1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp năm 2014 của việt nam

69 187 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 647,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các chế định pháp luật về CTCP, các quy định về quản lý và điều hành công ty - đặc biệt là quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty là một trong những chế định quan trọng chi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014 CỦA VIỆT NAM

DƯƠNG VĂN HIỆP

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014 CỦA VIỆT NAM

DƯƠNG VĂN HIỆP

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS BÙI NGỌC CƯỜNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn của TS Bùi Ngọc Cường Các kết quả nêu trong luận văn chưa được

công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận

văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ tài

chính theo quy định của Viện Đại học mở Hà Nội./

Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2017

Người cam đoan

Dương Văn Hiệp

Trang 4

Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2017

Học viên

Dương Văn Hiệp

Trang 5

MỤC LỤC

Lời nói đầu 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ NGƯỜI QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 5

1.1 Khái quát về công ty cổ phần 5

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần 5

1.1.1.1 Khái niệm của công ty cổ phần 5

1.1.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần 6

1.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý trong công ty cổ phần 7

1.2 Khái quát về người quản lý công ty cổ phần và nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần 9

1.2.1 Khái niệm người quản lý trong công ty cổ phần 9

1.2.1.1 Khái niệm quản lý công ty cổ phần 9

1.2.1.2 Khái niệm người quản lý công ty cổ phần 10

1.2.2 Tiêu chuẩn, điều kiện của người quản lý công ty cổ phần 12

1.2.3 Nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần 13

1.3 Nội dung pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần 15

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 20

2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý và người quản lý công ty cổ phần 20

2.1.1 Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần 20

2.1.2 Người quản lý công ty cổ phần 20

2.1.2.1 Các thành viên trong hội đồng quản trị 20

2.1.2.2 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc 23

2.1.2.3 Người quản lý khác 25

2.2 Nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần 26

2.2.1 Nhóm nghĩa vụ chung của người quản lý công ty 26

2.2.2 Một số nghĩa vụ quy định riêng cho thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng Giám đốc 30

Trang 6

2.2.2.1 Nghĩa vụ của thành viên Hội đồng quản trị 30 2.2.2.2 Chủ tịch Hội đồng quản trị 32

2.2.2.3 Giám đốc/Tổng Giám đốc 37

2.3 Một số nhận xét về quy định pháp luật và áp dụng pháp luật về nghĩa vụ

của người quản lý công ty cổ phần 39

2.3.1 Về quy định pháp luật 39 2.3.2 Về thực tiễn áp dụng pháp luật 42

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 47 3.1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật 47

3.2 Sửa đổi, bổ sung các quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ

phần 51

3.2.1 Cần xác định lại khái niệm về người quản lý công ty 51 3.2.2 Phải quy định rõ ràng và thể hiện được bản chất của nghĩa vụ của người quản lý công ty 52 3.2.3 Phải xây dựng hệ thống án lệ liên quan đến nghĩa vụ của người quản lý công

ty 52 2.3.4 Hoàn thiện nội dung chế định về nghĩa vụ của người quản lý công ty trong pháp luật Việt Nam 53 2.3.5 Hoàn thiện quy định về mở rộng công khai thông tin về công ty cổ phần 54 2.3.6 Tách biệt giữa vai trò của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc/Tổng Giám đốc công ty cổ phần 55 2.3.7 Về quy định Giám đốc/Tổng Giám đốc có thể là người được thuê 56

3.3 Một số giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần 56 Kết luận 59

Danh mục tài liệu tham khảo 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Công ty cổ phần (CTCP) là loại hình doanh nghiệp phổ biến trên thị trường,

nó được hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông CTCP

và pháp luật điều chỉnh hoạt động của CTCP có lịch sử ra đời và phát triển lâu đời trên thế giới, nhưng do hoàn cảnh kinh tế xã hội nhất định ở Việt Nam, loại hình công ty này gần đây mới được nhiều nhà đầu tư quan tâm Vì vậy, việc quản lý và điều hành loại hình công ty này còn rất nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu cả

về phương diện lý luận và thực tiễn

Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2014, địa vị pháp lý của công ty

cổ phần đã được hoàn thiện một bước Luật Doanh nghiệp cùng các luật chuyên ngành và các văn bản pháp luật liên quan, cơ bản đã tạo được hành lang pháp lý cho CTCP tồn tại và phát triển

Tuy nhiên, việc hiểu và vận dụng đúng đắn pháp luật về CTCP ở Việt Nam

là một vấn đề không đơn giản Trong các chế định pháp luật về CTCP, các quy định

về quản lý và điều hành công ty - đặc biệt là quy định về nghĩa vụ của người quản

lý công ty là một trong những chế định quan trọng chi phối toàn bộ quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và chấm dứt hoạt động của công ty

Ở Việt Nam, quy định về nghĩa vụ của người quản lý CTCP còn là một vấn

đề khá mới mẻ nếu so với hàng trăm năm phát triển của nó ở các nước Châu Âu Là nước đi sau, mặc dù lợi thế lớn trong việc học tập kinh nghiệm của các nước đi trước, nhưng việc thực hiện nghĩa vụ của người quản lý CTCP ở nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập, chưa thể bứt ra khỏi những ảnh hưởng nặng nề của cơ chế

kế hoạch hóa tập trung trước đây Chẳng nhạn như những khó khăn, bất cập xuất phát từ ban lãnh đạo công ty can thiệp vào quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của

cổ đông; một số cổ đông lớn (chủ yếu là cổ đông Nhà nước) nắm giữ quyền khống chế công ty, xâm hại vào quyền lợi của đa số cổ đông thiểu số; Ban kiểm soát chỉ

Trang 9

mang tính hình thức, không phát huy được chức năng giám sát Có thể nói, những thực trạng nêu trên đã ảnh hưởng rất lớn tới sự lành mạnh hóa việc quản lý CTCP ở nước ta trong thời gian qua, do đó, đòi hỏi phải có sự quan tâm, nghiên cứu thấu đáo việc quản lý CTCP về mặt lý luận cũng như thực tiễn đồng thời đưa ra các biện pháp về mặt pháp lý để giải quyết những thực trạng đó Bởi vậy tác giả đã chọn vấn

đề "Nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm

2014 của Việt Nam" làm đề tài Luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu và tìm hiểu các quy định về người quản lý CTCP dưới góc độ lý luận và thực tiễn không phải là một vấn đề mới mẻ Thời gian qua vấn đề này đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu về CTCP như:

- Tiến sỹ Bùi Xuân Hải “Người quản lý công ty theo Luật Doanh nghiệp

2005 - Nhìn từ góc độ luật so sánh” - Tạp chí khoa học pháp lý, số 04 năm 2005

- Bùi Minh Nguyệt "Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong CTCP theo pháp

luật Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn" - Luận văn thạc sĩ Luật học - Đại

học Luật Hà Nội 2010

- Cao Thị Kim Trinh "Tổ chức quản lý nội bộ CTCP những vấn đề lý luận và

thực tiễn - Luận văn thạc sĩ Luật học - Đại học Luật Hà Nội 2004

- Hoàng Ánh Nguyệt "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức quản lý

nội bộ CTCP" - Khóa luận tốt nghiệp - Đại học Luật Hà Nội 2009

- Vũ Thị Niềm "Pháp luật về quản trị CTCP những vấn đề lý luận và thực

tiễn" - Khóa luận tốt nghiệp - Đại học Luật Hà Nội

- Lê Thị Vân Hà "Hoạt động quản lý điều hành công ty của Giám đốc theo

pháp luật Việt Nam" - Luận văn thạc sỹ - Đại học Luật Hà Nội 2016

Đồng thời cũng có nhiều bài viết đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy vậy, dường như các công trình nghiên cứu, các bài viết trên tập trung nghiên cứu trên phương diện quản trị CTCP nhiều hơn là trên phương diện

Trang 10

thực tiễn nghĩa vụ của người quản lý CTCP Vì vậy, thiết nghĩ, cần có những nghiên cứu sâu hơn về người quản lý CTCP và thực tiễn thực hiện nghĩa vụ của người quản lý CTCP

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Đối tương nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các học thuyết pháp lý về người đại diện, các quy định pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý CTCP theo Luật Doanh nghiệp

2014, và thực tiễn thực hiện nghĩa vụ của người quản lý CTCP theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản liên quan

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần trong phạm vi Luật Doanh nghiệp năm 2014, ý nghĩa của các quy định này trong hoạt động quản lý, điều hành công ty, kết hợp với việc nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố Luận văn tập trung nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014, các số liệu được tổng hợp trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

Qua đó, Luận văn nêu một số khó khăn trong quá trình thực hiện quy định pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý CTCP, đồng thời cũng đưa ra một số nhận xét cũng như đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý CTCP

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận của Luận văn là phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và hệ thống quan điểm, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Cùng với việc sử dụng phương pháp luận chung nhất của phép biện chứng duy vật, đề tài được thực hiện bằng việc sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên

Trang 11

cứu chuyên ngành luật như phương pháp mô tả, phân tích, so sánh, tổng hợp, chứng minh, thống kê, lịch sử

Phương pháp phân tích, so sánh được sử dụng chủ yếu để đánh giá, nhận xét

về các quy định pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý CTCP Phương pháp thống

kê, phương pháp lịch sử để đánh giá sự phát triển và những hạn chế cần khắc phục của pháp luật hiện hành

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Luận văn làm rõ cơ sở lý luận về nghĩa vụ của người quản lý trong công ty cổ phần, đánh giá thực trạng pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý trong công ty cổ phần, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

- Làm rõ những quy định của Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014 và văn bản liên quan về nghĩa vụ của người quản lý CTCP

- Phân tích những vấn đề phát sinh liên quan đến việc thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ của người quản lý CTCP trong thực tế, đặc biệt nêu ra những khó khăn, bất cập có liên quan

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về nghĩa

vụ người quản lý CTCP nhằm tăng hiệu quả điều hành hoạt động của Công ty trong nền kinh tế cơ chế thị trường hiện nay

6 Cơ cấu của Luận văn

Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức quản lý và người quản lý trong CTCP

- Chương 2: Thực trạng pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý CTCP ở Việt Nam

- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý trong CTCP ở Việt Nam

Trang 12

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ NGƯỜI QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY

CỔ PHẦN

1.1 Khái quát về công ty cổ phần

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần

1.1.1.1 Khái niệm của công ty cổ phần

Công ty cổ phần (CTCP) là một trong bốn loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Để tìm hiểu khái niệm CTCP, trước tiên cần tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của một doanh nghiệp nói chung

Theo khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014, Doanh nghiệp được định

nghĩa "là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký

thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh"

Do CTCP là một trong các loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp nên ngoài mang các đặc điểm nói chung của một doanh nghiệp thì trên cơ sở các dấu hiệu đặc trưng về số lượng thành viên, cơ cấu góp vốn, trách nhiệm pháp lý của

cổ đông, tư cách pháp nhân của công ty, việc chuyển nhượng vốn và phát hành chứng khoán, CTCP theo Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014 còn được định nghĩa:

"1 Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;

c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này

Trang 13

2 Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

3 Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn"

1.1.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần

Thứ nhất, về số lượng thành viên: hầu hết pháp luật các nước đều quy định

số lượng thành viên tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa đối với CTCP Ở nước ta, Luật công ty năm 1990 quy định số lượng thành viên tối thiểu trong suốt quá trình hoạt động của CTCP là 7 Đến Luật Doanh nghiệp 1999, 2005 và 2014 thì

số lượng này là 3

Thứ hai, về hình thức góp vốn: Vốn điều lệ của công ty được chia thành

nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cố phiếu, người mua cổ phiếu gọi là cổ đông, lợi nhuận có được hàng năm từ cổ phần gọi là cổ tức Việc góp vốn vào CTCP được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu, mỗi

cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu Đặc điểm này cũng thể hiện đặc trưng

cơ bản của CTCP là loại hình công ty đối vốn, nghĩa là khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động, các thành viên công ty hoàn toàn không quan tâm đến nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp của họ

Thứ ba, về huy động vốn: trong quá trình hoạt động của mình, CTCP được

quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn theo quy định của pháp luật về phát hành chứng khoán

Thứ tư, về chuyển nhượng phần vốn góp: chuyển nhượng một cách dễ dàng

mà không bị ràng buộc bất kỳ điều kiện nào (trừ trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 119 và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần)

Như vậy, so sánh với loại hình công ty khác thì CTCP có nhiều ưu điểm hơn, khắc phục được những hạn chế của loại hình công ty đối nhân và CTTNHH, phù hợp với nền kinh tế thị trường Với loại hình CTCP, công ty có thể huy động được nguồn vốn lớn thỏa mãn nhu cầu kinh doanh miễn là sản xuất kinh doanh của công

ty có hiệu quả, mức cổ tức đủ sức hấp dẫn những người có vốn, đồng thời chia sẻ

Trang 14

rủi ro cho các thành viên Tuy vậy, do CTCP thường có quy mô kinh doanh lớn, số lượng thành viên đông nên việc quản lý, điều hành sẽ gặp nhiều phức tạp Điều này đặt ra yêu cầu phải có sự quản lý chặt chẽ từ phía người quản lý công ty

Thứ năm, về chế độ chịu trách nhiệm tài sản của cổ đông: cổ đông chỉ chịu

trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm

vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

Thứ sáu, về tư cách pháp lý: CTCP được thừa nhận là pháp nhân Theo Luật

Doanh nghiệp 2014, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty có tư cách phấp nhân

1.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý trong CTCP

Do đặc điểm nhiều chủ sở hữu trong CTCP nên các cổ đông không thể trực tiếp thực hiện vai trò chủ sở hữu của mình mà phải thông qua tổ chức đại diện làm nhiệm vụ trực tiếp quản lý công ty Vì vậy, về mặt hình thức, cơ cấu tổ chức quản lý CTCP có quyền lựa chọn tổ chức quản lý theo một trong hai mô hình sau:

- Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Hội đồng quản trị (HĐQT), Giám đốc/Tổng giám đốc (GĐ/TGĐ) và Ban kiểm soát (BKS) Trường hợp công ty có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có ban kiểm soát

- Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Hội đồng quản trị (HĐQT) và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên HĐQT phải là thành viên độc lập và có ban kiểm soát nội bộ trực thuộc HĐQT Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty

Như vậy, CTCP có sự tách bạch giữa sở hữu và quản trị điều hành trong công ty Do đó, CTCP là sự biểu hiện rõ nét nhất của mô hình quản lý ba cấp: ĐHĐCĐ (cơ quan chủ sở hữu), HĐQT (cơ quan quản lý), Ban giám đốc (cơ quan điều hành) Mỗi cấp quản lý có một nhiệm vụ, chức năng riêng biệt hoàn thiện bộ máy quản trị Công ty Ngoài ra, BKS được thành lập ở những công ty có trên 11 cổ

Trang 15

đông là cá nhân, hoặc có cổ đông là tổ chức nắm trên 50% tổng số cổ phần của công

ty, có chức năng giám sát HĐQT và GĐ/TGĐ trong việc quản lý và điều hành công

ty Chính vì vậy, việc tổ chức quản lý CTCP sẽ khó khăn và dễ dẫn đến lạm quyền nếu không được pháp luật quy định một cách chặt chẽ

Đại hội đồng cổ đông: Gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan

quyết định cao nhất của công ty Quyền và nghĩa vụ của ĐHĐCĐ được quy định cụ thể tại Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2014

Hội đồng quản trị: Là bộ máy quản lý của công ty bao gồm những thành

viên có trình độ chuyên môn cao và quản lý giỏi để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ

do ĐHĐCĐ giao phó HĐQT có toàn quyền nhân danh công ty, trừ các vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ HĐQT chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ về những sai phạm trong quản lý, vi phạm điều lệ, vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho công

ty HĐQT tự bầu Chủ tịch HĐQT và Chủ tịch HĐQT có thể kiêm TGĐ công ty nếu điều lệ công ty không có quy định khác Quyền và nghĩa vụ của HĐQT được quy định tại Điều 149 Luật Doanh nghiệp 2014

Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc: GĐ/TGĐ được HĐQT bổ nhiệm, bãi nhiệm

hoặc cách chức, họ có thể là thành viên của HĐQT hoặc là một người khác do HĐQT thuê GĐ/TGĐ là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước HĐQT và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao Nhiệm kỳ của GĐ/TGĐ không quá năm năm và có thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Quyền hạn và nghĩa vụ của GĐ/TGĐ được quy định tại Điều 157 Luật Doanh nghiệp 2014

Ban kiểm soát: Ban kiểm soát (BKS) do ĐHĐCĐ bầu ra, có từ 3 đến 5 thành

viên, nhiệm kỳ không quá 5 năm và có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế

Các thành viên BKS bầu một người trong số họ làm trưởng ban, quyền và nghĩa vụ của trưởng ban do điều lệ công ty quy định BKS phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam Trưởng ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc

Trang 16

kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn Quyền và nghĩa vụ của ban kiểm soát được quy định tại Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2014

1.2 Khái quát về người quản lý CTCP và nghĩa vụ của người quản lý CTCP

1.2.1 Khái niệm người quản lý trong CTCP

1.2.1.1 Khái niệm quản lý CTCP

Khi nói đến quản lý CTCP là nói đến các trung tâm hay cơ cấu quyền lực ở

đó Theo quan niệm của luật học, quản lý CTCP là phương thức tổ chức các cơ quan quyền lực trong công ty và mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan đó Nhìn chung, trong các CTCP thông thường thiết lập ba cơ quan có quyền lực chủ yếu là ĐHĐCĐ, HĐQT và BKS

Theo nghĩa hẹp, quản lý CTCP có nghĩa là cách thức tổ chức và phân chia quyền lực giữa ba cơ quan nêu trên và mối quan hệ giữa chúng Luật Công ty Anh Quốc năm 1985 xác định quản lý công ty là một thiết chế pháp lý về mối quan hệ giữa cổ đông, thành viên HĐQT và kiểm soát viên Theo đó, các thành viên HĐQT

là người quản lý điều hành và lãnh đạo công ty thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận; các cổ đông đảm bảo các thành viên HĐQT làm việc đúng hướng và đúng luật pháp; các kiểm soát viên thực hiện quyền và nhiệm vụ giám sát hoạt động quản

lý kinh doanh của HĐQT để bảo đảm công ty không có sai phạm về tài chính và bảo đảm HĐQT được đề xuất báo cáo tài chính một cách chân thực và công bằng

Tại Việt Nam, khái niệm quản lý CTCP cũng tương tự như ở các nước khác

nhau Theo tiến sĩ Phạm Ngọc Côn: "Cơ cấu quản lý doanh nghiệp là sự thiết lập,

vận hành của các cơ quan quyền lực trong doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các

cơ quan quyền lực đó" Một cơ cấu quản lý doanh nghiệp có hiệu quả được thể hiện

ở sự hợp tác lâu dài giữa những người có quan hệ lợi ích trên cơ sở cân đối trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích" [15; tr20]

Trang 17

Sự khác biệt mang tính bản chất giữa CTCP và các doanh nghiệp cổ điển chính là việc quyền sở hữu tách biệt với quyền quản lý điều hành, hay nói cách khác tức là chủ sở hữu công ty xa rời với việc quản lý điều hành Chính vì thế, vấn đề làm sao tạo ra sự tự do không quá lớn, sự giám sát không quá yếu để khuyến khích những người quản lý điều hành công ty hoạt động một cách năng động, sáng tạo, linh hoạt vì lợi ích của chủ sở hữu công ty đã trở thành một bài toán khó từ hàng trăm năm nay đối với vấn đề quản lý CTCP Đi theo đó chính là sự phân chia quyền lực giữa các cơ quan quản lý trong công ty để tạo ra một cơ chế vừa bảo đảm cổ đông được thực hiện quyền sở hữu công ty, vừa đảm bảo cho nhóm người quản lý điều hành có quyền thiết thực để quản lý kinh doanh có hiệu quả

Khi công việc kinh doanh ngày càng phức tạp và chuyên nghiệp thì quyền chi phối công ty của nhóm người quản trị ngày càng lớn, trong khi đó đông đảo các nhà đầu tư, do đã chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản cho công ty, đã từ chủ

sở hữu tài sản trở thành người chỉ thu nhận khoản tiền lợi tức theo định kỳ Nhưng

về mặt pháp lý, cổ đông vẫn là chủ sở hữu của công ty Cho nên việc xây dựng một

cơ chế hợp lý về quyền và nghĩa vụ của người quản lý điều hành công ty để đảm bảo cho lợi ích của cổ đông nói riêng và công ty nói chung đã trở thành một vấn đề được quan tâm rộng rãi

1.2.1.2 Khái niệm người quản lý CTCP

CTCP là loại hình công ty có cơ cấu tổ chức phức tạp do tính chất đối vốn và

số lượng cổ đông lớn, quy mô hoạt động lớn Chính điều này quyết định đến cơ cấu

tổ chức của công ty Tuy CTCP được thành lập bởi các sáng lập viên, song sau khi

cổ phần được phát hành, các sáng lập viên đó phải chia sẻ quyền lực với các cổ đông khác Ngoài ra, số lượng cổ đông linh hoạt thay đổi vì cổ đông dễ dàng chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác Bởi vậy, việc xác định đúng ai là người quản lý công ty và áp đặt hợp lý các nghĩa vụ pháp lý phát sinh cho họ sẽ góp phần cho việc quản trị công ty có hiệu quả nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của cổ đông và các bên có liên quan khác như các bạn hàng của công ty, người lao động trong công ty

Trang 18

Người quản lý trong doanh nghiệp nói chung và CTCP nói riêng là những người chỉ đạo, điều hành, quyết định các vấn đề đối nội (quan hệ với các cổ đông, tổ chức quản lý, nhân sự ) và các vấn đề đối ngoại (tổ chức hoạt động kinh doanh, ký kết các hợp đồng, đại diện công ty trước bên thứ ba ) Luật Doanh nghiệp 2014

quy định: "người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý

doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, chủ tịch hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công

ty theo quy định tại Điều lệ công ty” (khoản 18 Điều 4)

Theo cách tiếp cận của Luật Doanh nghiệp 2014 thì người quản lý trong CTCP gồm có: các thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ và các chức danh quản lý khác do Điều lệ công ty quy định Theo như cơ cấu phân bổ quyền lực trong CTCP như đã

đề cập ở trên thì các thành viên HĐQT là cơ quan được ĐHĐCĐ chọn ra và ủy quyền để thay mặt mình quản lý công ty Vì vậy, các thành viên HĐQT là người quản lý công ty HĐQT chọn ban điều hành công ty để điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty Ban điều hành công ty bao gồm Tổng giám đốc (Giám đốc), các Phó Tổng giám đốc, Giám đốc chi nhánh, Trưởng văn phòng đại diện, Quản đốc Những người giữ chức danh quản lý trên được coi là những người quản lý trong công ty

Từ cách tiếp cận này, có thể nói rằng, pháp luật Việt Nam xác định ai là người quản lý công ty theo chức danh Điều này khác so với khái niệm về người quản lý công ty của một số nước khác Tham khảo pháp luật về tổ chức các loại hình doanh nghiệp của các quốc gia theo hệ thống pháp luật Common Law như Australia, Singapore, New Zealand, Canada, việc xác định ai là người quản lý công

ty dựa trên nguyên tắc: (1) là thành viên Ban giám đốc; (2) giữ vị trí hoặc thực hiện vai trò trong vị trí của giám đốc; (3) người đưa ra các chỉ đạo để giám đốc làm theo Với cách tiếp cận này thì người quản lý công ty không nhất thiết phải giữ một chức danh quản lý trong công ty Trong hoạt động xét xử, các Tòa án xác định ai là người

Trang 19

quản lý công ty theo chức năng, công việc mà người đó làm chứ không phải chỉ theo chức danh Vì thế, một người không được bổ nhiệm làm giám đốc vẫn có thể

bị Tòa án coi là giám đốc và phải chịu trách nhiệm như giám đốc Ngoài ra, mỗi công ty không chỉ có 1 giám đốc (1 tổng giám đốc) mà có Hội đồng giám đốc, có thể có số lượng từ 3 đến 15 giám đốc Có giám đốc điều hành và giám đốc không điều hành Để quyết định một vấn đề liên quan đến hoạt động của Công ty thì đòi hỏi sự tham gia của cả Hội đồng giám đốc Các giám đốc đều có nghĩa vụ như nhau

mà không có sự phân biệt giữa giám đốc điều hành hoặc không điều hành

Như vậy, khái niệm "người quản lý Công ty" theo Luật Doanh nghiệp 2014

không giống với các định nghĩa trong luật của một số nước theo hệ thống pháp luật Common Law Tuy vậy, ở một góc độ nhất định, người quản lý công ty theo Luật Doanh nghiệp 2014 cũng có những chức năng tương tự như là họp, biểu quyết, quyết định về quản lý công ty Pháp luật doanh nghiệp quy định chặt chẽ về trách nhiệm của người quản lý công ty nhằm bảo vệ quyền lợi của các cổ đông trong công

ty, bảo vệ quyền lợi của chính công ty đó với tư cách là chủ thể độc lập Đây là một trong những nền tảng cho sự phát triển lâu dài của công ty Không chỉ các quy định pháp luật ràng bộc trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp mà còn bảo vệ quyền lợi của người lao động, của khách hàng và rộng hơn là đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh

1.2.2 Tiêu chuẩn, điều kiện của người quản lý CTCP

Người quản lý doanh nghiệp nói chung và trong CTCP nói riêng có vai trò

vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của công ty, là nhân tố quyết định hướng phát triển, quá trình hoạt động của công ty Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra nhiều thách thức cho các quốc gia Trong đó việc xây dựng một đội ngũ các nhà quản lý hiện đại có tầm vóc quốc tế là một yêu cầu cực kỳ quan trọng Câu hỏi đặt ra: những phẩm chất/kỹ năng cần có ở một nhà quản lý hiện đại? Bởi vậy, việc lựa chọn người quản lý công ty luôn được đặc biệt chú trọng, đòi hỏi phải có những tiêu chuẩn nhất định, như về năng lực quản lý, phẩm chất đạo đức, các vấn đề nhân thân

Trang 20

- Về vấn đề năng lực: Có hai khối kiến thức mà mỗi nhà quản lý cần phải có Một là kiến thức, kỹ năng chuyên môn cụ thể về nghề nghiệp Hai là kiến thức tổng quát về doanh nghiệp, ngành, các hoạt động liên quan, kiến thức về pháp lý, chính trị, kinh tế và xã hội, các kiến thức về môi trường kinh doanh quốc tế và xu hướng phát triển chủ đạo

Người quản lý phải có kỹ năng về hoạch định, tổ chức và điều hành doanh nghiệp, và tổ chức công việc cá nhân Hoạch định là quá trình thiết lập các mục tiêu, xây dựng các chiến lược và kế hoạch để thực hiện các mục tiêu Trong quá trình này, nhà quản lý phải dự kiến được những khó khăn, trở ngại, những biến động của môi trường kinh doanh và có những kế hoạch dự phòng

Có thể thấy, vấn đề này hầu như được quy định trong điều lệ công ty (ví dụ khi tuyển dụng, công ty có thể yêu cầu về trình độ, bằng cấp cũng như những kỹ năng cơ bản) Phần lớn đấy là những yêu cầu khắt khe, đảm bảo người quản lý là người thật sự có năng lực đưa công ty phát triển

- Về phẩm chất đạo đức: Người quản lý phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, có quan điểm chính trị vững vàng, nhanh nhạy biết nắm bắt thời cơ, đảm bảo lãnh đạo công ty phát triển phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước

đề ra Người quản lý là những người đứng đầu công ty, nắm giữ nhiều thông tin quan trọng của công ty Bởi vậy, người quản lý phải trung thành với lợi ích của công ty, không lạm dụng chức vụ của mình để tư lợi hay làm ảnh hưởng đến lợi ích của công ty và cổ đông

- Về vấn đề nhân thân: Người quản lý công ty phải có đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp, có nhân thân tốt, đảm bảo việc tập trung lãnh đạo công ty Có như vậy thì những định hướng quản lý của

người quản lý công ty mới đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý

1.2.3 Nghĩa vụ của người quản lý CTCP

Nghĩa vụ của người quản lý CTCP là một trong những nội dung quan trọng trong tổ chức quản lý CTCP, là cơ sở để đánh giá và điều chỉnh hành vi ứng xử của người quản lý công ty

Trang 21

Về mặt lý luận, mối quan hệ giữa người quản lý CTCP và các cổ đông có thể

được xem như quan hệ ủy quyền Người quản lý có địa vị của "người được ủy

quyền" để thực hiện việc quản lý điều hành công ty Vì vậy, người quản lý công ty

có nghĩa vụ thực hiện quản lý, điều hành công ty trên nguyên tắc vì lợi ích của công

ty và cổ đông Như vậy, nghĩa vụ được đặt ra cho người quản lý công ty trước hết là nghĩa vụ đối với công ty và cổ đông Tuy nhiên, lợi ích của công ty và cổ đông luôn được đặt trong mối quan hệ với lợi ích của các đối tác, các chủ nợ Về nguyên tắc, lợi ích của công ty và cổ đông sẽ không được chấp nhận nếu lợi ích đó đạt được bằng cách gây thiệt hại đến lợi ích của các đối tác, chủ nợ Vì vậy người quản lý công ty không chỉ có nghĩa vụ đối với công ty và cổ đông mà còn có nghĩa vụ đối với các đối tác, chủ nợ của công ty

Pháp luật hầu hết các nước đều có những quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty, nhằm bảo vệ lợi ích của công ty, của cổ đông và chủ nợ công ty Luật Doanh nghiệp 2014 chưa đưa ra định nghĩa thế nào là nghĩa vụ của người quản

lý Trong khi đó còn lẫn lộn khái niệm nghĩa vụ với khái niệm trách nhiệm của người quản lý công ty ( Điều 160 Luật Doanh nghiệp 2014) Từ góc độ nghiên cứu cũng như khảo cứu các quy định của Luật Doanh nghiệp có thể khái quát nghĩa vụ của người quản lý CTCP được chia làm hai nhóm cơ bản Đó là:

Thứ nhất, nhóm nghĩa vụ đối với công ty và cổ đông (bên trong) Nhóm

nghĩa vụ này có nội dung là người quản lý hành xử theo hướng có lợi cho công ty, đồng thời hạn chế việc người quản lý lạm quyền gây thiệt hại cho công ty Cụ thể, người quản lý phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật có liên quan, điều lệ công ty và quy định của ĐHĐCĐ Thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty và cổ đông công

ty Không sử dụng thông tin bí quyết cơ hội kinh doanh của Công ty, lạm dụng địa

vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác Và người quản lý của công ty còn phải thông báo đầy đủ kịp thời chính xác

Trang 22

cho công ty về các doanh nghiệp mà họ hoặc người có liên quan của họ có phần vốn góp hoặc cổ phần chi phối

Thứ hai, nhóm nghĩa vụ đối với các đối tác, chủ nợ (bên ngoài) Nhóm nghĩa

vụ này được xác định khi công ty ký kết các hợp đồng, liên doanh liên kết Người quản lý phải tôn trọng các nghĩa vụ đã được thiết lập thông qua hợp đồng hoặc khi công ty có khó khăn về tài chính thì không được trả thưởng khi không thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn

Nhìn chung các quy định về nghĩa vụ của người quản lý CTCP trong Luật Doanh nghiệp vẫn chỉ dừng lại ở nghĩa vụ cơ bản và mang tính nguyên tắc chung Trường hợp cần thiết các cổ đông công ty có thể thỏa thuận ấn định trong điều lệ các nghĩa vụ khác cho người quản lý công ty Tuy vậy, việc định ra các nghĩa vụ cho người quản lý công ty là một vấn đề khá nhạy cảm, cần phải tính đến yêu cầu đảm bảo khả năng chủ động của người quản lý Nếu quy định nhiệm vụ cho người quản lý quá cụ thể, khắt khe theo cách người quản lý phải làm gì và làm như thế nào thì có thể sẽ cản trở tính năng động sáng tạo của người quản lý, và như vậy, có thể ảnh hưởng không tốt đến lợi ích của công ty Thực tế trong kinh doanh, nhiều khi phải sẵn sàng mạo hiểm, chấp nhận rủi ro để đạt được lợi nhuận cao hơn

1.3 Nội dung pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần

Như đã phân tích ở trên, người quản lý Công ty đóng vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp nói chung và CTCP nói riêng Bởi vậy vấn đề nghĩa vụ của người quản lý công ty phải được pháp luật quy định chặt chẽ Nhìn chung, không chỉ riêng CTCP, bất cứ người quản lý của doanh nghiệp nào cũng cần đảm bảo thực hiện một số nghĩa vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo đúng quy định

của pháp luật và quy định của công ty một cách trung thực, cẩn trọng nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp tối đa của công ty

Đối với CTCP, việc HĐQT, GĐ/TGĐ thực hiện tốt hay không những quyền

và nghĩa vụ được giao là cơ sở để bảo đảm cho quyền lợi của cổ đông Mọi hành vi

Trang 23

vi phạm của HĐQT, GĐ/TGĐ đều có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tới công ty và cổ đông của công ty

Quy định này buộc những người làm công tác quản lý CTCP điều hành thực hiện công việc của công ty như chính công việc của mình với tinh thần trách nhiệm cao nhất, bảo đảm tính trung thực, có sự tính toán trước sau, đồng thời phải đề ra phương án thực hiện và lựa chọn phương án tối ưu nhất nhằm bảo đảm mang lại lợi ích tối đa cho công ty và cho cổ đông của công ty

Thứ hai, trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông công ty; không sử

dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác

Như đã nói ở trên, về bản chất mối quan hệ giữa cổ đông công ty và HĐQT

là sự ủy quyền, còn GĐ/TGĐ thực chất là người làm thuê cho cổ đông Vì vậy, người nhận ủy quyền hay người được thuê phải có trách nhiệm trung thành với công

ty và cổ đông công ty Những hành vi vi phạm: sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty hay cổ đông đều là vi phạm nghĩa vụ trung thành Sự vi phạm này dù ít hay nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến doanh thu của công ty và từ đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cổ đông

Thứ ba, thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty và cổ đông về

những thông tin cần thiết, có thể gây ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông và công ty Đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch thông tin một cách hợp lý, ngăn ngừa những mối quan hệ làm ăn có mục đích tư lợi Việc công khai những thông tin cần thiết sẽ giúp công ty nói chung và cổ đông nói riêng có thể thực hiện việc giám sát đối với những người quản lý

Bên cạnh những quy định về nghĩa vụ chung nhất mà bất cứ người quản lý doanh nghiệp nào cũng phải tuân thủ, tùy thuộc vào chức năng, vị trí của từng đối tượng quản lý CTCP, pháp luật cũng phải cụ thể hóa vấn đề này cho từng đối tượng Điều này pháp luật Việt Nam thể hiện rõ tại các quy định về quyền và nghĩa vụ của thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ và người quản lý khác trong Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 24

và các luật chuyên ngành như Luật Chứng khoán, Luật Đầu tư Việc quy định nghĩa vụ của người quản lý CTCP cần đáp ứng các yêu cầu sau:

Thứ nhất, bộ máy quản lý CTCP phải gọn nhẹ, linh hoạt để giảm chi phí

quản lý, tránh gây chồng chéo trong quá trình thực hiện nghĩa vụ của người quản lý công ty Chỉ khi bộ máy quản lý có gọn nhẹ, linh hoạt thì mới có thể thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời còn giảm được chi phí quản lý Vấn đề này phải được thể hiện bằng việc quy định rõ ràng quyền lợi và nghĩa vụ của người quản lý trong công ty, bằng việc tăng cường kiểm tra hoạt động quản lý và bằng những yếu tố động viên để gắn lợi ích của người quản lý với lợi ích của cổ đông và của công ty

Thứ hai, việc tổ chức quản lý CTCP phải đảm bảo sự phân công rành mạch

chức năng, quyền và nghĩa vụ của từng đối tượng quản lý, đồng thời phải có cơ chế phối hợp, kiểm soát, giám sát hữu hiệu giữa các đối tượng đó

Như đã phân tích ở trên, cơ cấu quản lý của CTCP tương đối phức tạp Bởi vậy, cần phải có sự rõ ràng, cụ thể trong việc quy định quyền và nghĩa vụ của người quản lý công ty Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, yêu cầu này đã được giải quyết khá tốt Nhiệm vụ, quyền hạn, thể thức hoạt động của ĐHĐCĐ, HĐQT, GĐ/TGĐ, BKS được quy định rõ ràng Các cơ quan quản lý CTCP là ĐHĐCĐ, HĐQT, GĐ/TGĐ, BKS có sự độc lập tương đối trong hoạt động và có sự chi phối lẫn nhau ĐHĐCĐ là cơ quan có quyền lực cao nhất trong CTCP HĐQT là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ GĐ/TGĐ là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty BKS kiểm tra, giám sát các hoạt động của cơ quan quản lý trong việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh Với những quy định như vậy, nghĩa vụ của người quản lý CTCP được thể hiện rõ trong từng lĩnh vực, có sự phân công, phối hợp và giám sát chặt chẽ giữa các đối tượng quản lý Điều này hạn chế sự chồng chéo trong quá trình thực hiện nghĩa vụ và đảm bảo sự tuân thủ nghĩa vụ ở mức tối đa đối với người quản lý

Trang 25

Thứ ba, quy định về nghĩa vụ của người quản lý CTCP phải đảm bảo khả

năng tham gia quản lý của các cổ đông nhằm bảo vệ một cách tốt nhất quyền lợi của

cổ đông

Cổ đông là người góp vốn vào CTCP và là chủ sở hữu đối với CTCP Trong CTCP, cổ đông có vai trò quan trọng Sự ra đời và hoạt động của CTCP luôn gắn liền với các cổ đông Cổ đông là chủ sở hữu của công ty, nhưng không phải bao giờ cũng là người quản lý hay là người đại diện của CTCP Khi góp vốn, các cổ đông không tiếp tục sở hữu các giá trị đã góp vào công ty với tư cách là vốn góp mà sẽ sở hữu bản thân công ty tương ứng với tỷ lệ vốn góp Các cổ đông không trực tiếp quản lý các hoạt động của CTCP Chính vì vậy, bảo vệ quyền lợi của các cổ đông là một vấn đề vô cùng quan trọng Các cơ chế quản lý trong CTCP cần phải được thiết lập nhằm bảo vệ tối đa các quyền của các cổ đông trong công ty

Thứ tư, quyền hạn và nghĩa vụ của người quản lý CTCP phải đảm bảo sự

tách bạch giữa quyền sở hữu của cổ đông và quyền quản lý, điều hành công ty, tránh trường hợp người quản lý lợi dụng quyền hạn của mình để tư lợi, gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích của cổ đông và của công ty

Trang 26

Tiểu kết chương 1

Xuất phát từ đặc điểm của công ty cổ phần dẫn đến mô hình quản trị công ty

cổ phần có những đặc thù so với các loại hình công ty khác Và cũng từ tính chất của quản trị công ty cổ phần mà pháp luật phải quy định nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần một cách rõ ràng và đầy đủ nhằm bảo vệ lợi ích của công ty cũng như lợi ích của các cổ đông và các đối tác của công ty

Luận văn đã đưa ra khái niệm về người quản lý công ty cổ phần là những người chỉ đạo, điều hành, quyết định các vấn đề đối nội (quan hệ với các cổ đông, tổ chức quản lý, nhân sự, tổ chức các hoạt động kinh doanh ) và các vấn đề đối ngoại (ký kết các hợp đồng, đại diện cho công ty trước bên thứ ba ) Người quản lý trong công ty cổ phần bao gồm: Các thành viên HĐQT, Chủ tịch HĐQT, GĐ/ TGĐ, các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định Luận văn cũng trình bày các tiêu chuẩn, điều kiện để trở thành người quản lý công ty

Người quản lý công ty cổ phần có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống của công ty vì vậy pháp luật và điều lệ của công ty cổ phần luôn quy định nghĩa vụ cho người quản lý công ty Về mặt lý luận, mối quan hệ giữa người quản lý CTCP

và các cổ đông (chủ sở hữu) được xem là quan hệ ủy quyền Người quản lý có địa

vị của “người được ủy quyền” để thực hiện việc quản lý điều hành hoạt động của

công ty Vì vậy, người quản lý công ty có nghĩa vụ thực hiện quản lý, điều hành công ty trên nguyên tắc vì lợi ích của công ty và cổ đông cũng như của các đối tác

Hầu hết pháp luật về công ty của các quốc gia đều quy định nghĩa vụ của người quản lý công ty Ở Việt Nam nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần được quy định ở Luật Doanh nghiệp 2014 và ở các văn bản pháp luật khác như Luật Chứng khoán, Luật Đầu tư

Trang 27

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA

VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở

VIỆT NAM

2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý và người quản lý công ty cổ phần

2.1.1 Cơ cấu tổ chức quản lý CTCP

Theo Luật Doanh nghiệp 2014, cơ cấu tổ chức quản lý CTCP có thể lựa chọn theo hai mô hình khác nhau, được quy định tại Điều 133 Đây là mô hình tổ chức quản lý truyền thống và điển hình của CTCP Với mô hình này thì việc tổ chức quản

lý công ty có sự phân công, phân nhiệm và chế ngự lẫn nhau giữa các cơ quan quản

lý, điều hành và kiểm soát công ty Về lý thuyết là bộ máy tổ chức quản lý phù hợp

và hiệu quả với tính đại chúng của CTCP - tức có sự tham gia của đông đảo các cổ đông Tuy nhiên, trong một số trường hợp, bộ máy này có thể sẽ cồng kềnh, khiên cưỡng Xuất phát từ cách nhìn nhận đó, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định đối với những CTCP từ 11 cổ đông trở xuống và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty được tổ chức quản lý theo mô hình có ĐHĐCĐ, HĐQT

và GĐ/TGĐ Với mô hình này, CTCP không nhất thiết phải có ban kiểm soát độc lập để thực hiện chức năng kiểm tra giám sát hoạt động của công ty Mô hình thứ hai là có ban kiểm soát nội bộ trực thuộc HĐQT Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty Có thể thấy, quy định này của Luật Doanh nghiệp là hợp lý, phù hợp với thực tiễn tồn tại và hoạt động của các CTCP ở Việt Nam

2.1.2 Người quản lý Công ty cổ phần

Như đã phân tích ở trên, theo Luật Doanh nghiệp 2014, người quản lý CTCP gồm có các thành viên HĐQT, Chủ tịch HĐQT, GĐ/TGĐ và cá nhân giữ các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định

2.1.2.1 Các thành viên trong HĐQT

* Cơ chế hình thành HĐQT

Trang 28

Một đặc trưng của CTCP là số lượng cổ đông tham gia góp vốn vào công ty thường rất lớn, trình độ của các cổ đông không giống nhau, không phải tất cả các cổ đông đều có thể thường xuyên tham gia vào hoạt động quản lý của công ty Bên cạnh đó, các cổ đông lại được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn, có thời gian hoạt động lâu dài và có thể tự do chuyển nhượng cổ phần Vì thế, các nhà đầu tư trao quyền quản lý CTCP cho một nhóm người với nhiệm vụ ra những quyết định vì lợi ích cao nhất của công ty và mọi cổ đông chứ không phải vì lợi ích của một bộ phận nhà đầu tư nào đó Nhóm người được giao nhiệm vụ này gọi là HĐQT

HĐQT là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty (trừ các trường hợp thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ) HĐQT là cơ quan thực thi các quyết định của ĐHĐCĐ

và là cơ quan quản lý cao nhất của CTCP giữa hai kì họp ĐHĐCĐ Vì vậy, HĐQT

có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý nội bộ của CTCP Các quy định về quản lý nội bộ công ty phải đảm bảo HĐQT có vai trò lãnh đạo chiến lược trong công ty và giám sát có hiệu quả đối với công tác quản lý công ty cũng như trách nhiệm của HĐQT trước công ty và các cổ đông

* Cơ cấu, tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên HĐQT

- Về tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên HĐQT:

Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định tiêu chuẩn và điều kiện của các thành viên HĐQT (Điều 151) Theo đó, thành viên HĐQT phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau:

+ Có đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật này

+ Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh của công

ty và không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác

+ Thành viên HĐQT công ty có thể đồng thời là thành viên HĐQT của công

ty khác

Trang 29

+ Đối với công ty con mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì thành viên HĐQT không được là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con

đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản khác của công ty, không được là người có liên quan của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ

Thành viên độc lập HĐQT theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 134 Luật Doanh nghiệp có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác:

+ Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty, công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó

+ Không phải là người đang hưởng thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp

mà thành viên HĐQT được hưởng theo quy định

+ Không phải là người có vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty

+ Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty

+ Không phải là người đã từng làm thành viên HĐQT, BKS của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó

- Về số lượng thành viên HĐQT:

Luật Doanh nghiệp 2014 quy định HĐQT có từ ba thành viên và không quá mười một thành viên Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng thành viên HĐQT Nhiệm kỳ của thành viên HĐQT, thành viên độc lập HĐQT không quá 05 năm và

có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Số lượng, thời hạn cụ của nhiệm kỳ, số thành viên HĐQT phải thường trú ở Việt Nam do điều lệ công ty quy định Trong thực tế, số lượng thành viên HĐQT ở nước ta phụ thuộc nhiều vào quy mô công ty, thường gồm ba (chiếm 21% số doanh nghiệp điều tra) hay năm

Trang 30

thành viên (khoảng 62%) và bảy người (khoảng 12%); số còn lại có số thành viên

từ chín đến mười người Đại đa số thành viên HĐQT trực tiếp làm việc tại công ty

và đồng thời kiêm một hoặc một số chức danh quản lý tại công ty Do đó, trong phần lớn các trường hợp, Chủ tịch HĐQT kiêm cả GĐ/TGĐ Đa số thành viên HĐQT ở nước ta là các cổ đông lớn, hoặc đại diện các cổ đông lớn và người lớn nhất trong số họ thường kiêm luôn chức TGĐ điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày tại công ty [16]

2.1.2.2 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

* Địa vị pháp lý GĐ/TGĐ CTCP

GĐ/TGĐ là người có quyền và nhiệm vụ điều hành công việc quản lý kinh doanh hàng ngày của công ty, là cán bộ quản lý cao cấp do HĐQT ủy nhiệm để trợ giúp cho HĐQT điều khiển các công việc kinh doanh Theo pháp luật Việt Nam, mỗi CTCP đều phải có GĐ/TGĐ và đồng thời, pháp luật nước ta cũng quy định cụ thể quyền hạn và nghĩa vụ của chức danh này Theo đó GĐ/TGĐ là cơ quan điều hành của công ty, vì nó do HĐQT bổ nhiệm và phụ thuộc vào HĐQT

Trong pháp luật của một số nước khác, GĐ/TGĐ là một chức danh do điều lệ công ty quy định, là một cơ quan thường trực trợ giúp điều hành nghiệp vụ cho HĐQT chứ không phải là một cơ quan trong công ty Ở các nước này, GĐ/TGĐ có địa vị pháp lý như là người giúp việc quản lý kinh doanh của một thương nhân Họ tham gia vào công ty với tư cách là người làm thuê, thông qua một hợp đồng lao

động Theo Luật Thương mại Nhật Bản, GĐ/TGĐ là "người sử dụng thương mại",

"người chi phối" Nghĩa là, họ được giao nhiệm vụ phụ trách và quản lý hoạt động

kinh doanh của công ty hoặc của các bộ phận trong công ty Còn Bộ luật Dân sự

Italy lại định nghĩa GĐ/TGĐ là "người được ủy quyền bởi chủ doanh nghiệp để

quản lý kinh doanh doanh nghiệp đó" [12; tr33]

Nhìn chung, đa số các nước trên thế giới đều nhận định rằng GĐ/TGĐ Công

ty không phải là người chủ, cũng không phải là người làm thuê thông thường Mà

họ là người có quyền chỉ huy điều khiển, và họ có địa vị cao trong công ty Quan hệ

Trang 31

giữa GĐ/TGĐ với công ty thường được điều chỉnh bởi luật công ty và luật thương mại, không giống như quan hệ với công nhân viên chức thường do luật lao động điều chỉnh

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 thì GĐ/TGĐ là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày, do HĐQT bổ nhiệm để trợ giúp cho HĐQT trong việc điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, GĐ/TGĐ chịu sự giám sát của HĐQT và chịu trách nhiệm trước HĐQT và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao HĐQT có thể bổ nhiệm một người trong số các thành viên của HĐQT hoặc thuê người khác làm GĐ/TGĐ Nếu điều lệ công ty không quy định Chủ tịch HĐQT là người đại diện pháp luật thì GĐ/TGĐ là người đại diện theo pháp luật của công ty Việc thuê GĐ/TGĐ đã được áp dụng tại một số công ty như Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy và Tổng Công ty Công nghiệp ô tô Việt Nam, đây được coi là một bước tiến rất lớn trong tiến trình đổi mới doanh nghiệp

Cách pháp định hóa chức quyền của GĐ/TGĐ Công ty như trên cho thấy rằng pháp luật Việt Nam coi GĐ/TGĐ là một cơ quan của công ty Điều này tỏ ra không thống nhất với thông lệ của phương Tây, nơi mà GĐ/TGĐ chỉ là một cơ quan phụ thuộc và trợ giúp HĐQT, hoạt động hoàn toàn dưới sự giám sát của HĐQT Sở

dĩ pháp luật nước ta quy định như vậy là do xuất phát từ thực tiễn hoạt động của những CTCP: Cụ thể, trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước, GĐ/TGĐ luôn là quan chức nắm giữ quyền lực toàn diện và ít khi có sự kiểm soát của cơ quan khác trong doanh nghiệp Sau đó, khi chúng ta tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, các nhà lập pháp đã phần nào kế thừa quan niệm về GĐ/TGĐ như ở trong doanh nghiệp Nhà nước nên đã quy định rất cụ thể quyền hạn của GĐ/TGĐ CTCP Tức là, GĐ/TGĐ được giao cho nhiều quyền lực và được coi như là một cơ quan của công ty (xem Điều 157 LDN 2014)

* Tiêu chuẩn của GĐ/TGĐ CTCP

Tại Điều 65 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định cụ thể về tiêu chuẩn và điều kiện của GĐ/TGĐ như sau:

Trang 32

"1, Có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật này;

2, Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh của công

ty, nếu điều lệ công ty không quy định khác

3 Đối với công ty con của công ty có phần vốn góp, cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì ngoài các tiêu chuẩn và điều kiện quy định tại khoản 1và 2 Điều này, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không được là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh, chị, em ruột, anh

rể, em rể, chị dâu, em dâu của người quản lý công ty mẹ và người đại diện phần vốn Nhà nước tại công ty đó"

Theo số liệu thống kê của một cuộc điều tra quy mô được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa với sự tham gia của hơn 63 nghìn doanh nghiệp tại 30 tỉnh thành phía Bắc, có tới 55,63% số chủ doanh nghiệp

có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp Cụ thể, số người là tiến sĩ chỉ chiếm 0,66%; thạc sĩ 2,33%; đã tốt nghiệp đại học 37,82%; tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình

độ thấp hơn Điều đáng chú ý là đa số các chủ doanh nghiệp ngay những người có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp [18]

2.1.2.3 Người quản lý khác

Theo quy định tại khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014, người quản lý CTCP ngoài thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ thì còn có các chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại điều lệ công ty Đây là một định nghĩa theo hướng mở, theo đó, người quản lý công ty có thể gồm các phó tổng giám đốc, giám đốc chi nhánh, trưởng phòng theo quy định của điều lệ công ty

Trang 33

Ngoài những nghĩa vụ chung mà người quản lý CTCP phải thực hiện, những nghĩa vụ cụ thể đối với người quản lý khác sẽ tùy thuộc vào tình hình cụ thể của từng công ty, được quy định trong điều lệ của công ty đó Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều đối tượng quản lý như phó tổng giám đốc, trưởng phòng lợi dụng quyền hạn của mình để tư lợi, gây thiệt hại lớn cho công ty, điển hình như vi phạm của ba phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Tổng Công ty Khí Việt Nam vào đầu tháng 5/2013 vừa qua Đứng trước thực trạng này đặt ra một vấn đề: nên chăng

cần có quy định cụ thể về "người quản lý khác"? Bởi vì quy mô của các CTCP

ngày càng lớn, đi đôi với nó là yêu cầu của công tác quản lý ngày càng cao Bên cạnh những bộ phận quản lý lớn như, HĐQT, GĐ/TGĐ, BKS thì các bộ phận khác cũng rất quan trọng Vì vậy, cần bổ sung những quy định cụ thể về vị trí, quyền hạn của những bộ phận này

2.2 Nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần

2.2.1 Nhóm nghĩa vụ chung của người quản lý công ty

Với tầm quan trọng và vai trò của người quản lý đối với công ty, những nghĩa vụ chung nhất mà người quản lý CTCP cần thực hiện đã được quy định tại Điều 160 Luật Doanh nghiệp 2014, mà điều luật gọi là trách nhiệm của người quản

lý công ty:

Thứ nhất, người quản lý công ty phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật có liên quan, điều lệ công ty và nghị quyết của ĐHĐCĐ

Điều này xuất phát từ "hợp đồng ủy quyền" giữa người quản lý công ty và cổ

đông trong công ty Phạm vi ủy quyền là thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật, điều lệ công ty quy định và ĐHĐCĐ quyết định Nếu thực hiện vượt quá phạm vi ủy quyền này hoặc không thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng ủy quyền thì người quản lý công ty phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

Đối với GĐ/TGĐ, khi điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công

ty phải theo đúng quy định của pháp luật, điều lệ công ty, hợp đồng lao động ký với

Trang 34

công ty (nếu có) và quyết định của HĐQT Nếu điều hành trái với quy định này mà gây thiệt hại cho công ty thì GĐ/TGĐ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại cho công ty

Đối với các thành viên HĐQT, khi thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, HĐQT tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bản điều lệ và nghị quyết của ĐHĐCĐ; nếu làm trái gây thiệt hại cho công ty thì các thành viên chấp thuận thông qua quyết định đó phải cùng liên đới chịu trách nhiệm cá nhân về quyết định đó và phải đền bù thiệt hại cho công ty

Thứ hai, thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty

Về cơ bản, người quản lý phải ứng xử theo lựa chọn và thói quen hợp lý mà người ta có thể chờ đợi ở bất kỳ nhà kinh doanh nào Nghĩa vụ cẩn trọng, trung thực được giải thích bởi tòa án khi giải quyết vụ việc cụ thể

Thực hiện nghĩa vụ một cách cẩn trọng và trung thực vì lợi ích của công ty là điều đương nhiên phải thực hiện; song người quản lý phải cẩn trọng và trung thực với lợi ích của các cổ đông cũng cần được giải hích thêm, bởi lợi ích của cổ đông rất đa dạng, đôi khi đối kháng lẫn nhau Tuy vậy, có thể giải thích rằng lợi ích của công ty cũng chính là lợi ích của các cổ đông Lợi ích của công ty được đảm bảo thì lợi ích của các cổ đông cũng được đảm bảo

Thứ ba, nghĩa vụ trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông của công ty; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, địa vị, chức

vụ vàsử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác

Ngoài nghĩa vụ cẩn trọng, người quản lý phải có nghĩa vụ trung thành với lợi ích công ty và của các cổ đông trong công ty Nhà làm luật đã làm rõ một số tiêu chí đánh giá sự trung thành, ví dụ người quản lý không được sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty; không được lạm dụng vị trí để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của người khác, gây ảnh hưởng công ty Tương tự như nghĩa vụ cẩn

Ngày đăng: 26/04/2020, 21:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm