Tầm quan trọng của vấn đề được nghiên cứu: Môn Tiếng Việt có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống, là phươngtiện để giao tiếp và tư duy, giúp học sinh cảm nhận được cá
Trang 1I Tên đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH VIẾT TỐT ĐOẠN VĂN TRONG VĂN MIÊU TẢ CỦA MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4 VNEN
II Đặt vấn đề:
1 Tầm quan trọng của vấn đề được nghiên cứu:
Môn Tiếng Việt có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống, là phươngtiện để giao tiếp và tư duy, giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp củacuộc sống xung quanh Thông qua dạy và học môn Tiếng Việt, giáo viên bồidưỡng cho học sinh tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con ngườiViệt Nam xã hội chủ nghĩa
Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữcho học sinh thể hiện ở bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Vậy để nâng cao
chất lượng của môn Tiếng Việt thì người giáo viên không những cần giúp đỡcác em nhận ra tầm quan trọng của nó mà còn phải giúp các em nói, viết
chính xác, thành thạo để các em có năng lực sử dụng Tiếng Việt làm công
cụ tư duy, giao tiếp Đó chính là chìa khóa, là phương tiện giúp các em học tập tốt các môn học còn lại.
Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, phần lớn học sinh viết văn còn khôkhan, hầu như các em chỉ diễn đạt nội dung Câu văn chỉ mang tính chấtthông báo chứ chưa có hình ảnh, chưa có cảm xúc Để giúp học sinh tiểu họcviết được một đoạn văn hoàn chỉnh, có hình ảnh, giàu cảm xúc đang là vấn đềkhó khăn và nan giải mà mỗi giáo viên, các nhà quản lý giáo dục đều đặc biệtquan tâm
2 Những thực trạng liên quan đến vấn đề:
Qua thực tế giảng dạy chương trình lớp 4 bản thân tôi rút ra được một
số vấn đề như sau :
- Học sinh sử dụng sách văn mẫu khá nhiều nhưng sách văn mẫu hầunhư chỉ tập trung giải đề cho sẵn
- Học sinh viết câu rời rạc do không biết sắp xếp ý và chưa nắm vững
về cấu trúc câu, cấu trúc đoạn văn, các thành phần phụ trong câu…
- Khả năng viết đoạn văn miêu tả của các em còn nhiều lúng túng docác em ít quan sát thực tế hoặc có quan sát nhưng chưa phát huy hết khả năngquan sát của các giác quan
- Vốn từ của học sinh còn ít nên bài viết nghèo ý, chưa có sức gợi tả
- Khoa học, công nghệ phát triển nên một số học sinh chỉ tập trung vàotrò chơi điện tử, phim hoạt hình nên ít đọc các loại sách, báo dành cho thiếunhi
Trang 2- Khi viết đoạn văn miêu tả các em chỉ dừng lại ở việc chỉ liệt kê cácchi tiết các bộ phận của sự vật một cách đơn giản dẫn đến câu văn hết sức khôkhan.
3 Lý do chọn đề tài:
Xuất phát từ những lí do nêu trên nên việc học Tiếng Việt trong trường
tiểu học của các em còn nhiều hạn chế, đặc biệt là viết đoạn văn miêu tả,
nhiều em còn lúng túng, không ham thích học văn Vì vậy, tôi đã mạnh dạnchọn đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh viết tốt đoạn văn trong văn miêu
tả của môn Tiếng Việt lớp 4 Vnen Nhằm mục đích giúp học sinh có tư duy,
độc lập sáng tạo hơn nữa trong khi viết văn và viết được đoạn văn có hình ảnh, biết sắp xếp ý logic, bước đầu hình thành được bài văn có bố cục chặt
chẽ
4.Giới hạn nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
- Học sinh lớp 4D (năm học 2016-2017) của trường Tiểu học NguyễnNgọc Bình
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đề tài chỉ nêu một số biện pháp giúp học sinh viết đoạn văn ngắn ởthể loại văn miêu tả
III Cơ sở lí luận:
Hiện nay, hiệu quả của việc dạy học không chỉ phụ thuộc vào nội dungmà còn phụ thuộc vào phương pháp, hình thức tổ chức dạy học.Vì thế nhàtrường và giáo viên luôn quan tâm đến phương pháp của người dạy và ngườihọc, nhằm nâng cao chất lượng của môn Tiếng Việt Giữa yêu cầu ngày càngnâng cao của chất lượng giáo dục thì nhiệm vụ đó phụ thuộc phần lớn vàoviệc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và dạy viết đoạn văn hoàn chỉnhtrong thể loại văn miêu tả của môn Tiếng Việt nói riêng Vấn đề đặt ra làngười giáo viên phải dạy như thế nào để có được một kết quả tốt nhất, giúpcác em có năng lực sử dụng Tiếng Việt làm công cụ tư duy, giao tiếp tronghọc tập
IV Cơ sở thực tiễn:
1 Thực trạng chung :
a Thuận lợi :
- Trường Tiểu học Nguyễn Ngọc Bình là trường đạt chuẩn Quốc giamức 2, thư viện được công nhận đạt chuẩn theo Quyết định 01 Vì vậy sách,báo, truyện có rất nhiều để phục vụ cho giáo viên và học sinh tham khảo
- Trường đã xây dựng tủ sách của em với nhiều loại sách rất đa dạng
Trang 3- Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình trường họcmới Vnen cùng với việc thực hiện phong trào thi đua “Trường học thân thiệnhọc sinh tích cực” đã giúp cho học sinh có kĩ năng mạnh dạn, tự tin hơn tronggiao tiếp Học sinh có thể bày tỏ những ý kiến của mình về một vấn đề vớicác bạn, thầy cô giáo, với bố mẹ và mọi người xung quanh một cách tự nhiên.
b Khó khăn :
- Trường nằm trên địa bàn có kinh tế khá nhưng mặt bằng kinh tếkhông đồng đều, do đó nhiều học sinh có hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khănít được cha mẹ quan tâm
- Những học sinh chậm tiếp thu tiếp cận nội dung chương trình cònnhiều khó khăn Do đó việc học môn Tiếng Việt của các em thường vấpnhững lỗi sau:
+ Một là, học sinh chỉ làm bài để đối phó chứ không có hứng thú,không có thói quen quan sát và không có cảm xúc gì về đối tượng miêu tả + Hai là, học sinh chép văn mẫu hoặc vay mượn ý của bài văn mẫu đểviết
+ Ba là, các em không biết bắt đầu từ đâu và kết thúc như thế nào trongmỗi đoạn văn và miêu tả một cách hờn hợt chung chung không có một sắcthái riêng, không có nhận xét cụ thể Hơn nữa một bộ phận học sinh ít có thóiquen đọc sách hoặc các em ít được giao tiếp nhằm phát triển ngôn ngữ khinhìn nhận sự vật để viết thành một đoạn văn
+ Bốn là, các em chưa có kỹ năng xác định yêu cầu đề bài là viết về cáigì và chưa chú ý miêu tả đặc điểm nổi bật của sự vật muốn miêu tả
+ Năm là, vốn từ ngữ của các em còn nghèo do học chưa tốt, chưa nắmvững kiến thức Tiếng Việt về ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ và biện pháp tutừ
2 Thực trạng lớp 4D Trường Tiểu học Nguyễn Ngọc Bình trong học kì I năm học 2016- 2017:
- Sau khi khảo sát 29 HS ở bài tập 1 HĐTH/122 SHDH Tiếng Việt 4tập 1B tôi đã thống kê và phân loại theo các nhóm đối tượng sau :
1 Nhóm không có thói quen quan sát sự vật 15/29 HS
2 Nhóm không xác định được yêu cầu đề bài 10/29 HS
3 Nhóm sử dụng từ không chính xác 14/29 HS
4 Nhóm viết đoạn văn không có sự liên kết về câu 13/29 HS
Trang 4- Ghi chú: (Ở bảng số liệu này có thể 1 học sinh nằm trong 1,2 3 nhómđối tượng)
- Sau đây tôi xin dẫn chứng một số bài làm của học sinh lớp 4D:
Ví dụ 1: (BT1HĐTH/ 122 sách HDH TV4 tập 1B)
Đề bài: Viết vào vở đoạn văn tả bao quát chiếc bút của em
Qua ví dụ 1: Học sinh dùng từ lặp, dùng từ chưa chính xác, ý còn ít,
Ví dụ 2: (BT4 HĐTH/ 128 sách HDHTV4 tập 1B)
Với ví dụ 2: Học sinh chưa quan sát kĩ sự vật, chưa biết cách dùng từ,dùng từ chưa chính xác, ý còn nghèo, diễn đạt không trôi chảy, chưa có sựliên kết về câu
Ví dụ 3: Viết một đoạn văn tả lá, thân hoặc gốc của cái cây mà em yêu
thích (Bài tập 2 HĐTH/71 SHDH Tiếng Vệt 4 tập 2A)
Trang 5Ở ví dụ 3: Học sinh xác định chưa đúng yêu cầu của đề bài, chưa nắmđược trình tự miêu tả.
