1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ tại tổ chức TNTGVN

25 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 278,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một tổ chức với bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và phát triển cộng đồng, lãnh đạo của tổ chức TNTG nhìn thấy điều này.Với giá trị cốt lõi là “Chúng tôi quý trọng co

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Người hướng dẫn KH: PGS.TS HOÀNG TÙNG

Phản biện 1: PGS.TS TRẦN ĐÌNH KHÔI NGUYÊN

Phản biện 2: TS NGUYỄN THÀNH CƯỜNG

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng vào ngày 24 tháng 12 năm 2019

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng

- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tầm Nhìn Thế Giới Việt Nam (TNTGVN) là một trong những

tổ chức phi chính phủ lớn nhất trong nước xét trên khía cạnh quy mô

dự án và tính đa dạng của hoạt động Là một tổ chức với bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và phát triển cộng đồng, lãnh đạo của tổ chức TNTG nhìn thấy điều này.Với giá trị cốt lõi là

“Chúng tôi quý trọng con người” và “Chúng tôi có trách nhiệm với nguồn lực được giao phó”, tổ chức luôn coi trọng giá trị con người hơn của cải vật chất và xây dựng con người với tính trung thực, nghiêm túc trong việc thực hiện công tác KSNB mà tổ chức đã thiết lập Các nhân viên của tổ chức được yêu cầu tránh những khoản chi tiêu có thể làm cho các nhà tài trợ nghi ngờ về việc quản lý các khoản tài trợ của họ Đặc biệt trong xu thế bất ổn của nền kinh tế thế giới, việc gây quỹ càng khó khăn hơn đòi hỏi tổ chức phải duy trì thực hiện KSNB hữu hiệu để có thể thực hành tốt trách nhiệm giải trình về tài chính, quản lý dự án phải có khả năng chứng minh được rằng các khoản tài trợ nhận về được sử dụng cho các mục đích đã được đồng ý và các khoản tài trợ được sử dụng phù hợp với ngân sách của dự án một cách thận trọng, an toàn và tiết kiệm Để đạt được điều này, công tác KSNB cần được thiết lập và duy trì hữu hiệu Hiện nay TNTGVN với sự thay đổi rất lớn trong việc tái cấu trúc tổ chức và chiến lược hoạt động, đòi hỏi KSNB cũng phải đáp ứng yêu cầu ngày một đổi mới của tổ chức

Dựa trên những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện công

tác kiểm soát nội bộ tại tổ chức TNTGVN” làm đề tài nghiên cứu ở

cấp độ thạc sĩ Đây là một đề tài khá mới mẻ ở Việt Nam

Trang 4

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: thực tiễn về công tác KSNB với

trường hợp nghiên cứu điển hình minh họa tại tổ chức TNTGVN

5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Trên thế giới, giai đoạn từ năm 1980 đến 1988, các cơ quan của Hoa Kỳ ban hành một loạt hướng dẫn có liên quan đến KSNB Năm 1985, COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) được thành lập để hỗ trợ Ủy ban Quốc gia chống gian lận trong báo cáo tài chính Mỹ đã ban hành nhiều quy tắc đạo đức và làm rõ chức năng của KSNB Đến năm 1988, viện kế toán viên CPA của Mỹ (The American Institute of Certified Public Accountants (AICPA)) đã đưa ra một khuôn khổ KSNB trong kiểm

Trang 5

toán báo cáo tài chính SAS No 55 Theo đó, cấu trúc KSNB của một

tổ chức bao gồm ba thành phần như sau: Một trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát Năm 1992, COSO ban hành khuôn khổ KSNB, thường được gọi là khuôn khổ COSO Khuôn khổ COSO đề xuất KSNB gồm 5 thành phần: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và trao đổi thông tin, Hoạt động giám sát

Năm 2002, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật SARBANES-OXLEY trong một nỗ lực để cải thiện trách nhiệm giải trình và giám sát của các công ty đại chúng Hầu hết các quy định của Đạo luật Sarbanes-Oxley không áp dụng cho các tổ chức phi lợi nhuận Tuy nhiên, Sarbanes-Oxley ảnh hưởng đến thái độ về quản trị

tổ chức trong cộng đồng phi lợi nhuận (Ostrower, 2007; Iyer và Watkins, 2008) Các kiểm toán viên của các tổ chức phi lợi nhuận

Mỹ đã thông qua chuẩn mực SAS No 112 Communicating Internal Control Matters Identified in an Audit năm 2017 và kế tiếp là SAS

No 115 với cùng tiêu đề vào năm 2009 Các chuẩn mực này xác định các loại thiếu sót của KSNB, cung cấp các hướng dẫn chi tiết về đánh giá các thiếu sót KSNB và yêu cầu kiểm toán viên giao tiếp bằng văn bản cho quản lý và những người chịu trách nhiệm quản trị bất kỳ thiếu sót nào được phát hiện trong một cuộc kiểm toán Năm

