1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số khía cạnh pháp lí và thực tiễn liên quan đến vấn đề đảm bảo quyền lợi việc làm cho người khuyết tật ở việt nam

72 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 158,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh việc đề ra nhiêù chính sách phápluật về việc làm được thực thi với mục tiêu tạo ra nhiều điều kiện và cơ hội đểmọi lao động có việc làm, có thu nhập để đảm bảo cuộc sống cho bản

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài:

Việt Nam là một trong những nước có nguồn nhân lực dồi dào, chính vìthế việc đảm bảo việc làm cho người lao động luôn là một trong những ưu tiênhàng đầu của Đảng và nhà nước Bên cạnh việc đề ra nhiêù chính sách phápluật về việc làm được thực thi với mục tiêu tạo ra nhiều điều kiện và cơ hội đểmọi lao động có việc làm, có thu nhập để đảm bảo cuộc sống cho bản thân vàgia đình đồng thời đóng góp cho xã hội, Đảng và nhà nước còn đặc biệt quantâm tới những người lao động yếu thế trong xã hội, cụ thể là đối tượng ngườikhuyết tật (NKT) nhằm giúp đỡ và tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trườnglao động, ổn định cuộc sống, vượt các rào cản và hòa nhập với cuộc sống

Các chính sách về việc làm, đảm bảo an sinh xã hội cho người khuyết tật

là tiền đề giúp hình thành nên nhiều văn bản pháp luật nhằm tạo hành lang pháp

lý đảm bảo những quyền cơ bản của con người, tham gia vào đời sống và sựphát triển của xã hội

Sau nhiều năm thực hiện các chính sách pháp luật về người khuyết tật đặcbiệt là chính sách việc làm, đảm bảo an sinh xã hội, nhà nước đã tạo ra hànhlang pháp lý giúp đỡ người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, cải thiện đời sống;đồng thời giúp các tổ chức, cá nhân có lòng hảo tâm trong và ngoài nước hỗ trợgiúp đỡ người khuyết tật Tuy nhiên, bên cạnh những cố gắng, kết quả đạt được

từ những chính sách pháp lệnh về người khuyết tật, đặc biệt trong lĩnh vực việclàm vẫn còn nhiều hạn chế bất cập Theo thống kê của Bộ lao động thương binh

và xã hội, hiện vẫn còn hơn 50% người khuyết tật ở Việt Nam chưa có việc làm,

số có việc làm thì thu nhập thấp, không ổn định.Thực tế cho thấy vẫn còn nhiềuvấn đề nan giải trong việc đào tạo việc làm, đào tạo nghề cho người khuyết tậtcũng như khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội.Cơ hội để người khuyết tật thamgia hòa nhập cộng đồng cũng đang gặp thách thức lớn

Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết thiết trên, nhóm đã chọn đề tài nghiên

cứu “Một số khía cạnh pháp lí và thực tiễn liên quan đến vấn đề đảm bảo

Trang 2

quyền lợi việc làm cho người khuyết tật ở việt nam” với nội dung nghiên cứu

đưa ra một số khía cạnh pháp lí về đảm bảo quyền lợi việc làm cho người khuyếttật và liên hệ thực tiễn để tìm ra những điểm được và chưa được của việc đảmbảo quyền lợi việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam Nghiên cứu này chútrọng vào một số nội dung chủ yếu sau:

1 Đưa ra các khái niệm về người khuyết tật, một số quy định pháp lí về người khuyết tật

2 Tìm hiểu chế độ việc làm theo quy định của pháp luật hiện hành đối với người khuyết tật

3 Chỉ ra điểm mạnh và hạn chế của pháp luật hiện hành đối với người

khuyết tật

4 Việc đảm bảo quyền lợi việc làm cho người khuyết tật ở việt nam đã thực hiện tốt hay chưa? Cần đưa ra các giải pháp gì để giải quyết

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu của nhóm nghiên cứu đề tài là:

- Bổ sung kiến thức cơ bản về người khuyết tật vào vốn hiểu biết của bảnthân

- Tìm ra những điều còn chưa rõ về pháp lí trong việc đảm bảo quyền lợiviệc làm cho người khuyết tật

- Liên hệ với thực tế về việc đảm bảo quyền lợi việc làm cho ngườikhuyết tật ở Việt Nam hiện nay

- Đề ra các giải pháp giải quyết góp phần đảm bảo thực hiện quyền lợiviệc làm của người khuyết tật cũng như các quyền lợi cơ bản khác, tạo điều kiện

và cơ hội cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: các quy định pháp luật về vấn

đề việc làm cho người khuyết tật ở việt nam và thực trạng áp dụng các quy địnhđó

- Phạm vi nghiên cứu nghiên cứu của đề tài được xác định là:

Trang 3

 Phạm vi về thời gian : từ năm 2005 đến nay

 Phạm vi về đối tượng : người khuyết tật

 Phạm vi về không gian : Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp quan sát : quan sát thực trạng việc làm của ngườikhuyết tật trên thực tế sử dụng để phân tích những tích cực, bất cập chưa giảiquyết được trong thực tế…

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu : nghiên cứu trên sách, báo, tàiliệu, tạp chí về người khuyết tật sử dụng để đánh giá về thực tế việc đảm bảoquyền lợi người khuyết tật

- Phương pháp thu thập thông tin: thu thập số liệu thống kê nhữngnăm gần đây về người khuyết tật để lập bảng phân tích số liệu thực trạng việclàm người khuyết tật

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề pháp lý về pháp luật liên quan đến việclàm cho người khuyết tật ở Việt Nam Hệ thống hóa kiến thức khái niệm vềngười khuyết tật, phân tích vai trò thực hiện các chính sách chế độ việc làm chongười khuyết tật

- Phân tích đánh giá thực trạng và hoạt động việc thi hành các chínhsách đảm bảo quyền lợi về việc làm trong lao động của người khuyết tật, những

ưu điểm và hạn chế cũng như nguyên nhân để khắc phục

- Đưa ra quan điểm và các giải pháp tổng thể đảm bảo cho việc hoạtđộng đảm bảo quyền lợi việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam

Trang 4

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ YÊU CẦU ĐẢM BẢO VIỆC LÀM

VÀ THU NHẬP CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT

NAM

1 Khái quát chung về người khuyết tật

1.1 Định nghĩa về người khuyết tật

Trong thế kỷ trước, xã hội loài người đã chứng kiến một cuộc cách mạnglớn về vấn đề người khuyết tật, qua đó thay đổi cách đề cập, nhìn nhận, tươngtác và hỗ trợ đối với họ.Trong suốt thời gian dài vấn đề người khuyết tật đượcxem là vấn đề phúc lợi xã hội, theo đó một quan niệm phổ biến là người khuyếttật cần được hỗ trợ, chăm sóc và họ không thể và không đủ khả năng chăm locho cuộc sống của mình Nói cách khác, người khuyết tật bị coi là các đối tượngcủa phúc lợi xã hội mà không phải là các chủ thể có quyền như một công dânbình thường Các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến quyền con người đượccác nước phê chuẩn từ những năm 1940 đến năm 1960 (ví dụ: Tuyên ngôn toànthế giới của Liên hợp quốc về Quyền con người năm 1948, Công ước của Liênhợp quốc về Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 và Công ước của Liênhợp quốc về Quyền dân sự và chính trị năm 1966…) đều không đề cập trực tiếpđến người khuyết tật Đến năm 1970, xuất phát từ Hoa Kỳ – bằng nhiều hìnhthức khác nhau, người khuyết tật và các hiệp hội của họ đã minh chứng rằng họhoàn toàn có khả năng và có quyền được sống và lao động như những ngườibình thường Sự nỗ lực bền bỉ của họ cùng với sự thay đổi về nhận thức trong xãhội đã dẫn đến những biến đổi mạnh mẽ về chính sách và pháp luật của Hoa Kỳ

về người khuyết tật Đến những năm 1980, những quan niệm nhân quyền tiến bộcủa Hoa Kỳ về người khuyết tật được phổ biến ở nhiều nước như Thụy Điển,Nhật Bản, Brazin…và gần đây là Hàn Quốc, Thái Lan… Tư tưởng cốt lõi củanhận thức mới này là các vấn đề về người khuyết tật được xem xét dưới góc độquyền con người, dựa trên quan điểm tất cả mọi người đều có quyền được sống

