, sự can thiệp của quốc gia là rất cần thiết để trang bị tốt hơn cho quốc gia đương đầu với những thay đổi nhanh chóng của KH&CN QLNN và chính sách quốc gia ở đây được hiểu ở góc độ bảo vệ và hỗ trợ Trong chính sách KH&CN cần đặc biệt lưu ý chính sách hợp tác quốc tế, do nếu thực hiện tốt nội dung này sẽ giúp quốc gia đó trở nên hấp dẫn trong mắt của đối tác nước ngoài

Carlsson B trong công bố “Internationalization of innovation system: a

survey of the literature” (Quốc tế hóa hệ thống đổi mới sáng tạo: tổng hợp

Trang 37

các nghiên cứu) trên Research Policy đề cập đến một số nội dung liên quan

đến chính sách hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Chẳng hạn như tác

giả đã chỉ ra sự khác biệt nhất định trong chính sách hợp tác quốc tế về khoa

học với chính sách hợp tác quốc tế về công nghệ do bản chất của khoa học

liên quan nhiều đến việc tạo ra và phổ biến các tri thức mới; trong khi đó bản chất của công nghệ liên quan nhiều đến tính thương mại Nghiên cứu cũng chỉ

ra những rào cản về thể chế trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về KH&CN (bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học)

Archibugi D và Iammarino S trong bài viết “The Policy imlications of

the globalization of innovation” (Gợi suy chính sách về toàn cầu hóa đổi mới

sáng tạo) đã đặt vấn đề QLNN và chính sách thúc đẩy hợp tác quốc tế là một giải pháp để phát triển KH&CN Nghiên cứu cho rằng toàn cầu hóa trong lĩnh vực công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ tạo nên sức ép cho QLNN vì những hoạt động này đều có tác động đối với đời sống KT-XH

1.2.2 Các công trình trong nước

Hiện chưa có công trình trong nước nào đề cập trực tiếp và tổng thể đến QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Nhiều công bố trong nước chủ yếu đề cập đến chính sách phát triển KH&CN, kinh tế, đối ngoại, an ninh hoặc QLNN đối với các lĩnh vực này, trong đó có đề cập một phần đến đến chính sách hoặc công tác QLNN về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Xin được tổng hợp một số công trình tiêu biểu như sau:

Hồ Mỹ Duệ trong Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế “Đổi mới quản lý nhà

nước về nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học - công nghệ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” đã phân tích về bối cảnh quốc tế và đưa ra

những nhận định về các thách thức chính trong quan hệ quốc tế, nổi bật nhất

là cạnh tranh công nghệ giữa các quốc gia - xem đây là thách thức lớn đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Tác giả đã nêu thực trạng chính sách phát triển KH&CN và chỉ ra rằng việc chậm đổi mới cơ chế QLNN về

Trang 38

KH&CN đã làm hợp tác quốc tế chưa phát huy được hết vai trò trong việc huy động thích đáng sự đầu tư hỗ trợ của quốc tế, đổi mới trang thiết bị hiện đại, phát triển nhân lực, Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp cần thiết

để đổi mới QLNN về KH&CN, trong đó có chính sách hợp tác quốc tế ưu tiên cho nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho KH&CN

Đỗ Minh Cương trong Luận án tiến sĩ khoa học triết học “Vai trò của

quản lý đối với sự phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta” đã tập trung

nghiên cứu về QLNN trong lĩnh vực KH&CN trong đó đề cập đến quản lý hoạt động hợp tác quốc tế Tuy nhiên, tác giả tiếp cận QLNN trong lĩnh vực KH&CN trên cả hai bình diện toàn cầu và quốc gia, do đó vai trò của hợp tác quốc tế được đề cao hơn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Từ đó, trong các giải pháp phát triển KH&CN, tác giả nhấn mạnh đến một số chính sách phát triển hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này như thu hút công nghệ tiên tiến từ nước ngoài để nghiên cứu thích hợp, đổi mới, làm chủ và đuổi kịp về công nghệ với nước ngoài hay phối hợp chặt chẽ KH&CN với giáo dục - đào tạo để hợp tác quốc tế giúp phát triển nguồn nhân lực, giới trí thức Việt Nam nói chung và lực lượng KH&CN nói riêng sẽ có điều kiện và cơ hội nâng cao năng lực của mình

Nguyễn Chí Hải trong Luận án tiến sĩ kinh tế “Một số vấn đề về việc

phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế ở Việt Nam” nghiên cứu một số vấn đề về phát triển KH&CN

Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Tác giả đã chỉ ra những khó khăn chủ yếu của các nước đi sau về KH&CN để làm cơ sở đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả QLNN về KH&CN Trong đó, tác giả nhấn mạnh hợp tác quốc tế là một giải pháp quan trọng, và vì thế khuyến nghị một

số chính sách để thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN Ví dụ, tác giả đã chỉ ra rằng các nước đi sau (như Việt Nam) đối diện với sự thiếu hụt về

Trang 39

nguồn vốn đầu tư, vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ và kém phát triển, năng lực tiếp nhận công nghệ tiên tiến còn thấp, tình trạng chảy máu chất xám,

Do vậy, QLNN về KH&CN cần tăng cường hiệu quả để đảm bảo Việt Nam

tự chủ về công nghệ mà vẫn tiếp thu được những công nghệ mới từ bên ngoài Nhà nước cần lựa chọn hợp tác quốc tế là một trong những nhóm giải pháp chủ đạo Ưu tiên hàng đầu của hợp tác quốc tế về KH&CN của Việt Nam là nhập khẩu được các công nghệ tiên tiến, từng bước rút ngắn được khoảng cách về trình độ công nghệ với các nước khác Tiếp sau đó là tranh thủ đào tạo đội ngũ cán bộ KH&CN; khuyến khích sự đóng góp của cộng đồng các nhà KH&CN người Việt Nam ở nước ngoài Nhà nước đơn giản thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi đối với các nhà khoa học, tổ chức khoa học trong và ngoài nước; đồng thời tăng cường phân cấp về hợp tác quốc tế để tổ chức KH&CN từ trung ương đến địa phương có thể linh hoạt, chủ động và tận dụng mọi điều kiện để tham gia vào hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu về toàn cầu hóa, đối ngoại, hội nhập và hợp tác quốc tế của Việt Nam cũng đề cập đến một số nội dung QLNN về hợp tác quốc tế thông qua QLNN về lĩnh vực KH&CN, đối ngoại, kinh tế và an ninh Lý do chính là các nghiên cứu này xem KH&CN là một đối tượng chịu tác động cũng như tác nhân quan trọng trong dòng chảy toàn cầu hóa Một số nghiên cứu điển hình như:

Luận án tiến sĩ kinh tế của Đỗ Hoàng Long nghiên cứu về “Tác động

của toàn cầu hóa kinh tế đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” Mặc dù đối tượng nghiên cứu là về kinh tế và toàn cầu hóa, nhưng

tác giả đã chỉ ra được vai trò của KH&CN, của hợp tác quốc tế, từ đó có đề cập đến một số vấn đề liên quan đến trách nhiệm của QLNN đối với sự phát triển của quốc gia Tác giả đã chỉ ra KH&CN thực chất đã khởi động tiến trình toàn cầu hóa kinh tế vì KH&CN chính là nền tảng của cơ sở hạ tầng, là một trong những yếu tố sản xuất chủ đạo và tác động đến mọi mặt của nền

Trang 40

kinh tế Điều này cho thấy rằng một quốc gia đi sau cần phải có những chính sách và cách thức QLNN hiệu quả nhắm đến việc thu hút lượng tri thức và công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, đồng thời cũng phải hạn chế được những thách thức đem lại

Đỗ Văn Thuyết (trong Luận án tiến sĩ luật học “Đổi mới và hoàn thiện

pháp luật trong quản lý nhà nước về an ninh kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay”), Lê Nguyễn Đương (trong Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế “Phát triển kinh tế đối ngoại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tác động của

nó đến củng cố quốc phòng nước ta hiện nay”) cho rằng kinh tế đối ngoại là

một bộ phận của nền kinh tế quốc dân gồm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh

tế, trong đó bao gồm cả hoạt động hợp tác khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ với nước ngoài (hợp tác đào tạo, nghiên cứu chung, trao đổi kinh nghiệm, tài liệu kỹ thuật, hội thảo khoa học, trong đó việc nhận và chuyển giao khoa học công nghệ là trung tâm) Thông qua các hình thức hợp tác sản xuất, hợp tác KH&CN, Việt Nam có thể tranh thủ được các nguồn lực từ bên ngoài, khai thác được nhiều loại tiềm năng, mở rộng thị trường cho hàng hóa, dịch vụ và sức lao động, phát huy cao nhất lợi thế so sánh quốc gia; tranh thủ được nhiều kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của các nước như công nghệ đóng tàu, thông tin, vật liệu mới Bên cạnh đó, do QLNN chưa hiệu quả nên tạo cơ hội cho thế lực thù địch can dự phá hoại; tăng sự lệ thuộc của trong nước với nước ngoài, làm yếu khả năng tự bảo vệ Các tác giả khẳng định vai trò chủ đạo của QLNN đối với kinh tế đối ngoại (trong đó có hợp tác quốc tế

về KH&CN), vì chỉ có nhà nước mới có đủ tư cách pháp lý để ký các hiệp định kinh tế song phương và đa phương, đồng thời thực hiện các cam kết quốc tế đó; cũng chỉ có nhà nước mới có đủ năng lực, công cụ quản lý để thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế nói chung, tận dụng được những cơ hội cũng như hạn chế được những tiêu cực trong kinh tế đối ngoại Từ đó, các tác giả cho rằng phương hướng trong QLNN để mở rộng quy mô kinh tế đối ngoại là:

Ngày đăng: 27/04/2020, 08:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh (2015), Hợp tác quốc tế theo quan điểm của Hồ Chủ Tịch, http://tinnhanhchungkhoan.vn/dau-tu/hop-tac-quoc-te-theo-quan-diem-cua-ho-chu-tich-112017.html, truy cập ngày 2/8/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác quốc tế theo quan điểm của Hồ Chủ Tịch
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Năm: 2015
5. Bộ Nội vụ (2013), Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính, Ban hành kèm theo Quyết định số 2367 /QĐ-BNV ngày 31/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, https://www.moha.gov.vn/danh-muc/tai-lieu-boi-duong-ngach-chuyen-vien-chinh-10586.html , truy cập ngày 1/3/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2013
6. Bộ Nội vụ (2018), Chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên viên, Ban hành kèm theo Quyết định số 2640/QĐ-BNV ngày 14/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, http://dtbd.moha.gov.vn/uploads/resources/admin/chuyenvien/ChuyenDe9.pdf,truy cập ngày 1/3/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên viên
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2018
8. Trần Hữu Cận (1996), Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Luận văn tiến sĩ kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Trần Hữu Cận
Năm: 1996
9. Đỗ Minh Cương (1996), Vai trò của quản lý đối với sự phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta, Luận văn tiến sĩ khoa học triết học, Viện Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của quản lý đối với sự phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Năm: 1996
10. Hồ Mỹ Duệ (1994), Đổi mới quản lý nhà nước về nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học - công nghệ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận văn tiến sĩ khoa học kinh tế, Trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý nhà nước về nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học - công nghệ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Hồ Mỹ Duệ
Năm: 1994
11. Đảng CSVN (2000), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/van-kien-dang/van-kien-dai-hoi/khoa-ix/doc-592420154233656.html, truy cập ngày 3/2/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Tác giả: Đảng CSVN
Năm: 2000
12. Đảng CSVN (2001), Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế, Số 07-NQ/TW, ngày 27/11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Đảng CSVN
Năm: 2001
13. Đảng CSVN (2005), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/van-kien-dang/van-kien-dai-hoi/khoa-x/doc-392420154325056.html, truy cập ngày 3/2/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
Tác giả: Đảng CSVN
Năm: 2005
14. Đảng CSVN (2012), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, Số 20- NQ/TW, ngày 31/10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
Tác giả: Đảng CSVN
Năm: 2012
15. Đảng CSVN (2016), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/van-kien-dang/van-kien-dai-hoi/khoa-xii/doc-3331201610175046.html, truy cập ngày 31/3/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Tác giả: Đảng CSVN
Năm: 2016
17. Đảng CSVN (2016), Nghị quyết về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế, Số 05-NQ/TW, ngày 1/11/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế
Tác giả: Đảng CSVN
Năm: 2016
18. Lê Nguyễn Đương (2001), Phát triển kinh tế đối ngoại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tác động của nó đến củng cố quốc phòng nước ta hiện nay, Luận văn tiến sĩ khoa học kinh tế, Học viện chính trị quân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế đối ngoại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tác động của nó đến củng cố quốc phòng nước ta hiện nay
Tác giả: Lê Nguyễn Đương
Năm: 2001
19. Hương Giang (2013), Nhìn lại 20 năm thu hút vốn ODA, http://baodientu.chinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?distributionid=183067,truy cập ngày 8/3/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại 20 năm thu hút vốn ODA
Tác giả: Hương Giang
Năm: 2013
20. Đặng Bảo Hà (2007), Tổng luận các mô hình hợp tác quốc tế về KH&CN và vai trò của chính sách quốc gia trong việc thu hút R&D nước ngoài, thongtinkhcndaklak.vn/tailieu/tongluan/2007_6.pdf, truy cập ngày 5/6/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng luận các mô hình hợp tác quốc tế về KH&CN và vai trò của chính sách quốc gia trong việc thu hút R&D nước ngoài
Tác giả: Đặng Bảo Hà
Năm: 2007
145. Dictionary.com, https://www.dictionary.com/browse/cooperation, truy câp ngày 30/6/2015 Link
146. Dictionary Cambridge, http://dictionary.cambridge.org/dictionary/british/cooperation, truy cập ngày 30/6/2015 Link
147. Cục EDA Thụy Sĩ, https://www.eda.admin.ch/countries/japan/en/home/living-in/information-about/education/science-and-technology-in-japan.html, truy cập ngày 12/4/2017 Link
148. Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam: http://vast.ac.vn/gioi-thieu- chung/co-cau-to-chuc, truy cập ngày 12/4/2017 Link
149. Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam: http://vass.gov.vn/noidung/cacviennghiencuu/Pages/default.aspx?, truy cập ngày 12/4/2017 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w