2008, the Internal Revenue Service, Sở Thuế Vụ Mỹ, một cơ quan Quản lý liên bang, cung cấp các hướng dẫn về công bố thông tin KSNB, quản trị tổ chức và gian lận trong lĩnh vực phi lợi nhuận

Từ nền tảng lý luận cơ bản, đã có nhiều công trình nghiên cứu

về KSNB ở các tổ chức phi lợi nhuận Các tài liệu nghiên cứu được nêu trên là rất quan trọng cho các nghiên cứu sau này về NGO và KSNB Song, theo hiểu biết của tôi thì chưa có nghiên cứu nào về

Trang 6

công tác KSNB tại một NGO cụ thể nhằm khắc phục và hoàn thiện những hạn chế của KSNB trong đơn vị đó Do vậy, việc nghiên cứu

về công tác KSNB tại TNTGVN là nghiên cứu đầu tiên, mới mẻ được cho là cần thiết cả về lý luận và thực tiễn

6 Kết cấu của đề tài

Nghiên cứu này được thực hiện theo cấu trúc gồm 4 chương:

Chương mở đầu: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 1: Lý luận chung về KSNB tại các tổ chức phi lợi

Trang 7

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC TỔ

CHỨC PHI LỢI NHUẬN 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ

1.1.1 Bản chất và vai trò của kiểm soát nội bộ

Theo COSO (2013), KSNB được định nghĩa như sau: “KSNB

là một tiến trình được thiết lập và vận hành bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế để đem lại một sự đảm bảo hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo, và sự tuân thủ với các luật và quy định liên quan” Đường Nguyễn Hưng (2016) KSNB là rất cần thiết trong bất

cứ thực thể kinh tế nào, trong đó bao gồm cả tổ chức phi lợi nhuận KSNB có những nội dung chính sau:

Một là, tính hướng đến mục tiêu của KSNB

Hai là, KSNB là một tiến trình

Ba là, KSNB bị chi phối bởi con người trong tổ chức

Bốn là, KSNB đảm bảo hợp lý

Năm là, tính thích ứng của KSNB

Mục tiêu của kiểm soát nội bộ

Các yêu cầu của chính phủ về kiểm soát nội bộ trong các tổ chức phi lợi nhuận:

1.1.2 Một số khuôn khổ kiểm soát nội bộ và nội dung:

Theo khuôn khổ kiểm soát nội bộ của COSO (2013), một khuôn khổ được sử dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ, kiểm soát nội bộ gồm 5 thành phần sau và nội dung (Đường Nguyễn Hưng, 2016):

 Môi trường kiểm soát:

 Đánh giá rủi ro:

 Hoạt động kiểm soát:

Trang 8

 Thông tin và trao đổi thông tin:

 Hoạt động giám sát:

Theo khuôn khổ KSNB SAS 55, KSNB của một tổ chức bao gồm ba thành phần như sau: Một trường kiểm soát, hệ thống kế toán

và các thủ tục kiểm soát (Đường Nguyễn Hưng, 2016)

Mặc dù chuẩn mực kiểm toán SAS 55 được phục vụ cho kiểm toán viên trong quá trình đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của khách hàng, khuôn khổ KSNB như trên có thể áp dụng cho bất kỳ tổ chức nào Do vậy, tôi chọn việc nghiên cứu chuẩn mực này để tìm hiểu thực tế áp dụng của tổ chức và đưa ra giải pháp hoàn thiện thiết thực cho tổ chức

1.2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TỔ CHỨC PHI LỢI NHUẬN (NPO) ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM SOÁT NỘI BỘ

1.2.1 Sự cần thiết của kiểm soát nội bộ trong các tổ chức phi chính phủ phi lợi nhuận

KSNB hữu hiệu giúp cho các tổ chức phi lợi nhuận thực hiện

có hiệu quả các hoạt động liên quan đến nhiệm vụ sứ mệnh và trách nhiệm ủy thác của nó

Trong những năm gần đây, với sự hạn chế về tài chính, kêu gọi trách nhiệm giải trình và phương tiện truyền thông bùng nổ đã tạo ra nhu cầu tăng cường kiểm soát và đo lường hiệu quả trong lĩnh vực phát triển cộng đồng này Các NGO hiện đang chịu áp lực phải tăng cường giám sát, đánh giá các chỉ số về đầu ra, kết quả và tác động

Bongani (2013) báo cáo rằng KSNB trong các tổ chức là rất quan trọng để đảm bảo độ tin cậy của hồ sơ kế toán, tính xác thực của nội dung báo cáo tài chính Mặc dù các trường hợp gian lận và sai sót ít khi được các phương tiện truyền thông công khai thì vẫn có

Trang 9

khả năng lạm dụng ngân sách do KSNB kém

Petrovits (2010) cũng chỉ ra rằng có rất nhiều tài liệu học thuật về KSNB trong bối cảnh đơn vị kinh doanh được giao dịch công khai rộng rãi, nhưng có rất ít tài liệu trong lĩnh vực phi lợi nhuận Tại Việt Nam, tính đến năm 2017, có khoảng trên 1,000 tổ chức phi chính phủ nước ngoài có mối quan hệ đối tác với Việt Nam, nhưng chưa có một nghiên cứu về NGO liên quan đến công tác KSNB, bài viết này nghiên cứu công tác KSNB của tổ chức TNTGVN như một nghiên cứu đầu tiên và điển hình

1.2.2 Đặc điểm của tổ chức phi lợi nhuận ảnh hưởng đến kiểm soát nội bộ

Các tổ chức phi lợi nhuận được thành lập để hoàn thành một nhiệm vụ từ thiện, họ không phân phối lợi nhuận cũng không hoạt động với các quy định rõ ràng về quyền sở hữu và trách nhiệm giải trình (Fama và Jensen, 1983) Các tổ chức phi lợi nhuận không phát hành cổ phiếu và nhiệm vụ của họ không nhằm tối đa hóa lợi nhuận Các nhà quản lý phi lợi nhuận không chịu trách nhiệm với các cổ đông nhưng họ chịu trách nhiệm đối với các nhà tài trợ là những người cung cấp nguồn vốn quan trọng Những nhà tài trợ không có nguồn lực vô hạn và do đó các tổ chức phi lợi nhuận phải cạnh tranh

để gây quỹ Ngoài ra, không giống như các cổ đông, các nhà tài trợ không được hưởng lợi từ các hoạt động của tổ chức phi lợi nhuận và

do đó ít có sự giám sát tổ chức như chức năng của hội đồng quản trị trong các đơn vị kinh doanh

Tất cả các tổ chức đều dễ bị đe dọa bởi hành vi gian lận và tham nhũng Nguy cơ mất tài chính tồn tại ngay cả ở các tổ chức từ thiện, nơi nhiệm vụ của nó là làm điều tốt và nhân viên thường tự hào về giá trị đạo đức mạnh mẽ của mình

Trang 10

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TỔ

CHỨC TẦM NHÌN THẾ GIỚI VIỆT NAM

2.1 KHÁI QUÁT VỀ TẦM NHÌN THẾ GIỚI VIỆT NAM

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

TNTGVN là một tổ chức nhân đạo phi lợi nhuận hoạt động thông qua các chương trình phát triển và cứu trợ khẩn cấp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng, đặc biệt là trợ giúp trẻ

em, người nghèo và người gặp hoàn cảnh khó khăn TNTG Quốc Tế (TNTGQT) hoạt động tại Việt Nam từ năm 1990 với văn phòng quốc gia tại Hà Nội

2.1.2 Lĩnh vực hoạt động của chương trình vùng

Mỗi một AP được thiết kế từ 5 đến 20 năm để triển khai hoạt động trên một huyện (từ 5 đến 7 xã được lựa chọn) Ngân sách hằng năm được cam kết từ văn phòng tài trợ cho mỗi AP và kế hoạch năm (POA) được lập dựa trên khung logic (Logframe) phù hợp nhu cầu thực tế tại địa phương POA được hoàn tất và phê duyệt từ tháng 7 của năm tài chính trước cho việc chi tiêu năm tài chính kế tiếp Kể

từ năm FY2018, theo sự thay đổi chiến lược của tổ chức, mỗi AP có thể lựa chọn 1, 2, 3 hoặc cả 4 dự án dưới đây phù hợp với nhu cầu của từng địa phương:

Trang 11

Dự án dinh dưỡng:

Dự án Bảo vệ trẻ em:

Dự án sinh kế bền vững:

Dự án Bảo trợ lồng ghép và sự tham gia động đồng:

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của tầm nhìn thế giới Việt Nam

