1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆUBỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN - NỘI DUNG II: SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC CÁCHOẠT ĐỘNG GIÁO DỤCỞ TRƯỜNG THCS

97 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 692 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÀI LIỆUSỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS NỘI DUNG II Căn cứ Công văn số 8576/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 13 tháng 12 năm 2012 của Bộ Giáo dục

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO PHÚ THỌ

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN - NỘI DUNG II:

SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC CÁC

HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

Ở TRƯỜNG THCS

Phú Thọ, tháng 8 năm 2013

Trang 2

TÀI LIỆU

SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS

(NỘI DUNG II)

Căn cứ Công văn số 8576/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 13 tháng 12 năm

2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc “Hướng dẫn triển khai thực hiện côngtác bồi dưỡng thường xuyên GV mầm non, phổ thông và giáo dục thườngxuyên”;

Căn cứ Văn bản số 5977/BGDĐT-GDTrH ngày 07 tháng 7 năm 2008 của

Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục địaphương ở cấp THCS và cấp THPT;

Căn cứ Công văn 276/BGD&ĐT-GDTrH ngày 11 tháng 01 năm 2013 của

Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc triệu tập lớp tập huấn dạy học di sản giáo dụcphổ thông, giáo dục thường xuyên của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

Căn cứ Công văn liên ngành số 73/HD - BGD&ĐT-BVHTTDL ngày 16tháng 01 năm 2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch về “Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâmGDTX”;

Căn cứ Kế hoạch số 401/KH-SGDĐT ngày 27 tháng 3 năm 2013 về việcbồi dưỡng thường xuyên GV mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên;Dựa trên điều kiện thực tiễn và những yêu cầu của việc sử dụng di sản vănhóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục ở trường THCS hiện nay, phònggiáo dục Trung học xây dựng đề cương bồi dưỡng thường xuyên GV THCS nhưsau:

I Mục đích, yêu cầu

Giúp GV THCS học tập, bồi dưỡng thường xuyên, cập nhận kiến thức, cáchtiếp cận và sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục ởnhà trường, nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, phát triển chuyên môn nghiệp

vụ đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diệntrong nhà trường

GV được bồi dưỡng thực hiện nghiêm túc nội dung hướng dẫn của tài liệu,tích cực trao đổi, đàm thoại để thống nhất các giải pháp thực hiện hiệu quả, phùhợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tế ở từng địa phương

II Đối tượng: Giáo viên THCS

Trang 3

III Hình thức và phương pháp bồi dưỡng:

1 Hình thức: Bồi dưỡng tập trung một đợt (Trong hè hoặc đầu năm học2013-2014);

2 Phương pháp: Thuyết trình, thảo luận nhóm và thực hành tại lớp tậphuấn, trải nghiệm di sản

IV Thời lượng: 30 tiết.

Tên và nội dung Môđun Phần I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA (05 tiết)

1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại di sản văn hóa

2 Ý nghĩa của di sản văn hóa đối với dạy học và các hoạt động giáo dụctrong nhà trường

3 Những di sản văn hóa thường được sử dụng trong dạy học và các hoạtđộng giáo dục

4 Trách nhiệm của nhà trường đối với di sản văn hóa của địa phương, dân tộc vànhân loại

Phần II SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS (15 tiết)

1 Những yêu cầu về sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt độnggiáo dục trong nhà trường

2 Các hình thức tổ chức dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục với di sảnvăn hóa trong nhà trường

3 Một số phương pháp dạy học, đánh giá kết quả dạy học, giáo dục có sử dụng disản văn hóa

Phần III THỰC HÀNH XÂY DỰNG KẾ HOẠCH VÀ THIẾT

KẾ GIÁO ÁN DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CÓ SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA (10 tiết)

1 Xây dựng kế hoạch dạy học và các hoạt động giáo dục có sử dụng di sản ở trường phổ thông

2 Thiết kế giáo án và các hoạt động giáo dục có sử dụng di sản

3 Một số ví dụ minh hoạ

Tổng

Trang 4

V Nội dung

Thực hiện nội dung bồi dưỡng 2 về sử dụng di sản văn hóa trong dạy học vàcác hoạt động giáo dục ở trường THCS:

- Phần I: Những vấn đề chung về di sản văn hóa;

- Phần II: Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục

ở trường THCS;

- Phần III: Thực hành thiết kế giáo án dạy học và tổ chức các hoạt độnggiáo dục có sử dụng di sản văn hóa

Trang 5

Phần I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA

1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại di sản văn hóa

a Khái niệm về di sản văn hóa:

Di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể (bao gồm di sản văn hóa và di sản thiên nhiên) là sản phẩm tinh thần,

vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này quathế hệ khác

b Đặc điểm của di sản văn hóa Việt Nam:

Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hóacủa cộng đồng 54 dân tộc, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được traotruyền, kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay Di sản văn hóaViệt Nam là bức tranh đa dạng văn hóa, là tài sản quý giá của cộng đồng các dântộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại Di sản văn hóaViệt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dânta

Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao lưu

và kế thừa từ các nền văn hóa và văn minh của nhân loại Những giá trị đó là sựkết hợp nhuần nhuyễn giữa văn hóa và văn minh của nhân loại với nền văn hóabản địa lâu đời của các dân tộc Việt Nam

Di sản văn hóa Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể có sức sốngmạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy trong đời sống của cộng đồng các dântộc Việt Nam Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ và pháthuy giá trị di sản văn hóa thông qua Luật di sản văn hóa năm 2001 (có hiệu lực

từ 01/01/2002), được sửa đổi, bổ sung năm 2009

c Phân loại di sản:

Di sản văn hóa Việt Nam được chia thành hai loại: Di sản văn hóa vật thể

và di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,

khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật

và bảo vật quốc gia

Di sản văn hóa vật thể bao gồm:

- Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ

vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học

Trang 6

- Danh lam thắng cảnh còn gọi là di sản thiên nhiên là cảnh quan thiên

nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trìnhkiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học

- Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.

- Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn

hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên

- Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý

hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc

cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưutruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn

và các hình thức khác

Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm:

Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam;

Ngữ văn dân gian, bao gồm: Sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố,truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạtkhác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết;

Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm: Âm nhạc, múa, hát, sân khấu vàcác hình thức trình diễn dân gian khác;

Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ

và các phong tục khác;

Lễ hội truyền thống;

Nghề thủ công truyền thống;

Tri thức dân gian

2 Ý nghĩa của di sản đối với hoạt động dạy học, giáo dục phổ thông

Di sản văn hóa, dù dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể đều có thể sử dụng trongquá trình giáo dục, dạy học dưới hình thức tạo môi trường; tạo công cụ hoặc là nguồncung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học, giáo dục

Bàn về các điều kiện giáo dục, dạy học, nhìn chung các tài liệu về lý luậndạy học, giáo dục chung, đại cương và tài liệu về lý luận dạy học bộ môn hầunhư chưa đề cập đến điều kiện, phương tiện dạy học là các di sản văn hóa Gầnđây trong phong trào thi đua xây dựng nhà trường thân thiện, học sinh tích cực,một trong những hoạt động được đặt ra là tổ chức cho HS tham gia chăm sóc các

Trang 7

di sản, chủ yếu là các di tích mang tính lịch sử của địa phương Việc khai tháccác di sản văn hóa ở địa bàn nhà trường đóng như là nguồn tri thức, là phươngtiện dạy học, giáo dục rất ít khi được quan tâm hoặc nếu có thường mang tính tựphát Vì vậy, vai trò và thế mạnh của những di sản văn hóa phong phú, ở địaphương chưa được khai thác đúng mức để sử dụng trọng dạy học và các hoạtđộng giáo dục của nhà trường.

Dưới dạng công cụ, thiết bị dạy học, di sản văn hóa giúp cho quá trình học tậpcủa HS trở nên hấp dẫn hơn, HS hứng thú học tập và hiểu bài sâu sắc hơn, phát triển

tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho HS Ý nghĩa, vai trò của các

di sản văn hóa có thể được phân tích dưới các góc độ sau:

- Về vai trò: Di sản là một nguồn nhận thức, một phương tiện trực quanquý giá trong dạy học nói riêng, giáo dục nói chung Vì vậy, sử dụng di sản trongdạy học ở trường phổ thông có ý nghĩa toàn diện:

+ Góp phần đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức cho HS:

Các di sản văn hóa sử dụng trong dạy học, giáo dục đều góp phần nâng caotính trực quan giúp người học mở rộng khả năng tiếp cận với đối tượng, hiệntượng liên quan đến bài học tồn tại trong di sản Tiếp cận với di sản, HS sử dụng

hệ thống tín hiệu thứ nhất (sử dụng các giác quan như mắt - nhìn, tai nghe, mũi –ngửi, tay - sờ,…) để nghe được, thấy được, cảm nhận được và qua đó tiếp thuđược những kiến thức cần thiết từ di sản Những hình ảnh, vật dụng trong bảotàng sẽ không chỉ giúp các em có thêm hiểu biết mà còn tác động sâu sắc đếntình cảm của các em Ngoài ra, các giá trị có trong di sản còn được GV khai thácbằng cách đặt các câu hỏi mang tính định hướng hoặc gợi ý cho HS tìm hiểuchúng qua đó di sản được sử dụng như là phương tiện điều khiển quá trình nhậnthức của HS Những gợi ý đó giúp cho hoạt động tham quan trở nên có ý nghĩahơn và làm cho bài học trở nên sống động hơn

+ Giúp HS phát triển kỹ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức:

Di sản văn hóa là phương tiện quan trọng giúp HS rèn một số kỹ năng họctập như kỹ năng quan sát, thu thập, xử lý thông tin qua đó tự chiếm lĩnh kiếnthức cần thiết thu được trong quá trình tiếp cận với di sản; kỹ năng vận dụngkiến thức đã học để giải thích những hiện tượng, sự vật có trong các di sản vănhóa, của khu bảo tồn HS có thể thu thập các mẫu vật như các loại lá cây, sâu,bướm; chụp ảnh các loại cây con trong khu bảo tồn (có thể từ ảnh trong phònggiới thiệu khu vực bảo tồn),… thông tin từ những nhân viên chăm sóc khu bảotồn hoặc từ các nguồn khác nhau để nhận biết hiện trạng, nguyên nhân và liên hệvới kiến thức đã học để giải thích sự xuất hiện và tồn tại của khu bảo tồn thiênnhiên, liên hệ với thực tiễn khai thác rừng ở nước ta để tìm hiểu vai trò của khu

Trang 8

bảo tồn với công tác bảo vệ đa dạng sinh học GV nên yêu cầu HS suy nghĩ vềnhiệm vụ của mình đối với việc bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên hoặc cảnhquan thiên nhiên ở địa phương mình.

+ Kích thích hứng thú nhận thức của HS:

Hứng thú nhận thức là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến cường độ

và hiệu quả của quá trình học tập Trong giai đoạn nhận thức cảm tính, sự tri giáccác đối tượng, hiện tượng là điều kiện để phát sinh cảm giác, tạo nên biểu tượng

về chúng và sau đó, nhờ nhận thức lí tính hình thành nên khái niệm hoàn chỉnh

về đối tượng, hiện tượng nghiên cứu Trong quá trình tiếp cận với di sản văn hóatheo sự hướng dẫn của GV, các hiện tượng sự vật, các giá trị ẩn chứa trong disản sẽ được các em tìm hiểu Những điều tưởng như quen thuộc sẽ trở nên hấpdẫn hơn, sống động hơn và HS sẽ có hứng thú với chúng, từ đó các em có đượcđộng cơ học tập đúng đắn, trở nên tích cực và phấn đấu tiếp nhận kiến thức mớicũng như có thái độ và hành vi thân thiện, bảo vệ di sản văn hóa tốt hơn

+ Phát triển trí tuệ của HS:

Trong quá trình học tập, trí tuệ của HS được phát triển nhờ sự tích cực hóacác mặt khác nhau của hoạt động tư duy, nhờ việc tạo ra những điều kiện thuậnlợi cho sự phát triển khác nhau của hoạt động tâm lí: tri giác, biểu tượng, trí nhớ,

….cho HS tiếp cận di sản đúng mục đích, đúng lúc với những phương pháp dạyhọc phù hợp, với sự hướng dẫn chi tiết mang tính định hướng, kích thích tư duy,

GV sẽ giúp HS phát triển khả năng quan sát, khả năng xử lý thông tin, khả năngphân tích, tổng hợp và so sánh, qua đó phát triển trí tuệ của các em

+ Giáo dục nhân cách HS:

Di sản văn hóa là một trong những phương tiện dạy học đa dạng sống độngnhất Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưutruyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nên nó có khả năng tác động mạnh tới tìnhcảm, đạo đức, tới việc hình thành nhân cách của HS Khai thác được những giátrị ẩn chứa trong các di sản, chuyển giao cho HS để các em cũng nhận thức đượcnhững giá trí đó, GV giúp hình thành ở HS một hệ thống các quan điểm, các kháiniệm về nhận thức thế giới xung quanh, giúp các em nhận thức được bản chất và

có cơ sở giải thích một cách khoa học các sự vật, hiện tượng liên quan đến disản Tiến hành nghiên cứu di sản một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng cũng chính làrèn cho các em tác phong làm việc nghiêm túc, khoa học

- Góp phần phát triển một số kỹ năng sống ở HS:

Để tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả, HS rất cần kỹnăng sống Kỹ năng sống được hiểu là khả năng làm chủ bản thân của mỗingười, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng

Trang 9

ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống Dạy học với di sản văn hóatạo điều kiện phát triển một số kỹ năng sống như:

+ Kỹ năng giao tiếp:

Trong quá trình học tập, tiếp cận với di sản văn hóa, HS được rèn luyệncách trình bày, diễn đạt suy nghĩ, quan điểm, nhu cầu, mong muốn, cảm xúccủa bản thân dưới hình thức nói, viết một cách phù hợp với đối tượng, hoàncảnh và văn hóa giao tiếp; đồng thời biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến ngườikhác ngay cả khi bất đồng quan điểm Kỹ năng này giúp HS có mối quan hệtích cực với nguời khác, đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn

bè mới Làm việc với di sản, HS có được môi trường giao tiếp cởi mở vớibạn bè không chỉ trong phạm vi lớp học, đôi khi với nhiều đối tượng khác(cả người nước ngoài) GV lưu ý cách thức giao tiếp phù hợp cũng chính làgóp phần phát triển ở các em một loại kỹ năng sống cần thiết

di sản cũng chính là hướng dẫn các em thực hành kỹ năng lắng nghe tích cực

+ Kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng:

Kỹ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng là khả năng có thể diễn đạt ý kiến,quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc, nhu cầu của bản thân, thông qua các hình thứcnói, viết và cả ngôn ngữ cơ thể (cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười, )một cách phù hợp với đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh, văn hóa giao tiếp và trìnhbày đúng với nội dung chủ đề đang được quan tâm; thông tin đưa ra đầy đủ,chính xác, được sắp xếp một cách hợp lí, logic và phù hợp với nhu cầu, trình độcủa đối tượng giao tiếp; cách trình bày rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu và hấp dẫn đốitượng giao tiếp Cho HS tiếp cận với di sản, GV cần lưu ý yêu cầu HS tìm hiểu

sự vật hiện tượng liên quan đến di sản một cách chi tiết, cụ thể và tạo điều kiện

để HS trình bày lại được những thông tin thu thập được đồng thời bộc lộ cả suynghĩ của cá nhân HS về những gì các em trình bày

+ Kỹ năng hợp tác:

Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong mộtcông việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung Học tập với di sản, đòi hỏi sựhợp tác chặt chẽ của nhóm HS Trong quá trình làm việc, HS biết chia sẻ trách

Trang 10

nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên kháctrong nhóm để hoàn thành nhiệm vụ GV giao; biết lắng nghe, tôn trọng, xem xétcác ý kiến, quan điểm của mọi người trong nhóm; đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡcác thành viên khác trong quá trình hoạt động; tôn trọng những quyết địnhchung, những điều đã cam kết

+ Kỹ năng tư duy phê phán:

Kỹ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan vàtoàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng, xảy ra Khi làm việc với di sản, HSkhông chỉ thu thập thông tin rồi mô tả các hiện tượng sự vật được các em tìmhiểu mà còn cần phải biết phân tích chúng một cách có phê phán Khi sắp xếpcác thông tin thu thập được theo từng nội dung, các em phân tích, so sánh, đốichiếu, lí giải các thông tin thu thập được, đặc biệt là các thông tin trái chiều; xácđịnh bản chất vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng, đưa ra những nhận định

về những mặt tích cực, hạn chế của vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng, Những động tác đó giúp HS phát triển kỹ năng tư duy phê phán

+ Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm:

Đó là khả năng con người tự tin, chủ động nhận nhiệm vụ phù hợp với khảnăng của bản thân, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ và ý thức cùng chia sẻ công việcvới các thành viên khác trong nhóm Khi đảm nhận trách nhiệm, cần dựa trênnhững điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp đỡcần thiết để hoàn thành nhiệm vụ Việc GV giao nhiệm vụ rõ ràng, HS tiếp nhậnnhiệm vụ và trao đổi nhóm, phân công nhau và thực thi nhiệm vụ được giao mộtcách có ý thức, nhiệt tình và có kết quả Quá trình đó giúp cho kỹ năng đảm nhậntrách nhiệm của HS được rèn luyện

+ Kỹ năng đặt mục tiêu:

Kỹ năng đặt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bảnthân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó.Trong cả quá trình tiếp cận di sản, GV đã cùng HS xác định mục tiêu chung Ởtừng hoạt động cụ thể, HS cần biết mình phải đạt được cái gì sau buổi tìm hiểu disản và biết phải làm gì để đạt được mục tiêu đó Kỹ năng đặt mục tiêu giúp HShọat động có mục đích, có kế hoạch và có khả năng thực hiện được mục tiêu dochính mình xác định

+ Kỹ năng quản lí thời gian:

Đó là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên,biết tập trung vào giải quyết công việc chính, trọng tâm trong một thời gian nhấtđịnh Các buổi dạy học với di sản bao giờ cũng bị giới hạn bởi thời gian, dù có

Trang 11

vận dụng phương pháp dạy học theo dự án, nghĩa là HS có vài ngày, đôi khi vàituần để chuẩn bị, song thời gian vật chất dành cho việc này thực ra rất hạn chế.Điều đó đòi hỏi HS phải biết lên kế hoạch, sắp xếp thời gian và tuân thủ đúng kếhoạch đã định mới có thể thực hiện đầy đủ các công việc và cuối cùng có sảnphẩm theo dự kiến Nếu biết tuần tự thực hiện các bước trong cả quá trình, HS sẽtránh được căng thẳng do áp lực công việc gây nên Quản lí thời gian tốt góp phần rấtquan trọng vào sự thành công của cá nhân và của nhóm.

+ Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin:

Kỹ năng này giúp HS có thể thu được những thông tin cần thiết một cáchđầy đủ, khách quan, chính xác và kịp thời Trước khi làm việc với di sản, HS đãcùng GV xác định rõ chủ đề mà mình cần tìm kiếm thông tin; HS được thôngbáo về những loại thông tin cần phải tìm kiếm, nguồn / các địa chỉ tin cậy có thểcung cấp những loại thông tin đó; HS biết cách chuẩn bị công cụ để thu thậpthông tin; cách tiến hành thu thập thông tin theo kế hoạch đã xây dựng, cách sắpxếp các thông tin thu thập được theo từng nội dung một cách hệ thống sau đóphân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải các thông tin thu thập được; xem xét mộtcách toàn diện, thấu đáo, sâu sắc và có hệ thống các thông tin đó và cuối cùng làviết báo cáo Những công việc nêu trên được HS tuần tự thực hiện Cách tổ chứcnhư vậy sẽ giúp các em rèn được kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin trong quátrình làm việc với di sản

- Tạo điều kiện tổ chức quá trình họat động của GV và HS một cách hợp lý

Khi làm việc với/ tại nơi có di sản, GV và HS phải gia tăng cường độ làmviệc GV không thuyết trình về các hiện tượng, sự vật cần tìm hiểu mà cầnhướng dẫn HS tự quan sát, thu thập thông tin, trao đổi trong nhóm để xử lý cácthông tin, tìm hiểu về di sản, để tìm cách trình bày lại những hiểu biết của cánhân hoặc nhóm Đôi khi HS có thể được yêu cầu tổ chức triển lãm những hiệnvật, bài viết giới thiệu về di sản do các em thu thập được Môi trường làm việcthay đổi đòi hỏi GV phải có phương pháp dạy học, cách thức tổ chức dạy họcphù hợp, sao cho tập thể HS được lôi cuốn vào công việc tìm hiểu, nghiên cứu disản; đòi hỏi từng HS phải làm việc thực sự và phải biết hợp tác với bạn để cùnghoàn thành nhiệm vụ được giao

3 Những di sản thường được sử dụng trong dạy học, giáo dục ở nhà trường phổ thông

Di sản văn hóa ở Việt Nam vô cùng đa dạng, phong phú và có nhiều giá trị Tính đến năm 2012, Việt Nam có 07 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới

(Quần thể di tích Cố đô Huế; Vịnh Hạ Long, Phố cổ Hội An; Khu di tích Mĩ Sơn,Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Hoàng thành Thăng Long; Thành

Trang 12

nhà Hồ ); 07 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (Nhã nhạc cung đình Huế; Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh; Ca trù, Hội Gióng; Hát Xoan; Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương); 03 di

sản thông tin tư liệu thế giới (Mộc bản triều Nguyễn; 82 bia đá ở Văn Miếu Quốc

tử giám; Mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm); 08 khu dự trữ sinh quyển thếgiới (rừng ngập mặn Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh; đảo Cát Bà, Hải Phòng; khu dựtrữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang; khu dự trữ sinh quyển đồngbằng châu thổ sông Hồng; khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An, khu dự trữsinh quyển mũi Cà Mau; khu dự trữ sinh quyển Cù lao Chàm; khu dự trữ sinhquyển Đồng Nai); 01 di sản thiên nhiên thuộc mạng lưới công viên địa chất toàncầu (Cao nguyên đá Đồng Văn); trên 3000 di tích lịch sử và danh lam thắng cảnhcấp quốc gia; hàng triệu mẫu vật, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia được lưu giữtrong hơn 120 bảo tàng và các sưu tập tư nhân Đặc biệt, các hiện vật văn hóatrong cuộc sống hàng ngày, các di sản văn hóa phi vật thể đang sống trong cộngđồng rất giàu có nhưng ít được biết đến và khai thác

Tiềm năng di sản văn hoá Việt Nam

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã để lại cho chúng ta ngàynay kho tàng di sản văn hoá (phi vật thể và vật thể) cực kỳ phong phú và quýgiá Căn cứ nguồn tài liệu lưu trữ của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch(VHTTDL), cả nước ta hiện có 40.000 di tích lịch sử – văn hoá Trong số đó,

Bộ VHTTDL đã xếp hạng 3152 di tích có giá trị quốc gia, gồm: 1468 di tíchlịch sử – văn hoá; 1478 di tích kiến trúc – nghệ thuật; 77 di tích khảo cổ; 129danh lam – thắng cảnh(1)

Căn cứ Điểm 3, Điều 29, Chương IV – Bảo vệ và phát huy giá trị di sảnvăn hoá vật thể (Luật Di sản văn hóa) Mục 1: Di tích lịch sử – văn hoá, danhlam thắng cảnh, theo đề nghị của Bộ VHTTDL và văn bản thẩm định của Hội

Di sản Văn hoá Quốc gia, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định xếp hạng 23 ditích có giá trị quốc gia đặc biệt (xem phụ lục 1); đồng thời cũng đã đề nghị Tổchức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc (UNESCO) xem xét,đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thiên nhiên, di sản vănhoá vật thể tiêu biểu của nhân loại Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh đượcUNESCO ghi danh lần thứ nhất với giá trị cảnh quan ngoại hạng (năm 1994), lầnthứ hai với giá trị địa mạo – địa chất (năm 2000); Vườn quốc gia Phong Nha –

Kẻ Bàng thuộc tỉnh Quảng Bình được UNESCO ghi danh vào danh mục Disản thiên nhiên thế giới năm 2003; 05 di sản văn hoá vật thể của Việt Namđược UNESCO ghi danh vào danh mục di sản văn hoá của nhân loại là: Quầnthể các công trình kiến trúc cố đô Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế (năm1993); Khu phố cổ Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam; Khu di tích tháp Chàm –

1 () Nguồn : Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL.

Trang 13

Mỹ Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam; Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long –

Hà Nội (năm 2010); Thành nhà Hồ thuộc tỉnh Thanh Hoá (năm 2012)(2)

Về văn hoá phi vật thể: Cả nước có 3355 làng nghề và làng có nghề; trong số đó có trên 1000 làng được công nhận là làng nghề Trên 400 làngđược công nhận là làng nghề truyền thống, 145 người được công nhận là nghệnhân Theo đề nghị của Bộ VHTTDL,Thủ tướng đã quyết định công nhận 55làng nghề truyền thống tiêu biểu của quốc gia; công nhận đợt I: 1 nghệ nhânnhân dân, 20 nghệ nhân ưu tú(3)

- Lễ hội: Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng – văn hoá cộngđồng của nhân dân ở nông thôn, cũng như ở đô thị Trong các lễ hội đó, nhândân tự đứng ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hoácộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hoá và tâm linh Do vậy, lễ hội baogiờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân dân sâu sắc

Cả nước có: 7966 lễ hội, trong số đó có 7039 lễ hội dân gian/truyền thống(chiếm 88,36%); 332 lễ hội lịch sử – cách mạng (chiếm 4,17%); 544 lễ hội tôngiáo (chiếm 6,29%); 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,13%); còn lại

41 lễ hội khác, có thể gọi là lễ hội văn hoá du lịch (chiếm 0,51%) Lễ hội dângian / truyền thống, lễ hội lịch sử, tôn giáo có lịch sử lâu đời và ẩn chứa cácgiá trị: giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng; giá trị hướng về cộinguồn; giá trị cân bằng đời sống tâm linh; giá trị sáng tạo và hưởng thụ vănhoá(4)

- Những huyền thoại về các vị thánh, thần như Sơn Tinh, Thủy Tinh, PhùĐổng Thiên Vương… về các nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhânvăn hoá như Bà Trưng, Bà Triệu, Đinh Tiên Hoàng, Lý Công Uẩn, Lý ThườngKiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung – Nguyễn Huệ… Những truyện

cổ tích, truyện dân gian, ca dao, tục ngữ… cũng đã được nghiên cứu, sưu tầm,xuất bản Chữ Hán, chữ Nôm, chữ Latinh (quốc ngữ) chúng ta cũng đã đượcbiết, nay còn biết cả chữ Chăm cổ, chữ Thái cổ…

Giá trị văn hoá phi vật thể của nhân dân ta cũng đã được UNESCO thừanhận Những năm qua, UNESCO đã ghi danh các di sản văn hoá phi vật thểsau đây của Việt Nam vào danh mục Di sản phi vật thể tiêu biểu của nhânloại: Nhã nhạc Cung đình Việt Nam – Nhã nhạc (Triều Nguyễn) – Kiệt tác disản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, tỉnh Thừa Thiên Huế (công nhậnnăm 2003); Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên – Kiệt tác truyền

2 () Nguồn: Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL.

3 () Nguồn: Lưu Duy Dần, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội làng nghề, tổ nghề.

4() GS.TS Ngô Đức Thịnh, Mấy nhận thức về lễ hội cổ truyền (Tham luận tại Hội thảo khoa

học : Lễ hội - nhận thức, giá trị và giải pháp quản lý, do Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia và Bộ VHTTDL phối hợp tổ chức tháng 5/2012 tại Hà Nội),Tài liệu lưu tại HĐDSVHQG.

Trang 14

khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại (công nhận năm 2005); Hát quan họ(dân ca quan họ Bắc Ninh) – Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại(công nhận năm 2009); Hát ca trù – Di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệkhẩn cấp của nhân loại (2009); Lễ hội Thánh Gióng ở đền Phù Đổng (GiaLâm) và đền Sóc (Sóc Sơn) thành phố Hà Nội – Di sản đại diện của nhân loại(năm 2010); Hát Xoan, tỉnh Phú Thọ – Di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo

vệ khẩn cấp của nhân loại (2011); Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sảnvăn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2012) Văn bia Quốc Tử Giám – HàNội, Châu bản Vương triều Nguyễn cũng đã được ghi nhận là di sản ký ức củakhu vực và của nhân loại Hiện tại, chúng ta cũng đã hoàn thiện hồ sơ đề nghịUNESCO ghi danh: Đờn ca tài tử Nam Bộ vào danh mục Di sản văn hoá đạidiện của nhân loại…

Khí hậu nước ta nhiệt đới gió mùa, lắm mưa, nhiều bão, nắng nóng, độ

ẩm cao, lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh, cộng thêm ý thức bảo tồn di sảnchưa thật tốt, nên có những di sản văn hóa vật thể nay chỉ còn là địa danh, làphế tích; có những di sản văn hóa phi vật thể thật sự đã bị thất truyền Đâythực sự là điều đáng tiếc Những di sản mà Nhà nước đã xếp hạng, UNESCO

đã ghi danh vào danh mục Di sản đại diện của nhân loại cả vật thể, phi vật thể

và những di sản đã biết đến, chưa được xếp hạng, cũng còn khá nhiều Đóchính là cơ sở, là nền tảng để chúng ta sử dụng trong giáo dục nhằm giữ gìn

và phát huy những giá trị của di sản văn hóa đối với hiện tại và tương lai.Bên cạnh khối lượng, chất lượng các di sản nói trên, nước ta còn có 217bảo tàng và các bảo tàng đó đang bảo quản, trưng bày trên 3 triệu tài liệu hiệnvật Gần đây, Bộ VHTTDL đã trình Thủ tướng Chính phủ công nhận 30 bảovật quốc gia trong số các hiện vật nói trên Ví dụ: Trống đồng Ngọc Lũ, trốngđồng Hoàng Hạ, thạp đồng Đào Thịnh, tượng hai người cõng nhau thổi khènthuộc văn hoá Đông Sơn, đài thờ Trà Kiệu, tượng Phật Đông Dương, tượng

Bồ tát Tara thuộc văn hoá Chăm, tượng Nữ thần Đêvi, tượng Phật Lộc Mỹ,tượng thần Surya thuộc văn hoá Óc Eo, tượng Adiđà chùa Phật Tích, tượngnghìn mắt nghìn tay chùa Bút Tháp và 04 di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh như:Cuốn Đường Kách mệnh, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (thời kỳ chốngthực dân Pháp), Lời kêu gọi “mỗi người làm việc bằng hai” (thời chống Mỹcứu nước), Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh(5)

Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khuvực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc Trên địabàn Phú Thọ có 34 dân tộc cùng sinh sống, từ thời đại các Vua Hùng đến thời đại

Hồ Chí Minh, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, tạo ra những giá trị văn hóamang đậm bản sắc dân tộc Hiện nay, Phú Thọ có 1372 di tích lịch sử văn hóa(Trong đó, Khu di tích lịch sử Đền Hùng được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia

5 () Nguồn: Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL.

Trang 15

đặc biệt, 73 di tích được xếp hạng quốc gia, 219 di tích lịch sử và di tích kiếntrúc nghệ thuật được xếp hạng cấp tỉnh và 260 lễ hội đang được duy trì thườngxuyên…) Những di sản văn hóa của địa phương đang được lưu giữ trong nhândân, lưu giữ tại Bảo tàng Hùng Vương (Có hai bảo tàng Hùng Vương: Bảo tàngHùng Vương tại khu di tích lịch sử Đền Hùng và Bảo tàng Hùng Vương cấp tỉnh

ở phường Gia Cẩm, thành phố Việt Trì) Đặc biệt, Phú Thọ có 02 di sản văn hóađược UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, đó là hátXoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương Những giá trị văn hóa, di sản vănhóa ở Phú Thọ đều có khả năng khai thác phục vụ cho tham quan, du lịch, sửdụng trong dạy học và các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông

Phú Thọ có nhiều di sản nổi tiếng như: Khu di tích Đền Hùng (thành phốViệt Trì); đầm Ao Châu, Ao Giời- Suối Tiên, đền Mẫu Âu Cơ (huyện Hạ Hòa);khu rừng nguyên sinh Xuân Sơn (huyện Tân Sơn); vùng nước khoáng nóngThanh Thuỷ (huyện Thanh Thủy); các khu di chỉ khảo cổ: Phùng Nguyên, Sơn

Vi, Gò Mun; các di tích kháng chiến: Chiến khu Hiền Lương (huyện Hạ Hoà),chiến khu Vạn Thắng (huyện Cẩm Khê), tượng đài chiến thắng sông Lô (huyệnĐoan Hùng), khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Cổ Tiết (huyện Tam Nông)

và Chu Hoá (huyện Lâm Thao)…

Phú Thọ còn là miền đất lưu giữ nhiều giá trị văn hoá dân tộc đặc sắc của

tổ tiên, mang tính giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn: Tín ngưỡng thờcúng Hùng Vương, lễ hội Đền Hùng, hội Phết (Hiền Quan), hội làng Đào Xá,Sơn Vi; Các làng nghề truyền thống: may nón lá (xã Sai Nga, huyện Cẩm Khê);làng làm ủ ấm Sơn Vi (huyện Lâm Thao), làng làm bún Hùng Lô (xã Hùng Lô,thành phố Việt Trì) đã được UBND tỉnh công nhận là làng nghề truyền thống.…;nhiều làn điệu dân ca, nhiều trò diễn dân gian, nhiều truyền thuyết - huyền thoại

về dựng nước, nhiều truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười giàu tính nhân văn,mang nét đặc sắc của vùng đất Tổ, đặc trưng văn hoá Lạc Hồng…Do đó, PhúThọ có điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và cáchoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông

Di sản văn hóa Việt Nam nói chung, di sản văn hóa Phú Thọ nói riêng lànhững giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hóa của cộng đồng các dân tộc, trải quamột quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền, kế thừa và tái sáng tạo từ nhiềuthế hệ cho tới ngày nay Di sản văn hóa Việt Nam là bức tranh đa dạng văn hóa,

là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của disản văn hóa nhân loại Di sản văn hóa Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệpdựng nước và giữ nước của nhân dân ta Đối với giáo dục, việc sử dụng di sảntrong dạy học ở trường phổ thông có ý nghĩa rất quan trọng giúp cho quá trình họctập của học sinh trở nên hấp dẫn hơn, học sinh hứng thú học tập và hiểu bài sâu sắchơn, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục truyền thống, lòng yêu quê hương,đất nước, giáo dục tư tưởng, đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh góp phần giáo dụctoàn diện học sinh

Trang 16

Di sản văn hoá Việt Nam là nguồn tài nguyên vô tận để dạy và học suốt đời.Kho tàng tri thức chứa đựng trong hệ thống di tích, đền chùa, bảo tàng, trong conngười và trong môi trường sống xung quanh chúng ta vô cùng phong phú Mọi disản văn hoá đều có tiềm năng và điều kiện để sử dụng trong dạy học, giáo dục ởtrường phổ thông Từ di sản thế giới, di sản quốc gia đến di sản của địa phương,của cộng đồng; từ di sản văn hoá đến di sản thiên nhiên; từ di sản vật thể đến disản phi vật thể, di sản thông tin tư liệu…mọi di sản đều có khả năng sử dụng đểdạy học, giáo dục trong trường phổ thông Để khai thác và phát huy giá trị di sảntrong việc dạy học, giáo dục ở trường phổ thông cần chú ý những vấn đề sau:

- Mọi di sản đều có giá trị Nhiều giá trị khác nhau được tích hợp trong một

di sản Tuỳ thuộc vào mục tiêu giáo dục mà chúng ta có thể nhận dạng ra nhữnggiá trị của di sản Đó là giá trị thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn như:Lịch sử, nghệ thuật, văn hoá, văn học, kiến trúc, mĩ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng,tri thức dân gian… Đó là những giá trị thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên như : Yhọc, địa chất, địa mạo, sinh thái, môi trường, thiên văn,… Đó là những giá trịthuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật như : Vật lý, hoá học, cơ học, thông tin, điệntử… Từ những di sản nổi tiếng thế giới đến di sản còn ít được biết đến đang lưugiữ và thực hành trong đời sống cộng đồng đều có giá trị và có những khả năng

đa dạng để khai thác sử dụng dạy học

Những di sản của địa phương bao gồm các di tích, di vật, những đồ vật thểhiện văn hóa đời thường và các di sản phi vật thể gần gũi với nhà trường là tiềmnăng trực tiếp, dễ khai thác và phát huy thường xuyên, hiệu quả nhất Nhà trườngcần ưu tiên sử dụng những di sản này trong dạy và học

Di sản văn hoá phi vật thể thường gắn bó một cách chặt chẽ với di sản vậtthể và di sản thiên nhiên Di sản văn hoá phi vật thể cũng luôn gắn bó chặt chẽvới con người, được biểu hiện thông qua con người cùng với không gian văn hoá

có liên quan Những người nắm giữ di sản văn hoá phi vật thể thường là nhữngnghệ nhân, người lớn tuổi có tri thức và kinh nghiệm, người làm nghề chuyênnghiệp, những dòng họ, gia đình thực hành nghề truyền thống… Họ là nhữngchủ thể của di sản phi vật thể và có thể trở thành những đối tác, cộng tác viên đắclực của nhà trường trong việc sử dụng di sản để dạy học Di sản phi vật thể có ởmọi nơi trong cuộc sống đương đại Gắn kết di sản văn hoá phi vật thể với giáodục ở trường phổ thông giúp cho các bài học sinh động, cảm xúc và có ý nghĩagiáo dục văn hoá một cách sâu sắc Vì vậy, ở nhiều nước trên thế giới di sản phivật thể thường được sử dụng để dạy học

Để xác định giá trị di sản và có cách thức sử dụng di sản để dạy học mộtcách hiệu quả nhất, nhà trường cần có sự phối hợp chặt chẽ với các cán bộnghiên cứu, cơ quan quản lý di sản để tiếp cận di sản, nhận dạng giá trị di sản và

Trang 17

khai thác di sản một cách phù hợp và hiệu quả Ở mỗi tỉnh và thành phố đều cócác cơ quan quản lý di sản Đó là các bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành,bảo tàng tỉnh và thành phố Đó là các ban quản lý di tích, di sản trực thuộc các

Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố hoặc trực thuộc tỉnh (Khu

di tích lịch sử Đền Hùng không trực thuộc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch màtrực thuộc trực tiếp UBND tỉnh Phú Thọ) Đó là các ban quản lý di tích do cộngđồng quản lý trực thuộc chính quyền cấp huyện, xã Một số viện nghiên cứu vềchuyên ngành trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Viện Khoa học xãhội và Nhân văn quốc gia là những trung tâm lưu trữ dữ liệu phong phú về disản văn hoá Việt Nam

4 Trách nhiệm của nhà trường phổ thông đối với di sản văn hóa Việt Nam

Nhà trường phổ thông vừa có trách nhiệm giáo dục nâng cao nhận thức cho

HS về di sản văn hoá, góp phần bảo vệ di sản văn hoá vừa có trách nhiệm sửdụng di sản văn hoá để dạy học Việc sử dụng di sản văn hoá để dạy học manglại những kết quả tích cực vừa có giá trị ở phương pháp giáo dục kiến thức phổthông theo quy định của chương trình, vừa nâng cao nhận thức và trách nhiệmcủa HS đối với di sản văn hoá

Để đảm bảo việc sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông phù hợp,khả thi và bền vững thì nội dung lựa chọn sử dụng trong dạy học và các hoạtđộng giáo dục cần có sự linh hoạt và phải phù hợp với văn hóa địa phương vàdân tộc, phù hợp với mọi điều kiện của nhà trường ở: Nông thôn, đô thị, miềnnúi, ven biển, hải đảo và mọi đối tượng HS Quan niệm chỉ đạo là lấy HS vàhoạt động học làm trung tâm; tận dụng khai thác nguồn học liệu tại chỗ là những

di sản văn hóa gần gũi, xung quanh môi trường sống, dễ hiểu với HS và sử dụngnhững kinh nghiệm và tri thức của người địa phương

Đồng thời, việc giáo dục di sản, sử dụng di sản để dạy học cần chú trọnghướng đến các thiết chế văn hóa và loại hình đa dạng là những bảo tàng, di sảnvật thể (di tích văn hóa, thiên nhiên, lịch sử, cách mạng, kháng chiến, v.v.), disản thiên nhiên, di sản phi vật thể, nhất là những di sản sống, nhân chứng sống ởxung quanh và gần gũi với nhà trường Theo đó, hoạt động giáo dục di sản và sửdụng di sản để dạy học là những hoạt động giáo dục có định hướng, không theophong trào và hình thức Cần xác định sử dụng di sản như nguồn học liệu để traudồi hiểu biết về di sản và rèn luyện phương pháp học tập và kỹ năng sống

Nhà trường cần đổi mới phương pháp tiếp cận di sản thông qua các hoạt động trong và ngoài giờ lên lớp nhằm giúp HS tự chủ, năng động, sáng tạo, khám phá - không theo mô hình học thuộc lòng, hỏi đáp, thi chấm điểm GV đóng vai trò là người thiết kế hoạt động, điều phối viên, giúp tổ chức hoạt động

Trang 18

cho HS Cần xác định và sử dụng kết hợp tối đa khung thời gian: Hoạt động ngoại khóa, chương trình ngoài giờ, chương trình địa phương, các tiết chào cờ, sinh hoạt tập thể, v.v cho các hoạt động giáo dục di sản Khuyến khích tư duy phản biện của HS và GV Tránh lặp lại các định kiến và cần làm mới nhận thức, tiếp cận về di sản văn hóa và phương pháp giáo dục

Do đặc thù của môn Âm nhạc (THCS) nên khi sử dụng di sản trong dạy học cần chú ý:

- Di sản là phương tiện để hỗ trợ các nội dung trong chương trình Âm nhạchiện hành, chứ không phải dạy về di sản Như vậy nội dung chương trình, chuẩnkiến thức, kĩ năng của môn Âm nhạc không thay đổi, chỉ thay đổi về phương tiệndạy học

- Việt Nam có nhiều di sản, nhưng trong dạy học Âm nhạc ở THCS, chủyếu là dùng 5 di sản gắn liền với sinh hoạt văn hóa và âm nhạc, đó là: Nhã nhạccung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họBắc Ninh- Bắc Giang, Ca trù và Hát xoan Ngoài ra, các loại di sản khác cũng cóthể được khai thác và sử dụng sao cho linh hoạt và hiệu quả Dưới đây là một sốcách khai thác tư liệu di sản cho môn Âm nhạc :

- Hình ảnh về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên:

lễ hội, cồng chiêng, nhà rông,

- Hình ảnh về hát quan họ Bắc Ninh - Bắc Giang: hội Lim,trang phục, hình thức hát quan họ, các liền anh liền chị,

- Hình ảnh về hát ca trù: nhạc cụ, trang phục, các nghệ nhân,

- Hình ảnh về hát xoan ở Phú Thọ: trang phục, hát múa,

Âm thanh về di

sản

- Đĩa nhạc, video về nhã nhạc cung đình Huế

- Đĩa nhạc, video về không gian văn hóa cồng chiêng TâyNguyên

- Đĩa nhạc, video về quan họ Bắc Ninh - Bắc Giang

- Đĩa nhạc, video về hát ca trù

- Đĩa nhạc, video về hát xoan

Trang 19

- Bài viết, câu chuyện hoặc thông tin về hát ca trù.

- Bài viết, câu chuyện hoặc truyền thuyết về hát xoan

Hiện vật về di

sản

- Các nhạc cụ trong dàn nhã nhạc cung đình Huế

- Cồng chiêng Tây Nguyên

- Bản nhạc quan họ, trang phục quan họ

- Các nhạc cụ trong hát ca trù: đàn đáy, phách, trống chầu

- Lời ca của bài hát xoan, trang phục biểu diễn

Để giáo dục qua các di sản đạt hiệu quả cao, cần lưu ý:

Một là: Về nhận thức thì giáo dục qua di sản là trách nhiệm của toàn xã

hội, của cả một hệ thống chính trị, trước hết là của các gia đình và nhà trường(xã hội hóa giáo dục) Đây hiển nhiên không phải là trách nhiệm chỉ của riêng

Bộ Giáo dục và Đào tạo, của ngành giáo dục Ngành giáo dục sử dụng phươngpháp dạy và học thông qua các di sản như là một phương pháp bổ trợ tích cựcnhằm củng cố và mở rộng kiến thức cho HS

Hai là: Giáo dục thông qua di sản là phương thức giáo dục vừa có tính

phổ biến, vừa không phụ thuộc vào độ tuổi của người học và đạt hiệu quả cao,góp phần tạo lập, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người và không đòi hỏiquá nhiều chi phí, “chơi mà học, học mà chơi”: Khi trẻ mới sinh, sự vuốt ve,cưng nựng, lời ru và tiếng hát của người mẹ từ ngày này qua ngày khác thật sự

đã xác lập được phản xạ có điều kiện đầu tiên ở não bộ trẻ Để rồi sau đó, lúctrẻ giận hờn, mẹ nựng, mẹ ru “cơn hờn” dịu lại Lúc trẻ vẫn đang mải chơi,nhưng đã đến giờ trẻ cần được ngủ, mẹ bế trẻ và chỉ vài động thái cưng chiều,vài lời hát ru, trẻ đã “chìm sâu vào giấc ngủ ngon lành” Khi trẻ biết nói, biếtnhận biết, não bộ trẻ bắt đầu hình thành được các khái niệm, từ giản đơn đếnphức tạp, mà những khái niệm đầu đời ấy chính là di sản văn hoá: tiếng nói, đồvật, cái nôi, cái giường, cái chăn, cái bát, cái thìa, đôi đũa, cái nhà mà trẻ vẫntiếp xúc hàng ngày, v.v Tới tuổi cắp sách tới trường, trẻ lại một lần nữa đượclàm quen, được tiếp cận với di sản văn hoá Thế là các khái niệm được địnhhình và trở thành hữu thức khi được tiếp nhận ở các lớp học tiếp theo, v.v

Trang 20

Ba là: Dạy và học thông qua các di sản văn hoá là phương pháp trực

quan, sinh động và thực sự có hiệu quả Do mục tiêu đào tạo, do khối lượngkiến thức cần phải truyền thụ cho HS các cấp, chúng ta hiện chưa đưa việcdạy, học các di sản văn hoá vào chương trình bắt buộc (có thời lượng), màmới chỉ dừng lại ở chương trình ngoại khoá, ở các giờ tự học, hoặc sinh hoạttập thể Từ đầu năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức thí điểm việc sửdụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục ở trường phổthông (Trong đó ở Phú Thọ có thí điểm 02 trường THPT: Việt Trì, Long ChâuSa; 02 trường THCS: Gia Cẩm, Nông Trang) Ở đây, mức độ là “sử dụng” disản văn hóa, coi di sản văn hóa như là phương tiện, tư liệu dạy học, hỗ trợ chobài học thêm sinh động, học sinh hứng thú, qua đó giáo dục học sinh lòng yêuquê hương, đất nước; giáo dục truyền thống, đạo lý, hình thành nhân cách, kỹnăng sống cho học sinh; giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa bản sắc dântộc

Bốn là: Để nhằm tăng cường tính hành dụng trong học tập, củng cố và

hoàn thiện các kiến thức đã học trên lớp, góp phần bổ sung, nâng cao kiếnthức và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, giúp cho mỗi cá nhân

và cộng đồng hiểu biết về di sản, biết bảo vệ, tuyên truyền cho cộng đồng, bảo

vệ di sản; có thái độ ứng xử đúng đắn với các di sản

Dạy – học thông qua di sản chỉ đạt kết quả cao khi được tổ chức có kếhoạch, có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường với ban quản lý các di tích, bangiám đốc các bảo tàng ; xác định rõ chủ đề dạy, học tại trường, tham quan và đadạng hoá các hình thức thể hiện trong giờ ngoại khoá tại trường, trong mỗi lầntới di tích, tới bảo tàng Di sản quanh chúng ta, rất gần gũi với chúng ta, nêntrước hết cần khai thác các di sản có sẵn tại địa phương; sau đó, nếu có điềukiện mới tiến tới đưa HS tới các di sản ngoài địa phương Tuy nhiên, cần chú ý

là mọi di sản đều được khai thác nhiều lần trong giảng dạy, cũng như trong họctập và điều đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu kiến thức ở từng cấp học của HS.Dạy học thông qua các di sản, hay giáo dục thông qua các di sản làphương pháp tối ưu không chỉ giúp cho HS củng cố, mở rộng các kiến thức đãđược truyền thụ trên lớp, mà còn bồi dưỡng trực tiếp cho các em năng lực cảmnhận cái đẹp, cái hay qua các công trình kiến trúc, các mảng chạm khắc lộnglẫy ở các đình, chùa qua các làn điệu dân ca, qua các cảnh quan thiên nhiênvừa gần gũi, vừa say đắm lòng người Đồng thời, giúp HS tích lũy vốn sống,

kỹ năng lao động, kỹ năng giao tiếp; kỹ năng ứng xử, tôn trọng quá khứ đểvững bước tiến vào tương lai v.v

Phần II SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS

1 Những yêu cầu về sử dụng di sản trong dạy học và các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông

Trang 21

Di sản văn hóa có ý nghĩa nhất định đối với quá trình dạy học, giáo dục.Tuy nhiên muốn sử dụng chúng có hiệu quả, người GV phải chú ý tuân thủ một

số yêu cầu trong chuẩn bị các điều kiện thực hiện dạy học với di sản và triển khaihoạt động dạy học với di sản Cụ thể là:

Thứ nhất: Đảm bảo mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông của

môn học và mục tiêu giáo dục di sản :

- Đảm bảo chương trình giáo dục phổ thông môn học theo quy định của BộGiáo dục và Đào tạo (không thêm, bớt thời lượng làm thay đổi chương trình)

- Đảm bảo mục tiêu giáo dục phổ thông gắn với mục tiêu giáo dục di sản.Mục tiêu từng cấp học nói chung, các môn học trong nhà trường phổ thông đều

có mục tiêu cụ thể cho từng cấp, lớp học Trên cơ sở của những mục tiêu đó,mục tiêu từng bài được xây dựng Vì vậy, chuẩn bị lựa chọn di sản phục vụ choviệc dạy học một bài học hoặc một nội dung/chuyên đề của môn hoặc nhiều mônhọc, GV cần xác định mục tiêu bài học/ chuyên đề và lựa chọn di sản phải hướngvào thực hiện mục tiêu đã được xác định và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thựchiện mục tiêu được thuận lợi hơn Bên cạnh đó GV cần xây dựng thêm một sốyêu cầu về di sản đối với HS Ví dụ: HS có thêm hiểu biết về sự ra đời của disản, về cấu trúc hình thức và nguyên nhân của sự tạo thành cấu trúc đó, về ýnghĩa của di sản đối với đời sống tinh thần, vật chất của người dân ở địa phương

có di sản,… Từ đó có thái độ tôn trọng di sản, có hành vi giữ gìn và chăm sóc di sản.Tuy nhiên, tùy cách sử dụng di sản để thiết kế mục tiêu giáo dục di sản cho phù hợp.Nếu đưa HS tới địa điểm có di sản, GV ngoài yêu cầu HS tìm hiểu về hình thức, ýnghĩa di sản cần kết hợp cho các em tham gia một số hoạt động góp phần gìn giữ disản như quét rác, nhặt cỏ, làm sạch quanh khu vực có di sản Nếu sử dụng các hình ảnh

về di sản trong dạy học trên lớp thì GV nên có biện pháp để học sinh thể hiện sự hiểubiết và thái độ của mình đối với di sản

Thứ hai: Xác định nội dung và thực hiện các bước chuẩn bị chu đáo

Dù tiến hành dạy học tại địa điểm có di sản hay dạy học trong lớp học có sửdụng di sản, GV cần chuẩn bị kỹ nội dung và các điều kiện thực hiện Ở đâychúng ta tạm coi việc chuẩn bị nội dung chuyên môn đã được tiến hành chu đáotheo quy định của chuẩn kiến thức, kỹ năng bộ môn và theo gợi ý về phươngpháp dạy học môn học, chúng ta tập trung vào việc xác định nội dung và cácbước chuẩn bị liên quan đến khai thác di sản như một phương tiện dạy học

- Về nội dung liên quan đến di sản, GV cần cân nhắc những yêu cầu đãđược xác định, ví dụ yêu cầu HS tìm hiểu nguồn gốc của di sản, nguyên nhân tạothành cấu trúc của di sản, sự phát triển của di sản qua thời gian, ý nghĩa của disản, cảm nhận của HS với di sản, HS có thể làm gì để bảo vệ, tôn tạo di sản,…

Trang 22

Những yêu cầu này càng được nêu chi tiết, trình bày đơn giản càng giúp HSnhận biết rõ nhiệm vụ cần thực hiện GV cần lưu ý về thời gian HS có thể làmviệc tại địa điểm có di sản để đưa ra các yêu cầu về nội dung cho phù hợp GV

có thể hướng dẫn HS tìm hiểu trước các thông tin liên quan tới di sản, khi làmviệc với di sản, HS sẽ trao đổi, quan sát, so sánh những gì thu thập được với thực

tế di sản, từ đó có sự hiểu biết sâu sắc, kỹ hơn về di sản GV phải tìm hiểu di sảntrước khi đưa HS tiếp cận chúng để có thể hỗ trợ HS khi cần Tuy nhiên khôngnhất thiết GV phải biết đầy đủ, chi tiết về những gì HS sẽ thu thập, tìm kiếm về

di sản Việc HS tìm hiểu được những thông tin bổ sung, thông tin “lạ” về di sản

sẽ đem lại niềm vui, sự phấn khởi cho HS, kích thích tình tò mò, ham hiểu biếtcủa các em, tạo thuận lợi cho những lần nghiên cứu tìm hiểu di sản tiếp theo

- Hoạt động làm việc với di sản cần tiến hành theo những bước đi cụ thể.Sau khi xác định được địa điểm, loại di sản được lựa chọn phục vụ cho dạy học,mục tiêu và các yêu cầu về nội dung dạy học với di sản, GV cần lập kế hoạch chitiết các công việc cụ thể, từ chuẩn bị tiến hành dạy học, tiến trình dạy học với disản và tổng kết, đánh giá hoạt động dạy học với di sản GV nên chú ý một sốcông việc như sau:

+ Công tác chuẩn bị:

GV nên hướng dẫn để HS cùng tham gia hoạt động chuẩn bị Ở bước này,

GV có điều kiện để thực hiện đổi mới phương pháp qua thực hiện một số việclàm cụ thể sau:

* Dự kiến được nội dung công việc, hình dung được tiến trình hoạt động

* Dự kiến những phương tiện gì cần cho hoạt động

* Dự kiến sẽ giao những nhiệm vụ gì cho đối tượng nào, thời gian phảihoàn thành là bao lâu

* Bản thân GV sẽ phải làm những việc gì để thể hiện sự tương tác tích cựcgiữa thầy và trò

Về phía HS, khi được giao nhiệm vụ các em cần chủ động bàn bạc cáchthực hiện trong tập thể lớp, chỉ ra được những việc phải làm, phân công rõ ràng,đúng người, đúng việc

Tuy vậy, GV vẫn phải có sự quan tâm, theo dõi, giúp đỡ, nhắc nhở HS hoànthành công việc chuẩn bị

+ Tiến hành hoạt động với di sản:

Có thể hình dung khi thiết kế bước tiến hành hoạt động như xây dựng mộtkịch bản cho HS thể hiện Do đó, cần sắp xếp một qui trình tiến hành hợp lí, phùhợp với khả năng của HS Kịch bản hoạt động cần được thiết kế chi tiết từ lúc

Trang 23

bắt đầu tiếp xúc với di sản, các công việc cụ thể khi HS tìm thông tin về các đốitượng, sự vật chứa đựng trong di sản liên quan đến nội dung bài học (ghi chép,lấy mẫu vật, chụp ảnh, vẽ lại,…), trao đổi để phân tích các hiện tượng sự vật,giải thích, liên hệ,… nêu nhận xét của cá nhân, nhóm,… đến lựa chọn cách trìnhbày thông tin, mẫu vật, viết báo cáo.

Trong bước tiến hành hoạt động, HS hoàn toàn chủ động, tích cực, sáng tạo,

GV chỉ là người điều khiển, hướng dẫn, quan sát các hoạt động của học sinh theokịch bản và nhiệm vụ đặt ra

+ Kết thúc hoạt động:

Bước này cũng do HS hoàn toàn làm chủ Có nhiều cách kết thúc, tùy theokiểu bài: Học sinh phát biểu suy nghĩ/ GV chốt lại ý nghĩa, giá trị đạt được quaviệc sử dụng di sản trong bài học (kiểu bài trên lớp); có thể tập hợp HS, yêu cầuđại diện nhóm nêu cảm nghĩ về buổi làm việc với di sản, ghi nhật ký hoặc tổchức cho HS tham gia làm vệ sinh, chăm sóc di sản (kiểu bài tại nơi có di sản).Khi thiết kế bước này, GV có thể gợi ý các dự kiến để HS lựa chọn cách kết thúcsao cho hợp lí, tránh nhàm chán và tẻ nhạt

+ Đánh giá kết quả hoạt động:

Đánh giá là dịp để HS tự nhìn lại quá trình tổ chức hoạt động của mình từchuẩn bị, tiến hành hoạt động đến đánh giá kết quả hoạt động Có nhiều hìnhthức đánh giá như:

* Nhận xét chung về ý thức tham gia mọi thành viên trong tập thể

* Viết thu hoạch sau hoạt động nhằm tìm hiểu mức độ nhận thức vấn đề củaHS

* Bằng câu hỏi trắc nghiệm để đánh giá thái độ của HS về một vấn đề nào

đó của hoạt động

* Thông qua sản phẩm thu hoạch của hoạt động

Nói chung, nếu GV thực hiện và vận dụng theo quy trình hợp lí thì hoạtđộng sẽ đạt được những kết quả cụ thể, sẽ tạo được hứng thú cho HS, giúp các

em có thêm hiểu biết và trải nghiệm với di sản

Thứ ba: Phát huy tính tích cực, chủ động của HS, tạo điều kiện cho HS trải

nghiệm

Phải luôn đề cao vai trò hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của HS,tránh tác động một chiều (Dạy học tích cực) GV luôn tạo điều kiện tối đa để HSđược tham gia vào các hoạt động với di sản, từ các hoạt động trong khâu chuẩn

bị như lập kế hoạch, phân công người thực hiện việc cụ thể,… tới hoạt động với

Trang 24

di sản như quan sát, làm việc trực tiếp với các hiện tượng sự vật chứa đựng trong

di sản để các em tìm tòi, khám phá, liên hệ kiến thức đã có để giải thích các hiệntượng sự vật đó GV giao nhiệm vụ rõ ràng, hướng dẫn cụ thể chi tiết để HS biếtcách làm việc với di sản Được tự chủ trong công việc, tự hoàn thành báo cáo tìmhiểu di sản, có sản phẩm do cá nhân hoặc nhóm tạo ra các em sẽ phấn khởi càng

cố gắng hoàn thành nhiệm vụ Điều đó càng khuyến khích HS làm việc tích cực,nhiệt tình hơn, các em có cơ hội được thể hiện mình Trong quá trình làm việcvới di sản, các em được áp dụng những kiến thức, sự hiểu biết của cá nhân đểnhận biết các sự vật, hiện tượng gắn bó với di sản, các em được trải nghiệm vớinhững tình huống đã từng xảy ra tại nơi có di sản, có thể chỉ là tình huống đượcdựng lại, được mô tả lại nhưng nó tác động mạnh tới tâm tư, tình cảm của các

em Khi các em được tự tìm hiểu về di sản, được quan sát, nhận xét, tri giác trựctiếp mà không chỉ nghe nói về di sản sẽ giúp các em được trải nghiệm qua cáctình huống thực tế Điều đó thường giúp HS có được thái độ tình cảm chân thực,đúng đắn với di sản Mặt khác được trải nghiệm qua các tình huống thực tế khitiếp xúc với di sản sẽ giúp các em phát triển tốt hơn một số kỹ năng sống như đãnêu trên

Thứ tư: Kết hợp đa dạng các hình thức tổ chức thực hiện

Trong môi trường sống xung quanh chúng ta tồn tại rất nhiều loại di sản,bao gồm cả di sản vật thể lẫn di sản phi vật thể Tùy theo giá trị chứa đựng trongmỗi di sản chúng được phân loại thành di sản văn hóa, khoa học, di sản tự nhiên,

di sản lịch sử,… Mỗi loại di sản lại có những đặc điểm riêng về hình thức, giátrị,… Vì vậy, khi sử dụng di sản như phương tiện dạy học, có thể tổ chức nhiềuhình thức tiếp cận: Cho HS trực tiếp quan sát di sản, đôi khi có thể dùng các giácquan để tìm hiểu, dùng máy ảnh, máy quay phim ghi lại hình ảnh di sản Cũng cóthể cho các em tiếp xúc qua phim, ảnh nếu không có điều kiện đưa HS tới nơi có

di sản Cách tiếp cận này thường được dùng đối với di sản vật thể Di sản phi vậtthể cũng có thể chuyển giao được Ví dụ: Nhã nhạc cung đình Huế, Ca Trù, Dân

ca Nam Bộ, Chèo, hát quan họ; hát Xoan… là một trong những loại di sản phivật thể quý báu của các vùng miền Việt Nam

Bên cạnh việc dạy học các môn học với các di sản, nhà trường phổ thôngcần tổ chức nhiều loại hình hoạt động tạo điều kiện để HS tìm hiểu di sản ngaytrong khuôn viên nhà trường; phòng truyền thống của nhà trường; các buổi ngoạikhóa; tổ chức sinh hoạt chuyên đề tìm hiểu di sản; tổ chức câu lạc bộ nhữngngười yêu thích văn nghệ dân gian; tổ chức triển lãm về di sản ở địa phương,…

và tổ chức thăm quan những địa điểm có di sản ngay tại địa phương trường đónghoặc di sản nổi tiếng trong nước, quốc tế khi có điều kiện

Trang 25

Lưu ý: Để sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục của nhà trường có hiệu quả cần phải:

- Giải quyết khâu nhận thức của các cấp quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục, độingũ GV về ý nghĩa của việc sử dụng di sản văn hoá trong dạy học và các hoạt độnggiáo dục trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, góp phần bảo vệ và pháthuy những giá trị lịch sử, văn hoá của địa phương, đất nước

- Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động để cán bộ, GV, học sinh, phụ huynhhọc sinh, ngành văn hóa và toàn xã hội ủng hộ, đồng thuận tạo động lực cho việctriển khai sử dụng di sản văn hoá trong dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhàtrường phổ thông đạt hiệu quả và có sức lan toả, bền vững

- Việc sử dụng di sản văn hoá trong dạy học và các hoạt động giáo dục gắnliền mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh về đức, trí, thể, mỹ; đồng thời gắn liền vớiviệc đổi mới phương pháp dạy học, đa dạng hóa các hình thức dạy học (không nhấtthiết phải đưa học sinh đến tham quan, học tập tại di sản nếu không có điều kiện),phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc sưu tầm, tìm hiểu,

sử dụng di sản văn hóa trong giờ học và các hoạt động giáo dục (học sinh phải là chủthể, chủ động, tích cực tham gia vào quá trình sử dụng di sản trong giờ học và cáchoạt động giáo dục); đổi mới kiểm tra đánh giá trong dạy học, đưa nội dung di sảnvăn hóa vào bài kiểm tra sao cho phù hợp với thời lượng bài kiểm tra và khả năngnhận thức của học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh

- Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, họcsinh tích cực” trong nhà trường gắn với việc sử dụng di sản văn hóa trong nhà trườngqua các sự kiện lịch sử, di tích lịch sử, sự kiện văn hoá, danh lam thắng cảnh của địaphương, tích cực đổi mới nội dung và hình thức sử dụng di sản văn hóa sao cho antoàn, hiệu quả, hấp dẫn và mang tính giáo dục cao

- Khi tiến hành dạy học và các hoạt động giáo dục có sử dụng di sản văn hóa,

GV cần phải có nhận thức đúng về khái niệm “sử dụng di sản” chứ không phải là đưa

di sản vào dạy học Như vậy, thì không dẫn tới tình trạng nặng nề, quá tải, khôngtăng thời lượng chương trình vì ta dùng di sản như một phương tiện, tư liệu, nguồnkiến thức để hỗ trợ bài học, làm cho bài học sinh động, gây hứng thú hơn cho họcsinh

- Phải hiểu đúng khái niệm di sản văn hóa (theo nghĩa rộng) không phải chỉnhững di sản được thế giới, quốc gia và các cấp địa phương công nhận mới sử dụngtrong nhà trường, mà di sản ở quanh ta, gần gũi với ta (có giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học, nghệ thuật) nên sẽ không khó khi sử dụng Tuy nhiên, khi sử dụng di sảntrong nhà trường không nên gượng ép, lựa chọn những nội dung phù hợp để sử dụng

di sản (không phải bài nào, nội dung nào, hoạt động giáo dục nào cũng sử dụng disản văn hóa), chọn những di sản văn hóa tiêu biểu, không nên đưa tràn lan (nếunhững bài, nội dung có nhiều di sản văn hóa)

Trang 26

- Nhà trường, tổ chuyên môn và GV phải xây dựng kế hoạch triển khai, sửdụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục một cách cụ thể, chitiết Tăng cường công tác quản lí, thanh tra về kế hoạch giảng dạy, quá trình tổ chứcthực hiện của GV về việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học.

- Phối hợp với các Sở, ban ngành liên quan, các tổ chức đoàn thể trong vàngoài nhà trường đặc biệt là ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch để hỗ trợ, đồnghành trong việc giáo dục di sản văn hoá cho học sinh trung học một cách thống nhất,đồng bộ và đi vào chiều sâu

- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện cho các cơ sở giáodục gắn với việc triển khai nhiệm vụ Giáo dục Trung học, tạo điều kiện thuận lợinhất cho cán bộ, GV và học sinh được khai thác, sử dụng di sản văn hóa trong giảngdạy, học tập nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục giáo dục di sản văn hoátrong trường phổ thông Nên tính toán, dành riêng một khoản kinh phí nhất định phục

vụ cho việc giảng dạy và các hoạt động giáo dục có sử dụng di sản văn hóa

- Làm tốt công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý và GV về nội dung sử dụng disản văn hóa trong nhà trường Chú trọng cách tiếp cận, lựa chọn nội dung và hìnhthực thực hiện sao cho phù hợp với điều kiện của nhà trường và từng địa phương Đadạng hóa các hình thức tổ chức dạy học có sử dụng di sản, các hoạt động giáo dục cónội dung di sản và thực hiện tốt nội dung giáo dục địa phương trong đó có giáo dục disản

- Tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm trong các khâu: Lập kế hoạch, tổ chứcchỉ đạo, triển khai thực hiện, kết quả thực hiện Qua đó, nhằm khắc phục những tồntại, hạn chế, phát huy và nhân rộng những điển hình tiến tiến trong việc sử dụng disản văn hóa trong các hoạt động giáo dục của nhà trường để tiếp tục triển khai rộngrãi, hiệu quả ở những năm học tiếp theo

2 Các hình thức dạy học, tổ chức hoạt động giáo dục với di sản

2.1 Sử dụng di sản văn hóa để tiến hành bài học trên lớp.

Bài học có một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học các bộmôn ở trường phổ thông Nó là hình thức cơ bản của việc tổ chức quá trình thốngnhất giữa giảng dạy và học tập của GV và HS Bài học là thành phần chính,chiếm đa số thời gian của quá trình dạy học ở trường phổ thông Do đó, tiếnhành bài học là điều tất yếu và bắt buộc trong việc dạy học ở trường phổ thông.Song bài học có để lại những dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn HS hay không, cólàm cho HS yêu thích những vấn đề đã học và biết vận dụng chúng một cáchnăng động, sáng tạo để giải quyết các vấn đề bức xúc của cuộc sống hay không

là tuỳ thuộc ở phương pháp của người thầy Bởi vậy tiến hành bài học bằng cách

sử dụng sáng tạo, đa dạng, nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học của GV sẽ

có tác dụng rất lớn trong việc bồi dưỡng, khắc sâu kiến thức, giáo dục đạo đức,

Trang 27

tư tưởng, tình cảm và rèn luyện các năng lực nhận thức, năng lực thực hành bộmôn cho HS Một trong những biện pháp quan trọng góp phần nâng cao chấtlượng dạy học bộ môn là sử dụng tài liệu về di sản khi tiến hành bài học trên lớp.

Bài học trên lớp trong chương trình sách giáo khoa hay bài học địa phương thì cách thức tiến hành sử dụng di sản trong dạy học căn bản giống nhau

(phần thực hành sẽ có hướng dẫn soạn giáo án đính kèm) và vẫn phải đảm bảochuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình:

- Lập kế hoạch về việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học theo từng mônhọc (được lựa chọn để sử dụng di sản văn hóa) cả năm học (có thể theo từng họckỳ)

- Xác định nội dung để sử dụng di sản vào mục, phần nào trong bài;

- Tiến hành sưu tầm, lựa chọn di sản văn hóa để sử dụng trong bài;

- Tổ chức soạn bài, giảng dạy theo kế hoạch (Khi soạn bài chú ý làm rõ việc

sử dụng di sản văn hóa trong bài qua từng bước: Từ mục đích, yêu cầu; chuẩn bịcủa GV, học sinh; thể hiện nội dung và phương pháp sử dụng di sản trong bài;củng cố, giao bài tập về nhà…)

Tài liệu về di sản đóng vai trò là một nguồn kiến thức góp phần bổ sung, cụthể hoá, làm phong phú hơn nội dung bài học do quy định số trang có hạn, sáchgiáo khoa không đề cập tới Nó làm cho những kiến thức trong bài học không chỉđơn thuần là con số, các sự kiện khô khan mà sinh động hơn, có hồn hơn, giúpcho HS tái hiện được kiến thức và hiểu bài nhanh, nhớ lâu hơn

Tuy nhiên, để khai thác các tài liệu về di sản phục vụ cho bài nội khoá thì

GV phải tuân thủ những yêu cầu sau:

- GV phải tiến hành chọn lọc kỹ và xác minh tính chân thực của các tài liệu

về di sản

- Tài liệu di sản có nhiều nhưng do thời gian của một tiết trên lớp có hạn(45 phút) nên đòi hỏi GV phải biết chọn lọc những tài liệu điển hình nhất, sắpxếp các tài liệu đó thành hệ thống phù hợp với tiến trình bài học kết hợp với cácphương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật hiện đại làm cho bài học sinh độnghơn Đồng thời, tuỳ theo mục đích, nội dung bài học mà GV khai thác những tàiliệu khác nhau (có bài dùng tranh ảnh, có bài dùng hiện vật kết hợp các đoạnmiêu tả, tường thuật về di sản, nhân vật lịch sử) phù hợp với trình độ và khảnăng nhận thức của HS

Sử dụng tài liệu về di sản trong tiến hành bài học trên lớp là phương phápkhá phổ biến được nhiều GV sử dụng Do những điều kiện chủ quan và kháchquan của từng địa phương, của từng trường, đặc biệt là những địa phương ở xa

Trang 28

nên GV nhiều khi không thể tiến hành bài nội khoá ngay tại nơi có di sản Để bài

giảng sinh động, hấp dẫn hơn, gây hứng thú học tập cho HS, GV phải sử dụngcác phương tiện trực quan trong bài giảng Ngoài các kênh hình có sẵn trongSGK thì việc sưu tầm tài liệu về các di sản vào dạy học là điều cần thiết Songvấn đề đặt ra là làm thế nào sưu tầm được các tài liệu về di sản một cách tốt nhất,hiệu quả nhất? Trách nhiệm này thuộc về nhà trường, GV và việc tổ chức cho

HS sưu tầm (Hiện nay Dự án Phát triển giáo dục THCS II và Viện KHGD ViệtNam đã công bố phần mềm tra cứu thông tin di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc giavào tháng 5-2012 GV có thể khai thác tài liệu tranh ảnh về các di sản Quốc giavào dạy học, còn các di sản văn hóa địa phương chưa có phần mềm cần tổ chứcsưu tầm)

Có thể tiến hành khai thác tài liệu về di sản bằng cách: Nhà trường tạo mọiđiều kiện tốt nhất, đặc biệt là hỗ trợ về vật chất cho GV bộ môn đến các nơi có disản sưu tầm tài liệu phục vụ cho việc dạy học Trước khi đến tìm hiểu, sưu tầmtài liệu ở nơi có di sản GV phải nghiên cứu kỹ SGK và lập một bản danh sáchcác di sản cần thiết phải sử dụng trong việc dạy học bộ môn của mình Còn khitrực tiếp đến nơi có di sản thì điều đầu tiên là GV phải tìm hiểu bao quát quátrình hình thành và xây dựng của khu có di sản Sau đó đi tham quan toàn bộ đểxác định những tài liệu nào (tranh ảnh, hiện vật, những mẩu chuyện) phù hợp vớinội dung giảng dạy Hoặc GV có thể liên hệ, trao đổi với cán bộ quản lý di sản

để nhờ họ giúp đỡ tìm hiểu sâu hơn, có hiệu quả hơn về sự hình thành, tồn tại vànội dung của di sản Mỗi GV những bộ môn có ưu thế trong việc sử dụng di sảnvào dạy học phải luôn có ý thức sưu tầm tư liệu để phục vụ bài giảng

Nhà trường và GV nên phát động HS tham gia sưu tầm tài liệu, tranh ảnhhoặc hiện vật về di sản phục vụ cho hoạt động dạy học Công việc này có thểphát động thường xuyên hoặc trong các đợt thi đua chào mừng những ngày lễlớn, thông qua đây mà tạo hứng thú học tập và bước đầu tập dượt nghiên cứukhoa học cho HS

Sau khi đã sưu tầm được tài liệu về di sản, GV phải tiến hành phân loại chophù hợp với nội dung từng bài học cụ thể và sắp xếp thành hồ sơ dạy học

Khi tiến hành soạn giáo án, GV phải chọn những tài liệu điển hình nhất, cầnthiết nhất để đưa vào bài giảng Tránh tình trạng đưa quá nhiều tài liệu, khôngphân biệt đâu là tài liệu cần thiết, điển hình, sử dụng không đúng lúc, đúng chỗ,làm loãng nội dung cơ bản của bài học Những tài liệu về di sản được sử dụngtrong hình thức này như là các phương tiện trực quan, nguồn kiến thức, do đócần kết hợp chặt chẽ với trình bày miệng và các phương pháp khác Song phảiđảm bảo phù hợp với từng đối tượng HS Ví dụ: GV có thể sử dụng ảnh chụp về

di sản kết hợp với việc miêu tả khái quát có phân tích những kiến thức liên quan,

Trang 29

hoặc GV có thể sử dụng tranh ảnh về di sản kết hợp với những mẩu chuyện để

cụ thể hoá kiến thức hay kết hợp sử dụng tranh ảnh về di sản với trao đổi đàmthoại nhằm giúp HS hiểu sâu sắc những kiến thức cơ bản của bài học

2.2 Tiến hành bài học tại nơi có di sản - Bài học tại thực địa

Bài học là hình thức tổ chức cơ bản của việc dạy học ở trường phổ thông.Bài học không chỉ tiến hành ở trên lớp mà còn có thể tiến hành ở nơi có di sản(thực địa)

Nó được thực hiện theo nội dung quy định của chương trình và hoàn toànkhác với các hoạt động ngoại khoá tại di sản Tuy hình thức học tập có thay đổi

song bài học tại thực địa là bài học nội khoá, một mắt xích trong toàn bộ khoá

trình có liên quan đến các bài học khác Việc học tập loại bài này là bắt buộc đốivới tất cả HS

Bài học thực địa đối với những bài trong chương trình sách giáo khoa hay bài học địa phương về căn bản cũng giống nhau về hình thức thực hiện và đảm

bảo nội dung theo yêu cầu của chuẩn kiến thức kỹ năng chương trình Tuy nhiên,bài học địa phương chỉ được tiến hành học thực địa tại nơi có di sản ở địaphương mà thôi, còn bài học trong chương trình sách giáo khoa có thể tiến hành

ở bất kỳ địa danh nào có di sản

Bài học tại thực địa có ý nghĩa rất lớn đối với HS về cả ba mặt: Kiến thức,

kỹ năng và thái độ Bởi vì thực địa – nơi có di sản là những dấu vết, mảnh vụncủa quá khứ còn sót lại nên khi tiến hành bài học nội khoá tại đây tức là HS đãđược quan sát các dấu vết, mảnh vụn của quá khứ để bổ sung, cụ thể hoá nhữngkiến thức các em đang nghiên cứu Nó giúp các em phát triển trí tưởng tượng, đadạng hoá hoạt động nhận thức, gây hứng thú học tập bộ môn Tiến hành học tạithực địa là phương thức thực hiện dạy học gắn với đời sống có tác dụng nâng caohiểu biết về kiến thức môn học, về văn hoá – giáo dục, lòng yêu quê hương, đấtnước, óc thẩm mĩ cho các em Bài học tại di sản cũng phải tuân thủ đầy đủ các

yêu cầu của một bài học nội khóa đồng thời cũng phải thực hiện đầy đủ các yêu

cầu của bài học tại di sản (thực địa) như sau:

2.2.1 Để tiến hành bài học tại di sản cần bảo đảm một số yêu cầu sau:

Thứ nhất: Công tác chuẩn bị cho việc tiến hành bài học tại nơi có di sản

phải được thực hiện chu đáo, kỹ lưỡng Công tác chuẩn bị là yếu tố quyết địnhcho mọi sự thành hay bại, kể cả trong hoạt động dạy học Tiến hành bài học tạithực địa là một hình thức tổ chức dạy học bên ngoài lớp học, quá trình dạy họcliên quan đến nhiều yếu tố, điều kiện khác nhau nên phải được chuẩn bị chu đáo,

kỹ lưỡng cả đối với GV và HS

Trang 30

Bước 1: Chọn địa điểm có di sản văn hóa phù hợp với mục tiêu, nội dung

bài học, số tiết học và điều kiện tiến hành (kể cả bài học trong chương trình sáchgiáo khoa cũng như bài học địa phương)

Bước 2: Phải lập kế hoạch cụ thể về công tác chuẩn bị và tiến hành bài học:

Đi khảo sát thực địa, liên hệ với các cơ quan quản lý di sản Sau khi đã lựa chọnđược vấn đề dạy học và di sản phù hợp, GV phải xây dựng được kế hoạch chuẩn

bị và tiến hành bài học tại nơi có di sản một cách chi tiết cho từng nội dung côngviệc, thời gian thực hiện, lực lượng phối hợp, phương tiện thiết bị hỗ trợ Kếhoạch tiến hành bài học tại di sản phải báo cáo với tổ chuyên môn, lãnh đạo nhàtrường để được duyệt thực hiện và có kế hoạch hỗ trợ

Tiếp đó, GV tiến hành tìm hiểu kỹ lưỡng các đặc điểm về vị trí địa lí, địahình địa vật tự nhiên, các hiện vật, chứng tích… có liên quan đến nội dung bàihọc Đây là cơ sở quan trọng để GV chuẩn bị nội dung bài giảng và tổ chức hoạtđộng nhận thức của HS một cách cụ thể nhất Sau khi đã khảo sát thực địa, GVliên hệ với cơ quan, đơn vị quản lý di sản (thường là các Bảo tàng địa phươnghoặc ngành Văn hoá, thể thao và du lịch các cấp) để đăng kí sử dụng di sản, nhờgiúp đỡ (phương tiện kĩ thuật, hướng dẫn viên, bảo vệ), thống nhất kế hoạch,thời gian tiến hành bài học để phối hợp thực hiện Đặc biệt, nếu dự định bài học(hoặc một vấn đề nào đó của bài học) do người phụ trách di sản, hướng dẫn viênhay nhân chứng lịch sử thực hiện thì GV cần đặt ra mục tiêu, yêu cầu và nộidung cơ bản để họ chuẩn bị trước Ngoài ra, khi làm việc với các cơ quan quản

lý di sản, GV cần chú ý khai thác, tìm hiểu các nguồn tài liệu về di sản và các nộidung bài học có liên quan đến di sản bao gồm tài liệu hiện vật gốc, sa bàn, môhình phục chế, phim ảnh, các công trình nghiên cứu, bài viết chuyên đề Đây sẽ

là nguồn tài liệu về địa phương phong phú, có giá trị để GV bổ sung vào bàigiảng hoặc thiết kế bài giảng về địa phương

Bước 3: GV phải chuẩn bị trước cho HS về tư tưởng và kiến thức chuyên

môn như nêu mục đích, yêu cầu của bài học và nội dung kiến thức cơ bản cầntìm hiểu trước ở nhà, thông báo sơ qua về địa điểm có di sản, sự kiện, nội dungkiến thức liên quan đến di sản, yêu cầu các em sưu tầm thêm tài liệu có liênquan; chuẩn bị đồ dùng trực quan, phương tiện dạy học cần thiết; phổ biến nộiqui học tập tại thực địa Ngoài ra, GV còn phải nhắc nhở HS về việc đảm bảophương tiện đi lại, chuẩn bị tư trang, an toàn giao thông, giờ giấc, vật dụng chemưa nắng,…

Thứ hai: Nội dung bài học tại di sản phải đảm bảo tính chính xác, cơ bản

và bám sát nội dung kiến thức bài học và kiến thức di sản phản ánh

Chuẩn bị nội dung bài học tại nơi có di sản là công việc quan trọng mà GVphải thực hiện tốt Bởi lẽ, để đạt được các mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục và phát

Trang 31

triển như bài học trên lớp, bài học tại di sản cần chú trọng đến việc làm sáng tỏ bảnchất những mối liên hệ bên trong của các kiến thức liên quan tại chính nơi HS đangđược học Vì vậy, nội dung bài học tại di sản vừa phải đảm bảo tính chính xác, cơbản, vừa sức hoạt động nhưng đồng thời phải phù hợp, bám sát nội dung kiến thức

mà các chứng tích, hiện vật tại di sản phản ánh

Nội dung bài học phải là kiến thức cơ bản được quy định trong chươngtrình của lớp học, cấp học nhưng phải lựa chọn những kiến thức phù hợp với disản Ở đây, GV phải xác định mối quan hệ giữa nội dung bài giảng và các chứngtích, hiện vật tại di sản Phải xem các chứng tích, hiện vật tại di sản là một nguồnkiến thức chủ yếu của bài học hoặc ít ra là có tác dụng dẫn chứng, minh họa cho

nội dung của bài học Tuy nhiên, cần phải lưu ý là “không cần và không thể giới thiệu toàn bộ di sản hoặc toàn bộ bài học mà GV chỉ lựa chọn những kiến thức được minh chứng rõ ràng qua di sản” Như vậy, nội dung bài học tại di sản

không nhất thiết phải trình bày tất cả kiến thức được qui định trong chương trình

mà cần lựa chọn những vấn đề cơ bản nhất, được phản ánh qua các chứng tích,hiện vật tại di sản để giảng dạy cho HS Điều quan trọng là nguồn kiến thức từ disản phải làm sáng tỏ nội dung kiến thức trọng tâm của bài, phần kiến thức khác ítliên quan đến di sản thì GV hướng dẫn học sinh tự học

Ngoài việc lựa chọn nội dung kiến thức được qui định trong chương trìnhcủa lớp học, cấp học phù hợp với di sản, bài giảng tại đây cần được bổ sungnguồn tài liệu về địa phương để làm sinh động, cụ thể hoá nội dung bài học, qua

đó khôi phục bức tranh quá khứ đã diễn ra tại di sản một cách sống động, chânthực nhất Nguồn tài liệu về địa phương được sử dụng phải đảm bảo độ chínhxác, tin cậy

Đối với bài học có trong SGK môn học: Bài giảng tại di sản cần bổ sung

các tài liệu địa phương phù hợp bằng cách vừa giảng, vừa kết hợp tổ chức cho

HS quan sát, tìm hiểu các hiện vật, chứng tích thực địa có liên quan tới bài học.Hoặc sau khi giảng dạy xong nội dung của bài học, GV tổ chức cho HS quan sát,tìm hiểu các loại tài liệu, hiện vật liên quan đến bài Bổ sung tài liệu về địaphương, tài liệu về di sản làm sinh động, sâu sắc hơn nội dung bài giảng là vôcùng quan trọng và cần thiết Tuy nhiên, GV phải chú ý làm sao để đảm bảomạch nội dung chương trình của bài học, tránh quá tải đối với hoạt động nhậnthức của HS, hay quá ôm đồm kiến thức về địa phương

Đối với bài học về các nội dung địa phương: Nội dung bài giảng tại di sản

có thể do GV thiết kế theo tài liệu hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo hoặc

do GV tự biên soạn Nếu tài liệu do GV tự biên soạn, cần tuân thủ các nguyêntắc về phương pháp dạy học:

Trang 32

Một là: Chọn những kiến thức cơ bản, tiêu biểu của địa phương tương ứng

với một nội dung kiến thức của bài học trong chương trình SGK chung làm nộidung cho tiết học về địa phương

Hai là: Việc dạy học những tiết về địa phương nên có phần khái quát chung

về địa phương và phần riêng theo nội dung tương ứng của chương trình chínhkhóa

Ba là: Nguồn tài liệu chủ yếu để biên soạn nội dung bài giảng về địa

phương, ngoài những tài liệu do GV và HS sưu tầm, xác minh cần dựa vào cácbài viết, công trình của những cơ quan có trách nhiệm như: Tài liệu của Sở Giáodục và Đào tạo; Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch: Ban Tuyên giáo tỉnh; Lịch sửĐảng bộ các cấp… Bài học về địa phương do giáo viên tự biên soạn nên tranhthủ ý kiến góp ý của các cơ quan có trách nhiệm ở trường và địa phương

Thứ ba: Bài học tại địa điểm có di sản phải phát triển được các hoạt động

nhận thức tích cực, sáng tạo, khả năng quan sát, đặc biệt là tư duy độc lập củaHS

Hoạt động nhận thức tích cực, độc lập của HS là một trong những điều kiện

có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn Tổ chứcdạy học tại thực địa – nơi có di sản GV phải kết hợp các phương pháp, các cáchdạy học để khơi dậy sự tò mò, kích thích hứng thú, phát triển óc quan sát của HSkhi tiếp xúc với dấu vết hay hiện vật tại di sản, tránh làm cho HS mệt mỏi, phântán sự chú ý sang nội dung xa bài học Để phát triển tính tích cực, độc lập trongnhận thức của HS, GV nên vận dụng kiểu dạy học nêu vấn đề kết hợp với traođổi, đàm thoại, trực quan và phối hợp các dạng tổ chức hoạt động học tập (toànlớp, nhóm, cá nhân) một cách tốt nhất

Thứ tư: Bài học tại di sản phải giúp HS “trực quan sinh động” các chứng

tích, hiện vật, phản ánh các kiến thức của môn học mà các em đang tìm hiểu.Trực quan sinh động là khâu đầu tiên của quá trình nhận thức (từ trực quansinh động đến tư duy trìu tượng) là một nguyên tắc của lí luận dạy học Nhữngdấu vết, hiện vật tại di sản không chỉ là nguồn kiến thức mà còn là nhữngphương tiện trực quan vô giá giúp HS có biểu tượng sinh động, chân thực về các

sự kiện, hiện tượng, địa danh, từ đó hình thành khái niệm một cách vững chắc.Mặt khác, việc được quan sát trực tiếp lại dấu vết, hiện vật tại di sản sẽ tạo cho

HS xúc cảm đặc biệt, qua đó tác động sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm và hành vicủa các em Đây là ưu thế vượt trội của bài học tại nơi có di sản so với bài học ởtrên lớp Vì vậy, bài học tiến hành tại nơi có di sản phải chú ý phát triển óc quansát của HS, khi tiến hành bài học tại di sản, GV cần chú ý:

Trang 33

Phải khai thác tối đa khả năng cung cấp thông tin thông qua các dấu vết,hiện vật,… tại nơi có di sản Khi khai thác tập trung vào những dấu vết, hiện vậtquan trọng phản ánh kiến thức cơ bản của bài học, tránh tình trạng cho HS quansát tràn lan làm loãng trọng tâm nội dung cần nghiên cứu của bài học.

Khi hướng dẫn HS quan sát phải giúp HS tìm ra mối quan hệ bên trong, làmsáng tỏ nội dung, kiến thức mà các chứng tích, hiện vật phản ánh

Tổ chức hoạt động quan sát các chứng tích, hiện vật của HS một cách khoahọc, hợp lí và hiệu quả

Thứ năm: Phải tổ chức cho HS tự học trong và sau giờ học.

Đây là điều kiện cần thiết để bài học tại di sản đạt kết quả tốt HS chỉ có thểtrả lời được các câu hỏi, chỉ ra được các mối quan hệ bên trong giữa các đốitượng quan sát và bản chất của hiện tượng trên cơ sở biết phân tích, so sánh, kháiquát… các mặt chủ yếu của những điều quan sát được Vì vậy, phải phát triểnkhả năng tự học của HS trong và sau bài học Khi tiến hành bài học tại thực địa,tuỳ vào điều kiện cụ thể, GV có thể tổ chức các hoạt động tự học cho HS như:

- Hướng dẫn HS tập dượt nghiên cứu thông qua tiếp xúc với các loại tài liệutại di sản như tìm hiểu niên đại, xuất xứ, chất liệu, hình thức thể hiện (kiểu kiếntrúc, hoa văn trang trí, kiểu chữ…) và nội dung kiến thức của các dấu vết, hiệnvật… liên quan đến bài học

- Hướng dẫn HS làm các loại bài tập thực hành từ đơn giản đến phức tạp:

Vẽ sơ đồ khu di sản, vẽ lược đồ thể hiện diễn biến sự kiện, hiện tượng đã diễn ratại nơi có di sản, lập hồ sơ, đánh giá, phân loại hiện vật tại di sản…

- Hướng dẫn HS viết bài thu hoạch về bài học

- Kết hợp tổ chức cho HS tham gia các hoạt động ngoại khoá sau bài họcnhư tham quan toàn bộ khu di sản, tổ chức các trò chơi lịch sử, đóng kịch diễnlại các câu chuyện, sự tích liên quan đến di sản…

2.2.2 Cách tiến hành bài học tại di sản

Tại nơi có di sản, GV có thể tiến hành hai loại bài học: bài học nghiên cứukiến thức mới và bài học ôn tập, sơ kết, tổng kết

Việc tiến hành bài học tại di sản rất đa dạng, phong phú, tuỳ thuộc vào điềukiện cụ thể và sự sáng tạo của GV Nếu có điều kiện kết hợp với ban quản lí disản, có thể tiến hành bài học nghiên cứu kiến thức mới như sau:

- GV giới thiệu những nét cơ bản về nội dung kiến thức có liên quan đến disản

Trang 34

- Kết hợp với cán bộ địa phương (cán bộ lãnh đạo, cán bộ phụ trách vănhoá, hướng dẫn viên hay nhân chứng, nghệ nhân…) trình bày cụ thể về nội dungkiến thức bài học liên quan đến di sản.

- Xen kẽ các hoạt động tương tác tích cực của học sinh (trao đổi, đàm thoại,các câu hỏi tò mò…)

- GV chốt lại những vấn đề chủ yếu, nhất là những vấn đề được quy địnhtrong chương trình học

- Tuỳ theo điều kiện cụ thể mà tổ chức các hoạt động sau buổi học

Nếu bài học do GV đảm nhiệm, có thể tiến hành theo hai cách:

Thứ nhất, GV tiến hành dạy học bình thường như ở trên lớp tại một phòng

riêng hoặc một địa điểm phù hợp ở nơi có di sản (nếu có), sau đó hướng dẫn HStham quan những dấu vết, chứng tích, hiện vật có liên quan đến bài học Tiếnhành bài học nghiên cứu kiến thức mới tại di sản bằng cách này tương đối đơngiản, dễ thực hiện (nhưng GV chú ý nhấn mạnh những nội dung liên quan đến disản để sau đó học sinh tập trung quan sát, tìm hiểu) Nó có tác dụng cụ thể hoá,củng cố, khắc sâu kiến thức cho HS

Thứ hai, GV tiến hành bài học ngay tại phòng trưng bày (nếu có) hoặc nơi

có di sản Trong trường hợp này, dấu vết, hiện vật tại di sản trở thành đồ dùngtrực quan, GV có thể thực hiện bài học theo quy trình sau:

- Ổn định tổ chức lớp học Công việc này được thực hiện trong suốt buổihọc Song lúc bắt đầu buổi học, GV tập trung HS, ổn định tổ chức và quán triệtnhững yêu cầu quy định phải tuân thủ trong suốt buổi học

- Kiểm tra bài cũ, GV có thể sử dụng các chứng tích, hiện vật tại di sản đểhướng dẫn HS trả lời câu hỏi kiểm tra

- Dẫn dắt HS vào bài mới: GV có thể căn cứ vào các dấu vết, chứng tích,hiện vật tại di sản để dẫn dắt HS vào tình huống có vấn đề và nêu lên bài tậpnhận thức

- Tổ chức các hoạt động dạy học: GV cần kết hợp khéo léo, hợp lí và nhuầnnhuyễn các biện pháp:

+ Kết hợp việc huy động kiến thức cũ, kiến thức mới đã chuẩn bị trước của

HS với trao đổi, thảo luận để tìm hiểu nhanh các kiến thức của bài học ít haykhông được phản ánh bởi các chứng tích, hiện vật tại di sản

+ Kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc hướng dẫn HS quan sát thực địa – di sảnvới trao đổi, thảo luận để làm rõ kiến thức trọng tâm của bài học

Trang 35

+ Sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với chứng tích, hiện vật tại di sản.+ Kết hợp nhuần nhuyễn, hợp lý giữa việc hướng dẫn HS quan sát chứngtích, hiện vật tại di sản với việc trình bày có hình ảnh sinh động của GV.

+ Nếu bài học tại thực địa – di sản là một vấn đề chung về đất nước, dân tộc

có trong SGK thì GV cần gắn nội dung bài học với thực tế địa phương

- Kết thúc bài học, GV có thể dựa vào những dấu vết, hiện vật tại di sản đểkiểm tra hoạt động nhận thức của HS, HS báo cáo kết quả đồng thời kết hợp tổchức một số hoạt động ngoại khoá thích hợp

2.3 Tổ chức tham quan ngoại khóa – trải nghiệm di sản

Tham quan ngoại khoá, trải nghiệm di sản có một vị trí quan trọng trongdạy học ở trường phổ thông Những dấu vết, hiện vật tại di sản không chỉ có tácdụng cụ thể hoá kiến thức môn học, mà còn để lại một ấn tượng mạnh mẽ, nângcao hứng thú học tập và rèn luyện kỹ năng quan sát, tư duy của HS

Tổ chức tham quan ngoại khoá, trải nghiệm di sản cho HS là hình thức phổbiến, có hiệu quả trong các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông Hình thứcnày có thể áp dụng cho HS các khối ở cả cấp Tiểu học, THCS và THPT Songviệc tổ chức HS tham quan ngoại khoá, trải nghiệm di sản đòi hỏi phải bỏ nhiềucông sức để chuẩn bị và tiến hành Về thời điểm tổ chức, có thể tiến hành trong

hè, đầu năm học hoặc nhân dịp kỉ niệm các ngày lễ lớn trong năm như ngàythành lập quân đội nhân dân Việt Nam (22/12), ngày thành lập Đảng (03/02), kỉniệm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5)… ngày truyền thống của quêhương

Để cho việc tổ chức được chu đáo, tránh các sự cố xảy ra, cần phải có kếhoạch và phương pháp tiến hành, quy định thời gian và nhiệm vụ của HS

Đồng thời để buổi tham quan di sản đạt kết quả tốt cần có sự phối hợp giữa

GV các bộ môn liên quan với tổ chức Đoàn – Đội trong nhà trường

Thông thường GV môn học có thể lập kế hoạch cho hoạt động tham quanngoại khoá, trải nghiệm di sản như sau:

- Các căn cứ để xây dựng kế hoạch tham quan, trải nghiệm di sản;

- Xác định mục đích, yêu cầu buổi tham quan, trải nghiệm di sản;

- Xác định đối tượng, thời gian, địa điểm, nguồn kinh phí thực hiện;

- Những cam kết đảm bảo về an toàn, hiệu quả…

Các bước tiến hành:

Trang 36

Bước 1 Đầu năm học, GV xây dựng và đề xuất với nhà trường phê duyệt

kế hoạch tham quan, trải nghiệm di sản;

Bước 2 GV liên hệ với ban quản lý di sản, gặp gỡ trao đổi với cán bộ

hướng dẫn, phụ trách, trình bày rõ mục đích yêu cầu của buổi tham quan để cùng

có kế hoạch phối hợp, tạo điều kiện cho hoạt động đạt kết quả Mặc dù buổitham quan ngoại khoá không gắn với nội dung chương trình của bài học, songvẫn có tác dụng không nhỏ, trực tiếp tới việc bổ sung kiến thức môn học của HS

Vì vậy, trong kế hoạch tham quan, GV cần xác định rõ những hiện vật, tài liệunên hướng dẫn HS tập trung tìm hiểu, phù hợp với mục đích yêu cầu đề ra

Bước 3 Chuẩn bị chu đáo về kinh phí, phương tiện đi lại, quân tư trang,

đồ dùng của GV, học sinh đảm bảo an toàn, đầy đủ và phục vụ tốt cho buổi thamquan

Bước 4 GV cần phổ biến cho HS rõ mục đích, yêu cầu của buổi tham

quan Đây là một trong các yếu tố đưa đến sự thành công của hình thức hoạtđộng này Bởi lẽ, nếu GV không tổ chức chặt chẽ thì với số lượng HS khá đông sẽkhó quản lý, khó hướng dẫn các em chấp hành nội quy của nơi có di sản Một trongnhững yêu cầu quan trọng đối với HS trong khi tham quan là các em cần ghi chépnhững số liệu, tài liệu do người thuyết minh cung cấp, hoặc những ghi chú ở các tưliệu được trình bày khi tự tìm hiểu (GV cần dự kiến thời gian cho buổi tham quan.Thông thường, đối với các di sản ở gần trường chỉ nên tiến hành trong khoảng 2giờ để phù hợp với sức khoẻ, trình độ cũng như khả năng nhận thức của HS)

Bước 5 Tiến trình buổi tham quan: GV cần căn cứ vào đối tượng HS các

khối lớp mà dự kiến tiến trình buổi tham quan Đối với HS nhỏ tuổi, GV có thểcho các em tham quan khái quát di sản Đối với HS lớn tuổi, GV có thể kết hợpvừa tham quan khái quát vừa hướng dẫn các em tìm hiểu sâu một số chứng tích,hiện vật sát với nội dung các bài học mà các em đã học hay sẽ học

Bước 6 Kết thúc buổi tham quan, GV có thể liên hệ với cán bộ phụ trách

di sản cho HS xem phim để củng cố những điều thu nhận được (nếu có) Dặn dòhọc sinh trước khi ra về, đảm bảo an toàn

Bước 7 Sau khi tham quan, GV có thể tổ chức cho HS trao đổi hoặc viết

bài thu hoạch về một số vấn đề nhằm nâng cao nhận thức của các em

- Trong phương pháp tiến hành cần tránh việc làm có tính chất hình thức,chỉ cho HS xem lướt qua mà không hướng dẫn các em tìm hiểu những dấu vết,hiện vật cần thiết cho học tập

2.4 Sử dụng di sản văn hóa để tổ chức các hoạt động ngoại khoá khác

Trang 37

2.4.1 Khai thác và sử dụng tư liệu về di sản để tổ chức triển lãm, ra báo học tập

Nhân dịp các ngày lễ lớn của đất nước, ngày truyền thống của quê hươnghay qui định hang tháng, GV bộ môn kết hợp với Đoàn thanh niên hoặc Độithiếu niên Tiền phong tổ chức cho HS (theo khối, lớp) sưu tầm tài liệu về di sản

để triển lãm hoặc ra báo học tập (báo tường) Hoạt động này sẽ phát huy tính tíchcực, sáng tạo của HS trong học tập, nâng cao năng lực nhận thức và hứng thúhọc tập cho các em Ví như, để hiểu rõ công lao của Bác Hồ trong việc thành lậpĐảng Cộng sản Việt Nam, GV tổ chức cho HS sưu tầm, sử dụng các tài liệu,tranh ảnh chụp những hiện vật ở bảo tàng, nhà truyền thống, nhà lưu niệm vềBác ở địa phương để làm báo tường, triển lãm các hình ảnh về hoạt động củaNgười theo từng giai đoạn hoạt động…

Để khai thác và sử dụng tài liệu ở di sản vào hoạt động này trong trườngphổ thông đạt kết quả cao, nhà trường và GV các bộ môn có liên quan phải xâydựng được một kế hoạch thật cụ thể, có mục đích rõ ràng GV nên phân côngcho mỗi lớp (nếu là triển lãm, ra báo học tập ở lớp thì phân công tổ), khai thác tàiliệu nói về một nội dung cụ thể, sau đó sẽ trưng bày triển lãm

Muốn thực hiện hoạt động ngoại khóa này, GV các môn học liên quan cần:

- Xây dựng và báo cáo với nhà trường kế hoạch tổ chức;

- Xác định mục đích, yêu cầu và nội dung, hình thức thực hiện;

- Tuyên truyền mục đích, yêu cầu, nội dung cho HS các khối lớp;

- Dự kiến thời gian, địa điểm, kinh phí thực hiện;

- Chuẩn bị công tác sưu tầm, chọn lọc di sản để trung bày, triển lãm;

- Thành lập ban giám khảo, lựa chọn giải thưởng, công bố kết quả;

- Tổ chức phát phần thưởng cho những em/ đội/ lớp/khối lớp đạt giải…Những tài liệu dùng trong triển lãm, ra báo học tập sẽ được sử dụng vào xâydựng phòng học bộ môn để phục vụ dạy học lâu dài

2.4.2 Tổ chức thi tìm hiểu về di sản

Đây là một hoạt động ngoại khoá rất quan trọng, một biện pháp đểthực hiện gắn nhà trường với đời sống xã hội, giúp HS được quan sát trựctiếp, “sinh động” cuộc sống xung quanh như là một nguồn kiến thức “ngoàisách vở”

Hình thức thực hiện là các cuộc thi theo nhiều cách khác nhau: Thidưới dạng sân khấu hóa; thi viết bài; thi hùng biện…

Trang 38

Hoạt động ngoại khoá này cũng có thể thực hiện nhân dịp kỉ niệm các ngày

kỉ niệm lớn của đất nước, ngày truyền thống địa phương hoặc kết hợp với cácphong trào thi đua của nhà trường theo chủ đề năm học

Muốn thực hiện hoạt động ngoại khóa này, GV các môn học liên quan cần:

- Xây dựng và báo cáo với nhà trường kế hoạch tổ chức;

- Xác định mục đích, yêu cầu và nội dung, hình thức cuộc thi;

- Tuyên truyền mục đích, yêu cầu, nội dung cuộc thi cho HS các khối lớp;

- Dự kiến thời gian, địa điểm, kinh phí thực hiện;

- Thành lập ban giám khảo, lựa chọn giải thưởng, công bố kết quả;

- Tổ chức phát phần thưởng cho những em/ đội/ lớp đạt giải…

2.4.3 Kể chuyện, nói chuyện về di sản

- Kể chuyện về di sản: Đây là hình thức hoạt động ngoại khoá hấp dẫn, dễ

làm và có tác dụng giáo dục cao

Nội dung kể chuyện về di sản là việc phổ biến kiến thức một cách khoa học,không phải những chuyện hư cấu Do đó, nội dung câu chuyện kể phải có chủ đề(về một sự kiện lịch sử, một nhân vật, một địa danh liên quan đến di sản) và dựavào tài liệu chính xác

Nội dung câu chuyện phải liên quan đến các kiến thức cơ bản trong bài họccủa bộ môn, chính xác, tránh những chi tiết li kì không có giá trị khoa học,không phù hợp với yêu cầu học tập

Kể chuyện phải làm cho người nghe xúc động, như được sống lại với sựkiện ấy, như câu chuyện của các nhân chứng lịch sử hay người kể lại đã “nhậpthân” với sự kiện

Kể chuyện khác với thông báo, bao giờ cũng có chủ đề, có tình tiết

Nội dung bài kể chuyện không chỉ có khối lượng tri thức cần cung cấp, màcòn bao gồm cả việc phân tích, nêu lên bản chất của sự vật

Nội dung một câu chuyện kể thông thường bao gồm các yếu tố: giới thiệuvấn đề, tình huống đặt ra, diễn biến sự kiện, sự phát triển của tình tiết đến cao

Trang 39

mạng lão thành tiêu biểu, những “nhân chứng” đã chứng kiến, tham gia các

sự kiện tại di sản, những người thân của các nhân vật có liên quan đến disản, cụ thể:

- Xây dựng và báo cáo với nhà trường kế hoạch tổ chức;

- Xác định mục đích, yêu cầu và nội dung, hình thức;

- Tuyên truyền mục đích, yêu cầu, nội dung cho GV, HS toàn trường;

- Dự kiến thời gian, địa điểm, kinh phí thực hiện;

- Dự kiến khách mời, nhân chứng, nghệ nhân (người kể chuyện);

- Nói chuyện về di sản:

Nói chuyện có nội dung, yêu cầu cao hơn kể chuyện Kể chuyện chủ yếu làviệc trình bày các sự kiện cụ thể nâng lên trình độ tư duy khái quát, còn nóichuyện chủ yếu làm cho người nghe nhận thức một cách khái quát, được minhhọa dẫn chứng bằng các kiến thức cụ thể theo một chủ đề nào đấy

Nói chuyện phải có chủ đề rõ ràng, chủ đề phải phù hợp với nội dungchương trình nội khoá, với nhiệm vụ chính trị trước mắt Nói chuyện về di sảnthường được tổ chức nhân dịp những ngày kỉ niệm một sự kiện quan trọng, mộtdanh nhân, một lãnh tụ cách mạng có liên quan đến di sản

Người nói chuyện phải là người am hiểu sâu sắc về di sản Do đó, người nóichuyện thường là GV, cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy trường đại học, cán

bộ làm công tác văn hoá, tuyên huấn…

Để thực hiện hoạt động ngoại khóa này, GV bộ môn cần:

- Xây dựng và báo cáo với nhà trường kế hoạch tổ chức;

- Xác định mục đích, yêu cầu và nội dung, hình thức;

- Tuyên truyền mục đích, yêu cầu, nội dung cho GV, HS toàn trường;

- Dự kiến thời gian, địa điểm, kinh phí thực hiện;

- Dự kiến khách mời, nhân chứng, nghệ nhân (người nói chuyện);

Ngoài các hình thức sử dụng di sản trên (dạy học trên lớp; dạy học tại disản; tham quan, trải nghiệm di sản; các hoạt động ngoại khóa: Triển lãm, ra báohọc tập; thi tìm hiểu về di sản; kể chuyện, nói chuyện về di sản) thì có thể sửdụng di sản như một phương tiện cho hoạt động giáo dục HS trong các hình thức

tổ chức sau:

+ Sinh hoạt tập thể lớp, trường đầu tuần với chủ đề có liên quan tới di sảntại địa phương hoặc di sản quốc gia, quốc tế được công nhận

Trang 40

+ Nhà trường có thể chiếu phim tư liệu, hoặc tổ chức các họat động khácliên quan đến di sản được lựa chọn,

+ Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo các chủ đề được xác định hoặcchọn bổ sung chủ đề liên quan đến di sản

+ Sinh hoạt Đoàn, Đội với nội dung liên quan đến di sản

+ Tổ chức câu lạc bộ những người yêu thích tìm hiểu về di sản

+ Tổ chức các cuộc thi đố vui, các cuộc giao lưu tìm hiểu về di sản

+ Tổ chức sinh họat chuyên đề về di sản cho HS toàn trường, theo khối lớphoặc từng lớp

Với các hình thức hoạt động giáo dục trên, lãnh đạo nhà trường giao nhiệm

vụ cho tổ chuyên môn, GV bộ môn, tổ chức Đoàn, Đội, GV chủ nhiệm hướngdẫn và gợi ý để HS có thể tham gia tích cực và chủ động vào các khâu của hoạtđộng, từ lựa chọn di sản, xác định mục tiêu tìm hiểu, chọn và đặt tên cho hoạtđộng, chuẩn bị hoạt động và tổ chức hoạt động, đánh giá, tổng kết hoạt động

3 Một số phương pháp dạy học, đánh giá kết quả dạy học, giáo dục với

di sản

3 1 Một số phương pháp dạy học với di sản

3.1.1 Việc sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông trước hết phải thông qua các phương pháp truyền thống phù hợp với từng môn học như:

- Trình bày miệng:

Trong dạy học nói chung, trình bày miệng có ý nghĩa quan trọng, bởi vì lờinói giữ vai trò chủ đạo đối với việc giảng dạy của GV và học tập của HS Việctrình bày miệng không chỉ giúp HS khôi phục hình ảnh về nội dung bài học đangnghiên cứu mà còn giúp các em nhận thức sâu sắc kiến thức, trình bày những suynghĩ, hiểu biết trong nghiên cứu, tìm tòi

Có nhiều cách trình bày miệng như tường thuật, miêu tả, kể chuyện, giảithích,… GV cần phải căn cứ vào đặc trưng môn học để sử dụng cho phù hợp.Song khi sử dụng các cách của trình bày miệng đều phải đảm bảo yêu cầu pháthuy tính tích cực của HS

- Sử dụng đồ dùng trực quan, kết hợp với miêu tả, tường thuật…

Trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học, nhằmtạo cho HS những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếpquan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh hoạ sự vật

Ngày đăng: 25/04/2020, 23:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w