1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản từ thực tiễn thái nguyên

79 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn chủ yếu đề cập đến những điểm chưa hợp lý trong các quy định về phương pháp khấu trừ tại nguồn của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và vấn đề thực tiễn tron

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

ÁP DỤNG LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN

TỪ THỰC TIỄN TẠI THÁI NGUYÊN

PHẠM NGỌC THÀNH

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ

ÁP DỤNG LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN

TỪ THỰC TIỄN TẠI THÁI NGUYÊN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng,

đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi

tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Tác giả

Phạm Ngọc Thành

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Ban Giám hiệu Viện Đại học Mở Hà Nội, quý Thầy, Cô khoa Đào tạo sau đại học; quý Thầy, Cô đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Luật kinh tế mà tác giả theo học đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Thị Giang Thu - người Cô đáng kính đã bỏ nhiều công sức tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Cục thuế tỉnh Thái Nguyên, các chi cục thuế huyện, Thành phố của Thái Nguyên đã cung cấp số liệu, giúp đỡ, động viên tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành luận văn

Trong quá trình thực hiện đề tài, chắc chắn luận văn không sao tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, tác giả mong nhận được sự thông cảm, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, quý Thầy Cô và bạn bè đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, tháng 10 năm 2017

Tác giả

Phạm Ngọc Thành

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4

5 Những đóng góp mới của luận văn 5

6 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1 6

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 6

VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 6

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN 6

1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân và đặc trưng của thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và cấu trúc của thuế thu nhập cá nhân 6

1.1.2 Đặc trưng của thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 7

1.1.3 Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 8

1.2 Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 14

1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 14

Trang 6

1.2.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động

chuyển nhượng bất động sản 14

1.2.3 Quy trình áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 16

1.2.4 Các yếu tố chi phối tính hiệu quả của việc áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 17

1.3 Vai trò của pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 22

1.3.1 Đối với nền kinh tế- xã hội Error! Bookmark not defined 1.3.2 Đối với hệ thống pháp luật thuế Error! Bookmark not defined 1.3.3 Pháp luật thuế thu nhập cá nhân là công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25

Chương 2 26

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP 26

CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG 26

BẤT ĐỘNG SẢN TỪ THỰC TIỄN TẠI THÁI NGUYÊN 26

2.1 Những đặc trưng cơ bản về kinh tế xã hội của Thái Nguyên và tình hình chuyển nhượng bất động sản trên địa bàn Thái Nguyên 26

2.1.1 Những đặc trưng cơ bản về kinh tế xã hội của Thái Nguyên 26

2.1.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi hành chính 26

2.1.2 Tình hình chuyển nhượng bất động sản trên địa bàn Thái Nguyên 33

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên 36

2.2.1 Đối với miễn thuế mà cá nhân có một nhà ở duy nhất 37

2.2.2 Đối với nhà ở hình thành trong tương lai 37

2.2.3 Về trình tự, thủ tục luân chuyển và giải quyết hồ sơ thực hiện nghĩa vụ tài chính về nhà, đất của hộ gia đình cá nhân 40

Trang 7

2.2.4 Những vướng mắc khi thực hiện Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày

15/8/2013 của Bộ Tài chính 40

2.2.5 Thực tiễn áp dụng các quy định về miễn, giảm, hoàn thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 44

2.3 Một số nhận xét, đánh giá và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên 48

2.3.1 Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 48

2.3.2 Kiến nghị về tổ chức thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 59

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65

KẾT LUẬN 66

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

a Danh mục các văn bản quy phạm pháp luật 68

b Danh mục sách, báo, tạp chí và công trình nghiên cứu: 70

c Các website 72

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là một công cụ quan trọng của Nhà nước, nó vừa đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, vừa là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Để sử dụng hiệu quả công cụ thuế, về cơ bản hệ thống chính sách thuế bao gồm thuế gián thu và thuế trực thu

- Thuế gián thu như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Thuế trực thu bao gồm thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo thông lệ của các quốc gia, thuế trực thu sẽ chiếm tỷ trọng lớn, ngược lại, giảm dần thuế gián thu Việt Nam đang bước vào hội nhập sâu, rộng với kinh tế quốc tế và tiến trình chuyển đổi dần cơ cấu tỷ trọng tăng dần của các sắc thuế trực thu đang là xu hướng tất yếu Thuế Thu nhập cá nhân cũng đóng một vai trò đáng kể trong nguồn thu ngân sách và là nghĩa vụ của tất cả những người lao động trên lãnh thổ Việt Nam Thuế Thu nhập cá nhân điều tiết thu nhập cá nhân, thể hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước

và được căn cứ trên các nguyên tắc: lợi ích, công bằng và khả năng nộp thuế

Trong thời gian qua cùng với sự phát triển mạnh nền kinh tế của tỉnh Thái Nguyên, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng tăng lên đáng kể, thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp cũng

có xu hướng ngày càng tăng Đối tượng nộp Thuế TNCN và hình thức thu nhập của các bộ phận dân cư và người lao động cũng đa dạng Trong những năm tới, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong những giai đoạn tiếp theo, các thị trường tài chính, tiền tệ, vốn, lao động sẽ có sự phát triển mạnh mẽ hơn đến Thái Nguyên Nền kinh tế sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội đầu tư, sản xuất kinh doanh, có

Trang 9

thêm nguồn thu nhập khác nhau Bên cạnh đó, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, một số doanh nghiệp, người nước ngoài làm việc, sinh sống tại Thái Nguyên và số người Việt Nam có thu nhập từ những doanh nghiệp nước ngoài cũng tăng lên

Xuất phát từ thực tế nêu trên, cùng với thực tiễn trong công tác quản lý

thuế thu nhập cá nhân, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Áp dụng luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản từ thực tiễn tại Thái Nguyên” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khác nhau nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu chủ yếu và nổi bật sau đây:

- “Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt

Nam” của đồng tác giả PGS.TS Lê Văn Ái và Ths Đỗ Đức Minh Đây là một công trình bao quát mang tính kinh tế

- “Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân”, năm

2006, luận văn thạc sĩ của Phan Phương Nam Luận văn thạc sĩ này làm rõ khái niệm nguyên tắc công bằng dưới góc độ lý luận, được cụ thể hóa trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân thời điểm đó như thế nào và thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân có đảm bảo được tính công bằng chưa Đồng thời, tác giả cũng đã khảo cứu pháp luật của các nước tiên tiến để thấy

rõ hơn nữa tính công bằng trong pháp luật thế thu nhập cá nhân, từ đó tác giả

đã đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện việc xây dựng dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân vào thời điểm đó;

- “Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao – thực trạng và giải

chủ yếu đề cập đến các phương pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế thu

Trang 10

nhập đối với người có thu nhập cao ở thời điểm đó, hoàn thiện các biện pháp

tổ chức, thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Đồng thời cũng đưa

ra những đề xuất phương hướng xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân thay cho pháp lệnh thuế thu cao thời điểm bấy giờ;

- “Thực trạng áp dụng pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu

nhập cao từ thực tiễn thuế đối với nghệ sỹ”, luận văn thạc sỹ năm 2006 của

Nguyễn Thị Thúy Hường Luận văn này chủ yếu phân tích những vấn đề còn vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân và việc thu thuế đối với một số đối tượng có thu nhập cao nhưng lại rất khó quản lý là các nghệ sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh;

- “Quy định của pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

về khấu trừ tại nguồn - Thực trạng và hướng hoàn thiện”, khóa luận tốt

nghiệp năm 2006 của Lý Hải Yến Đây là công trình trực tiếp nghiên cứu về

đề tài “khấu trừ tại nguồn” được quy định theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (sửa đổi bổ sung năm 2004) Luận văn chủ yếu đề cập đến những điểm chưa hợp lý trong các quy định về phương pháp khấu trừ tại nguồn của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và vấn

đề thực tiễn trong việc áp dụng phương pháp này trên thực tế còn nhiều bất cập để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những vấn đề bất cập đó.Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại thì Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã hết hiệu lực, và được thay thế bởi Luật thuế thu nhập cá nhân 04/2007/QH12 Các quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 về khấu trừ tại nguồn cũng có nhiều thay đổi so với các quy định tại Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (sửa đổi bổ sung năm 2004)

Từ các công trình đã dẫn ở trên, có thể khẳng định rằng cho đến nay chưa có một công trình nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu cụ thể, chi tiết về việc áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển

Trang 11

nhượng bất động sản ở Thái Nguyên Vì vậy, có thể khẳng định việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết, vừa có tính mới và có ý nghĩa thực tiễn trong thời điểm hiện nay

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về áp

dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản; thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản; đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhợng bất

động sản ở Thái Nguyên

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định pháp luật thuế thu

nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản và tình hình thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển

nhượng bất động sản ở Thái Nguyên thời gian qua

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề sau đây:

- Những vấn đề lý luận cơ bản về áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản;

- Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên;

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được triển khai thực hiện trên cơ sở sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu phổ biến trong khoa học xã hội như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu pháp luật, phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học, phương pháp thống kê để giải quyết các nội dung thuộc yêu cầu của đề tài

Trang 12

Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng các phương pháp định tính dựa trên cơ sở nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ tài liệu tạp chí chuyên ngành và báo cáo thống kê chuyên ngành tài chính, thuế

5 Những đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống hoá các vấn đề lý thuyết về công tác quản lý thuế thu nhập

cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Việt Nam

- Trình bầy thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản tại Thái nguyên

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản tại Thái Nguyên

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

sẽ được trình bày thành 2 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản tại Thái Nguyên và một số kiến nghị

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN

1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân và đặc trưng của thuế thu nhập

cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và cấu trúc của thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu điều tiết vào thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế, thuế thu nhập cá nhân là điều tiết vào các khoản thu nhập thuộc sở hữu của cá nhân không phân biệt nguồn hình thành thu nhập Khoản thu này có thể hình thành từ các quan hệ xã hội đa dạng của

cá nhân : Như quan hệ lao động, quan hệ kinh doanh, quan hệ tín dụng, quan

hệ mua bán, chuyển nhượng các quyền về tài sản…

Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam

- Một cá nhân được xem là cư trú khi đáp ứng một trong các điều kiện sau:

a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam ;

b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn

Đối tượng chịu thuế

- Thu nhập thường xuyên

Là những thu nhập mang tính đều đặn ổn định Với một cá nhân thì thu nhập thường xuyên có thể hình thành từ hoạt động kinh doanh hay hoạt động lao động Thu nhập này được xác định gồm:

Trang 14

+ Thu nhập từ kinh doanh (sản xuất, kinh doanh, hành nghề độc lập) + Thu nhập từ tiền lương, tiền công (tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, thù lao…)

- Thu nhập không thường xuyên bao gồm:

+ Thu nhập từ đầu tư vốn (tiền lãi cho vay, cổ tức…)

+ Thu nhập từ chuyển nhượng vốn (chuyển nhượng phần vốn trong các

tổ chức kinh tế, thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán…)

+ Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở, chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước….)

+ Thu nhập từ trúng thưởng (trúng thưởng xổ số, khuyến mại, trong các hình thức cá cược, casino…)

nhập được tạo lập và chủ sở hữu là cá nhân cư trú hay không cư trú

nhượng bất động sản

Đặc trưng: Được xác định bằng giá chuyển nhượng bất động sản theo

từng lần chuyển nhượng trừ giá mua bất động sản và các chi phí liên quan

- Trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá chuyển nhượng bất động sản Thời điểm xác địng thu nhập

Trang 15

chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực

1.1.3 Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản

Thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản

- Được xác định bằng giá chuyển nhượng bất động sản nhân với thuế suất 2%

- Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế là thời thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực

Thực tế, không ít trường hợp đã lợi dụng sự thông thoáng của luật để

lách Luật, trốn thuế, gây thất thu không nhỏ cho ngân sách Các hành vi lách luật điển hình và phổ biến hiện nay phát sinh dưới nhiều hình thức như: thỏa thuận thấp giá chuyển nhượng, chuyển nhượng/cho/tặng qua trung gian, Hủy

bỏ hợp đồng hình thành tài sản trong tương lai với chủ đầu tư…

Là loại thuế có tầm ảnh hưởng rộng, tác động đến hầu hết mọi tầng lớp dân cư, mọi sinh hoạt của đời sống, xã hội nên việc triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) không tránh khỏi vướng mắc phát sinh trong năm đầu triển khai

Mặc dù các cơ quan chức năng đã có sự nắm bắt để sửa đổi, bổ sung chính sách kịp thời, nhưng riêng vấn đề thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, đến nay vẫn còn nhiều bất cập

Điểm bất cập thứ nhất, người có tài sản chuyển nhượng tự khai là tài

sản duy nhất

Điều 4 Luật Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) quy định: Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế; đồng thời, người chuyển nhượng bất động sản (BĐS) tự khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình Tuy nhiên, đây chính là

Trang 16

kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế

Thực tế này đang diễn ra khá phổ biến, gây thất thu lớn cho ngân sách,

vì trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước chưa thể kết nối mạng thông tin thống nhất trên phạm vi toàn quốc, do

đó không thể quản lý được việc sở hữu BĐS chi tiết đến từng cá nhân trên nhiều địa bàn khác nhau Thậm chí, người sở hữu nhà ở, đất ở trong cùng một địa bàn nhưng khi kê khai thì người sở hữu nhà hoàn toàn có thể khai theo địa chỉ ghi trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất gửi ở cơ quan thuế Trong khi đó, cơ sở dữ liệu tại các quận huyện, địa phương lại quản lý theo địa chỉ cấp đổi mới, do vậy, lại một lần nữa, cơ quan thuế cần đến văn bản tự cam kết của người kê khai chứ chưa có thông tin chuẩn xác để đối chiếu

Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế Thực tế này đang diễn ra hàng ngày và khá phổ biến, gây thất thu lớn cho ngân sách

Ví dụ, có thể cùng một người trong gia đình gồm 3 thế hệ (ông bà, con

và cháu) Họ sống cùng nhau, có nhiều bất động sản (có 2 căn nhà trở lên chẳng hạn) Giờ gia đình này muốn bán đi một căn nhà (cách biệt) nên họ làm thủ tục cho con đẻ, vì họ muốn lách luật để người con này (vẫn cùng chung sống với bố mẹ) chỉ có 1 căn nhà đất duy nhất nên không phải nộp thuế thu nhập cá nhân (25% tổng số tiền bán nhà) Và cứ như thế nếu có họ 10 căn nhà thì họ vẫn tiếp tục thực hiện theo quy trình trên thì họ vẫn không phải nộp

thuế thu nhập cá nhân

Thứ hai, hạ giá chuyển nhượng

Hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định

Trang 17

Thực tế trên thị trường bất động sản, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định Nhưng vì lợi ích của cả người mua và người bán (bên bán được nộp thuế TNCN ít hơn, bên mua nộp lệ phí trước

bạ thấp hơn), nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế Và để được cơ quan nhà nước chấp nhận hồ sơ, họ chỉ ghi trên hợp đồng mức giá ngang bằng hoặc cao hơn chút đỉnh so với giá UBND tỉnh, TP quy định Như thế sẽ được nộp thuế thấp hơn số thực tế phải nộp Kết quả là, cả đôi bên mua bán đất cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịu thất thu thuế

Ví dụ: Ông A bán một lô đất giá thực tế mua bán là 2 tỷ đồng, giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 1,5 tỷ đồng (tương đương giá đất do UBND tỉnh quy định) thì số thuế TNCN sẽ bị thất thu là:

( 2 tỷ đồng- 1,5 tỷ đồng) x 2%=10 triệu đồng

Đây chỉ là một trường hợp với giá trị mua bán không lớn Trên thực tế, mỗi ngày có biết bao giao dịch diễn ra với giá trị mỗi giao dịch lên đến hàng chục tỷ đồngthì chắc chắn số thuế thất thu là rất lớn

Thứ ba, chuyển nhượng bắc cầu

Khoản 1 Điều 4 Luật Thuế TNCN 2007 quy định: “Thu nhập từ chuyển nhượng BĐS giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau” thì được miễn thuế TNCN Lợi dụng quy định này, nhiều trường hợp đã sử dụng mối quan hệ bắc cầu để trốn thuế

Ví dụ, trường hợp hai anh em cọc chèo chuyển nhượng BĐS cho nhau, theo quy định nêu trên, họ là đối tượng phải nộp thuế Tuy nhiên, để không phải nộp thuế, người anh rể có thể làm thủ tục chuyển nhượng cho bố

vợ, sau đó bố vợ lại chuyển nhượng tiếp cho rể thứ hai Bằng cách này, người chuyển nhượng BĐS đã tránh phải nộp thuế Một trường hợp khác,

Trang 18

nếu căn nhà đứng tên vợ chồng anh trai ruột, nay anh và chị dâu tặng nhà cho em trai thì người em trai vẫn phải nộp thuế TNCN khoản “quà tặng” do giao dịch cho tặng giữa chị dâu với em chồng không được miễn thuế Để không phải nộp thuế, người vợ có thể làm thủ tục tặng phần sở hữu của mình cho chồng, sau đó người anh trai làm thủ tục tặng nhà cho em trai Hoặc, vợ chồng người anh làm thủ tục tặng nhà cho bố mẹ, sau đó bố mẹ làm thủ tục tặng nhà đó lại cho người em trai

Thứ tư, thỏa thuận thấp giá chuyển nhượng

Điều 17 Thông tư 92/2015/TT-BTC chỉ rõ: Giá chuyển nhượng đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có công trình xây dựng trên đất là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng Giá chuyển nhượng đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với công trình xây dựng trên đất, kể cả công trình xây dựng hình thành trong tương lai là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng Trường hợp trên hợp đồng chuyển nhượng không ghi giá đất hoặc giá đất trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định thì giá chuyển nhượng đất là giá do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về đất đai Trường hợp chuyển nhượng nhà gắn liền với đất thì phần giá trị nhà, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc gắn liền với đất được xác định căn cứ theo giá tính lệ phí trước bạ nhà do UBND cấp tỉnh quy định Trường hợp UBND cấp tỉnh không có quy định giá tính lệ phí trước bạ nhà thì căn cứ vào quy định của Bộ Xây dựng về phân loại nhà,

về tiêu chuẩn, định mức xây dựng cơ bản, về giá trị còn lại thực tế của công trình trên đất

Như vậy, hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượng là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, thành phố quy định Thực tế trên thị trường BĐS, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất do UBND tỉnh, thành

Trang 19

phố quy định nhưng do căn cứ xác định thuế TNCN của người bán và thuế trước bạ của người mua là giá chuyển nhượng, vì lợi ích của cả người mua và người bán, nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế Trong trường hợp này chỉ Nhà nước chịu thất thu thuế

Thứ năm, hủy bỏ hợp đồng hình thành tài sản trong tương lai với chủ đầu tư

Cũng trong Điều 17 Thông tư 92/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Điều

12 Thông tư số 111/2013/ TT-BTC của Bộ Tài chính về căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng BĐS đối với công trình xây dựng hình thành trong tương lai: Trường hợp hợp đồng không ghi giá chuyển nhượng hoặc giá chuyển nhượng thấp hơn tỷ lệ góp vốn trên phần tổng giá trị hợp đồng nhân (x) với giá đất và giá tính lệ phí trước bạ công trình xây dựng do UBND cấp tỉnh quy định thì giá chuyển nhượng được xác định theo giá UBND (x) với tỷ

lệ góp vốn trên tổng giá trị hợp đồng Trường hợp UBND cấp tỉnh chưa có quy định về đơn giá thì áp dụng theo suất vốn đầu tư xây dựng công trình do

Bộ Xây dựng công bố, đang áp dụng tại thời điểm chuyển nhượng Quy định thì có nhưng để thu được khoản thuế này chưa hẳn dễ dàng Nhà đầu tư ký hợp đồng mua nhà ở hình thành trong tương lai (hoặc ký hợp đồng góp vốn để nhận về phần đất tương ứng) với chủ đầu tư Khi nhà đầu tư A thực hiện giao dịch mua bán với nhà đầu tư B, họ không đưa nhau ra phòng công chứng để chuyển nhượng lại Hợp đồng đã ký với chủ đầu tư, mà nhà đầu tư A sẽ lập biên bản hủy bỏ hợp đồng với chủ đầu tư Chủ đầu tư sử dụng lại hợp đồng cũ nhưng chỉ thay đổi tên người mua mới là nhà đầu tư B Bằng cách này, nhà đầu tư A đã không phải nộp thuế TNCN khi chuyển nhượng hợp đồng

Thứ sáu, giao dịch mua bán bằng giấy viết tay

Ở nhiều địa phương, do nhận thức của người dân còn thấp nên nhiều hợp đồng mua, bán nhà đất hiện vẫn tồn tại theo hình thức viết tay giữa các cá

Trang 20

nhân Điều này chưa đủ căn cứ pháp lý để cơ quan thuế tính thuế bởi theo quy định, việc xác định căn cứ tính thuế thu nhập từ chuyển nhượng BĐS chỉ xảy

ra khi hoạt động chuyển nhượng đã được cơ quan nhà nước chứng thực Việc không tiến hành lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà/quyền

sử dụng đất và thực hiện giao dịch theo thỏa thuận bằng giấy viết tay không chỉ khiến nhà nước bị thất thu thuế trong các giao dịch này, mà còn khiến các

cơ quan chức năng ở địa phương, nơi cá nhân mua bán BĐS cư trú khó xác định người chuyển nhượng hiện có bao nhiêu BĐS và đâu là BĐS duy nhất

Không phủ nhận việc cải cách để cơ chế ngày càng được thông thoáng

là mục tiêu mà các cơ quản quản lý hàng chính đang phấn đấu để đạt tới Tuy nhiên, trong giai đọan quá độ, khi ý thức của một bộ phận dân cư còn thấp thì cũng cần phải có những giải pháp ngắn hạn đề chấn chỉnh, kiểm soát

Trên cơ sở nhận diện các hành vi lách thuế, tránh thuế phát sinh khi triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN, thiết nghĩ, các cấp quản lý cần khẩn trương có những giải pháp hữu hiệu, theo đó tập trung vào các biện pháp sau:

Về phía Nhà nước, phải xây dựng và quản lý hệ thống thông tin cá nhân đầy đủ toàn diện, trên cơ sở đó giữa ngành thuế và ngành Tài nguyên và môi trường kết nối mạng thông tin thống nhất trên phạm vi toàn quốc để quản

lý được việc sở hữu BĐS chi tiết của từng cá nhân Từ đó, chống được sự khai gian dối là tài sản duy nhất trong chuyển nhượng bất động sản để được miễn thuế

Đối với UBND các tỉnh, TP để chống việc lách thuế qua việc ghi thấp giá trên hợp đồng chuyển nhượng thì việc xây dựng và ban hành bảng giá nhà, đất Hàng năm phải phù hợp và sát giá thực tế chuyển nhượng trên thị trường tự do

Riêng ngành thuế, với vị trí, vai trò của cơ quan chịu trách nhiện chính, phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến đạo lý của Luật Thuế TNCN đến mọi tầng lớp dân cư để giúp họ nắm và hiểu về các quy định,

Trang 21

đồng thời bằng kinh nghiệm và kỹ năng quản lý chuyên sâu, phải chủ động

đề xuất ngay các giải pháp ứng phó trong mọi tình huống, đảm bảo quản lý sát nguồn thu

1.2 Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản

1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản

Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội Ðồng thời, tùy theo tính chất của các khoản thu nhập cá nhân, người ta chia thu nhập làm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên để tính thuế cho phù hợp để tính thuế vào từng khoản thu nhập thực tế của mỗi cá nhân, đảm bảo thu kịp thời và tăng thêm nguồn thu vào ngân sách Nhà nước

Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản: Là khoản lãi nhận được do việc chuyển nhượng BĐS của cá nhân, như: chuyển nhượng vốn quyền sử dụng đất và tài sản gắn với đất, quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở, quyền thuê đất, thuê mặt nước

Như vậy, thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản là loại

thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân trong việc kinh doanh dịch vụ chuyển nhượng bất động sản

1.2.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản

- Thứ nhất: Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân từ nguồn thu nhập của hoạt động chuyển nhượng bất động sản là cá nhân có thu nhập chịu thuế không phân biệt cá nhân đó có tư cách chủ thể, tức là độ tuổi hay xác định năng lực trách nhiệm pháp luật…

Trang 22

Điều 2 của Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân

và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2014 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm

2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định

về thuế, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 quy định:

1 Người nộp thuế thu nhập cá nhân bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Điều 3 Nghị định này Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của người nộp thuế như sau:

a) Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập;

b) Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập

2 Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau:

a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;

Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo quy định tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam

b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:

- Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú;

- Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế

Trang 23

Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại Điểm này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là đối tượng cư trú của nước nào thì cá nhân đó là đối tượng cư trú tại Việt Nam

3 Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều này

- Thứ hai: : Mức độ điều tiết phần thu nhập cao là rất lớn theo mức thuế suất tỷ lệ lũy tiến từng phần

- Thứ ba: Quy định về chế độ miễn giảm linh hoạt

Đây là các cá nhân có thu nhập theo quy định của pháp luật nhằm

thực hiện mục đích điều tiết một phần thu nhập của họ để thực hiện công

- Đối với trường hợp chuyển nhượng bất động sản dưới dạng mua và bán bất động sản đều thực hiện bằng Hợp đồng mua bán bất động sản có chứng nhận của cơ quan công chứng, không có cơ sở để xác định giá vốn và chi phí liên quan làm cơ sở xác định thu nhập tính thuế thì áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng

-Đối với trường hợp cá nhân mua bất động sản từ tổ chức kinh doanh bất động sản, từ tổ chức kinh tế có hợp đồng mua bán và hóa đơn hợp pháp;

từ giao đất có thu tiền sử dụng đất; từ trúng đấu giá, sau đấy chuyển nhượng

Trang 24

bất động sản đó cho tổ chức hoặc cá nhân khác theo Hợp đồng mua bán bất động sản có chứng nhận của cơ quan công chứng thì: (i) Trường hợp người nộp thuế có căn cứ để xác định được thu nhập tính thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân thì thực hiện khai và nộp thuế theo thuế suất 25%; Trường hợp người nộp thuế không xác định hoặc không có hồ sơ

để xác định được giá vốn và các chi phí liên quan làm cơ sở xác định thu nhập tính thuế thì người nộp thuế khai thuế với thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng và tự chịu trách nhiệm về việc kê khai thuế

Giá chuyển nhượng là giá thực tế trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng Trường hợp, hợp đồng không ghi giá chuyển nhượng hoặc giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định thì giá chuyển nhượng được xác định theo quy định tại Điều 18, Điều 19, Điều 20 Nghị định 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ

và các văn bản hướng dẫn hiện hành

Cơ quan thuế thực hiện kiểm tra và xác định số thuế TNCN phải nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn hiện hành Trường hợp phát hiện có sự gian lận về căn cứ tính thuế thì cơ quan thuế thực hiện truy thu và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật về quản lý thuế./

1.2.4 Các yếu tố chi phối tính hiệu quả của việc áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản cần tôn trọng những nguyên tắc sau đây:

– Đảm bảo nguyên tắc công bằng Nguyên tắc công bằng không chỉ là yêu cầu mà còn là mục tiêu hướng tới của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, hệ thống pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản nói riêng Quá trình ban hành, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật thuế của nước ta trong 20 năm đổi mới đã thể hiện yêu cầu đó Điều

đó đòi hỏi pháp luật thuế Việt Nam phải đáp ứng được hệ thống pháp luật thể

Trang 25

hiện sự công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế trong từng luật thuế cũng như trong cả hệ thống pháp luật Giải quyết yêu cầu này, những vấn đề phát sinh trong công tác hành thu như khai man tiền thuế, trốn lậu thuế sẽ được giảm thiểu; hệ thống pháp luật thuế dễ được người dân chấp nhận, tự giác tuân thủ, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước

– Thực hiện tốt nguyên tắc minh bạch, công khai Minh bạch của hệ thống pháp luật thuế yêu cầu các qui phạm pháp luật thuế phải rõ ràng, giảm thiểu những qui định dẫn chiếu từ văn bản pháp luật này sang văn bản pháp luật khác hoặc hạn chế dẫn chiếu những qui định chung Yêu cầu về sự rõ ràng, đầy đủ được đặt ra ngay từ quá trình soạn thảo, ban hành Luật thuế cho đến khi Luật thuế đó đi vào đời sống Để ban hành một Luật thuế, các cơ quan có thẩm quyền hoặc các cá nhân có sáng kiến pháp luật (chẳng hạn như việc Đại biểu Quốc hội đệ trình một dự luật thuế) phải chứng minh được sự cần thiết của Luật thuế đó trong đời sống kinh tế xã hội trong thời gian dự tính, thời gian dự định ban hành và thực hiện luật thuế đó Trong quá trình soạn thảo, ý kiến từ dân chúng – những người dân đóng thuế cần được quan tâm và lưu ý Để đảm bảo sự minh bạch, các qui định trong đạo luật thuế liên quan đến phạm vi áp dụng, đối tượng nộp thuế, đối tượng tính thuế, cách xác định mức thuế phải nộp, thời hạn nộp thuế, cách thức nộp thuế, các

cơ quan thu, hành vi nào bị coi là vi phạm, thẩm quyền phạt và mức phạt cần phải được qui định cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu để đa số dân chúng đều có thể hiểu được quyền và nghĩa vụ về thuế của mình Đây cũng chính là phương

án phòng ngừa tốt đối với những hành vi vi phạm pháp luật thuế Trong quá trình ban hành luật thuế, tính công khai được thể hiện ở việc công bố văn bản pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian luật định, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình quản lý, thu và nộp thuế Việc thực hiện quản lý, thu nộp thuế được thực hiện bởi nhiều đối tượng khác nhau, kể cả các cơ quan chính quyền địa phương, các tổ chức quản lý,

Trang 26

chi trả thu nhập… nên công bố các thông tin liên quan đến trách nhiệm thuế của từng chủ thể cũng có ý nghĩa pháp lý quan trọng – Đảm bảo tính ổn định Tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế thực chất cũng thể hiện sự công bằng, minh bạch của pháp luật Tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế yêu cầu nhà hoạch định chính sách cũng như cơ quan lập pháp cần có

dự báo về xu hướng phát triển và những vấn đề phát sinh, cần điều chỉnh bằng pháp luật đối với những nội dung gắn với phạm vi điều chỉnh của Luật thuế đó Đảm bảo tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện, ổn định và thu hút đầu tư, tăng trưởng kinh tế Xét ở khía cạnh tài chính, ổn định hệ thống pháp luật thuế là căn cứ quan trọng để thực hiện cân đối ngân sách nhà nước, tạo sự chủ động thực sự cho cả kỳ ổn định ngân sách Tuy vậy, cũng cần phải chỉ ra rằng, ở các nước có nền kinh

tế thị trường ổn định và phát triển, tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế nói chung cũng như từng luật thuế nói riêng cao hơn nhiều so với hệ thống pháp luật thuế tương ứng của các nước đang có nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam vừa là quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, vừa là nước có nền kinh tế đang phát triển nhưng ở mức độ thấp, tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế bị hạn chế Ổn định là yêu cầu quan trọng đối với qui định pháp luật về thuế vì chúng giúp cho nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư vào lĩnh vực lựa chọn Điều này hoàn toàn phù hợp cả về yêu cầu lý luận cũng như thực tiễn Hoạt động đầu tư chỉ có thể tính toán và xác định khả năng sinh lời thực tế của nguồn vốn đầu tư sau một thời gian tối thiểu mà nhà đầu tư dự tính Thời gian đầu tư thường là trung hạn hoặc dài hạn (đây chính là điểm khác biệt khi cần thiết phải đánh giá giữa hành vi đầu tư với hành vi đầu cơ) Nếu hệ thống pháp luật thuế không ổn định, hoạt động đầu tư sẽ gặp nhiều khó khăn, chưa nói đến việc xác định kết quả đầu tư Tuy nhiên, điểm chung của các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi là hệ thống pháp luật thường xuyên

bị biến động Có nhiều lý do khác nhau được đưa ra để lý giải cho thực tế

Trang 27

này nhưng sự bất ổn định như vậy không được các nhà đầu tư ủng hộ Để đảm bảo tính ổn định cho cả hệ thống pháp luật thuế cũng như từng Luật thuế, cần xác định tính định hướng đón đầu của tiến trình phát triển kinh tế

xã hội trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế và những ảnh hưởng cũng như yêu cầu của chúng đối với hệ thống pháp luật thuế Đối với từng Luật thuế

cụ thể phải tính toán đến những qui định mang tính chất lâu dài về đối tượng, phạm vi điều chỉnh, thuế suất áp dụng trong một thời kỳ nhất định Trong quá trình áp dụng có thể có những điều chỉnh chính sách pháp luật thuế cũng như từng luật thuế cụ thể nhưng sự điều chỉnh đó phải tuân thủ đúng lộ trình đã dự liệu, hoạch định nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của chúng Cũng như các nước, Việt Nam cần phải thận trọng trong việc hoạch định và ban hành một Luật thuế cũng như thực hiện quá trình cải cách hệ thống pháp luật thuế, xuất phát từ yêu cầu ổn định hệ thống pháp luật của đất nước có nền kinh tế chuyển đổi với điều kiện cụ thể của nền kinh tế còn

ở trình độ chưa cao Xác định được yêu cầu cụ thể này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình ban hành hệ thống pháp luật thuế Chẳng hạn như, việc ban hành, sửa đổi, bổ sung Luật thuế giá trị gia tăng và luật thuế thu nhập doanh nghiệp không chỉ tác động tức thời tới đối tượng nộp thuế mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới cân đối ngân sách nhà nước, tới việc phân định nguồn thu giữa các cấp ngân sách Nếu như trong giai đoạn hiện tại, nguồn thu từ thuế của ngân sách cấp xã, phường, thị trấn vẫn có thu từ thuế của hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn, một số khoản thu từ đất, nếu Luật thuế thu nhập cá nhân được ban hành, ngân sách cấp xã phường thị trấn hầu như không còn các khoản thu này do phạm vi áp dụng và căn cứ tính thuế có sự thay đổi quan trọng;Xây dựng và tôn trọng trách nhiệm của người nộp thuế trong quan hệ pháp luật thuế Trong lịch sử hình thành và phát triển pháp luật thuế, dường như thuế luôn gắn với quan niệm của sự ép buộc, cưỡng bức, luôn có tính chất cưỡng chế đặc biệt Tuy nhiên, nếu xem xét ở góc độ

Trang 28

hưởng thụ kết quả của những chi tiêu công cộng do Nhà nước thực hiện, người dân sẽ thấy được việc thu thuế là nhu cầu tất yếu của chủ thể quản lý cao nhất trong xã hội – Nhà nước Chắc chắn còn nhiều tranh luận, trong giai đoạn hiện nay, vấn đề xây dựng “xã hội công dân” được đề cập mạnh

mẽ đặt ra yêu cầu cần tôn trọng đúng mức người nộp thuế Qui định cụ thể

về nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế cần tương ứng với quyền hạn

và nghĩa vụ của cơ quan thu, cán bộ thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thu Khi người dân nộp thuế được tôn trọng và xác định trước trách nhiệm, nghĩa

vụ của mình trong quan hệ thuế, họ sẽ chấp thuận (tất nhiên ở những mức độ

và biểu hiện cụ thể khác nhau) đối với hệ thống pháp luật thuế Xây dựng và tôn trọng trách nhiệm của người nộp thuế có thể được xem xét và thể hiện ở nhiều khía cạnh cụ thể khác nhau Việc người nộp thuế nhận thức đúng trách nhiệm và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thuế cần được ghi nhận và bảo đảm thực hiện Điều này hoàn toàn không mâu thuẫn và làm mất đi tính chất bắt buộc, uy quyền của Nhà nước trong quan hệ pháp luật thuế Chẳng hạn như việc Luật định người nộp thuế có thể thực hiện nộp thuế theo chế độ tự kê khai, tự nộp thuế hoàn toàn không làm mất đi tính chất bắt buộc của thuế và cũng không làm mất đi vai trò của các cơ quan thu Bên cạnh những qui định nhằm tạo quyền tự chủ của đối tượng nộp thuế, những qui phạm mang tính chất răn đe hoặc những biện pháp cưỡng chế thực hiện thuế là hoàn toàn cần thiết để đạt được mục đích cuối cùng là đảm bảo nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước Việc ghi nhận và tôn trọng người nộp thuế cũng là cách thức để các cơ quan thu, nhân viên của hệ thống các cơ quan thu giảm thiểu các hành vi mang tính lạm quyền, có cách nhìn nhận đúng đắn về những đối tượng tạo ra của cải xã hội và tạo nguồn vật chất cho chi tiêu của Nhà nước Tôn trọng người nộp thuế còn cần được thể hiện thông qua những qui định nhằm bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế, kể cả quyền khiếu kiện và giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình quản lý, thu và nộp thuế Nếu như

Trang 29

những vấn đề này trong giai đoạn trước đây hầu như không được đặt ra và khó có thể được chấp nhận thì giai đoạn cụ thể này, không những chúng đang được đặt ra như một thực tế khách quan mà còn có nhiều văn bản đề cập tới việc tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người nộp thuế Những qui định liên quan đến nghĩa vụ của hệ thống các cơ quan thu, qui định về trình tự thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại, trình tự giải quyết tranh chấp về thuế là những ví dụ cụ thể

1.3 Vai trò của pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản

Là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế thu nhập cá nhân vừa mang các vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được

Đối với nền kinh tế- xã hội

- Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, trong đó thuế thu nhập cá nhân là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước Thuế thu nhập cá nhân được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sốngvật Vai trò của thuế thu nhập cá nhân 3/5 chất tinh thần Thuế thu nhập cá nhân luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người

- Góp phần thực hiện công bằng xã hội

Thực hiện công băng xã hội là một trong nhưng vai trò quan trọng của thuế nói chung, ngoài ra với thuế thu nhập cá nhân vùng với việc thực hiện

Trang 30

biểu thuế luỹ tiến từng phần, thuế thu nhập cá nhân đã thực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội

- Điều tiết thu nhập , tiêu dùng và tiết kiệm

Thuế thu nhập cá nhân cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm.Từ đó cầu hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất

- Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp

Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế , lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế–xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế thu nhập cá nhân

Đối với hệ thống thuế

- Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác

Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều

có nhược điểm là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau Nếu tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này

- Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập

Trang 31

cá nhân Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau Thuế thu nhập cá nhân còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm Vai trò của thuế thu nhập cá nhân 4/5 giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ sự phân tích khái quát về thuế thu nhập cá nhân và pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với việc chuyển nhượng bất động sản có thể cho thấy, thuế là một khoản thu của ngân sách nhà nước mang tính bắt buộc, không mang tính hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định đối với các tổ chức kinh tế xã hội cũng như mọi thành viên trong xã hội Pháp luật thuế thu nhập

cá nhân áp dụng đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản vừa tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thu ngân sách nhà nước, vừa đảm bảo tiều tiết thu nhập của cá nhân trong xã hội

Trang 33

Chương 2

ÁP DỤNG LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN TỪ THỰC TIỄN TẠI THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

2.1 Những đặc trưng cơ bản về kinh tế xã hội của Thái Nguyên và tình hình chuyển nhượng bất động sản trên địa bàn Thái Nguyên

2.1.1 Những đặc trưng cơ bản về kinh tế xã hội của Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội (cách 80 km); diện tích tự nhiên 3.562,82 km²

2.1.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi hành chính

Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội (cách 80 km); diện tích tự nhiên 3.562,82 km²

Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên; Thị xã Sông Côngvà 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương Tổng số gồm 180 xã, trong đó có 125 xã vùng cao

và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du

Với vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách sân bay quốc tế nội bài 50

km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và

Trang 34

cảng Hải Phòng 200 km Thái Nguyên còn là điểm nút giao lưu thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt kết nối với các tỉnh thành, đường quốc lộ 3 nối Hà Nội đi Bắc Kạn; Cao Bằng và cửa khẩu Việt Nam – Trung Quốc; quốc lộ 1B Lạng Sơn; quốc lộ 37 Bắc Ninh, Bắc Giang

Hệ thống đường sông Đa Phúc - Hải Phòng; đường sắt Thái Nguyên – Hà Nội

- Lạng Sơn

2.1.1.2 Tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên

Địa hình không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác

Khí hậu tỉnh Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai; Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai; Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công Nhiệt

độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Nhìn chung, khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp Với đặc điểm khsi hậu này và nhu cầu phát triển nông nghiệp, hoạt động chuyển nhượng bất động sản liên quan đến du lịch sinh thái được coi là điểm mạnh của Thái Nguyên

Tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, là một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng… Tỉnh Thái Nguyên có trữ lượng than lớn thứ hai trong cả nước, than mỡ trữ lượng trên 15 triệu tấn, than đá trữ lượng khoảng 90 triệu tấn; kim loại màu có

Trang 35

thiếc, chì, kẽm, vonfram, vàng, đồng, niken, thuỷ ngân… Khoáng sản vật liệu xây dựng cũng là tiềm năng nguyên liệu rất lớn để sản xuất xi măng, sản xuất

đá ốp lát các loại và sản xuất vật liệu xây dựng Với đặc điểm này, những khoản thu từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất sẽ ngày càng tăng cao do mức thu nhập của một số cá nhân trên địa bàn phát sinh từ hoạt động khai khoáng hoặc du nhu cầu của các cá nhân khi thực hiện đầu tư kinh doanh trên địa bàn Thái Nguyên

Hạ tầng cơ sở như hệ thống điện, nước, bưu chính viễn thông, giao thông (kể cả đường bộ, đường sắt và đường thuỷ) phát triển khá hoàn thiện và thuận lợi

Với lợi thế có nhiều danh lam thắng cảnh tự nhiên như Hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng, các di tích lịch sử như: An toàn khu Việt Bắc - ATK, có rừng Khuôn Mánh và di tích khảo cổ học thời kỳ đồ đá cũ ở huyện Võ Nhai Bên cạnh đó, còn có các di tích kiến trúc nghệ thuật chùa chiền, đình, đền tại nhiều địa phương trong tỉnh như: Khu Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam, Đền Đuổm, chùa Hang, chùa Phủ Liễn, đền Xương Rồng, đền Đội Cấn Hiện nay, Thái Nguyên đang triển khai quy hoạch khu du lịch hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà, Hồ Suối Lạnh và cả hệ thống khách sạn chất lượng cao gầnđạt tiêu chuẩn quốc tế Năm 2007 Thái Nguyên đã tổ chức rất thành công năm du lịch quốc gia hướng về cội nguồn chiến khu Việt Bắc thu hút hàng triệu khách du lịch đến thăm trong đó có nhiều khách nước ngoài

2.1.1.3 Dân số, nguồn nhân lực, truyền thông văn hoá và ngành nghề của dân cư

Dân số Thái Nguyên khoảng 1,2 triệu người, trong đó có 8 dân tộc chủ yếu sinh sốngđó là Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu, H’mông, Sán chay, Hoa và Dao Ngoài ra, Thái Nguyên được cả nước biết đến là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với 6 Trường Đại học, 11 trường Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, 9 trung tâm dạy nghề, mỗi năm đào tạo được khoảng gần 100.000 lao động;

Trang 36

Là một trung tâm y tế của vùng Đông Bắc với 01 Bệnh viên Đa khoa

TW, 9 Bệnh viện cấp tỉnh và 14 Trung tâm y tế cấp huyện; Là một nơi có những địa danh du lịch lịnh sử, sinh thái – danh thắng, có nhiều danh thắng tầm cỡ chưa được đầu tư khai thác xứng tầm như: Hồ Núi Cốc, Hang Thần Sa – Thác Mưa bay và Hồ thuỷ lợi Văn Lăng và Khu đô thị hai bờ Sông Cầu

2.1.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm gần đây có nhiều thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một số ngành nghề trọng điểm đều có sự tăng về năng lực sản xuất; các thành phần kinh tế đều có sự tăng trưởng, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần song cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: thiên tai, dịch bệnh gia súc; giá cả đầu vào ở hầu hết các ngành sản xuất đều tăng làm cho chi phí sản xuất tăng cao đã đẩy giá thành sản phẩm tăng lên, ảnh hưởng không nhỏ tới sức cạnh tranh; kết cấu cơ sở hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn miền núi tuy đã cải thiện nhưng vẫn thiếu và xuống cấp; lĩnh vực xã hội còn nhiều bức xúc,tai nạn giao thông tuy có nhiều biện pháp nhằm kiềm chế nhưng vẫn chưa có xu hướng giảm Song với sự chỉ đạo quyết tâm và nỗ lực cố gắng các cấp, các ngành

và nhân dân toàn tỉnh nên tình hình kinh tế xã hội đã thu được kết quả đáng

kể, kinh tế tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực

Thái Nguyên với đặc điểm là phụ thuộc không nhiều vào xuất khẩu và tỷ trọng sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thấp hơn nhiều

so với bình quân chung cả nước nên kinh tế của tỉnh bị ảnh hưởng nhẹ hơn so với cả nước Bên cạnh đó, bằng những chính sách mạnh mẽ, kịp thời, phù hợp; cùng với sự cố gắng, nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và nhân dân toàn tỉnh, nên tình hình kinh tế - xã hội năm trên địa bàn đã dần phục hồi trong, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững

Trang 37

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trên địa bàn là 9,1% (kế hoạch điều chỉnh là tăng 9%); GDP bình quân đầu người năm ước đạt 14,6 triệu đồng, vượt mục tiêu kế hoạch và tăng 2,5 triệu đồng/người so với năm trước; Giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 65,38 triệu USD, bằng 93,4% kế hoạch điều chỉnh Trong đó, xuất khẩu địa phương là 52,17 triệu USD, bằng 65,8% so với cùng kỳ; Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 1.631,87 tỷ đồng, trong đó tổng thu ngân sách trong cân đối là 1.422,37 tỷ đồng, bằng 124,22%

dự toán đầu năm; bằng 108% dự toán điều chỉnh và tăng 28,48% so với năm

2008 Riêng thu nội địa 1.308,17 tỷ đồng; bằng 120,57% dự toán đầu năm; bằng 108,38% dự toán điều chỉnh; Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản ước đạt 2.316 tỷ đồng, bằng mục tiêu kế hoạch điều chỉnh; Giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp trồng trọt ước đạt 47 triệu đồng, bằng mục tiêu kế hoạch điều chỉnh; Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi là 625 tỷ đồng; Sản lượng lương thực có hạt ước đạt 408,3 nghìn tấn, bằng 102,1% kế hoạch; Diện tích trồng rừng tập trung toàn tỉnh (từ tất cả các nguồn: dân tự trồng; doanh nghiệp và trồng theo dự án của nhà nước) đạt 6.565 ha Trong đó, riêng địa phương trồng theo dự án 661 đạt 5.045 ha, bằng 112,1% kế hoạch; Diện tích chè trồng mới và trồng lại được 709 ha, đạt 118,2% kế hoạch;

2.1.1.5 Triển vọng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020

Xây dựng tỉnh Thái Nguyên trở thành một trong những trung tâm kinh

tế (công nghiệp, thương mại, du lịch), văn hoá, giáo dục, y tế của Vùng trung

du và miền núi Bắc Bộ; có hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối hiện đại và đồng bộ; có nền văn hoá lành mạnh và đậm đà bản sắc dân tộc; quốc phòng –

an ninh vững mạnh; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao Với mục tiêu cụ thể như sau:

a) Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2006 - 2010 đạt 12% - 13%/năm, thời kỳ 2011-2015 đạt 12,0 - 12,5%/năm và thời kỳ 2016 - 2020 đạt 11 - 12%/năm; trong đó, tăng trưởng bình quân của các ngành trong cả

Trang 38

thời kỳ 2006 - 2020: nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đạt 5 -5,5%/năm, công nghiệp – xây dựng đạt 13,5% - 14,5%/năm, dịch vụ đạt 12,5%/năm

b) GDP bình quân đầu người đạt trên 800 USD vào năm 2010, 1.300 – 1.400 USD vào năm 2015 và 2.200 - 2.300 USD vào năm 2020

c) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản), cụ thể: công nghiệp và xây dựng chiếm 45%, dịch vụ chiếm 38 – 39%, nông nghiệp chiếm 16-17% vào năm 2010; tương ứng đạt

46 – 47%, 39 – 40%, 13 – 14% vào năm 2015; đạt 47 – 48%, 42 – 43%, 9 – 10% vào năm 2020

d) Kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 65 – 66 triệu USD vào năm 2010, đạt trên 132 triệu USD vào năm 2015 và trên 250 triệu USD vào năm 2020; tốc độ tăng xuất khẩu bình quân trong cả thời kỳ 2006 – 2020 đạt 15 – 16% năm

đ) Thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.500 – 1.550 tỷ đồng vào năm 2010, 4.000 – 4.100 tỷ đồng vào năm 2015 và trên 10.000 tỷ đồng vào năm 2020; tốc độ tăng thu ngân sách trên địa bàn bình quân trong cả thời kỳ 2006 – 2020 đạt trên 20%/năm

e) Tốc độ tăng dân số trong cả thời kỳ 2006 – 2020 đạt 0,9%/năm; trong đó, tốc độ tăng dân số tự nhiên đạt 0,8 – 0,82%/năm và tăng cơ học đạt 0,08% - 0,1%/năm

g) Trước năm 2020, hoàn thành phổ cập giáo dục trung học phổ thông cho 95% dân số trong độ tuổi đi học ở khu vực thành phố, thị xã, thị trấn (trong đó 15% học nghề, 15% giáo dục chuyên nghiệp, 70% tốt nghiệp phổ thông và bổ túc) và 85% dân số trong độ tuổi đi học ở khu vực nông thôn; kiên cố hoá toàn bộ trường, lớp học; mỗi huyện có ít nhất 03 trường trung học phổ thông

h) Bảo đảm đủ cơ sở khám, chữa bệnh và nhân viên y tế; ưu tiên đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở khám, chữa bệnh ở cả ba tuyến:

Trang 39

tỉnh, huyện, xã; phấn đấu tăng tuổi thọ trung bình lên 72 tuổi vào năm 2010

và trên 75 tuổi vào năm 2020

i) Giải quyết việc làm bình quân hàng năm cho ít nhất 15.000 lao động trong thời kỳ 2006 – 2010 và cho 12.000 – 13.000 lao động trong thời kỳ

2011 – 2020; bảo đảm trên 95% lao động trong độ tuổi có việc làm vào năm 2010; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 38 – 40% vào năm 2010 và đạt 68 – 70% vào năm 2020; tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ) giảm xuống còn dưới 15% vào năm 2010 và còn 2,5 – 3% vào năm 2020; chênh lệch giữa các vùng, các tầng lớp dân cư trong việc thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản được thu hẹp; chỉ số phát triển con người (HDI) tăng lên trên 0,7% vào năm

2010 và trên 0,8% vào năm 2020

k) Bảo đảm trên 90% số hộ gia đình được dùng nước sạch vào năm

2010 và nâng tỷ lệ này lên 100% vào trước năm 2020; 100% số hộ có điện sử dụng vào trước năm 2010

l) Tỷ lệ đô thị hoá đạt 35% vào năm 2010 và đạt 45% vào năm 2020 m) Nâng cao chất lượng rừng và tỷ lệ che phủ rừng đạt 50% vào năm 2020 n) Bảo đảm môi trường sạch cho cả khu vực đô thị và nông thôn

o) Tốc độ đổi mới công nghệ bình quân thời kỳ 2006 – 2010 đạt 14 – 16%/năm và thời kỳ 2011 – 2020 đạt 16 – 18%/năm

Với quyết tâm tăng trưởng cao từ 12,5% một năm trở lên, Thái Nguyên

sẽ tiếp tục mời gọi các doanh nghiệp đầu tư có tiềm năng vào các lĩnh vực: Sản xuất công nghiệp có nguồn gốc từ sắt thép, các lĩnh vực sản xuất phụ tùng

ô tô, xe máy, điện, điện tử và các sản phẩm từ chè; Các dự án đầu tư lớn để nâng cấp Khu du lịch Hồ Núi Cốc lên thành Khu du lịch trọng điểm Quốc gia; Khu Du lịch sinh thái - lịch sử Thần Sa Võ Nhai, Hồ Suối Lạnh; Các Dự án Sân golf ở Hồ Núi Cốc, khu Sinh thái Lương Sơn – thành phố Thái Nguyên, khu Hồ Suối Lạnh - Phổ Yên, Hồ thuỷ lợi - thuỷ điện Văn Lăng; Xây dựng

Ngày đăng: 26/04/2020, 21:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w