Người đứng đầu tổ chức Giám đốc Quốc gia Giám Đốc Hoạt

động, Giám Đốc chất lượng chương trình, Giám đốc Ban Văn hóa &

Con người, Giám Đốc Tài chính, Trưởng bộ phận kỹ thuật Chương

trình Bảo vệ trẻ em là những thành viên nằm trong Ban Quản lý

(BQL) cấp cao của TNTGVN Tương ứng với mỗi chương trình kỹ

thuật thì có các Quản lý bộ phận kỹ thuật: Dinh Dưỡng, Bảo Vệ Trẻ

em, Sinh Kế , Bảo Trợ Trẻ em & Sự tham gia cộng đồng

Mỗi một AP thường sẽ có 8 nhân viên, đứng đầu sẽ là Trưởng

Chương trình Dưới Trưởng chương trình có 2 từ 4 nhân viên hoạt

động Mỗi nhân viên hoạt động có thể phụ trách từ 1 đến 3 xã trong

vùng dự án chịu trách nhiệm triển khai, lập kế hoạch, thực hiện hoạt

động, đánh giá, giám sát hoạt động các xã mình phụ trách Ngoài ra,

còn có một Điều phối viên AP, một nhân viên phụ trách hoạt động

Bảo trợ và một Kế toán Thông thường mỗi một cụm từ 7-8 AP sẽ

thành một vùng dưới sự quản lý và giám sát về mặt hoạt động của

Quản lý vùng

2.2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TẦM NHÌN

THẾ GIỚI

2.2.1 Môi trường kiểm soát

Triết lý và đặc trưng hoạt động:

Sứ mệnh của TNTGVN liên quan đến việc sử dụng những

khoản đóng góp cho các AP Hơn nữa, TNTGVN cam kết duy trì các

Z o n

Trang 12

tiêu chuẩn cao nhất về sứ mệnh phục vụ và trách nhiệm giải trình Khái niệm về trách nhiệm giải trình là phần cốt lõi trong các Giá Trị

Cơ Bản của TNTGVN

Thái độ, nhận thức và điều hành của mọi nhân viên trong tổ chức chịu ảnh hưởng phần lớn bởi thái độ, nhận thức và hành động của BQL cấp cao thông việc tuân thủ các chính sách, quy định của tổ chức và quy định của pháp luật nhà nước Việt Nam Như vậy, việc điều hành tại AP được vận hành và thiết kế theo quy định, hướng dẫn của TNTGVN

TNTGVN là tổ chức phát triển cộng đồng, mỗi một hoạt

động triển khai đều phải tuân thủ hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật với mục đích nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi thói quen cộng đồng Việc thực hiện hoạt động đòi hỏi áp dụng đúng chiến lược, phương thức, mô hình và theo một khung logic Vì thế, mỗi hoạt động triển khai phải mất một thời gian khá dài với sự phối hợp của đối tác, người dân để thực hiện hoạt động mặc dù hoạt động đó đã lên kế hoạch từ năm tài chính trước đó Do đó việc giải ngân thường chậm trễ hơn so với kế hoạch đặt ra Thêm vào đó, thời tiết khí hậu ở Việt Nam nhiều khi rất bất thường, mùa mưa thường kéo dài Điều này cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tiến độ hoạt động dự án khiến nhiều hoạt động trì hoãn đến cuối quý và cuối năm tài chính

Và có một điều bất cập là đối tác phải ưu tiên các công việc chính của chính phủ nên việc thực hiện đúng tiến độ kế hoạch năm (POA) khó khăn Do áp lực phải giải ngân theo như nguồn tài trợ để đảm bảo cam kết với nhà tài trợ và cộng đồng, mỗi AP được yêu cầu không được chi tiêu dưới 95% ngân sách và mỗi đầu ra không được tiêu ít hơn 90% ngân sách cả năm nên nhiều hoạt động được triển

Trang 13

khai nhiều vào cuối mỗi quý hay quý cuối của năm tài chính có thể ảnh hưởng nhiều đến chất lượng hỗ trợ cho cộng đồng hưởng lợi Hơn nữa, trong thời gian TNTGVN tái cấu trúc lại tổ chức tập trung vào bốn dự án thay vì nhiều lĩnh vực hoạt động cũng như thay đổi phương thức triển khai hoạt động đã góp phần khá nhiều trong việc chậm tiến độ thực hiện POA

Đối tác tiếp cận với chính sách của TNTGVN là thông qua việc hướng dẫn từ nhân viên hoạt động của AP Theo kết quả khảo sát, đa phần đối tác không được tiếp cận trực tiếp với các chính sách, quy định của tổ chức cũng như chưa hiểu sâu sắc sứ mạng và

hệ thống pháp luật của Việt Nam

Ban Kiểm toán nội bộ TNTGVN hoặc Ban Kiểm toán Toàn cầu của TNTG thực hiện kiểm toán mỗi AP, phòng ban tại VPQG bất cứ lúc nào, thường thì hai năm tài chính một lần đối với một AP

vá ít nhất dự án được kiểm toán một lần trong suốt thời gian hoạt động

Theo kết quả phỏng vấn, các phát hiện của kiểm toán được thông báo với toàn bộ nhân viên AP nhưng hầu hết các AP chưa chia

sẻ cho mạng lưới đối tác được biết để tránh những sai sót cũng như

Ngày đăng: 26/04/2020, 21:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm