Các công trình nghiên cứu về pháp luật môi trường trong kinh doanh cho tới thời điểm hiện nay chủ yếu được triển khai theo hướng nghiên cứu sự điều chỉnh pháp luật đối với từng loại hoạt
Trang 1B VI
LU
CHUYÊN NGÀNH: LU
PHÁP LUẬT MÔI TR
SẢN XUẤT KINH DOANH D
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
- -
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
T MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT Đ
T KINH DOANH DỊCH VỤ TẠI VI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu được trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
XÁC NHẬN CỦA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
NGƯỜI CAM ĐOAN
Võ Thị Mai Phương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Võ Đình Toàn - người đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo và các cán bộ của Viện Đại học Mở Hà Nội - những người thầy, người cô đã truyền đạt kiến thức cũng như tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn thạc sỹ
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn
ở bên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Võ Thị Mai Phương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 5
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn 7
7 Nội dung của Luận văn 8
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNGTRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ 9
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ 9
1.1.1 Khái niệm về hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ 9
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ 10
1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ VỚI MÔI TRƯỜNG 12
1.3 VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ 15
1.3.1 Khái niệm môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường 15
1.3.2 Tình hình ô nhiễm môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và hoạt động bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ 16
1.3.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ 22
1.4 MỘT SỐ YÊU CẦU VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ 24
1.5 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ 26
1.5.1 Khái niệm, cơ cấu, nội dung 26
1.5.2 Nguyên tắc, các căn cứ đánh giá hiệu quả pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ 30
Chương 2NỘI DUNG CƠ BẢN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 33
2.1 GIAI ĐOẠN TRƯỚC KHI ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ 34
2.1.1 Đánh giá môi trường 35
2.1.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, chính sách và quy hoạch môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ 39
2.1.3 Xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn môi trường đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ 40
2.1.4 Xây dựng nguồn tài chính bảo vệ môi trường 43
2.2 GIAI ĐOẠN TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ 44
Trang 52.2.1 Thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường đã nêu trong báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi
trường đã được phê duyệt 44
2.2.2 Quản lý chất thải trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ 45
2.2.3 Phòng ngừa hạn chế các sự cố môi trường từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ 47
2.2.4 Khắc phục ô nhiễm, suy thoái về môi trường, ứng phó sự cố môi trường do hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ra 48
2.2.5 Sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thân thiện với môi trường 49
2.2.6 Nhập khẩu phế liệu cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ 49
2.2.7 Quan trắc môi trường, cung cấp thông tin, dữ liệu về môi trường 51
2.2.8 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường 53
2.2.9 Nộp thuế môi trường, phí bảo vệ môi trường 54
2.2.10 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường 55
2.3 TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SAU HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ 56
2.4 PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC LĨNH VỰC KINH DOANH CỤ THỂ 58
2.4.1 Pháp luật môi trường trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp 58
2.4.2 Pháp luật môi trường trong lĩnh vực giao thông vận tải 62
2.4.3 Pháp luật môi trường trong lĩnh vực xây dựng 65
2.4.4 Pháp luật môi trường trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu 68
2.4.5 Pháp luật môi trường trong lĩnh vực du lịch 69
2.4.6 Pháp luật môi trường trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ 72
2.4.7 Pháp luật môi trường trong lĩnh vực trồng trọt 74
2.4.8 Pháp luật môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi 75
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢTHỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNGTRONG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ 77
3.1 MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG 77
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG TRONG KINH DOANH 78
3.2.1 Nhóm giải pháp chung 78
3.2.2 Nhóm giải pháp cho từng lĩnh vực kinh doanh cụ thể 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, là nơi cung cấp nguồn nguyên, nhiên liệu và những điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất, bao gồm nguồn đất, đá, than, sắt, kim cương, dầu mỏ, nước, v.v Bên cạnh đó, sản xuất kinh doanh có thể gây ra các tác động lớn tới môi trường, tiêu cực hoặc tích cực.Chẳng hạn như chất thải trong sinh hoạt, sản xuất có chứa nhiều chất độc hại sẽ làm giảm đi nguồn tài nguyên vốn có của môi trường Đó là tình trạng ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí… chủ yếu do sản xuất công nghiệp gây ra Sự ô nhiễm đó sẽ tác động ngược trở lại quá trình sản xuất làm cho sản xuất gặp khó khăn Ngược lại, khi môi trường trong sạch, đảm bảo đủ điều kiện sống, làm việc, nguồn tài nguyên của môi trường được sử dụng một các hợp lý, hiệu quả
sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng, phát triển một cách bền vững
Tại Việt Nam, hiện trạng tiêu cực về mối quan hệ giữa môi trường và hoạt động sản xuất kinh doanh đang là vấn đề thời sự rất cấp bách Các cơ sở sản xuất ở nhiều địa phương trên cả nước vẫn chưa thực hiện tốt các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường Với tốc
độ phát triển như hiện nay, việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên luôn diễn ra với tốc độ nhanh chóng, nhưng chưa có giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp, gây nên những hậu quả nghiêm trọng Mặc dù, pháp luật bảo vệ môi trường đã liên tục được xây dựng, bổ sung để điều chỉnh các hoạt động kinh doanh khi sử dụng hoặc tác động tới các thành phần môi trường nhưng trên thực tế hiệu quả điều chỉnh còn chưa được như kỳ vọng của xã hội
Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu về Pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ tại Việt Nam là cần thiết cả trên
phương diện lí luận và thực tiễn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu nội dung pháp luật môi trường trong kinh doanh đã được nhiều nhà nghiên cứu phân tích, tìm hiểu Có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu sau:
Trang 7- Kinh tế chất thải trong quá trình phát triển bền vững, Hà Nội, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia (2001);
- Bùi Đường Nghiêu (2006), Thuế môi trường, NXB Tài chính, Hà Nội;
- Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình Luật môi trường, NXB Công an nhân dân, Hà Nội
- Hoàng Thế Liên, chủ biên, Pháp luật môi trường Việt Nam - Thực trạng và định hướng hoàn thiện, NXB Tư pháp, Hà Nội 2009 Đây là công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về pháp luật môi trường Việt Nam trên nền tảng Luật Bảo vệ Môi trường 2005 Công trình nghiên cứu đã đánh giá những mặt tích cực, hạn chế cần khắc phục trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta
- Nguyễn Thế Chinh, Khái niệm và vai trò của công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, tài liệu hội thảo Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2005 Bài viết đã làm rõ những dấu hiệu của công cụ kinh tế trong quản lý môi trường và tác dụng của việc sử dụng các công cụ này
- Hoàng Thế Liên, Pháp luật môi trường phục vụ phát triển bền vững ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2017 Đây là công trình nghiên cứu làm rõ những vấn đề về các yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
Các công trình nghiên cứu về pháp luật môi trường trong kinh doanh cho tới thời điểm hiện nay chủ yếu được triển khai theo hướng nghiên cứu sự điều chỉnh pháp luật đối với từng loại hoạt động sản xuất, kinh doanh,dịch vụ cụ thể (ví dụ: nhập khẩu rác thải, làng nghề, khu công nghiệp) mà chưa có nhiều tác phẩm đánh giá toàn diện về pháp luật môi trường đối với các vấn đề chung của hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn: Là vận dụng lý luận về môi trường với
kinh tế, và nội dung pháp luật môi trường hiện hành để làm sáng tỏ thực trạng cũng như một số bất cập của pháp luật môi trường trong kinh doanh dịchvụ và đề xuất các nội dung cần hoàn thiện pháp luật môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ
Trang 8Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: Là làm rõ thực trạng môi trường liên quan
đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Từ đó, phân tích các nội dung pháp luật tương ứng Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện bộ phận pháp luật này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là thực trạng môi trường trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tại Việt Nam và các quy định pháp luật về môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ đã được quy định trong Luật bảo vệ môi trường 2014, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, các tư liệu thực tế có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu, các văn kiện của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ môi trường
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn tập trung vào việc làm rõ các vấn
đề lý luận và thực tiễn pháp lý nội dung và áp dụng pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận phép biện chứng duy vật và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa được sử dụng để nghiên cứu các vấn đề pháp luật môi trường trong kinh doanh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn cho thấy những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn sau đây:
Thứ nhất, về phương diện lý luận, luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về
điều chỉnh pháp luật môi trường đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Luận văn đã bước đầu vận dụng các quy định của pháp luật môi trường theo từng giai đoạn trước, trong và sau quá trình kinh doanh, cũng như trong một số lĩnh vực kinh doanh cụ thể
Thứ hai, về phương diện thực tiễn, luận văn có những đóng góp tích cực cho
việc phân tích, đánh giá thực trạng về tình trạng môi trường và bảo vệ môi trường của các hoạt động kinh doanh, và thực trạng pháp luật môi trường trong kinh
Trang 9doanh Trên cơ sở đó, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật môi trường cũng như kiến nghị một số nội dung cần sửa đổi,
bổ sung của bộ phận pháp luật này
7 Nội dung của Luận văn
Bao gồm phần mở đầu và 3 chương với các phần chính sau đây:
- Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
- Chương 2 Nội dung cơ bản pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
- Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ 1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ
1.1.1 Khái niệm về hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là hoạt động do các chủ thể trong xã hội tiến hành nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa phục vụ con người và có mục đích tìm kiếm lợi nhuận Theo Đại từ điển tiếng Việt thì: Sản xuất là hoạt động “tạo ra của cải vật chất”; kinh doanh là hoạt động “tổ chức buôn bán để thu lời lãi”; còn dịch vụ là
“công việc phục vụ cho đông đảo quần chúng nhân dân”
Theo quan điểm của pháp luật thì: “Kinh doanh, là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Luật doanh nghiệp 2015)
- Dưới góc độ triết học, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được hiểu là quá trình con người tác động vào các nguyên liệu, nhiên liệu từ thiên nhiên, thông qua tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất có giá trị và giá trị sử dụng (hàng hóa) nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Đây là quá trình tìm kiếm lợi nhuận chênh lệch thông qua việc trao đổi hàng hóa theo quy luật cung cầu, thực hiện các công việc trung gian phục vụ cho nhu cầu đông đảo con người
- Dưới góc độ Luật Doanh nghiệp thì hoạt động sản xuất, hàng hóa, dịch vụ là:
+ Hoạt động sản xuất hàng hóa là hoạt động sản xuất hàng công nghiệp (máy móc, hàng dệt may, …) thực phẩm, hàng tiêu dùng, …
+ Hoạt động kinh doanh trao đổi hàng hóa: bán hàng hóa từ cơ sở sản xuất đến người tiêu dùng
Trang 11+ Hoạt động dịch vụ: kinh doanh khách sạn, kinh doanh dịch vụ du lịch, tư vấn, giới thiệu việc làm và các dịch vụ trung gian thương mại khác
- Còn dưới góc độ pháp luật bảo vệ môi trường, thì hoạt động sản xuất kinh doanh được phân loại thành cơ sở sản xuất, kinh doanh tập trung và cơ sở sản xuất kinh doanh không tập trung Cơ sở của việc phân định này là căn cứ vào quy mô,
tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cũng như mức độ ảnh hưởng của hoạt động này đối với môi trường
Tại các khu vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung (được hiểu là khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu
du lịch và khu vui chơi giải trí tập trung - theo quy định tại Luật bảo vệ môi trường 2015), mức độ tác động đến môi trường tương đối lớn do quy mô hoạt động và mật
độ doanh nghiệp nhiều, hoạt động dựa trên cùng một chiến lược phát triển chung của cả khu, cụm công nghiệp Điều này đồng nghĩa với việc tại nơi đây sẽ xả ra môi trường các chất thải công nghiệp nhiều hơn Do vậy, bên cạnh việc tuân thủ các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường thì các cơ sở sản xuất kinh doanh còn phải tuân thủ các quy định, điều kiện về bảo vệ môi trường riêng khi gia nhập khu, cụm công nghiệp Các quy định này phải thống nhất và không được thấp hơn các quy định pháp lý về bảo vệ môi trường nói chung Vì vậy khi hoạt động trong các khu sản xuất kinh doanh tập trung, trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường được đặt ra cao, khắt khe hơn Đối với hoạt động tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không tập trung (các cơ sở hoạt động riêng lẻ, không tập trung trong cùng một khu vực và tồn tại trong các khu dân cư) hay hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các tổ chức,
cá nhân, hộ gia đình thì mức độ tác động đến môi trường ít hơn so với các khu sản xuất kinh doanh tập trung, nên yêu cầu bảo vệ môi trường trong các khu vực này không khắt khe như bảo vệ môi trường tại các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Trang 12Về đặc điểm, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là hoạt động thương
mại, chủ yếu nhằm mục đích sinh lời, tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường, mang tính chất liên tục thường xuyên và mang tính chuyên nghiệp Không thể phủ nhận vai
trò và hiệu quả kinh tế to lớn mà hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mang lại;
đó là tạo ra của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, phục vụ các nhu cầu ngày càng tăng của con người, làm cho nền kinh tế xã hội phát triển
Đặc điểm của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có thể được xem xét và phân loại dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng giới hạn trong bài viết này, chủ yếu
đề cập đến các nội dung liên quan đến lĩnh vực môi trường, đó là các đặc điểm của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gắn với việc bảo vệ môi trường Có thể thấy hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có tác động không nhỏ đến môi trường sống
Trước hết, hoạt động sản xuất kinh doanh tác động đến môi trường thông qua quá trình khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên làm nguyên liệu sản xuất Tính chuyên nghiệp, liên tục của hoạt động này còn thể hiện ở việc thường xuyên xả các chất thải trong quá trình hoạt động vào môi trường
Hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có mục tiêu là lợi nhuận, dẫn tới chủ
cơ sở sản xuất kinh doanh có thể bất chấp hay bỏ qua các lợi ích cộng đồng khác, trong đó có lợi ích được hưởng từ môi trường
Bên cạnh đó, đối với những hoạt động sản xuất kinh doanh sử dụng những dây chuyền, thiết bị gây hại quy mô lớn cũng như việc sản xuất ra các sản phẩm gây hại cho môi trường có thể gây ra những tác động xấu tới môi trường, sự cố môi trường… dẫn tới tranh chấp môi trường Chính vì đặc điểm này mà pháp luật về môi trường tất yếu phải chú trọng tới vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Trong tình hình hiện nay, mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với bảo vệ môi trường là một mối quan hệ tương tác Việc xây dựng pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nếu chú
Trang 13trọng tới các đặc điểm này sẽ góp phần điều chỉnh hợp lý, hiệu quả các quan hệ về bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ VỚI MÔI TRƯỜNG
Từ nhiều thập kỷ nay, con người đã nhận thức rằng môi trường đóng vai trò hết sực quan trọng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của nền kinh tế và sự sống con người Môi trường thiên nhiên không chỉ cung cấp nguồn tài nguyên vô tận cho sản xuất, cung cấp tiện nghi sinh hoạt của con người mà còn là nơi chứa đựng, hấp thụ chất thải từ sản xuất và sinh hoạt do con người thải ra Môi trường
và nền kinh tế có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau, trong một số trường hợp nhất định chúng có thể triệt tiêu nhau Chẳng hạn như chất thải trong sinh hoạt, sản xuất có chứa nhiều chất độc hại sẽ làm giảm đi nguồn tài nguyên vốn có của môi trường Đó là tình trạng ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí… chủ yếu do sản xuất công nghiệp gây ra Sự ô nhiễm đó sẽ tác động ngược trở lại quá trình sản xuất làm cho sản xuất gặp khó khăn Ngược lại, khi môi trường trong sạch, đảm bảo đủ điều kiện sống, làm việc, nguồn tài nguyên của môi trường được sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng, phát triển một cách bền vững
Các nhà kinh tế đã chỉ ra rất nhiều yếu tố tạo nên sự phát triển của nền kinh tế
- xã hội, đó là sự ra đời của máy móc, công cụ, khoa học kỹ thuật; đó là sự thông minh cùng khả năng lao động sáng tạo của con người… nhưng hơn tất cả đó là môi trường Tự bản thân máy móc, công cụ sẽ không phát huy được tác dụng nếu không có nguyên liệu, nhiên liệu Con người dù thông minh, sáng tạo đến đâu cũng
sẽ không thể có không gian để tồn tại nếu không có môi trường Không thể tách rời
sự phát triển kinh tế - xã hội khỏi môi trường Vấn đề môi trường và sự phát triển
có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ, khăng khít với nhau “Nếu không bảo vệ môi trường một cách chính đáng, phát triển sẽ suy yếu dần Ngược lại, không có phát triển, bảo vệ môi trường sẽ thất bại”
Trang 14Hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và môi trường có quan hệ chặt chẽ với nhau: Môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, là nơi cung cấp nguồn nguyên, nhiên liệu và những điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất, bao gồm nguồn đất, đá, than, sắt, kim cương, dầu mỏ, nước,… Song sản xuất kinh doanh có thể gây ra các tác động lớn tới môi trường, tiêu cực hoặc tích cực
Có thể nhận thấy các tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đối với môi trường qua các khía cạnh sau:
Trước hết là việc tác động gây cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên: Hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ lấy nguyên liệu, năng lương từ hệ thống môi trường tự nhiên, vì mục đích phát triển kinh tế, tìm kiếm lợi nhuận một cách tối đa
mà khai thác ngày càng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên này, dẫn đến nguồn thủy sản, lâm sản, khoáng sản, nước, dầu mỏ, than, khí đốt, … dần dần sẽ cạn kiệt Khi nguồn tài nguyên cạn kiệt, con người sẽ không còn gì để khai thác, không còn nguyên liệu để phục vụ sản xuất, dẫn tới việc đình chỉ mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, gây ảnh hưởng đến nền kinh tế và sự sống loài người
Hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm, biến đổi các thành phần môi trường, cụ thể là:
Tác động gây ô nhiễm không khí: Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ con người đã xả ra môi trường tự nhiên rất nhiều loại khí thải độc hại khác nhau như COx, SOx, NOx,… gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng Nó bao gồm các ô nhiễm tích lũy (chất dẻo, chất phóng xạ) và các ô nhiễm không tích lũy (tiếng ồn, khói bụi,…) Theo thống kê chưa đầy đủ của Sở Tài nguyên Môi trường Hà Nội, mỗi năm, thành phố tiếp nhận khoảng 80,000 tấn bụi khói, 9,000 tấn SO2, 46.000 tấn khí CO từ 400 cơ sở công nghiệp Đó là chưa kể tới khói bụi của hơn 100.000 ô tô và trên 1.000.000 xe máy (3)
Tác động làm ô nhiễm suy thoái đất: Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
trong hoạt động của mình đã thải ra các chất rắn hữu cơ, vô cơ; chất thải rắn bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc, nhiễm phóng xạ; chất thải các bệnh viện, cơ sở y tế, cơ
Trang 15sở sản xuất hóa chất,… Các chất thải này gây ảnh hưởng không nhỏ đến tính chất
lý - hóa học của đất, tạo ra sự sói mòn, nén chặt hoặc phá hủy cấu trúc, độ phì nhiêu của đất Bên cạnh đó, các chất thải có độc tố cao, khó phân hủy sinh học có thể tích lũy trong đất, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và cuộc sống con người
Tác động tiêu cực đối với nguồn nước: Các chất thải từ cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ có chứa các chất độc hại, nhiễm khuẩn nặng, thành phần chứa nhiều các kim loại nặng như Hg (thủy ngân), Pb (chì), As (Asen),… được xả trực tiếp vào nguồn nước tự nhiên, như hồ, ao, sông, ngòi, … hòa lẫn cùng nguồn nước mặt
và mặt nước ngầm, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn tới nguồn nước sinh hoạt của con người, đến số lượng, chất lượng của hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các hoạt động khác
Hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ còn gây nên những tác động gián tiếp đến môi trường Khi các dự án xây dựng, công nghiệp phát triển, mở rộng sẽ làm giảm diện tích đất nông nghiệp, diện tích rừng; từ đó sẽ mất dần các yếu tố tự nhiên, động vật hoang dã không đủ nơi sinh sống, thiếu đi các diện tích trồng trọt, chăn nuôi và là một nguyên nhân dẫn đến lụt lội, mất cân bằng sinh thái
Việc nhập khẩu hay sản xuất các sản phẩm không thân thiện với môi trường
từ những nguồn nguyên liệu độc hại, cũng gây nên một tỷ lệ ô nhiễm không nhỏ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đời sống con người
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tiêu cực đó, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cũng có những tác động tích cực trong việc bảo vệ môi trường, tạo điều kiện cho môi trường được phát triển Đó là việc sản xuất ra các sản phẩm thân thiện với môi trường, sản phẩm nhằm bảo vệ môi trường (các dụng cụ khử độc thức ăn, khử độc, lọc bụi trong không khí, các sản phẩm phục vụ cho sức khỏe con người,…) hay hoạt động trồng cây gây rừng, dịch vụ du lịch sinh thái, vừa tạo nguồn thu tài chính để bảo vệ môi trường, tạo điều kiện cho môi trường phát triển Đặc biệt, sự phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tạo ra nguồn tài chính cũng nhưng những điều kiện về khoa học, kỹ thuật để bảo vệ môi trường
Trang 16Đồng thời với quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra một xã hội phát triển thì ý thức bảo vệ môi trường cũng ngày càng được nâng cao
Hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ đang ngày càng gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường, đến sức khỏe con người Do đó, việc thực hiện bảo vệ môi trường, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm hạn chế, loại trừ các tác động xấu đến môi trường, nhất là trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được đặt ra như một nhu cầu bức thiết, khách quan
1.3 VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ
1.3.1 Khái niệm môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường
Môi trường là “tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh, có tác động trực tiếp lên sự sinh sống, phát triển và sinh sản của sinh vật” (16)
Dưới góc độ pháp lý thì: “Môi trường được hiểu là toàn bộ các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố: đất, nước, không khí, hệ sinh thái động, thực vật và những điều kiện tự nhiên khác có ảnh hưởng đến đời sống của con người… Các yếu tố cấu thành nên môi trường tự nhiên hoàn toàn do tự nhiên tạo nên Tuy nhiên trong lịch sử phát triển, môi trường tự nhiên cũng có những biến đổi do chính những yếu tố cấu thành nên nó và bị biến đổi do tác động của thời gian Chẳng hạn, nguồn gốc nước sinh hoạt và sản xuất do các phản ứng sinh hóa diễn ra đã làm thay đổi thành phần của nước Bên cạnh đó, tác động của con người cũng làm thay đổi môi trường tự nhiên và cũng chính là nhân tố lớn nhất làm thay đổi môi trường tự nhiên Đó là sự khai thác, cải tạo tự nhiên nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của con người
Môi trường nhân tạo bao gồm toàn bộ các yếu tố do chính con người tạo nên, bao quanh con người, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát
Trang 17triển của cá nhân con người và nhiều cơ thể sống khác Nó bao gồm: các công trình thủy lợi, làng mạc, đô thị, hồ nước, sông ngòi, rừng nhân tạo, vườn hoa, các loài động vật do con người thuần dưỡng và phát triển qua nhiều thế hệ… Các yếu tố này cũng bắt nguồn từ tự nhiên nhưng hình thành do sự tác động, cải tạo của bàn tay con người, tuy nhiên vẫn chịu ảnh hưởng, tác động từ môi trường tự nhiên và gắn bó chặt chẽ với môi trường tự nhiên
Môi trường đóng vai trò rất quan trọng, quyết định sự sống còn của loài người cũng như các sinh vật khác trên trái đất Do vậy, bảo vệ môi trường là hoạt động mang tính tất yếu, nhằm duy trì và cải thiện chất lượng cuộc sống Hoạt động bảo
vệ môi trường “là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” Đặc biệt bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là rất quan trọng, bởi hoạt động này gây ảnh hưởng rất lớn tới môi trường, nếu không có các giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp sẽ gây ra các tác động xấu đến đời sống con người
1.3.2 Tình hình ô nhiễm môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
và hoạt động bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Những năm vừa qua, các doanh nghiệp ở nhiều địa phương trên cả nước vẫn chưa thực hiện tốt các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường Với tốc độ phát triển như hiện nay, việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên luôn diễn ra với tốc độ nhanh chóng, nhưng chưa có giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp, gây nên những hậu quả nghiêm trọng Có thể nhận thấy tình trạng này được thể hiện qua một số hoạt động sau:
* Về việc xả các chất thải ra môi trường
Chất thải rắn phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng trên 15 triệu tấn/năm, trong đó khoảng hơn 150.000 tấn là chất thải nguy hại Dự báo đến năm 2020 lượng chất thải rắn có thể tăng từ 24% đến 30% Theo báo cáo diễn biến môi
Trang 18trường Việt Nam về chất thải rắn thì tổng lượng chất thải phát sinh từ các cơ sở công nghiệp mỗi năm khoảng 2,6 triệu tấn, trong đó chất thải nguy hại công nghiệp vào khoảng 130.000 tấn/năm Phần lớn chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh có nguồn gốc từ miền Nam, đặc biệt là khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, chiếm khoảng 64% tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh của cả nước Tiếp theo là các tỉnh miền Bắc với lượng chất thải nguy hại phát sinh chiếm 31%, mà chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn miền Bắc, mỗi năm phát sinh khoảng 774.000 tấn chất thải rắn sản xuất, bao gồm cả chất thải nguy hại và chất thải không nguy hại (4) Hiện nay, trên cả nước có gần 140 khu công nghiệp, khu chế xuất hoạt động, phân bố trên gần 50 tỉnh, thành, thu hút hơn 1,2 triệu lao động trực tiếp và gián tiếp Số liệu điều tra cho thấy, trong số khu công nghiệp, khu chế xuất chỉ có 33 khu đã có công trình xử lý nước thải; các khu còn lại chưa đầu tư cho công trình xử
lý nước thải Đối với chất rắn, đa số các khu công nghiệp chưa tổ chức được hệ thống phân loại, thu gom, xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại có tiềm ẩn không an toàn về môi trường
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, về khí thải công nghiệp, ô nhiễm không khí do khí thải công nghiệp gây ra chủ yếu là bụi, SO2, NO2, CO,… Nồng độ bụi có xu hướng tăng theo thời gian và hầu hết đều vượt giới hạn cho phép Một số nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng (vượt tiêu chuẩn cho phép từ 20 đến 435 lần), công nghiệp khai thác than, các nhà mày luyện kim (vượt từ 5 đến
125 lần), khai thác và chế biến khoáng sản như than đá, apatit, cao lanh (vượt từ 10 đến 15 lần), các nhà máy cơ khí, đóng tàu (vượt khoảng 10 đến 15 lần), các nhà máy dệt, may (vượt từ khoảng 3 đến 5 lần) Tại một số khu vực dân cư gần khu công nghiệp, nồng độ khí SO2, CO, NO2 đã vượt tiêu chuẩn cho phép Việc xả khí thải vượt tiêu chuẩn cho phép, gây ô nhiễm nội vi, khu vực và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng dân cư xung quanh đang có xu hướng ngày càng gia tăng (3) Kết quả kiểm tra, thanh tra các cơ sở sản xuất hóa chất do Bộ Tài nguyên và Môi trường tiến hành trong năm 2016 cho thấy đến 90% cơ sở được kiểm tra, thanh tra có vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Trang 19Tại một số địa phương trên cả nước, tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng diễn ra khá là phổ biến Ví dụ:
Tại tỉnh Hải Dương: Qua đợt kiểm tra về công tác bảo vệ môi trường của đoàn giám sát Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương, tiến hành ở 40 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc 12 huyện, thành phố và kết quả kiểm tra của Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Dương cuối năm 2016 tại 31 cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc địa bàn thành phố Hải Dương cho thấy hầu hết các cơ sở này không thực hiện việc xử lý nước thải hoặc xử lý không đảm bảo tiêu chuẩn môi trường (theo báo cáo công tác thanh tra của Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương về hoạt động bảo vệ môi trường tỉnh Hải Dương)
Tại thành phố Hồ Chí Minh, theo kết quả trưng cầu giám định của Đoàn Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường sau khi tiến hành thanh tra 5 khu công nghiệp với 21 cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn Thành phố, thì có 3/5 khu công nghiệp xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép trên 10 lần và một khu công nghiệp được thanh tra xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép dưới 2 lần Kết quả phân tích 45 mẫu nước thải với tổng lượng nước thải là 5.750 m3/ngày đêm của 21
cơ sở được thanh tra (16 cơ sở trong khu công nghiệp và 5 Công ty đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp) cho thấy: chỉ có 1 mẫu (tương đương với 5,2% lượng nước xả thải được phân tích có các thông số ô nhiễm nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép); 44 mẫu còn lại, tương đương với 94,8% lượng nước xả thải được phân tích
có số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép với mức độ như đã nêu ở trên Đặc biệt, tại thời điểm thanh tra còn phát hiện được 2 cơ sở có hệ thống xử lý nước thải nhưng đang xả ngầm nước thải ra môi trường không qua hệ thống xử lý (3)
* Về nhập khẩu chất thải
Trình trạng nhập khẩu trái phép chất thải công nghiệp vào Việt Nam đang diễn ra ngày một nhiều Pháp luật của nước ta về môi trường quy định rõ danh mục những chất thải cấm nhập khẩu vào lãnh thổ nước ta Tuy nhiên trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp đã cố tình nhập khẩu trái phép chất thải, núp dưới nhiều hình thức như nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất trong nước, làm hàng
Trang 20hóa để gia công và tái xuất… dẫn đến nguy cơ biến nước ta trở thành một bãi rác thải công nghiệp lớn của thế giới
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ nhiều tháng nay, việc nhập khẩu thép phế liệu bị ách tắc tại các cửa khẩu cảng Thành phố Hồ Chí Minh
và Hải Phòng, do trong số thép phế liệu này có lẫn chất thải nguy hại Tổng số thép phế liệu nhập khẩu bị cơ quan chức năng xử lý gồm 246 công-ten-nơ (trước đây là
275 công-ten-nơ, do Công ty Cổ phần Tập đoàn Hòa Phát đã tái xuất được 29 công-ten-nơ), với khối lượng 5.536,18 tấn Trong đó, tại cửa khẩu cảng Hải Phòng
có bốn doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Thép Đình Vũ có 16 công-ten-nơ (khối lượng 388 tấn), Công ty TNHH Thép Teachmart (đã đổi tên thành Công ty Cổ phần Tập đoàn Vina Megastar) có 73 công-ten-nơ (1.587,34 tấn), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hòa Phát còn lại 40 công-ten-nơ (800 tấn) và Công ty Cổ phần Kim khí Hưng Yên có 13 công-ten-nơ (290 tấn) Phế liệu nhập khẩu chủ yếu là chất thải dạng vỏ lon, hộp, thùng kim loại đã qua sử dụng chứa nước giải khát, thực phẩm, dầu, sơn, hóa chất, dung môi hữu cơ… được ép thành khối, bánh, trong đó có: bộ lọc dầu đã qua sử dụng, vỏ hộp: sơn, dầu, mỡ, nhớt ô-tô, hóa chất, thuốc diệt côn trùng chưa được xử lý, dầu mỡ thải là chất thải nguy hại Ngoài ra còn có bo mạch điện từ, nhựa, cao su, nilon; tạp chất bám dính, gỉ, sét; các lô hàng bị mốc, có mùi hôi, mùi dầu và hóa chất khó chịu (4)
Ngoài ra, việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây suy thoái môi trường nghiêm trọng Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp không thực hiện đúng những quy định pháp luật bảo vệ môi trường Cũng như sự quản lý chưa chặt chẽ của các cơ quan nhà nước, khiến tình hình môi trường ngày càng trở nên ô nhiễm nghiêm trọng hơn
Trước tình hình bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ còn nhiều yếu kém, Nhà nước đã triển khai áp dụng nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh hiệu quả trong công tác bảo vệ lĩnh vực này Đó là:
- Thành lập lực lượng cảnh sát môi trường nhằm phát hiện và xử lý vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Trang 21Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định ban hành chương trình hoạt động của Chính phủ, thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó có giao: “Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ nghiên cứu
đề xuất phương án thành lập lực lượng cảnh sát môi trường, tăng cường chức năng, nhiệm vụ phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường” Theo đó, lực lượng Cảnh sát môi trường của Bộ Công an sẽ được triển khai ở 3 cấp: cấp trung ương (Cục Cảnh sát môi trường thuộc Tổng cục Cảnh sát); cấp tỉnh là Phòng Cảnh sát môi trường thuộc Công an tỉnh, thành phố (Phòng Cảnh sát môi trường ở một số địa bàn trọng điểm, nhạy cảm về tình hình vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường như ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Định, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Nghệ An,…) và cấp huyện/thị có đội Cảnh sát môi trường (có thể kết hợp với đội cảnh sát trật tự, biên chế thành đội Cảnh sát môi trường và trật tự) Việc thành lập lực lượng Cảnh sát môi trường được coi như là một chế tài góp phần thực thi hiệu quả hơn Luật bảo vệ môi trường 2014 và Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường
- Tăng cường công tác thanh tra môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ
Bên cạnh lực lượng Cảnh sát môi trường thì thanh tra môi trường cũng là hoạt động quan trọng góp phần bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành ngày càng hoàn thiện, Thanh tra bảo vệ môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đẩy mạnh công tác thanh tra đột xuất các cơ sở sản xuất kinh doanh tại nhiều địa phương Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Số cuộc thanh tra ngày càng tăng qua các năm Cụ thể năm 2015: qua 4 cuộc thanh tra, xử phạt 390 triệu đồng; Năm 2016: 6 cuộc thanh tra,
xử phạt 519 triệu đồng và đến 2017 đã tiến hành được 9 cuộc thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường, đề nghị xử phạt trên 1,6 tỷ đồng Kết quả thanh tra: có 98% cơ sở được thanh tra xả thải nước vượt tiêu chuẩn cho phép, 94% số cơ sở
Trang 22không thực hiện được đầy đủ các nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường như không giám sát môi trường định kỳ, không xây dựng đủ các hạng mục công trình xử lý ô nhiễm (nước thải, khí thải, chất rắn…); 87% cơ sở vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại không đúng quy định về bảo vệ môi trường (không thu gom, phân loại chất thải…); 51% cơ sở khi nâng công suất, đổi mới công nghệ… không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung theo quy định Đối tượng vi phạm chủ yếu là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần (3)
-Thành lập những cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực môi trường
Chính phủ ban hành Nghị định quy định tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo
vệ môi trường tại cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước, qua đó thành lập được các bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường ở các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, tạo thuận lợi cho ban quản lý dự án công nghiệp, chủ doanh nghiệp bảo vệ môi trường hiệu quả
Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định thành lập Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường Đây là tổ chức sự nghiệp nghiên cứu khoa học, có chức năng nghiên cứu các chính sách kinh tế - xã hội có liên quan đến tài nguyên và môi trường; đề xuất xây dựng chiến lược, thể chế, chính sách, quy hoạch tổng thể về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; thực hiện nhiệm vụ đào tạo và các hoạt động sự nghiệp khác theo quy định của pháp luật Sự ra đời của tổ chức này đã tạo thuận lợi cho việc xây dựng các chính sách, chiến lược, quy hoạch bảo vệ môi trường cho hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ trong những năm qua
Biện pháp quản lý bảo vệ môi trường từ phía Nhà nước những năm qua đã góp phần giảm thiểu được ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đáng kể Tuy nhiên, ý thức chấp hành của các doanh nghiệp đối với việc bảo vệ môi trường trong hoạt động của mình còn yếu kém, bên cạnh là việc
xử lý chưa nghiêm từ phía Nhà nước cũng là hạn chế đối với việc bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Trang 23Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2006 đánh dấu bước ngoặt lớn không chỉ đối với nền kinh tế nước ta mà còn đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường Việt Nam đã đưa ra các cam kết môi trường khi gia nhập WTO, đồng nghĩa với việc trong những năm tới đây, trách nhiệm của các cơ quan quản lý môi trường cũng sẽ được nâng cao Các doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư ở Việt Nam đều phải cam kết, đáp ứng được các điều kiện về bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý, đúng quy định pháp luật về các nguồn tài nguyên Điều này sẽ góp phần đưa Việt Nam ngày một bớt ô nhiễm hơn về môi trường, trở thành một điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư
1.3.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, khi đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều mâu thuẫn phát sinh giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Thậm chí nhiều mâu thuẫn sẽ phức tạp, gay gắt hơn Điều này thể hiện qua nhiều nguyên nhân: Trước hết nước ta xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp còn nhiều lạc hậu; trình độ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực xử lý, bảo vệ môi trường còn thấp Thêm vào đó, ảnh hưởng nghiêm trọng, kéo dài của “chiến tranh hóa học” của Mỹ đã tàn phá nặng nề môi trường nước ta Trong khi đó, dân số nước ta ngày càng gia tăng, nhưng ở nhiều nơi ý thức bảo vệ môi trường của nhiều tầng lớp dân cư còn yếu kém nên không tránh khỏi môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng
Khi thực hiện nền kinh tế thị trường, vấn đề lợi nhuận luôn được các nhà sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đặc biệt quan tâm Sản xuất công nghiệp đã tận dụng khai thác tối đa nguồn nguyên liệu, nhiên liệu từ khoáng sản rừng, sinh vật… Trong quá trình sản xuất lại càng không quan tâm đến xử lý rác thải độc hại, phóng thẳng vào môi trường, coi môi trường là bãi rác khổng lồ đương nhiên với sức chứa vô hạn Từ đó dẫn tới đằng sau những sản lượng cao, năng suất lớn, đằng sau
Trang 24những chỉ số tăng vọt về kinh tế là một môi trường bị tàn phá nặng nề, hậu quả khôn lường đến nòi giống các thế hệ con người đang sinh sống
Nền kinh tế thị trường thúc đẩy mọi ngành nghề phát triển; tạo ra nhiều cơ hội
để mọi thành phần kinh tế thể hiện khả năng, thế mạnh của mình, đặc biệt là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Trong phát triển công nghiệp, lĩnh vực mà trước kia thuộc độc quyền Nhà nước, thì nay đã được tự do hóa cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển, song chủ yếu là công nghiệp vừa và nhỏ, thể hiện ở quy mô và vốn đầu
tư của các doanh nghiệp Chính vì quy mô vừa và nhỏ, số vốn bỏ ra không nhiều nên việc đầu tư cho bảo vệ môi trường ở các cơ sở sản xuất công nghiệp tư nhân hầu như chưa được quan tâm đúng mức Từ những cơ sở sản xuất đó, rác thải, nước thải được phóng trực tiếp vào môi trường mà không có biện pháp xử lý phù hợp
Ô nhiễm môi trường không chỉ do các cơ sở sản xuất tư nhân gây ra, các nhà máy, công ty, cơ sở sản xuất lớn của Nhà nước cũng có những tác động gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Nền kinh tế thị trường buộc các nhà máy, xí nghiệp phải tự hoạch toán kinh doanh, mọi hoạt động kinh doanh đều phải tự chịu trách nhiệm về các khoản lỗ, lãi của mình Trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế thế giới, sự góp mặt của các hãng sản xuất lớn trên thế giới vào thị trường trong nước, cũng như các hãng sản xuất tư nhân khác, tạo ra sự cạnh tranh về chất lượng
và giá cả đối với hàng hóa trong nước, dẫn tới nhiều doanh nghiệp trong nước bỏ qua các chi phí phụ cho sản xuất, trong đó có bảo vệ môi trường, nhằm cải thiện mẫu mã, giá cả hàng hóa của mình Dường như sản xuất công nghiệp là kẻ thù lớn nhất của môi trường Bởi vậy, công nghiệp càng mở rộng phát triển dẫn tới một hệ quả tất yếu là môi trường càng ô nhiễm nặng nề hơn
Thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp trong đầu tư, vay vốn cũng làm cho doanh nghiệp phải chờ trong một khoảng thời gian khá dài Do nhu cầu cần chi tiêu khẩn trương để phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nên nhiều doanh nghiệp chưa muốn đầu tư vốn ngay vào lĩnh vực bảo vệ môi trường Đó là những nguyên nhân khiến cho tỷ lệ giải vốn vay cho đầu tư xử lý chất thải còn quá thấp Hơn nữa,
Trang 25đầu tư vào bảo vệ môi trường là đầu tư mang tính sự nghiệp, không đem lại hiệu quả kinh tế tức thời nên hầu hết các doanh nghiệp không đầu tư cho lĩnh vực này Bên cạnh lý do khách quan trên, cũng phải thừa nhận những nguyên nhân chủ quan
từ phía Nhà nước cũng như các doanh nghiệp đối với hoạt động bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
+ Về phía các doanh nghiệp: Ý thức bảo vệ môi trường còn thấp, việc các
doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của mình chưa nhận thức, nắm rõ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, hay là sự cố tình vi phạm cũng như không thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp nước ta còn thiếu trình độ, điều kiện tiếp thu khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, thiếu nguồn tài chính vững vàng cho việc áp dụng các quy trình sản xuất theo hướng bảo vệ, thân thiện với môi trường
+ Về phía Nhà nước: Sự hạn chế trong nhận thức hoặc sự làm ngơ của cơ
quan chức trách trước những vi phạm về bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cũng là một nguyên nhân chính cho việc môi trường ngày càng bị ô nhiễm nặng nề; quá trình tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường từ các cơ quan nhà nước còn nhiều hạn chế: Công tác quy hoạch môi trường tại các khu công nghiệp, khu chế xuất còn hầu như chưa được triển khai Công tác điều tra, giám sát
và quan trắc hiện trạng môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ còn hạn chế, thiếu thông tin cần thiết Nhà nước còn thiếu các giải pháp đồng bộ về quản lý về vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ Bên cạnh đó là việc xử phạt chưa nghiêm khắc đối với các vi phạm về bảo vệ môi trường, công tác thanh tra môi trường còn thiếu sót, chưa đạt được hiệu quả thực sự, dẫn đến ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục diễn ra trên diện rộng
1.4 MỘT SỐ YÊU CẦU VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ
Từ những tác động không nhỏ của lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tới môi trường, cũng như hiện trạng thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường
Trang 26trong những năm qua, có thể thấy vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cần đáp ứng được một số yêu cầu cụ thể:
- Yêu cầu về định hướng phát triển nền kinh tế: theo hướng phát triển bền
vững, đó là việc phải kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa chính sách phát triển kinh tế với vấn đề bảo vệ môi trường Vì vậy, trong quá trình phát triển kinh tế, phát triển các ngành nghề sản xuất kinh doanh cần có kế hoạch hợp lý, gắn kết được mục tiêu kinh tế với mục tiêu môi trường, lựa chọn những chiến lược phát triển một cách hợp lý, thông qua việc xem xét đánh giá tác động môi trường trước khi triển khai vào thực tế, nếu những đường lối, chiến lược nào đem lại hiệu quả cao mà bảo vệ được môi trường thì cần được ưu tiên lựa chọn và phát triển
- Yêu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng: các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
cần thực hiện các hoạt động cần thiết như xây dựng các hệ thống xử lý chất thải đảm bảo đạt tiêu chuẩn môi trường, không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, xây dựng cơ sở hạ tầng có khoảng cách an toàn với khu đông dân cư, khu bảo tồn thiên nhiên, các công trình công cộng, bệnh viện, trường học
- Yêu cầu về trách nhiệm phòng ngừa và khắc phục ô nhiễm môi trường: đây
là công việc mà các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải thực hiện trong suốt quá trình hoạt động của mình Không được khai thác, đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật bằng các công cụ, phương tiện mang tính chất hủy diệt, không được chôn lấp các chất thải độc hại không đúng nơi quy định và không đúng kỹ thuật bảo vệ môi trường (Luật môi trường 2014) Khi xảy ra các sự cố môi trường, hay các vấn đề ô nhiễm, phải có biện pháp khắc phục phù hợp, nhanh chóng, nhằm không cho lan rộng ra môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của dân cư
- Yêu cầu về việc áp dụng khoa học công nghệ trong bảo vệ môi trường: Khoa
học công nghệ ngày càng phát triển, do vậy nhu cầu tất yếu đặt ra là cần ứng dụng khoa học, công nghệ và sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao và hạn chế ô nhiễm môi trường (áp dụng các quy trình sản xuất sạch, ít gây ô nhiễm môi trường) Các doanh nghiệp cần tìm hiểu và tận dụng công nghệ tiên tiến của các
Trang 27nước phát triển đối với việc bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của mình
- Yêu cầu về thời gian và mức độ thường xuyên trong bảo vệ môi trường:
Công tác bảo vệ môi trường không chỉ diễn ra vào một thời điểm, một giai đoạn nhất định mà cần diễn ra thường xuyên, liên tục trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh, từ sản xuất, lưu thông, phân phối đến tiêu dùng trên thị trường Để đảm bảo được điều đó, không chỉ do ý thức riêng của mỗi cá nhân, doanh nghiệp mà cần phải sự tham gia quản lý chặt chẽ từ phía Nhà nước, tạo sự thống nhất trong công tác quản lý bảo vệ môi trường
1.5 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ 1.5.1 Khái niệm, cơ cấu, nội dung
Bảo vệ môi trường đặt ra những yêu cầu để đất nước phát triển bền vững Cũng tương tự các lĩnh vực khác trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà nước phải sử dụng nhiều công cụ như: Công cụ kinh tế, công cụ kế hoạch, công cụ pháp luật… Trong các công cụ đó, pháp luật đóng vai trò trung tâm, vì suy cho cùng, việc sử dụng loại công cụ nào thì cũng phải được pháp luật quy định hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp
Bảo vệ môi trường ở một địa phương của một quốc gia và ở từng quốc gia luôn gắn liền với việc bảo vệ môi trường của toàn cầu Chính vì lẽ đó mà nhiều hội nghị môi trường thế giới đã ra những nghị quyết chung (được gọi là Tuyên ngôn)
về môi trường
Đây là một đặc điểm của hoạt động bảo vệ môi trường chi phối pháp luật về môi trường ở các quốc gia phê chuẩn việc gia nhập tuyên ngôn đó, trong đó phải
kể đến:
(1) các công ước của Liên Hợp quốc về sự biến đổi môi trường
(2) Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân (IAEA) năm 1985
Trang 28(3) Công ước về trợ giúp trong các trường hợp có sự cố hạt nhân hoặc phóng
xạ khẩn cấp (IAEA) năm 1986
(4) Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới, năm 1972 (5) Thỏa thuận về mạng lưới các trung tâm thủy sản ở Chân Á – Thái Bình Dương năm 1988
(6) Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các lời chim nước( RAMSAR) , Paris, 1971
(7) Nghị định thư bổ sung công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước, Paris,1982
(8) Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu thuyền MARPOL, 1973 (9) Bản bổ sung Luân Đôncho công ước, Luân Đôn, 1973
(10) Bản bổ sung Copenhagen,1992
(11) Công ước về buôn bán quốc tế những loài động vật, thực vật có nguy cơ
bị đe dọa (Công ước CITES), 1973
(12) Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozon, 1987
(13) Công ước viên về bảo vệ tầng ozon, 1985
(14) công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển (UNCLOS), 1982
(15) Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu, 1992
(16) Công ước về đa dạng sinh học (CBD), 1992
(17)Công ước về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng (BASEL), 1989
(18) Tuyên bố quốc tế về sản xuất sạch hơn (22-9-1999)
(19) Công ước Chicago về hàng không dân dụng quốc tế, 1944
(20) Thỏa thuận về thiết lập Ủy ban nghề cá Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, 1948
Trang 29(21) Hiệp ước về khoảng không ngoài vũ trụ, 1976
(22) Công ước về cầm phát triển, sản xuất và tàng trữ vũ khí hóa học, vi trùng
và việc tiêu hủy chúng
(23) Cam kết quốc tế về phổ biến và sử dụng thuốc diệt côn trùng , FAO,
1985
(24) Hiệp Định ASEAN về kiểm soát khói mù xuyên biên giới, 2002
(25) Hiệp định khung ASEAN về tiếp cận và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích
có được từ việc sử dụng nguồn gen và tài nguyên sinh học
Việc phê chuẩn các công ước này là cơ sở, tiền đề quan trọng cho sự hội nhập của pháp luật Việt Nam với những tiêu chuẩn và pháp luật phổ biến của pháp luật quốc tế; điều chỉnh hoạt động của con người tác động vào tự nhiên, gây ảnh hưởng đến môi trường Ngoài ra, Việt Nam đang xem xét để tham gia các công ước/ thỏa thuận quốc tế sau: Công ước quốc tế về trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại do ô nhiễm đầu năm 1969; Công ước quốc tế liên quan tới can thiệp vào các biểu vĩ độ cao trong trường hợp thiệt hại do ô nhiễm dầu năm 1969; Công ước về phòng ngừa
ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác năm 1972; Công ước quốc tế về bảo tồn các loại động vật hoang dã di cư năm 1979; Hiệp định ASEAN về bảo tồn thiên nhiên và các tài nguyên thiên nhiên năm 1985; Công ước quốc tế về sự sẵn sàng ứng phó và hợp tác đối với ô nhiễm dầu
Các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cũng chịu sự chi phối bởi các văn kiện trên đây trong trường hợp Nhà nước ta phê chuẩn sự tham gia của Việt Nam
Pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
là một bộ phận của pháp luật bảo vệ môi trường Căn cứ khảo sát của Bộ Tài nguyên và Môi trường về mô hình pháp luật về bảo vệ môi trường ở một số nước công bố năm 2002 và thực tiễn lập pháp ở nước ta thể hiện qua các luật bảo vệ môi trường năm 1993, 2005, 2014 có thể nhận diện pháp luật bảo vệ môi trường mà trung tâm là Luật Bảo vệ môi trường có các nội dung điều chỉnh chủ yếu sau đây
Trang 30(ngoài các nội dung chung yêu cầu một đạo luật phải có như: phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ…) :
- Nguyên tắc bảo vệ môi trường;
- Chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường;
- Những hành vi bảo vệ môi trường được khuyến khích và những hành vi bị nghiêm cấm
- Quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
- Quy định bảo vệ môi trường trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên
- Quy định ứng phó với biến đổi khí hậu
- Quy định bảo vệ môi trường biển và hải đảo
- Quy định bảo vệ môi trường nước sông, các nguồn nước khác
- Quy định bảo vệ môi trường đất, không khí
- Quy định Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư
- Quy định quản lí chất thải, chất thải nguy hại, chất thải rắn, nước thải, quản
lí và kiểm soát bụi, khí thải, tiếng ồn
- Quy định xử lí ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môi trường
- Quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục và xử lí sự cố môi trường
- Quy định về quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường
- Quy định về thông tin môi trường, chỉ thị môi trường, thống kê môi trường
và báo cáo môi trường
- Trách nhiệm của cơ quan quản lí nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị về bảo vệ môi trường
- Quy định về nguồn lực bảo vệ môi trường
- Quy định về hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường
Trang 31- Quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lí vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường
- Quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ Đây là các quy định áp dụng riêng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, ngoài các quy định áp dụng chung cho mọi tổ chức, cá nhân
Từ thực tiễn pháp lý trên đây có thể rút ra kết luận sau: Pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là một bộ phận của pháp luật bảo vệ môi trường điều chỉnh quan hệ quản lí nhà nước về môi trường, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm bảo vệ môi trường
1.5.2 Nguyên tắc, các căn cứ đánh giá hiệu quả pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Nguyên tắc bảo vệ môi trường là yếu tố cơ bản chi phối pháp luật bảo vệ môi trường, trong đó có lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ Các nguyên tắc bảo vệ môi trường là nguyên tắc áp dụng chung cho tất cả các lĩnh vực bảo vệ môi trường Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định các nguyên tắc bảo vệ môi trường:
1 Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân
2 Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành
3 Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải
4 Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia
Trang 325 Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
6 Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường
7 Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường
8 Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
Chương VII Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 từ Điều 65 đến Điều 79 quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Các điều luật này quy định quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân liên quan đến bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
Như đã trình bày ở các phần trên, pháp luật về bảo vệ môi trường là công cụ
có vị trí, vai trò quan trọng nhất trong các công cụ bảo vệ môi trường Do đó, vấn
đề đặt ra là phải đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật bằng các căn cứ (hay tiêu chí, hay yếu tố) Vấn đề căn cứ đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật về mặt học thuật hiện còn nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, theo chúng tôi, căn cứ (tiêu chí, yếu tố) đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gồm:
- Tạo ra tình trạng bảo vệ tốt môi trường theo nguyên tắc phát triển bền vững: kết hợp có hiệu quả giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ môi trường theo phương châm của Khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014
- Bảo đảm tiết kiện kinh phí vật chất và tiết giảm nhân lực
- Tạo ra sự đồng thuận của xã hội về bảo vệ môi trường, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát triển bền vững
Trang 33- Bảo đảm rút ngắn thời gian từ khi tổ chức thực hiện pháp luật đến khi có kết
quả thực hiện trong bảo vệ môi trường
Kết luận:
Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là hết sức cần thiết Vì hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường, những ảnh hưởng đó tạo ra những hậu quả xấu tới đời sống con người và động thực vật trong tự nhiên Nếu không có sự phòng ngừa, khắc phục các hậu quả đó, sẽ đe dọa sự tồn tại, phát triển của con người
Bảo vệ môi trường góp phần hạn chế, loại trừ những ảnh hưởng xấu từ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Trong điều kiện tự do cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, việc tuân theo quy định về bảo vệ môi trường, các tiêu chuẩn về môi trường không chỉ đảm bảo tính trong sạch của môi trường, mà còn nâng cao tính cạnh tranh cho doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận, mở rộng thị trường; giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín một cách bền vững không chỉ đối với khách hàng mà còn đối với việc vay vốn ngân hàng, huy động cổ phần, mở rộng thị trường sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau, bao gồm các biện pháp phòng ngừa (ngăn chặn các hành vi xả các chất thải, chất gây ô nhiễm vào môi trường, ngăn chặn các hành vi khai thác bừa bãi, sử dụng quá mức các thành phần của môi trường); các biện pháp khắc phục (làm sạch môi trường, khôi phục chất lượng và số lượng các thành phần môi trường), song không thể thiếu biện pháp pháp lý, bởi nó mang tính bắt buộc, khiến các doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường theo đúng quy định trong hoạt động của mình Biện pháp pháp lý về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đó sẽ được trình bày cụ thể ở chương 2
Trang 34Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Pháp luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến một hay nhiều yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người
Về cơ bản, pháp luật môi trường điều chỉnh các nhóm quan hệ sau:
+ Quan hệ phát sinh từ hoạt động đánh giá tác động môi trường;
+ Quan hệ quản lý chất thải;
+ Quan hệ phát sinh từ hoạt động thanh tra việc thực hiện pháp luật và chính sách môi trường;
+ Quan hệ phát sinh từ việc xử lý vi phạm pháp luật môi trường;
+ Quan hệ về bồi thường thiệt hại do việc gây ô nhiễm, suy thoái hay sự cố môi trường gây ra;
+ Quan hệ phát sinh từ việc giải quyết tranh chấp môi trường;
+ Quan hệ về bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;
Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường rất đa dạng, bao gồm nhiều văn bản pháp luật khác nhau Đầu tiên phải kể đến Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hào xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định: “Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, một cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường”
Trang 35Dựa trên cơ sở Hiến pháp 2013, Luật bảo vệ môi trường 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường 2015 ra đời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường
Bên cạnh đó là các văn bản pháp luật như: Luật đất đai 2013, Luật khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, Luật doanh nghiệp 2014, Luật đầu tư cũng quy định rõ
về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc trong quá trình sản xuất kinh doanh có gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đối với môi trường
Nhìn chung, pháp luật về bảo vệ môi trường điều chỉnh nhiều nhóm quan hệ khác nhau, trong đó có quan hệ bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Căn cứ vào tính chất, yêu cầu bảo vệ môi trường đối với mỗi thời điểm khác nhau của quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có thể chia pháp luật
về bảo vệ môi trường đối với hoạt động này thành các giai đoạn sau đây
2.1 GIAI ĐOẠN TRƯỚC KHI ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, DỊCH VỤ
Bảo vệ môi trường trong giai đoạn này rất quan trọng, tạo tiền đề cho hoạt động bảo vệ môi trường khác được thực hiện chủ động và hiệu quả trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Do đây là giai đoạn mà các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đi vào hoạt động, vì vậy chưa có các tác động trực tiếp tới môi trường, song cần phải đánh giá,
dự liệu tác động tới môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trước khi đi vào hoạt động, để từ đó xây dựng các giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp,
do đó pháp luật về bảo vệ môi trường đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ trong giai đoạn này có những đặc điểm cơ bản:
+ Tính định hướng: buộc các chủ thể sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải dự liệu các tác động xấu đến môi trường trong hoạt động của mình (thể hiện qua các đánh giá môi trường, quy hoạch môi trường), từ đó các chủ thể sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có thể đưa ra các giải pháp nhằm bảo vệ môi trường hiệu quả hơn
Trang 36+ Tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (thể hiện ở việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn (quy chuẩn) môi trường, các biện pháp phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường) Dựa vào đó, các doanh nghiệp có thể bảo vệ môi trường theo đúng quy định pháp luật + Bảo đảm cho các chủ thể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có
sự chủ động về bảo vệ môi trường trong hoạt động của mình (thông qua việc xây dựng nguồn tài chính bảo vệ môi trường cũng như xác định các biện pháp bảo vệ môi trường phù hợp ngay từ khi chưa hoạt động)
Pháp luật bảo vệ môi trường đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong giai đoạn này được thể hiện cụ thể ở các nội dung sau đây
2.1.1 Đánh giá môi trường
Đây là hoạt động rất quan trọng, cần thiết đối với các dự án trước khi đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nhằm đảm bảo cho việc bảo vệ môi trường được thực hiện một cách chủ động và hiệu quả hơn Nội dung cơ bản của quá trình đánh giá môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là sự phân tích, dự báo những tác động xấu đến môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để từ đó đề ra những giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp Quá trình đó bao gồm:
Đánh giá môi trường chiến lược “Là việc phân tích, dự báo các tác động đến
môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm đảm bảo phát triển bền vững”
Đánh giá tác động môi trường“Là việc phân tích, dự báo các tác động đến
môi trường của dự án đầu tư cụ thể đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”
Cam kết bảo vệ môi trường “Là hoạt động phân tích, đánh giá, dự báo các
tác động đến môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các dự án có quy mô nhỏ (không thuộc diện lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và đánh
Trang 37giá môi trường chiến lược) để từ đó đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp”
Xét từ khía cạnh pháp lý, đánh giá tác động môi trường và đánh giá môi trường chiến lược là hệ thống các quan hệ pháp luật hình thành giữa cơ quan quản
lý nhà nước với cơ quan, tổ chức, cá nhân đề xuất, thực hiện chính sách, hoạt động phát triển trong việc khảo sát và đánh giá các tác động của các hoạt động phát triển
đó đối với các yếu tố của môi trường cũng như các giải pháp giảm thiểu các tác động đó Nó bao gồm các quy tắc xử sự mà các chủ thể cần phải thực hiện khi tiến hành các dự án phát triển (bao gồm cả các dự án xây dựng chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch) có khả năng tác động tới môi trường Hoạt động này được hướng dẫn cụ thể bởi Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
Đánh giá tác động môi trường là quá trình hoạt động của cơ quan nhà nước, tạo cơ sở, định hướng cho hoạt động bảo vệ môi trường cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Các cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quy định tại Luật bảo vệ môi trường 2014 có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược Bao gồm các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội “cấp quốc gia”, “của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”, “chiến lược phát triển ngành trên quy mô cả nước”, “quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ và phát triển rừng, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác”, “quy hoạch tại các vùng kinh tế trọng điểm”
và “quy hoạch tổng hợp lưu vực sông quy mô liên tỉnh” Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược là một nội dung của dự án và phải được tiến hành đồng thời với quá trình lập dự án
Báo cáo đánh giá môi trường, chiến lược chủ yếu phân tích mục tiêu, quy mô, đặc điểm của dự án, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế có liên quan đến môi trường; dự báo các tác động xấu đối với môi trường có thể xảy ra khi thực hiện dự
án, từ đó đề ra phương hướng, giải pháp bảo vệ môi trường trong quá trình phát
Trang 38triển, bảo đảm phát triển bền vững (Nội dung báo cáo đánh giá môi trường được quy định tại Luật bảo vệ môi trường 2014)
Chủ các dự án phát triển quy định tại Luật bảo vệ môi trường 2014 và nằm trong Danh mục Chính phủ quy định phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Đó là các dự án “công trình quan trọng quốc gia”, “có tiềm ẩn nguy cơ lớn gây tác động xấu đến môi trường”, “dự án có sử dụng phần diện tích đất hoặc có ảnh hưởng xấu đến khu bảo tồn thiên nhiên”, các “dự án khai thác, sử dụng nước dưới đất, tài nguyên thiên nhiên quy mô lớn”, “có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến nguồn nước lưu vực sông, vùng ven biển, vùng có hệ sinh thái được bảo vệ”, “dự
án xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, cụm làng nghề”, dự án xây dựng mới khu đô thị, khu dân sự tập trung,… các dự án này được cụ thể hóa trong phụ lục ban hành kèm theo Nghị định do Chính phủ ban hành
Trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, bên cạnh đánh giá chung hiện trạng môi trường nơi thực hiện dự án, vùng kế cận, mức độ nhạy cảm, độ chịu tải của môi trường, còn phải đánh giá chi tiết, cụ thể các tác động có khả năng xảy ra khi thực hiện dự án, dự báo những rủi ro về sự cố môi trường trong quá trình thi công dự án có thể xảy ra, đồng thời là các biện pháp cụ thể để giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường, phòng ngữa, ứng cứu các sự cố môi trường,… (Luật bảo
vệ môi trường 2014) Đó là các yêu cầu bắt buộc về nội dung cần phải có trong các bản báo cáo đánh giá tác động môi trường Chủ dự án có trách nhiệm thực hiện theo đúng nội dung trong bản báo cáo đánh giá tác động môi trường, nếu có bất cứ
sự thay đổi nào về quy mô, nội dung, thời điểm triển khai thực hiện dự án… thì phải trình với cơ quan phê duyệt, nếu cần thiết thì phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung Đây là cơ sở chính để cơ quan phê duyệt và các cơ quan thanh tra, kiểm tra về môi trường kiểm tra, quản lý việc thực hiện các nội dung bảo
vệ môi trường của dự án Báo cáo đánh giá tác động môi trường thường phải nộp cùng với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án
Trang 39Rõ ràng, bên cạnh tính định hướng cho hoạt động sản xuất kinh doanh từ báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược thì việc quy định cụ thể pháp luật về báo cáo đánh giá môi trường chiến lược và đánh giá tác động môi trường giúp các
cơ sở sản xuất kinh doanh có thể tiến hành khảo sát, dự liệu những tác động xấu đến môi trường trong quá trình hoạt động, từ đó sẽ xây dựng những giải pháp hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường cũng như giảm thiểu các tác động xấu mà hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ có thể gây ra, giúp sự phát triển theo hướng bền vững Vì thế, tính xác thực, chính xác của báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường là khá quan trọng, đòi hỏi phải có sự thẩm định kỹ càng và phê duyệt từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc thẩm định về phê duyệt Báo cáo đánh giá môi trường được quy định tại Luật bảo vệ môi trường 2014 và hướng dẫn cụ thể ở Thông tư do Bộ Tài nguyên
và Môi trường ban hành Qua đó, việc xem xét để xác định các điều kiện về chất lượng môi trường nêu trong báo cáo cũng như việc thông qua báo cáo sẽ giúp xây dựng các biện pháp bảo vệ môi trường phù hợp cho hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ khi đã đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường (Luật bảo vệ môi trường 2014)
Nội dung bản cam kết bảo vệ môi trường được quy định tại Luật bảo vệ môi trường 2014 bao gồm: địa điểm thực hiện; loại hình, quy mô sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng; các loại chất thải phát sinh; cam kết thực hiện các biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
Trách nhiệm tổ chức đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường được quy định thuộc về ủy ban nhân dân cấp huyện; trường hợp cần thiết ủy ban nhân dân cấp huyện có thể ủy quyền cho ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký Thời hạn chấp nhận bản cam kết bảo vệ môi trường là không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản cam kết bảo vệ môi trường hợp lệ Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp
xã được giao trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường (Luật bảo vệ môi trường 2014)
Trang 40Việc đánh giá môi trường bắt đầu được hình thành ngay từ giai đoạn trước khi
đi vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Nhưng không chỉ tồn tại ở giai đoạn này, mà khi đi vào hoạt động, tổ chức, cá nhân cũng như các doanh nghiệp phải tiến hành hoạt động theo những gì đã cam kết, theo đúng báo cáo đánh giá tác động môi trường và đánh giá môi trường chiến lược đã được lập trước đó
Tuy nhiên trên thực tế, trong nhiều trường hợp, việc lập báo cáo đánh giá môi trường chỉ mang tính hình thức, trên thực tế nhiều hoạt động chưa thực sự được triển khai hoặc triển khai chưa đúng so với những điểm nêu ra trong báo cáo Nhiều khi việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường chiến lược cũng như cam kết bảo vệ môi trường chỉ như một thủ tục bắt buộc cần phải có mà các cá nhân, tổ chức cũng như các khu sản xuất, kinh doanh tập trung thực hiện nhằm đảm bảo điều kiện được đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chứ chưa thực sự vì mục đích giữ gìn, bảo vệ môi trường Việc kiểm soát thiếu chặt chẽ từ phía Nhà nước khiến việc triển khai các hoạt động cam kết đó không diễn ra như đúng mục đích của nó, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường Đó cũng là một hạn chế lớn trong việc quản lý môi trường từ phía Nhà nước, cũng như việc chấp hành từ phía các cá nhân, tổ chức hay các doanh nghiệp
2.1.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, chính sách và quy hoạch môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
* Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch, chính sách bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Đây là hoạt động mang tính định hướng cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp lớn về bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, giúp các hoạt động này được thực hiện một cách chủ động, thống nhất và hiệu quả
Quy hoạch môi trường ở đây được hiểu là sự phân bổ, tính toán về việc xây dựng các khu vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung (đặc biệt là khu vực thu gom, xử lý chất thải và các giải pháp bảo vệ môi trường khác) để đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo vệ lợi ích cộng đồng Quy