Qua kết quả trên tôi thật sự bối rối và tự đặt ra câu hỏi: Phải chăng
trong dạy học của mình tôi chỉ chú trọng tới việc cung cấp kiến thức mà quên
đi cái chính đó là chuyển kiến thức thành tri thức, thành nguồn vốn để họcsinh thực hành Vì vậy tôi phải làm một điều gì đó để học sinh chuyển cáckiến thức học được thành vốn tri thức của bản thân Có lẽ tôi phải tạo cơ hộiđể các em bộc lộ năng khiếu, bộc lộ suy nghĩ trước sự vật xung quanh, biếtcảm nhận cái đẹp của sự vật, biết viết lại suy nghĩ của mình qua quan sát thựctế bằng những câu văn mộc mạc nhưng giàu hình ảnh, chứa đựng tâm hồnngây thơ hồn nhiên của tuổi nhỏ
V Nội dung nghiên cứu:
Xuất phát từ suy nghĩ trên và thực trạng của học sinh lớp 4D tôi đãnghiên cứu, theo dõi cả một quá trình giảng dạy Qua chấm bài, chữa lỗi bàilàm của học sinh tôi đã tìm ra một số giải pháp cụ thể nhằm giúp học sinhkhắc phục lỗi viết câu và viết đoạn văn giàu hình ảnh, biết sắp xếp các ý mạchlạc, logic, câu văn gãy gọn, cụ thể như sau:
1 Mở rộng vốn từ cho học sinh thông qua dạy đọc và dạy kiến thức Tiếng Việt:
Từ ngữ là nhân tố cơ bản để xây dựng câu văn, đoạn văn Nó có một vịtrí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Hiểu từ ngữ, sử dụng đúng, sử dụng haymới có thể diễn đạt và diễn đạt tốt nội dung, ý kiến của mình Vậy mà vốn từcủa các em rất ít, các em chưa hiểu hết nghĩa của từ và điều đó sẽ khiến các
em không thể viết được đoạn văn hay hoặc bài văn hay Để đáp ứng được yêucầu đó, tôi đã giúp học sinh tích lũy vốn từ và biết lựa chọn từ ngữ miêu tảphù hợp thông qua hoạt động đọc, giải nghĩa từ và tìm hiểu nội dung bài đọc.Khi dạy các bài tập đọc, tôi giúp học sinh hiểu nghĩa một số từ có trong bài,
Trang 6học sinh phải nắm được nội và các biện pháp nghệ thuật viết văn, cảm nhậnđược cách sử dụng ngôn từ và hình ảnh của mỗi tác giả.
Ví dụ 1: Bài Dế mèn bênh vực kẻ yếu (SHDH Tiếng Việt 4 tập 1A
trang 4) tôi hướng dẫn các em tìm tất cả các hình ảnh nhân hóa có trong bàivăn và sau đó yêu cầu các em nêu một hình ảnh nhân hóa trong bài mà emthích
Ví dụ 2: Khi học bài Sầu riêng (SHDH Tiếng Việt 4 tập 2A trang 55)
tôi chỉ cho học sinh thấy được đoạn văn hay trong bài mà tác giả đã dùng từngữ giàu hình ảnh và sử dụng nghệ thuật so sánh để tả vẻ đẹp của hoa sầu
riêng “Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm Gió đưa hương thơm ngát như hương cau, hương bưởi tỏa khắp khu vườn Hoa đậu từng chùm, màu trắng ngà Cánh hoa nhỏ như vảy cá, hao hao giống cánh sen con, lác đác vài nhụy
li ti giữa những cánh hoa Mỗi cuống hoa ra một trái Nhìn trái sầu riêng lủng lẳng dưới cành trông giống những tổ kiến Mùa trái rộ vào dạo tháng tư, tháng năm ta”.
Như vậy qua mỗi tiết học, học sinh sẽ bổ sung được vốn từ ngữ chomình, mở rộng thêm vốn từ góp phần bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùngtừ đúng, nói và viết thành câu Đó là nền tảng giúp các em viết được đoạnvăn, bài văn hay
2 Kích thích hứng thú học văn cho học sinh:
Để chuẩn bị cho tiết Tiếng Việt có đề bài "Viết một đoạn văn miêutả ” tôi đã gợi ý và giao việc cho học sinh quan sát sự vật cần miêu tả ở nhàtrước khi đến lớp Lúc quan sát các em có thể tự trả lời những câu hỏi như:Nhìn từ xa em thấy cảnh vật đó hiện ra như thế nào? Trong cảnh đó em chọn
tả những cây gì? (màu sắc, mùi hương), Con vật gì? Âm thanh của chúng nhưthế nào? So sánh các bộ phận của chúng với các loài khác để thấy điểm nổibật
- Ở lớp giáo viên đặt ra những câu hỏi “Vì sao” như vậy, điều này tạonên kiến thức bách khoa cho học sinh Khi học sinh nêu lại trên lớp giáo viêngiúp cho học sinh sắp xếp theo thứ tự những điều đã quan sát một cách hợp lí.(Học sinh quan sát và ghi lại những nội dung quan sát được bằng cảm nhậnthực tế và suy nghĩ riêng của mỗi em)
- Từ chỗ quan sát được, khi thảo luận trong nhóm, trình bày trước lớpcác em sẽ có cơ hội tranh luận, tự tin trình bày ý kiến, tạo điều kiện để ngônngữ của các em phát triển Đồng thời tạo hứng thú, say mê tìm tòi, tạo độnglực để các em học tập môn Tiếng Việt tốt hơn
- Chuẩn bị một số tranh ảnh, câu văn, đoạn văn hay, một số vốn từ ngữ
thuộc bài học để xử lý các tình huống có thể xảy ra Chuẩn bị câu hỏi gợi mở,tạo ra nhiều tình huống để các em tập bình luận, mô tả lại những điều đã quansát được một cách tự tin, cởi mở
Trang 7Ví dụ: Đối với đề bài: Em hãy viết đoạn văn tả một loài hoa hoặc một
thứ quả mà em yêu thích (Bài tập1 HĐTH/83 SHDH Tiếng Việt 4 tập 2A)
- Với đề bài này ngoài một số tranh ảnh trong sách giáo khoa tôi có thểcho các em chuẩn bị một số hoa, quả thật có tại gia đình gần gũi với các em
Hoa cúc Hoa thược dược
Hoa hồng Quả xoài
Quả bưởi Quả ổi
- Đồng thời tôi chuẩn bị một số câu hỏi như: Hoa, quả đó có hình dạngnhư thế nào? Giống cái gì? Màu sắc, mùi vị của nó ra sao? Học sinh sẽ tựchọn một loài hoa hoặc một thứ quả mà em yêu thích Sau đó quan sát thật kĩ
Trang 8tìm hiểu về hình dáng, màu sắc, hương vị đặc trưng, quyến rũ riêng, sắp xếp ýđể viết thành đoạn văn Cần làm cho học sinh thấy được sự khác biệt giữa cácloại hoa, thứ quả và ý tưởng về tả các loài hoa, thứ quả không nhất thiết phảigiống nhau.
Bằng những biện pháp trên tôi làm cho học sinh hứng thú, tự tin, thoảimái khi học viết đoạn văn
3 Hướng dẫn học sinh xác định yêu cầu đề bài: (đối với nhóm học
sinh không xác định được yêu cầu đề bài)
Xác định được yêu cầu của đề bài sẽ giúp học sinh đi đúng hướng ở những thao tác tiếp theo Có kĩ năng tìm ý, lập dàn ý theo từng kiểu bài là cơ
sở để viết bài văn đúng và hay
Vì vậy, mỗi khi ra đề tôi yêu cầu học sinh thực hiện theo các bước sau:Bước 1: Đọc kĩ đề
Tả đồ vật
Bước 2: Xác định thể loại: Tả cây cối
Tả con vật
Tả cái gì? Cây gì? Con gì?
Bước 3: Xác định yêu cầu Ở đâu? Vào lúc nào? Trình tự tả? Tả thế nào? Tình cảm của em đối với sự vật định tả
* Tất cả những điều trên được ghi ra thành một dàn bài ngắn gọn, sắpxếp có thứ tự Từ đó học sinh nắm chắc yêu cầu và thực hiện đúng trọng tâmmà đề bài yêu cầu
4 Hướng dẫn học sinh dùng giác quan để quan sát và tiếp xúc với đối tượng cần miêu tả: (đối với nhóm học sinh không có thói quen quan sát và còn lẫn lộn giữa các đối tượng miêu tả)
Đây là thao tác quan trọng nhất có tính quyết định về nhiều mặt, do đóđể viết được đoạn văn miêu tả điều tất yếu đầu tiên đòi hỏi học sinh phải quansát và nắm đối tượng quan sát Vì vậy, giáo viên cần chú trọng vấn đề này.Các em được quan sát và tiếp xúc với sự vật thì các em sẽ cảm nhận được vẻđẹp đáng yêu của chúng và trong lối viết văn trở nên có hồn, tạo nên một cáinhìn sâu sắc, tạo hứng thú để viết đoạn văn hay
Ví dụ 1: Viết một đoạn văn tả đặc điểm bên ngoài của chiếc cặp.
- Chiếc cặp là một đồ vật gần gũi, thân quen với các em hằng ngày.Nhưng muốn làm được đề bài này đạt kết quả cao thì học sinh phải quan sát
Trang 9kĩ, tìm tòi, lựa chọn những chi tiết nổi bật, sau đó hình dung lại để viết
* Qua quan sát bằng tai học sinh sẽ nghe được âm thanh của tiếng khóacặp khi đóng hoặc mở cặp
+ Mỗi khi cần mở cặp em chỉ ấn nhẹ vào hai bên khóa, tiếng “táchtách” vang lên nghe thật vui tai
Ví dụ 2: Viết đoạn văn tả một đồ dùng học tập hoặc một đồ chơi mà em
yêu thích (HĐ7 HĐTH/142 SHDH Tiếng Việt 4 tập 1B)
Trang 10Với ví dụ trên tôi đã gợi ý HS quan sát như sau :
* Chọn đồ vật cần tả sau đó dùng các giác quan để quan sát
- Về mắt: Nhìn bằng mắt em thấy đồ vật đó có màu sắc như thế nào ?
- Về tai: Khi quan sát em đã nghe được những âm thanh gì ?
- Về xúc giác: Khi sờ vào chúng em có cảm giác như thế nào ?
Vậy có quan sát kĩ lưỡng và tiếp xúc với đối tượng miêu tả thì học sinhmới nhận ra được những nét độc đáo đặc biệt của sự vật, đồng thời thói quenquan sát chiều sâu sẽ được hình thành dần trong mỗi học sinh
Ngoài ra, trong các bài tập đọc đã có một số đoạn văn miêu tả, trong đótác giả dùng nhiều giác quan để miêu tả Cho nên trong những giờ học này tôiyêu cầu các em phát hiện một cách triệt để các giác quan mà tác giả đã quansát để các em học tập và giáo dục các em học tập cách quan sát của tác giả…
Hơn nữa trong lúc học sinh quan sát tôi còn lưu ý học sinh nên gắn vớicảm xúc, với kỉ niệm, với cuộc sống của mình kết hợp liên tưởng, so sánh thìcâu văn sẽ sinh động, lôi cuốn người đọc
5 Hướng dẫn cách dùng từ, tìm ý: (Đối với nhóm học sinh dùng từ
không chính xác)
Đối với học sinh lớp 4 các em mới làm quen với văn miêu tả theo cảmxúc riêng của mình, nên vấn đề quan sát sự vật đối với các em còn bỡ ngỡ,lúng túng và khó khăn nhưng việc dùng từ để diễn tả cái quan sát được thì lạicàng khó khăn gấp bội
Qua những điều học sinh ghi lại bằng việc quan sát giáo viên yêu cầu
học sinh trình bày lại rồi so sánh cách dùng từ của mình với bạn.
Ví dụ: Viết vào vở đoạn văn miêu tả đặc điểm bên trong chiếc cặp của
em theo gợi ý sau: (HĐ5HĐTH/130 SHDH Tiếng Việt 4 tập 1B)
Chiếc cặp có mấy ngăn? Vách ngăn được làm bằng gì? Trông như thếnào? Em đựng gì ở mỗi ngăn?
Sau khi hướng dẫn học sinh đọc kĩ đề bài, học sinh quan sát và kết hợpvới câu hỏi gợi ý để làm bài Trong quá trình chấm chữa bài, giáo viên đưa baví dụ tả đặc điểm bên trong chiếc cặp sách như sau:
Ví dụ 1: Chiếc cặp của em rất đẹp và xinh xắn Bên trong cặp có bốn ngăn, ngăn thứ nhất em để sách, ngăn thứ hai em để vở Còn ngăn thứ ba em để bút và ngăn còn lại thì em đựng đồ dùng học tập.
Ví dụ 2: Chiếc cặp của em rất đẹp và xinh xắn Bên trong cặp có bốn
ngăn, Hai ngăn rộng và hai ngăn hẹp, hai ngăn rộng em để sách vở, còn haingăn hẹp em để đồ dùng học tập
Trang 11Ví dụ 3: Chiếc cặp của em rất đẹp và xinh xắn Bên trong cặp có bốn
ngăn Vách ngăn được làm bằng vải ni lông có lót thêm một lớp đệm xốp thật
êm Sách vở của em lúc nào cũng nằm gọn gàng, ngăn nắp trong hai ngănrộng giống như chú mèo con đang nằm trong lòng mẹ Hai ngăn còn lại emđựng những đồ dùng học tập cần thiết của mình
Qua ba ví dụ trên giáo viên hỏi: Em thấy đoạn văn nào hay nhất? Haychỗ nào? Đoạn nào chưa hay? Thì các em chưa trả lời được Lúc này tôihướng dẫn các em tìm xem trong ba đoạn trên có từ nào hay? Trong đoạn đócó sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Sắp xếp ý thế nào? Từ nào dùng chưahợp lí? Qua đó học sinh rút ra được cách dùng từ, tìm ý hay
Ngoài ra trong giờ chuyển tiết tôi cũng có một yêu cầu nhỏ vừa để họcsinh thư giãn, vừa để học sinh động não trong cách dùng từ
Ví dụ: Em hãy đặt một câu miêu tả hình ảnh chiếc lá đang rơi trước sân
(hay hãy tả hình dáng màu sắc của chiếc áo em đang mặc)
- Các em thi nhau miêu tả, rồi tíu tít so sánh bàn luận xem câu của aihay hơn Cứ như thế tôi tập cho các em làm quen với những từ ngữ gợi tả âmthanh, hình ảnh, có sắc thái biểu cảm Nhằm giúp các em tiếp cận với vốn từláy, từ tượng thanh, từ tượng hình rất phong phú, đa dạng của Tiếng Việt Tiếptục, tôi hướng dẫn các em sắp xếp ý cho chặt chẽ, miêu tả là phải có trình tự:Cái gì trước, cái gì sau, không nên để chúng lẫn lộn hoặc chưa hết ý này đãchuyển ý khác
* Mặt khác, tôi còn tổ chức một số trò chơi nhằm giúp các em có khảnăng sử dụng từ ngữ trong khi viết văn
a Các bài tập làm giàu vốn từ
Ví dụ 1: Tìm những từ chỉ màu sắc của sự vật: Đỏ ói, đỏ bừng, đỏ au,
đỏ đọc, xanh biếc, xanh lơ, xanh rì, xanh ngắt,
Ví dụ 2 : Tìm hình ảnh để so sánh chiếc áo của em
(Chiếc áo như người bạn thân hằng ngày cùng em tới trường)
- Qua các ví dụ trên học sinh sẽ tự làm giàu vốn từ và sử dụng một cáchcó hiệu quả khi viết đoạn văn miêu tả
b Dạng bài tập sử dụng từ láy, tính từ, so sánh, nhân hoá.
- Thông qua cách sử dụng từ ngữ này học sinh biết diễn đạt các sự vật,hiện tượng bằng nhiều cách khác nhau
Ví dụ : Hãy chọn các từ thích hợp trong các từ sau : lộp độp, lộp độp,
ào ào, run rẩy để điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau:
“ mưa rồi Cơn mưa đổ xuống làm mọi hoạt động dường như ngừnglại Những cây non cây nhỏ trong vườn ngả nghiêng nhưng vẫn cố bám vàonhau
Trang 12c Cung cấp thêm cho học sinh vốn từ: (chỉ màu sắc,từ gợi tả hình
ảnh, âm thanh của sự vật)
Ví dụ: - Vàng xuộm, vàng hoe, vàng xọng, vàng giòn, vàng tươi
- Vòi vọi, bao la, bát ngát, vắng vẻ, long lanh, lóng lánh
- Lẹt đẹt, lách tách, rào rào, râm ran, lích rích
6 Hướng dẫn HS lập dàn ý đoạn:
Dàn ý đoạn văn được xây dựng dựa trên những yêu cầu về nội dung,thể loại của bài tập đã nêu ra và trên cơ sở của bước định hướng, tìm từ, tìm ýmà học sinh xác lập được Nhờ xây dựng dàn ý, học sinh sẽ hình thành và cốđịnh hoá được các ý trong đầu Làm cơ sở, làm chỗ dựa vững chắc cho việchuy động lại những từ ngữ đã chọn để thực hiện hóa các ý này Nắm vững cáckiến thức về cách viết đoạn văn, bài văn theo mỗi thể loại sẽ giúp học sinhluyện tập các kĩ năng viết theo quy trình văn bản thuận lợi
Ví dụ 1 : Em hãy viết đoạn văn tả một loài hoa hoặc một thứ quả mà
em yêu thích (HĐ1 HĐTH/83 SHDH Tiếng Việt 4 tập 2A)
Tôi sẽ gợi ý học sinh với dàn bài:
- Em chọn hoa gì ? Quả gì?
- Em hãy chọn trình tự miêu tả (Không gian, thời gian)
- Loài hoa, thứ quả em định tả có gì nổi bật?
- Em có cảm nghĩ gì khi ngắm hoa, hoặc ăn thứ quả ấy?
Sau khi hướng dẫn học sinh lập lại dàn bài, giáo viên cho một số họcsinh nhắc lại dàn ý đã lập Sau đó cho các em xem một dàn ý mẫu đã chuẩn
bị để các em có cơ hội rà soát lại và so sánh với dàn ý của mình Từ đó các
em khắc sâu hơn cách lập dàn bài
Hơn nữa trong quá trình dạy học kiến thức tiếng Việt cũng thường cónhững bài tập liên quan đến viết đoạn văn thì tôi cũng chú trọng tới việc lậpdàn bài để tạo thành thói quen lập dàn bài trước khi viết đoạn văn cho họcsinh
Ví dụ: Viết một đoạn văn khoảng 4 câu về một loại trái cây em yêu
thích, trong đoạn văn có dùng câu kể Ai thế nào? (HĐ2 HĐTH/58 SHDH
Tiếng Việt 4 tập 2A)
Đối với bài tập trên tôi cũng hướng dẫn học sinh lập dàn bài rồi dựa vàodàn bài để viết đoạn văn Mặc dù đoạn văn chỉ có bốn câu nhưng việc lập dànbài là cần thiết nhằm giúp học sinh cố định được các ý trong đầu và huy độngtối đa vốn từ mà các em có
7 Luyện viết câu văn hay, diễn đạt bằng những câu văn giàu hình ảnh:
Trang 13Việc hướng dẫn học sinh đặt câu, chữa câu sai trong việc luyện viếtđoạn, bài văn cũng là một vấn đề đáng quan tâm Khả năng nhận thức, sửdụng Tiếng Việt của học sinh còn hạn chế nên giáo viên nhất thiết không đượcxem nhẹ vấn đề này Bởi vì luyện dùng từ viết câu đúng về nội dung cần biểuđạt, đúng về mục đích nói và đúng về cấu tạo ngữ pháp là cơ sở để học sinhcó thể luyện tập viết đoạn văn, bài văn thuận lợi Sau khi học sinh đã có kĩnăng viết câu, cần luyện cho các em liên kết câu thành đoạn Việc luyện chohọc sinh viết câu trong đoạn văn, xây dựng đoạn văn sẽ giúp các em diễn đạtđược những thông tin mạch lạc, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Khi đãđược luyện tập viết đoạn văn, học sinh có thể viết được bài văn hoàn chỉnh cólôgic và đạt kết quả.
a Câu phải đúng về cách sắp xếp trật tự:
Trong câu các từ phải được sắp xếp theo những qui tắc nhất định đãđược sử dụng rộng rãi Qui tắc ngữ pháp, ngữ nghĩa về trật tự các từ chiếmmột vị trí hết sức quan trọng trong quá trình đặt câu như: Chủ ngữ thườngđứng ở đầu câu, vị ngữ thường đứng sau chủ ngữ Chủ ngữ, vị ngữ thườnggắn với nhau bằng quan hệ chủ vị Chủ ngữ nêu đối tượng thông báo, vị ngữchuyển đạt nội dung thông báo về đối tượng ấy Chủ ngữ trả lời cho câu hỏiAi? (Cái gì, con gì ?), còn vị ngữ trả lời cho câu hỏi : làm gì ?, như thế nào ?
Ví dụ : Mùa đông, cây bàng rụng hết lá, để lại những cành cây khẳng
khiu, trơ trọi Chứ không nói: Mùa đông, rụng hết lá cây bàng, để lại nhữngcành cây khẳng khiu, trơ trọi
Như vậy khi đặt câu cần phải sắp xếp trật tự từ một cách thích hợp, códụng ý nghệ thuật thì mới lôi cuốn người đọc
b Câu phải đúng về ý, hợp lôgic diễn đạt: Giáo viên cần hướng dẫn
học sinh nói và viết sao cho mỗi câu đều hợp với qui luật suy nghĩ thôngthường Làm sao ý trong mỗi câu phải có quan hệ chặt chẽ với nhau về nghĩa
Ví dụ: Chú mèo rất hiền nhưng chú rất láu lĩnh
Câu trên sai vì không có sự tương hợp giữa hai vế câu Hai vế câu ởđây mâu thuẫn nhau Bởi vế thứ nhất diễn tả: “Chú mèo rất hiền” nhưng vếthứ hai “chú rất láu lĩnh” Ở đây có thể học sinh muốn diễn đạt tính của chúmèo vừa ngoan vừa ngộ nghĩnh nhưng do không biết biểu đạt nên đã làm câutrở nên sai Ta có thể sửa lại như sau:
Cách 1: Thay từ cho phù hợp: Chú mèo rất ngoan ngoãn và ngộ nghĩnh.Cách 2: Thay quan hệ từ và thay đổi một số cụm từ: Mặc dù chú mèohiền nhưng đôi khi chú cũng rất láu lĩnh
c Câu phải có cấu tạo ngữ pháp :
Khi viết câu chú ý viết đầy đủ hai thành phần chính, nếu không cẩnthận sẽ viết câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