Trang 5

một cuộc sống đầy đủ và có phẩm giá đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn toànthế giới về quyền con người năm 1948 Tuy nhiên, quá trình chuyển nhận thức

về người khuyết tật như một vấn đề phúc lợi xã hội sang nhận thức coi vấn đềkhuyết tật là một vấn đề bình thường trong xã hội đồng thời coi trọng khả năng,năng lực của người khuyết tật đã diễn ra trong khoảng thời gian tương đối dàicũng như còn chưa hết sự khác biệt

Thực tiễn quá trình này cho thấy đã tồn tại các quan điểm khác nhau vềkhái niệm người khuyết tật, trong đó có hai quan điểm chính: Quan điểm khuyếttật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hội

- Quan điểm khuyết tật cá nhân (cá thể) hay quan điểm khuyết tật

dưới góc độ y tế (y học) cho rằng khuyết tật là do hạn chế cá nhân, là ở chínhcon người đó, chú trọng rất ít hoặc không để ý đến các yếu tố về môi trường xãhội và môi trường vật thể xung quanh người khuyết tật Theo phân loại của Tổchức Y tế Thế giới WHO năm 1999, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết(impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) Khiếm khuyết chỉ đến

sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm sinh

lý Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sựkhiếm khuyết Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của ngườimang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạngkhuyết tật của họ

Như vậy, mô hình cá nhân (cá thể) hay y tế nhìn nhận người khuyết tậtnhư những người có vấn đề về thể chất và cần phải chữa trị Khi bị khuyết tậtnhững người này cần phải thay đổi chứ không phải xã hội hay môi trường xungquanh phải thay đổi

- Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội: Mô hình xã hội là mô hình có

cơ sở lý thuyết và có quy tắc riêng được coi là nền tảng của những biến chuyểncủa vấn đề người khuyết tật

Trong mô hình xã hội, khuyết tật được nhìn nhận là hệ quả bị xã hội loạitrừ và phân biệt Nó thể hiện khuyết tật là lát cắt ngang các vấn đề xã hội và

Trang 6

chính sách cơ bản làm thay đổi tình trạng và hoàn cảnh mà người khuyết tật bịhạn chế hay ngăn cản tham gia đầy đủ như một công dân bình đẳng như:

i/Thái độ: Thể hiện sự sợ hãi, sự thiếu hiểu biết và ít kỳ vọng (ảnh hưởngbởi văn hóa và tín ngưỡng);

ii/ Môi trường: Dẫn đến việc không tiếp cận về vật chất, ảnh hưởng đếntất cả các mặt của đời sống (trường học, cửa hàng, tòa nhà công cộng, giaothông…);

iii/ Thể chế: Là những phân biệt mang tính pháp lý (ví dụ như không đượclập gia đình hay có con, không được nhận vào trường học…)

Mô hình xã hội khuyết tật coi xã hội là vấn đề, giải pháp đưa ra là phảithay đổi xã hội Chính xã hội và chính sách cần phải cải tổ chứ không phảingười khuyết tật Tuy nhiên, mô hình xã hội không phủ nhận tầm quan trọngcũng như sự khác nhau của khiếm khuyết Vì mô hình xã hội phân biệt nhữngrào cản khuyết tật và khiếm khuyết nên nó tạo điều kiện cho người khuyết tậtchỉ tập trung vào khả năng và những điều cần làm là loại bỏ các yếu tố rào cảntrợ giúp cho các khiếm khuyết để họ đối xử như những người khác Điều đócũng có nghĩa là chính người khuyết tật cũng phải nhận thức được đầy đủ cácnghĩa vụ của mình với tư cách là một công dân trong mọi lĩnh vực đời sống,kinh tế, chính trị, xã hội mà mình tham gia

Nhiều nghiên cứu đã cố gắng chỉ ra những điểm khác biệt và tương đồng,mối quan hệ giữa quan điểm y tế và quan điểm xã hội từ đó xác định vị trí vàvai trò của từng mô hình nói trên.Ta có bảng sau:

Bản chất Tập trung vào khiếm

khuyết cá nhân

 Bản chất là sự suygiảm về thể chất,

Tập trung vào những ràocản mà NKT phải đối mặt

 Bản chất là nhữngrào cản

Trang 7

cảm giác trí tuệThuật ngữ

Tiên lượng bệnh, chẩnđoán, tai nạn,kê đơn,…

Áp bức , phân biệt, tươngđồng – khác biệt, rào cản,quyền công đân

Mục tiêu

Tìm cách chữa trị, khắcphục tốt hơn

Tập trung xác định lý doNKT khó tiếp cận xã hội

và tìm ra cách thích nghi1

Như vậy, mỗi quan niệm nói trên có những điểm mạnh và hạn chế nhấtđịnh Quan điểm khuyết tật cá nhân hoặc y tế có tác dụng tốt trong một số lĩnhvực cụ thể như y tế phục hồi chức năng và bảo đảm xã hội Quan điểm khuyếttật theo mô hình xã hội là công cụ quan trọng để giải quyết các nguyên nhân gốc

rễ của người khuyết tật bị tách biệt khỏi cuộc sống chung Vấn đề về những bấtlợi và vấn đề phân biệt đối xử Mô hình xã hội ghi nhận rằng câu trả lời cho câuhỏi liệu một ai đó có bị xếp vào danh sách người khuyết tật hay không có liênquan chặt chẽ đến các yếu tố như văn hóa, thời gian và môi trường

Khái niệm người khuyết tật là cơ sở pháp lý để công nhận ai là ngườikhuyết tật và từ đó được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật liên quan Nó phụ thuộcrất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc chính sách cụ thể theo đuổi Do vậy, không

có một khái niệm chung về người khuyết tật áp dụng chung cho các nước

Tương ứng với các quan điểm đã nói đến ở trên, có những định nghĩakhác nhau về người khuyết tật theo quy định pháp luật của các nước

- Theo quan điểm y tế :

 Ở Trung Quốc: Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vềbảo vệ người khuyết tật ban hành năm 1990, Điều 2 quy định:

“Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường.“Người khuyết tật” là những người có thính giác, thị giác,

Trang 8

lời nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần, khuyết tật nhiều và / hoặc khuyết tật khác”.

 Ở Ấn Độ: Luật về người khuyết tật ban hành năm 1995 (về cơ hộibình đẳng, bảo vệ quyền và đảm bảo cho người khuyết tật tham giamọi hoạt động xã hội) định nghĩa khuyết tật bao gồm những tìnhtrạng bị mù, nghe kém, lành bệnh phong; thị lực kém; suy giảm khảnăng vận động; chậm phát triển trí óc và mắc bệnh về tâm thần.Trong khi đó định nghĩa về người khuyết tật lại được nêu “mộtngười bị bất kỳ một khuyết tật nào không dưới 40% theo xác nhậncủa cơ quan y tế có thẩm quyền”

 Ở Philipine Theo đạo luật số 7277 với tên gọi là “Đạo luật tạo nên

sự phục hồi chức năng, tự phát triển và tự tin cho người khuyết tật

và hòa nhập người khuyết tật vào xã hội và các mục đích khác”

được thông qua bởi Thượng nghị viện và Hạ nghị viện của Quốc

hội Phillipines vào ngày 12 tháng 7 năm 1991; quy định: “Người khuyết tật – là người có sự khác biệt về khả năng và hạn chế do khiếm khuyết về giác quan, vận động, và tâm thần để thực hiện một hoạt động được coi là bình thường”.

- Theo quan điểm xã hội:

 Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm

của người khuyết tật (năm 1983), khoản 1, Điều 1 quy định: “Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng

kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận”

 Công ước về Quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc (năm

2006), Điều 1 quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự

Trang 9

tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”.

 Ở Đức, sách số chín của Bộ luật xã hội định nghĩa: “Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và

sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội”

 Luật bình đẳng về việc làm của Nam phi định nghĩa người khuyết tật là

“người bị suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển nghề nghiệp”.

 Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA – Americans

with Disabilities Act of 1990) định nghĩa “người khuyết tật là người có

sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống” Cũng theo ADA những ví

dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói

và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết

cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểuđường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệuchứng hoặc không có triệu chứng)

 Ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật Người khuyết tật,

có hiệu lực từ 01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “người tàn tật”, phù hợp với khái niệm và xu

hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật Theo quy định tại

khoản 1, Điều 2 của Luật này thì “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.”

Theo cách hiểu này thì người khuyết tật bao gồm cả những người bịkhuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh,

Trang 10

Như vậy, luật Người khuyết tật Việt Nam đã đưa ra khái niệm người khuyết tậtdựa vào mô hình xã hội, tuy nhiên còn chung chung so với khái niệm trongCông ước về quyền của người khuyết tật.

Thông qua quy định của các hệ thống pháp luật khác nhau cho thấy việcnghiên cứu để đưa ra một định nghĩa quốc tế về người khuyết tật là một tháchthức do những mô hình của khuyết tật chịu ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa, điềukiện kinh tế – xã hội và các tiêu chí xác định khuyết tật Tuy nhiên, cũng cầnkhẳng định rằng định nghĩa về người khuyết tật, dù tiếp cận dưới bất cứ góc độnào, nhất thiết phải phản ánh một thực tế là người khuyết tật có thể gặp các ràocản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạtđộng kinh tế, chính trị, xã hội Và họ phải được đảm bảo rằng, họ có quyền vàtrách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công dân nàovới tư cách là các quyền của con người Với cách tiếp cận đó, có thể đưa ra kháiniệm về người khuyết tật như sau: ” Người khuyết tật là người bị khiếm khuyếtmột hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạnchế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động

xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác”

1.2 Đặc điểm người khuyết tật

Người khuyết tật trước hết là những con người nên họ mang những đặcđiểm chung về mặt kinh tế – xã hội, đặc điểm tâm sinh lý như mọi người kháctrong xã hội Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng về từng dạng khuyết tật ,nhóm người khuyết tật nói chung lại có những nét đặc thù so với nhóm ngườikhông khuyết tật và mỗi nhóm người khuyết tật dạng này lại có nét đặc thùtương đối so với nhóm người khuyết tật dạng khác

1.1.1 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế – xã hội.

Trước hết người khuyết tật là nhóm cư dân đặc biệt phải chịu thiệt thòi vềmặt kinh tế – xã hội và nhân khẩu học Những gia đình có người khuyết tật có

xu hướng hoặc là thiếu nhân lực lao động (vì vậy có năng lực sản xuất thấp)hoặc có quá nhiều người sống phụ thuộc (gánh nặng về kinh tế) Học vấn của

Trang 11

các thành viên trong những gia đình người khuyết tật thường không cao (chấtlượng lao động thấp), nhiều chủ hộ gia đình lại chính là người khuyết tật có sứckhỏe yếu Tài sản của gia đình người khuyết tật thường nghèo nàn, thu nhập ởmức thấp – vì vậy, điều kiện sống và sinh hoạt là không tốt, ảnh hưởng xấu đếncuộc sống, sức khỏe, phúc lợi của các thành viên trong gia đình Ngoài ra, ngườikhuyết tật từ 15 tuổi trở lên rất khó có việc làm, hầu hết người khuyết tật hoặcchưa bao giờ đi làm hoặc đã từng đi làm nhưng lại bị thất nghiệp Khuyết tật lànguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thất nghiệp của họ.

Mặt khác, vì tình trạng do khuyết tật gây ra, người khuyết tật phải gánhchịu rất nhiều thiệt thòi trong mọi mặt cuộc sống Khuyết tật là nguyên nhânchính gây ra nhiều khó khăn cho người khuyết tật trong việc thực hiện các côngviệc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kếthôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội Để khắc phục những khó khănnày, người khuyết tật chủ yếu dựa vào gia đình, nguồn giúp đỡ chính đối với họ.Những khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồngđối với người khuyết tật

Quan niệm của xã hội về người khuyết tật còn tiêu cực, dẫn đến sự kì thị

và phân biệt đối xử Điều này diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều bối cảnhkhác nhau (gia đình, cộng đồng, trường học, bệnh viện, nơi làm việc và các tổchức ở địa phương) Trong cộng đồng, nhiều dân cư coi người khuyết tật là

“đáng thương”, không có cuộc sống “bình thường”, là “gánh nặng” của xãhội… Về nhận thức pháp luật, nhiều người không hề biết đến quy định của phápluật về người khuyết tật Từ đó dẫn đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử và nó diễn ra

ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực: gia đình, nơi làm việc, giáo dục, hôn nhân gia đình,tham gia hoạt động xã hội, thậm chí sự kì thị từ chính người khuyết tật (hầu hết ngườikhuyết tật cho rằng mình kém cỏi hơn, mặc cảm, thấy khó hòa nhập cộng đồng)

Hoạt động hỗ trợ cho người khuyết tật còn rất hạn chế Thực tế cho thấy

có sự khác biệt lớn giữa nhu cầu của người khuyết tật và những giúp đỡ mà họnhận được Sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng mang tính từ thiện nhiều hơn

là phát triển con người Hầu hết người khuyết tật được hỗ trợ như bảo hiểm y tế,

Trang 12

bảo hiểm xã hội, lương thực… nhưng lại ít được trợ giúp trong việc làm, dạynghề và tham gia hoạt động xã hội.

1.1.2 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật.

Khuyết tật được phân loại dựa theo các quan điểm khác nhau của các nhànghiên cứu nhưng nói chung thường dựa trên tiêu chí của sự khiếm khuyết bộphận cơ thể hoặc suy giảm chức năng Ở Việt Nam, việc phân loại người khuyếttật dựa trên quy định về dạng tật và mức độ khuyết tật

- Khuyết tật vận động: Là những người có cơ quan vận động bị tổn

thương, biểu hiện dễ nhận thấy là có khó khăn trong ngồi, nằm, di chuyển, cầm,nắm…Do đó, người khuyết tật vận động gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt

cá nhân, vui chơi, học tập và lao động Tuy nhiên, đa số người khuyết tật vậnđộng có bộ não phát triển bình thường nên họ tiếp thu được chương trình họctập, làm được việc có ích cho gia đình, bản thân và xã hội Người khuyết tật vềvận động cần được sự hỗ trợ về phương tiện đi lại (xe lăn, gậy chống…) và đặcbiệt là không gian cần thiết, thuận tiện, phù hợp để di chuyển khi làm việc, đảmbảo các nhu cầu cuộc sống bình thường của con người và tham gia các hoạtđộng xã hội

- Khuyết tật nghe, nó i (khuyết tật ngôn ngữ): Người khuyết tật nghe,

nói là người có khó khăn đáng kể về nói và/hoặc về đọc viết làm ảnh hưởng tiêucực đến quá trình giao tiếp và học tập Khó khăn về nói, nghe, đọc của ngườikhuyết tật ngôn ngữ ảnh hưởng trực tiếp đến giao tiếp từ đó làm hạn chế sự làmviệc, học tập, hòa nhập cộng đồng của họ Điều này làm họ dễ cảm thấy mất tựchủ, thiếu tự tin trong giao tiếp với người xung quanh – nếu như khiếm khuyếtcủa họ thay vì nhận được sự cảm thông lại vấp phải thái độ giễu cợt hoặc thiếukiên nhẫn của người nghe

- Khiếm thính: Theo quan điểm y tế (lâm sàng) thì người khiếm thính

là những người bị mất hoặc suy giảm về sức nghe kéo theo những hạn chế vềphát triển ngôn ngữ nói cũng như khả năng giao tiếp Đặc điểm của những ngườikhó khăn về nghe (khiếm thính) là những người bị phá hủy cơ quan thính giác ở

Trang 13

các mức độ khác nhau dẫn đến việc người khiếm thính không có khả năng trigiác thế giới âm thanh đặc biệt ngôn ngữ âm thanh Hỗ trợ cần thiết với họ làphát hiện, chẩn đoán, chữa trị sớm; cung cấp phương tiện trợ giúp (máy trợthính); giao tiếp tổng hợp.

- Khuyết tật nhìn (khuyết tật thị giác, khiếm thị): Là những người có

tật về mắt như: hỏng mắt, không đủ sức nhận biết thế giới hữu hình bằng mắthoặc nhìn thấy không rõ ràng Tổ chức y tế thế giới (1992) còn đưa ra các kháiniệm để phân biệt mức độ khuyết tật nhìn khác nhau: Khiếm thị, nhìn kém, mù(hoàn toàn) Người khuyết tật nhìn có trí tuệ phát triển bình thường, có hai cơquan phân tích thường rất phát triển: thính giác và xúc giác, nếu được huấnluyện sớm và khoa học hoàn toàn có thể thay thế cơ quan thị giác bị phá hủy.Ngôn ngữ, tư duy, hành vi, cách ứng xử của những người này cũng giống ngườibình thường Tuy nhiên, cũng có những tồn tại nhất định như ngôn ngữ thiếuhình ảnh, không thể viết và đọc bằng chữ phẳng Ít di chuyển nên thể lực giảmsút, cơ bắp thiếu linh hoạt nên dễ tự ty và thiếu niềm tin ở bản thân Môi trườngcần thiết với họ là tránh tiếng ồn, đảm bảo đủ ánh sáng, dùng những màu tươngphản, hợp lý trong sinh hoạt và các hoạt động khác, cung cấp thiết bị phóng đại hìnhảnh, công cụ di chuyển hỗ trợ thông minh, lối đi thuận tiện và dễ nhận biết…

- Khuyết tật trí tuệ : Xét về mức độ, đây là nhóm khuyết tật thường

chịu nhiều sự thiệt thòi và khó khăn trong cuộc sống Khuyết tật về trí tuệ đượcxác định khi:

 Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình (chỉ số thông minh đạt gần

70 hoặc thấp hơn 70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân)

 Bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong số những hành

vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹ năng

xã hội/cá nhân, sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự địnhhướng, kỹ năng học đường, làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn;tật xuất hiện trước 18 tuổi

Trang 14

Người khuyết tật về trí tuệ có nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến cuộc sốngbình thường của họ và người thân cả về trí tuệ (phần lớn chỉ dùng ở mức độ tư duytrực quan cụ thể, mức độ, nhịp độ tư duy của các thành phần không giống nhau):

 Về trí nhớ : gặp khó khăn về trí nhớ cả ngắn hạn và dài hạn, khókhăn trong việc nhớ những gì mang tính trìu tượng hay có quan hệ logic, dễquên những gì gần gũi với cuộc sống và không gắn với nhu cầu bản thân

 Về chú ý : phần đông người khuyết tật có khó khăn khi phải tậptrung và duy trì sự chú ý vào một công việc nào đó, đặc biệt là chú ý đến lời nói

Do duy trì chú ý kém nên việc tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin của ngườikhuyết tật thường gặp khó khăn

 Về kỹ năng giao tiếp xã hội : đa phần người khuyết tật trí tuệ yếukém về các kỹ năng xã hội, rất ít thậm chí không có nhu cầu giao tiếp

 Về hành vi : người khuyết tật trí tuệ thường có những hành vi làmcho họ khó hòa nhập: hành vi tự lạm dụng, quá hiếu động, quá ù lì…

Trên đây là những nhóm người khuyết tật chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng

số người khuyết tật Ngoài các nhóm trên còn có những nhóm người khuyết tậtnhư: người bị rối loạn hành vi cảm xúc, người mắc hội chứng tự kỉ, người bị rốiloạn ngôn ngữ, người đa tật… Xét ở góc độ đặc điểm về tâm, sinh lý cho thấytính đa dạng của khuyết tật và rõ ràng việc đảm bảo các quyền của họ dướiphương diện pháp lý cũng cần tính đến yếu tố đặc thù của các dạng khuyết tậtkhác nhau

2 Tình hình người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay.

Việt Nam là nước có số lượng người khuyết tật nhiều thứ tư trong khuvực các nước Châu Á – Thái Bình Dương Giải quyết việc làm cho đông đảo sốlượng lao động người khuyết tật luôn là vấn đề làm khó dễ đối với hầu hêt cácnhà lãnh đạo trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Hiện nay chưa cómột cuộc điều tra quốc gia nào có thể cung cấp số liệu đáng tin cậy về tỷ lệngười khuyết tật cũng như người lao động khuyết tật của cả nước Rất nhiều tổchức trong nước và quốc tế tham gia liên quan tới các cuộc điều tra về thựctrạng người khuyết tật ở Việt Nam, tuy nhiên hầu hết các cuộc điều tra chỉ tập

Trang 15

trung trong phạm vi nhất định, cách thức tìm hiểu hay chỉ tiêu, đối tượng tìmhiểu cũng khác nhau nên kết quả từ những báo cáo cũng khác nhau và rất khó đểkiểm chứng Chúng ta rất khó có thể giải quyết được tất cả những khó khăn hayhạn chế để có được một ước lượng hoàn toàn tin cậy về tỷ lệ người khuyết tậttrên toàn quốc Dù sao đi nữa thì các tài liệu và số liệu hiện có đã và đang lànhững dữ liệu quan trọng quý báu giúp chúng ta tìm hiểu sâu sắc hơn về các vấn

đề liên quan đến người khuyết tật

2.1 Khái quát chung về tỷ lệ người khuyết tật:

Dựa theo báo cáo nghiên cứu năm 2011 do Viện nghiên cứu phát triển xãhội thực hiện với sự hỗ trợ về tài chính của AusAid ( Cơ quan phát triển quốc tếÚc), người khuyết tật chiếm hơn 6% trong đó hơn một phần ba dân số trưởngthành từ 15 tuổi trở lên có khó khăn trong việc nhìn, nghe, vận động, nhận thức,

tự chăm sóc bản thân hoặc giao tiếp Khuyết tật về thị giác (nhìn) là dạng khuyếttật phổ biến nhất, sau đó đến khuyết tật về vận động và nhận thức Tình trạng đakhuyết tật là khá phổ biến trong cộng đồng người khuyết tật Kết quả từ cuộcđiều tra này cho thấy khoảng một phần tư số người trưởng thành hoặc hơn mộtnửa (58%) số NKT có khó khăn trong việc thực hiện ít nhất từ hai chức năng trởlên Các kết quả trên đây rất tương đồng với kết quả phân tích số liệu Tổng điềutra Dân số và Nhà ở năm 2009

Bảng 2.1.1 Tỷ lệ người khuyết tật theo dạng khuyết tật và mức độ khó khăn

Dạng khuyết tật Mức độ khó khăn

Khó khăn trở lên Rất khó khăn trở

lên

Không thể thựchiện được

Trang 16

Nguồn: Báo cáo người khuyết tật của AusAID VN 2011

Khuyết tật là hiện tượng chủ yếu phổ biến ở người cao tuổi Tỷ lệ ngườikhuyết tật ở người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) khá cao, chiếm tới 75,1% sốngười được hỏi Trong khi đó, tỷ lệ này trong nhóm trung niên từ 25 đến 59 tuổichỉ là 35,5% và trong nhóm thanh thiếu niên từ 15 đến 24 tuổi chỉ là 16,6% Bêncạnh đó,tỷ lệ người đa khuyết tật tăng dần theo độ tuổi Tỷ lệ thanh thiếu niên có

đa khuyết tật là rất thấp trong khi đó đa số người cao tuổi khuyết tật thuộc nhóm

Đa khuyết tật

Trang 17

Nguồn: Báo cáo người khuyết tật của AusAID VN năm 2011

Điều tra lao động – xã hội Việt Nam do Viện Khoa học lao động và cácvấn đề về an sinh xã hội về tình hình người khuyết tật ở các vùng miền có một

xu hướng đáng quan tâm ở hoàn cảnh sống của người khuyết tật đó là tuổi càngcao thì tỷ lệ người khuyết tật sống cùng gia đình càng giảm đi và ngược lại tỷ lệngười khuyết tật sống độc thân càng tăng lên Điều đó cho thấy gia đình vẫn làchỗ dựa cơ bản về cả vật chất lẫn tinh thần của người khuyết tật Trong sốnhững người khuyết tật cùng sống với gia đình có một số bộ phận đáng kể vẫn

có khả năng lao động, nhiều công việc trong gia đình rất thích hợp với ngườikhuyết tật Do vậy, việc tạo việc làm cho người khuyết tật tại gia đình cũng làmột hướng cần chú ý, vừa giúp đỡ người khuyết tật, vừa tạo việc làm giúp họhòa nhập với gia đình và cuộc sống với cộng đồng và xã hội

Bên cạnh một số người khuyết tật được sống cùng với gia đình thì vẫncòn một bộ phận không nhỏ người khuyết tật sống lang thang ở mọi nhóm tuổituy nhiên phổ biến là ở nhóm tuổi 16 – 55 - nhóm tuổi vẫn còn khả năng laođộng Tỷ lệ người khuyết tật lang thang thường tập trung ở thành thị nhiều hơn

so với nông thôn vì thành thị dân số đông, kinh tế phát triển hơn và có nhiềucông việc thích hợp với điều kiện sức khỏe của người khuyết tật nên nhiềungười khuyết tật kéo nhau ra đường phố ở thành thị kiếm kế sinh nhai Đây cũng

là một vấn đề cần chú ý khi tìm phương hướng giải quyết đảm bảo việc làm chongười khuyết tật Nếu như có công ăn việc làm phù hợp với người khuyết tật,

Trang 18

với hoàn cảnh gia đình ổn định, được cộng đồng dân cư xã hội tạo điều kiện thì

tỷ lệ người khuyết tật lang thang sẽ giảm đi rất nhiều

2.2 Lực lượng lao động khuyết tật và thu nhập:

Tình trạng việc làm:

Tỷ lệ người trưởng thành trong độ tuổi lao động (từ 18 đến dưới 60 tuổiđối với nam và từ 18 đến dưới 55 tuổi đối với nữ) đang đi làm của người khuyếttật rất gần với tỷ lệ của người không khuyết tật Tuy nhiên, người khuyết tật do

có những khiếm khuyết về thể lực hay trí tuệ nên khả năng tham gia lao độngcủa họ thấp hơn so với những người lao động bình thường và tùy vào hoàn cảnhkinh tế - xã hội nên tỷ lệ người khuyết tật có khả năng lao động ở mỗi địaphương là khác nhau

Theo báo cáo của Viện nghiên cứu phát triển xã hội thực hiện với sự hỗtrợ về tài chính của AusAid về người khuyết tật, tại thời điểm khảo sát cókhoảng 80% số người khuyết tật cũng như người không khuyết tật trưởng thànhtrong độ tuổi lao động hiện đang đi làm Tuy nhiên, tỷ lệ này trong nhóm ngườikhuyết tật nặng lại rất thấp và ở mức dưới 5% Trong khi tỷ lệ nam giới trong độtuổi lao động có việc làm ở người không khuyết tật cao hơn nữ giới thì nam giới

có việc làm lại thấp hơn đôi chút so với nữ giới trong nhóm người khuyết tật

Bảng 2.2.1 Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động đi làm theo trình trạng khuyết tật.

Trang 19

Người không khuyết tật Người khuyết tật Người khuyết tật nặng 0%

Bên cạnh những người khuyết tật có việc làm thì lại có một phần đông bộ

phận người khuyết tật không đi làm hoặc không thể đi làm Theo điều tra lao

động xã hội do Bộ lao động thương binh và xã hội Viện khoa học xã hội,

nguyên nhân chủ yếu để người khuyết tật không có việc làm là do không có

công việc phù hợp với thực trạng bệnh tật, do không được đào tạo dạy nghề, do

hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn nên không có vốn để phát triển sản xuất

hoặc không có vốn để mở các hoạt động buôn bán kinh doanh nhỏ tại gia đình,

đường phố, trong cộng đồng dân cư Còn theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu

phát triển xã hội năm 2011 thì tỷ lệ dân số khuyết tật trong độ tuổi lao động cho

biết khuyết tật là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng không đi làm của họ lại

rất thấp: chỉ có 5,1% người khuyết tật và 19,7% người khuyết tật nặng trong độ

tuổi lao động cho rằng khuyết tật là nguyên nhân chính khiến họ không đi làm

Phần đông người khuyết tật và đặc biệt là người khuyết tật nặng trong độ tuổi

lao động cho rằng sức khỏe mới là lý do chính khiến họ không đi làm Đối với

người khuyết tật nặng, phần đông số họ cho rằng đang làm việc nội trợ và đang

đi học là hai lý do chính khiến họ không đi làm Đây cũng là những lý do quan

trọng thứ hai và thứ ba sau lý do sức khỏe đối với nhóm người khuyết tật Ngoài

ra sự khác biệt về giới cũng thể hiện phần nào lý do không đi làm hoặc không có

việc làm của người khuyết tật

Trang 20

Bảng 2.2.2 Lý do không đi làm theo tình trạng khuyết tật

Người không khuyết tật Người khuyết tật Người khuyết tật nặng 0%

Nguồn: Báo cáo người khuyết tật AusAID VN năm 2011

Phân chia cơ cấu việc làm với người lao động khuyết tật tập trung nhiềunhất vào nghề nông ngư nghiệp còn ngành nghề dịch vụ xã hội thì rất ít - thànhthị do có dân trí cao hơn nên số lao động khuyết tật làm việc cho các dịch vụ xãhội cao hơn ở nông thôn Khu vực việc làm, tỷ lệ người khyết tật làm cho bảnthân và cho gia đình cao hơn so với người không khuyết tật đối với cả nam lẫn

nữ Tỷ lệ người khuyết tật làm việc trong khu vực tư nhân thấp hơn so với tỷ lệnày trong nhóm người không khuyết tật Kết quả tương tự cũng được tìm thấytrong khu vực Nhà nước

 Tình trạng thu nhập và trợ cấp xã hội:

- Về lương:

Theo Công ước về quyền của người khuyết tật cũng như nguyên tắc bìnhđẳng, người lao động khuyết tật cũng được hưởng lương như những ngườikhông khuyết tật Tuy nhiên mức lương của người lao động khuyết tật lại ít hơn

so với người không khuyết tật Thậm chí có những người khuyết tật nặng hầu

Trang 21

hết đều dựa vào gia đình Những người có khó khăn về tự chăm sóc bản thân vàthính giác có mức lương thấp hơn những người khuyết tật dạng khác nhưngnhững khác biệt này không đáng kể.

- Về trợ cấp xã hội:

Theo điều 16 nghị định 28/2012/NĐ – CP về quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của luật người khuyết tật thì người khuyết tật sẽ đượchưởng hệ số mức hỗ trợ riêng

1 Trợ cấp cho người khuyết

tật ( điều 16 NĐ28/2012/NĐ- CP )

2 Hỗ trợ chăm sóc hàng tháng cho ngườikhuyết tật nặng, đặc biệt nặng mang thai, nuôi

con dưới 36 tháng tuổi

Đối tượng độ tuổi NKTnặng

NKTđặcbiệtnặng

Đối tượng độ tuổi NKTnặng

NKTđặc biệtnặng

Từ đủ 16 tuổi đến

Trẻ em dưới 16 2,0 2,5 Nuôi con dưới 36 tháng tuổi 1,5 1,5Người cao tuổi từ

3 Hỗ trợ hộ gia đình 4. Hỗ trợ người có đủ điều kiện và nhận nuôidưỡng người khuyết tật đặc biệt

Hộ gia đình trực tiếp nuôi

dưỡng chăm sóc người

khuyết tật đặc biệt

1.0 - Nhận nuôi dưỡng chăm sóc 1 ngườikhuyết tật đặc biệt nặng 1,5

Nhận nuôi dưỡng, chăm sóc từ 2 ngườikhuyết tật đặc biệt nặng trở lên 3.0

Tỷ lệ dân số khuyết tật được nhận phụ cấp hoặc trợ cấp cao hơn hẳn sovới những người không khuyết tật Tỷ lệ này với người khuyết tật, người khuyếttật nặng và người không khuyết tật tương ứng lần lượt là 16,4%, 53,6% và 3,9%theo báo cáo nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển xã hội Tuy nhiên,

Trang 22

không phải phần lớn mà chỉ có khoảng một nửa số người khuyết tật nặng có phụcấp hay trợ cấp không phải lương Bên cạnh đó, hầu hết các khoản trợ cấp đến

từ Chính phủ nhưng quá một nửa số đó là từ các chương trình khác ngoàichương trình hỗ trợ người khuyết tật: Chỉ có dưới 3% người khuyết tật vàkhoảng 20% người khuyết tật nặng nhận được trợ cấp từ các chương trình hỗ trợngười khuyết tật của Chính phủ Người khuyết tật cũng đã nhận được sự quantâm lớn từ các chương trình không trực tiếp hỗ trợ người khuyết tật của Chínhphủ Tiền trợ cấp cho từng cá nhân được nhận trợ cấp từ các tổ chức phi chínhphủ cho người khuyết tật cao hơn rất nhiều so với hỗ trợ từ Chính phủ, đặc biệt

là với các trường hợp người khuyết tật nặng Điều đó cho thấy xã hội cũng có sựquan tâm chú trọng rất nhiều đối cộng đồng người khuyết tật Đáng tiếc lànguồn lực của Chính phủ cho các chương trình hỗ trợ xã hội và các chương trình

hỗ trợ người khuyết tật nói riêng còn rất hạn chế cũng như mức độ đóng góp củatrợ cấp phi chính phủ cho người khuyết tật vẫn còn rất nhỏ do độ bao phủ củanguồn trợ cấp này còn rất hạn hẹp

- Về thu nhập:

Tỷ lệ người khuyết tật có thu nhập, bao gồm lương và cả các khoản phụcấp hoặc trợ cấp ngoài lương từ Chính phủ và các tổ chức đoàn thể và các tổchức phi chính phủ, nhỏ hơn đáng kể so với tỷ lệ này trong nhóm người khôngkhuyết tật Trong khi có gần 80% số người không khuyết tật có thu nhập thì chỉ

có khoảng 70% người khuyết tật và 60% người khuyết tật có thu nhập Cũngtheo đó thu nhập hộ gia đình và mức độ khuyết tật có mối quan hệ nghịch chiều:người khuyết tật sống trong các hộ gia đình nghèo hơn so với người khôngkhuyết tật và người khuyết tật nặng sống trong các hộ nghèo nhất

Bảng 2.2.3 Tỷ lệ người có thu nhập, bao gồm lương và phụ cấp trợ cấp ngoài lương

Trang 23

Người không khuyết tật Người khuyết tật Người khuyết tật nặng 0%

Nguồn: Báo cáo người khuyết tật AusAID VN năm 2011.

3 Sự cần thiết đảm bảo việc làm và thu nhập cho người khuyết tật

3.1 Đảm bảo việc làm và thu nhập cho người khuyết tật là cơ sở để xóa

bỏ kì thị với người khuyết tật trong xã hội

Người khuyết tật trong xã hội luôn là thành phần chịu đựng nhiều thiệtthòi Do khiếm khuyết về một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chứcnăng được biểu hiện dưới dạng tật, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặpkhó khăn, ít tham gia hoặc không thể tham gia vào các hoạt động xã hội Chính

vì thế nên người khuyết tật ít tiếp xúc với mọi người, không có cảm giác hòanhập, tự ti về bản thân Theo công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật,giống như tất cả người bình thường, người khuyết tật cần phải được đảm bảo sự

tự do, bình đẳng, được tôn trọng phẩm giá và được cống hiến, được khẳng địnhgiá trị cá nhân

Tuy nhiên trên thực tế, có rất nhiều người khuyết tật bị đối xử bất bìnhđẳng, bị kì thị xa lánh do những khác biệt về thể chất hoặc tinh thần.Ngườikhuyết tật phải đối mặt với rất nhiều những điều kiện khó khăn khi bị phân biệtđối xử dưới nhiều hình thức hoặc dưới những hình thức nghiêm trọng Trong số

đó phụ nữ và trẻ em dễ bị bạo hành, thương tổn hoặc lạm dụng, bị đối xử vôtrách nhiệm hoặc bất cẩn, ngược đãi hay bóc lột Nhiều người khuyết tật trên thế

Trang 24

giới cũng như ở Việt Nam chưa được hưởng đầy đủ những quyền lợi cơ bản củacon người trong đời sống xã hội, gần 80% trong số họ phải sống trong điều kiệnkhó khăn gian khổ Ở Việt Nam, kết quả khảo sát của Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội cho thấy, có rất nhiều người khuyết tật đang sống dựa vào giađình, người thân, trợ cấp xã hội hoặc các tổ chức từ thiện Một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến tình trạng người khuyết tật sống nghèo khổ, bị kỳ thị, xemthường, thậm chí bị hành hạ, bị chà đạp phẩm giá là do họ gặp rất nhiều khókhăn trong việc tiếp cận việc làm và không có nguồn thu nhập cần thiết để trangtrải cho cuộc sống hàng ngày của bản thân Đảm bảo việc làm và thu nhập chongười khuyết tật sẽ giúp dần xóa bỏ sự kỳ thị, thiếu tôn trọng đối với ngườikhuyết tật trong xã hội

3.2 Đảm bảo việc làm và thu nhập cho người khuyết tật là cơ sở xóa bỏ

sự mặc cảm của bản thân người khuyết tật

Do những khiếm khuyết về hình thể hay tinh thần nên mặc cảm tự ti luôn

là mặc cảm tâm lý phổ biến ở người khuyết tật Nhiều người cảm thấy vô dụngkhi là gánh nặng cho gia đình và xã hội, không thể giúp được gì cho gia đình và

xã hội Sự mặc cảm tâm lý khiến người khuyết tật khó sống hòa đồng với xã hội,khép kín bản thân, không muốn tham gia vào các hoạt động, các mối quan hệ xãhội Một số bất mãn, dễ cáu giận đối với mọi người xung quanh, thậm chí cónhững người đã có những hành động tự hủy hoại bản thân mình Một trongnhững nguyên nhân chính dẫn đến tâm lý này là do họ không có việc làm và khôngtạo được nguồn thu nhập để trang trải cho cuộc sống của mình và gia đình

Đảm bảo việc làm và thu nhập cho người khuyết tật là cách cơ bản nhất

để người khuyết tật nhận ra những khả năng thực sự của mình, đồng thời chứngminh được giá trị của bản thân mình trước mọi người Ngoài ra, việc ngườikhuyết tật tham gia lao động, làm việc và có thu nhập nuôi sống được bản thân

và gia đình còn giúp cho họ có được địa vị bình đẳng hơn trong gia đình và xãhội

3.3 Đảm bảo việc làm và thu nhập cho người khuyết tật giúp bổ sung nguồn lực lao động phát triển kinh tế - xã hội

Trang 25

Theo các nghiên cứu điều tra của các tổ chức xã hội, trung tâm nhà nướcthì số lượng người khuyết tật có khả năng lao động ở Việt Nam chiếm tỷ lệkhông nhỏ, cũng là một trong những nguồn lực lao động quan trọng của xã hội.Tuy nhiên chỉ có số ít người lao động khuyết tật từ 15 tuổi trở lên có việc làm,còn lại là đang thất nghiệp hoặc chưa bao giờ đi làm Điều này cho thấy mộtnguồn lực lao động lớn trong xã hội đã bị bỏ qua, không được sử dụng vào quátrình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Để khắc phục tình trạng này nhànước đã ban lành Luật người khuyết tật 2010 để thay thế cho pháp lệnh ngườitàn tật năm 1998, trong đó dành Chương V để quy định về vấn đề dạy nghề vàviệc làm cho người khuyết tật Tuy nhiên, sau nhiều năm thực thi những quyđịnh được cho là có ý nghĩa đảm bảo cơ hội việc làm cho người khuyết tật trongLuật Người khuyết tật, thì thực tế, chúng ta chưa thực sự giúp được nhiều chongười khuyết tật có được việc làm ổn định, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sốngcho họ Vì thế nên ra nhiều các chính sách, pháp luật của Nhà nước tạo điều kiệncho toàn bộ số người khuyết tật có khả năng lao động có việc làm ổn định thìngoài lợi ích mang lại cho chính bản thân người khuyết tật và gia đình họ, xã hộicũng có thêm nguồn lực phát triển.

Trang 26

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG THỰC TẾ

VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Quy định pháp luật Việt Nam về đảm bảo việc làm cho người khuyết tật

1.1 Khái quát chung về việc làm đối với người khuyết tật

1.1.1 Khái niệm việc làm đối với người khuyết tật

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người Lao động khôngchỉ tạo ra của cải vật chất mà còn cải tạo con người, biến con người thành sinhvật xã hội có ý thức, tham gia các quan hệ xã hội, hình thành xã hội Lao độngđược thực hiện chủ yếu dưới hình thức việc làm Con người có thể lao độngbằng cách tham gia vào một quan hệ nào đó để được trả công (làm việc chongười khác) hoặc dùng tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của mình để tiếnhành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự làm côngviệc cho hộ gia đình của mình (tự tạo việc làm) Bởi vậy, theo nghĩa chung nhấtviệc làm là công việc mà người lao động tiến hành để có thu nhập.Việc làmcũng có thể là một hoặc là sự tập hợp của một số công việc, thuộc hệ thốngngành nghề kinh tế quốc dân, do người lao động thực hiện thông qua các hoạtđộng lao động (làm việc) nhằm tạo ra những giá trị với mục đích thỏa mãnnhững nhu cầu của đời sống

Ở Việt Nam, khái niệm việc làm chính thức được ghi nhận trong văn bảnpháp luật trong Bộ luật lao động vào năm 1994 Trước đây, trong các văn bảnpháp luật, tuy có ít nhiều đề cập đến vấn đề việc làm nhưng chủ yếu là dưới góc

độ cơ chế chính sách đảm bảo việc làm cho người lao động chứ không đưa rakhái niệm, định nghĩa chính thức về việc làm Khái niệm việc làm trong BLLĐ

đã không chỉ phản ánh được nội dung kinh tế-xã hội của việc làm mà còn phảnánh tính chất pháp lý của việc làm Theo điều 13 BLLĐ việc làm được hiểu làmọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm Hoạt độnglao động nói chung được hiểu là sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản

Trang 27

xuất để tạo ra sản phẩm và dịch vụ Tuy nhiên, những hoạt động được coi là việclàm ở đây phải là những họat động có tính thường xuyên liên tục và mang tínhnghề nghiệp Vì vậy, người được coi là có việc làm phải là người thực hiện cáchoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối

ổn định Đồng thời các hoạt động lao động này phải tạo ra thu nhập và hoạtđộng đó phải là hợp pháp

Việc làm cũng được đặt ra đối với người khuyết tật Việc làm không chỉgiúp người khuyết tật có thu nhập ổn định cuộc sống mà giúp họ hòa nhập vàocông đồng, giúp họ cảm thấy được đối xử bình đẳng, có ích cho xã hội Ngườikhuyết tật cũng có thể tự mình tự tạo việc làm hoặc tham gia quan hệ lao động

để có việc làm Vì vậy, việc làm đối với người khuyết tật cũng được hiểu là cáchoạt động lao động tạo ra thu nhập cho người khuyết tật và không bị pháp luậtcấm

Tuy nhiên, đề cập đến vấn đề việc làm cho người khuyết tật là đề cậpdưới góc độ cơ hội việc làm cho họ Việc làm ở đây bao gồm việc tiếp nhận đàotạo nghề, tiếp nhận việc làm và các điều kiện sử dụng lao động cũng như đảmbảo việc làm Đây cũng chính là quan niệm về việc làm theo quan niệm của ILOtrong công ước số 111- công ước về phân biệt đối xử trong việc làm nghềnghiệp Theo đó, người khuyết tật cũng được đối xử bình đẳng về cơ hội việclàm như những người lao động khác mà không bị phân biệt đối xử

1.1.2 Ý nghĩa của việc làm đối với người khuyết tật.

 Việc làm giúp người khuyết tật có thu nhập, ổn định cuộc sống.Việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người khuyết tật cũng nhưngười lao động bởi nó giúp họ có được thu nhập, ổn định đời sống Từ xưa đếnnay, theo quan niệm truyền thống và đạo đức, người ta thường nhìn nhận ngườikhuyết tật như là một đối tượng yếu thế cần phải có sự trợ giúp Xã hội, cộngđồng cũng như gia đình cần phải trợ giúp và chăm lo cho họ Người khuyết tậtsống chủ yếu dựa vào gia đình, xã hội và cộng đồng nên đời sống vật chất tinhthần của họ còn gặp nhiều khó khăn Hiện có tới 80% người khuyết tật ở thànhthị và 70% người khuyết tật ở nông thôn sống dựa vào gia đình, người thân và

Trang 28

trợ cấp xã hội, 32,5% thuộc diện nghèo Chính vì vậy, người khuyết tật đôi khi

bị tâm lý chán nản vì cho rằng mình là người “ăn bám” gia đình và xã hội Do

đó, nếu người khuyết tật có việc làm, đời sống vật chất cũng như tinh thần củangười khuyết tật sẽ được nâng cao, họ sẽ có thu nhập để nuôi sống chính bảnthân mình, không cần phải sống dựa vào sự giúp đỡ của người khác, thâm chí họ

có thể hỗ trợ gia đình và đóng góp cho xã hội theo nhiều hình thức khác nhau.Quan niệm, cũng như cách nhìn nhận về người khuyết tật vì vậy sẽ có sự thayđổi Từ quan điểm nhìn nhận người khuyết tật dưới góc độ đạo đức, đó là đốitượng cần trợ giúp sẽ chuyển sang góc độ tiếp cận quyền của người khuyết tật

Đó là quyền được làm việc, được cống hiến sức lao động của mình để tạo ra thunhập cho mình và xã hội

 Việc làm giúp người khuyết tật hòa nhập vào cộng đồng và tự tinhơn trong cuộc sống

Việc làm không chỉ giúp người khuyết tật có thu nhập ổn định đời sống

mà quan trọng hơn là nó giúp người khuyết tật có thể hòa nhập vào cộng đồng

và tự tin hơn trong cuộc sống Nhiều người mặc dù bị khuyết tật nhưng vẫn ýthức được vai trò và vị trí của họ trong xã hội, tự mình vươn lên trong cuộc sốnghọc tập và lao động như những người bình thường Nhưng cũng có một bộ phậnngười khuyết tật luôn luôn trong trạng thái tự ti, mặc cảm phó, mặc số phận vàchỉ biết sống dựa vào gia đình và sự trợ giúp của xã hội Vì thế mà họ ngại giaotiếp cũng như hòa nhập vào cộng đồng Đây chính là những rào cản vô hìnhkhiến họ trở nên thiếu tự tin trong cuộc sống, thu hẹp mình lại và ngại giao tiếp

Vì vậy việc làm sẽ là điều kiện và cơ hội tốt nhất để người khuyết tật trở nên tựtin trong cuộc sống và tái hòa nhập cộng đồng

Môi trường lao động là môi trường có sự tham gia của nhiều người, hoạtđộng lao động là hoạt động mang tính tập thể Bởi vậy, khi người khuyết tật cóviệc làm, họ sẽ được tiếp xúc với nhiều người được làm việc trong môi trườngtập thể Mặt khác, việc làm tạo ra thu nhập cho người khuyết tật nên họ sẽ cảmthấy tự tin hơn, tương tác với xã hội tốt hơn từ đó mang lại lòng tự hào và nhânphẩm cho người khuyết tật Theo ông Tim de Meyer, chuyên gia về các tiêu

Trang 29

chuẩn lao động quốc tế và luật Lao động, văn phòng tiểu khu vực của ILO tại

khu vực Đông Á, Băng cốc thì: “ việc làm là công cụ quan trọng nhất để có thể tái hòa đồng những người thường có xu hướng bị bỏ bên rìa xã hội”

 Việc làm cho người khuyết tật góp phần phát huy nguồn nhân lựccho xã hội

Người khuyết tật là một bộ phận cấu thành của xã hội không thể tách rời

và họ cũng có trách nhiệm trong việc tham gia vào các hoạt động của cộng đồng

và đóng góp công sức của mình vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội củacác quốc gia và cũng có quyền được hưởng đầy đủ những thành quả phát triểncủa nhân loại Thực tế ở Việt Nam, người khuyết tật chiếm một tỷ lệ tương đốinhiều khoảng 5,3 triệu người khuyết tật (chiếm 6,34% dân số) Dự báo trongnhiều năm tới, số lượng người khuyết tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của

ô nhiếm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trongchiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, hậu quả thiên tai.Người khuyết tật là những người bị bị suy giảm về thể chất, trí tuệ, tâm thầnhoặc giác quan được biểu hiện dưới dạng khuyết tật khiến cho lao động, sinhhoạt, học tập gặp nhiều khó khăn và cản trở sự tham gia bình đẳng vào hoạtđộng xã hội Nhưng nếu họ được tạo điều kiện cần thiết và tự mình vươn lên thìngười khuyết tật có thể sống, hoạt động và đóng góp cho xã hội theo sức khỏe

và năng lực như những người không khuyết tật Vì vậy, người khuyết tật cũng sẽ

là lực lượng lao động của xã hội, là nguồn nhân lực của xã hội Giải quyết việclàm cho người khuyết tật cũng sẽ góp phần giải phóng và phát huy nguồn nhânlực cho xã hội.Người khuyết tật sẽ cùng với những người không khuyết tật khácphát huy hết khả năng và nguồn lực của mình cho sự phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước.Thực tế cho thấy, người khuyết tật cũng đã có những đóng gópkhông nhỏ cho nền kinh tế của đất nước Hiện tại, có tới 75% người khuyết tật

có khả năng lao động tham gia hoạt động kinh tế, trong đó có tới 42,22% tự tạoviệc làm

1.1.3 Nguyên tắc cơ bản của việc làm đối với người lao động

- Không phân biệt đối xử đối với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm

Trang 30

Cơ sở của nguyên tắc này chính là xuất phát từ vấn đề về quyền conngười Người khuyết tật cũng là con người nên họ cũng có quyền được đối xửbình đẳng và công bằng như những người khác ở mọi lĩnh vực trong đó có lĩnhvực việc làm Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận

cơ thể hay chức năng nên có được việc làm đối với họ là vấn đề rất khó khăn.Người sử dụng lao động thường không muốn nhận người lao động là ngườikhuyết tật, bởi họ cho rằng năng suất lao động của người khuyết tật không cao,thấp hơn so với người không khuyết tật Hơn nữa, trong một số trường hợp,người sử dụng lao động còn phải đầu tư cơ sở vật chất cũng như điều kiện laođộng cho người khuyết tật hơn những người lao động không khuyết tật Dó đó,việc phân biệt đối xử đối xử đối với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm làvấn đề khó tránh khỏi trong thực tiễn sử dụng lao động Vì vậy, một trongnhững nguyên tắc cơ bản của chế độ việc làm đối với người khuyết tật là khôngđược phân biệt đối xử với người khuyết tật Nguyên tắc này cũng đã được tổchức lao động quốc tế ILO quy định trong công ước số 111- công ước về phânbiệt đối xử trong việc làm nghề nghiệp

Phân biệt đối xử bao gồm: phân biệt đối xử trực tiếp và phân biệt đối xử

gián tiếp Phân biệt đối xử trực tiếp là khi có sự phân biệt đối xử không công

bằng giữa những người lao động khuyết tật và những người lao động khôngkhuyết tật được quy định trong luật pháp hoặc các thông lệ thực tiễn gây nên sự

khác biệt rõ ràng giữa những người lao động này Phân biệt đối xử gián tiếp là

những quy định hoặc thông lệ thực tiễn có vẻ trung lập nhưng thực tế lại dẫn đếnviệc triệt bỏ hoặc làm phương hại sự bình đẳng về cơ may hoặc đối xử giữanhững người lao động khuyết tật và không khuyết tật Tuy nhiên, những cáchthức đặc biệt nhằm tạo cơ hội bình đẳng và đối xử bình đẳng giữa những ngườilao động khuyết tật với những lao động khác tại nơi làm việc sẽ không bị coi làphân biệt đối xử

Nguyên tắc không phân biệt đối xử đối với người khuyết tật trong lĩnhvực việc làm thể hiện ở việc người khuyết tật và người không khuyết tật đềuđược đối xử bình đẳng về việc làm, cơ hội tìm kiếm việc làm cũng như quá trình

Trang 31

duy trì và đảm bảo việc làm đó Điều đó có nghĩa, không có sự phân biệt đối xửđối với người khuyết tật từ việc tiếp nhận việc làm (tuyển dụng lao động) , đếnquá trình sử dụng lao động và bảo đảm việc làm Ông Suporntum cho rằng tước

đi quyền tiếp cận việc làm của người khuyết tật là phi nhân đạo Khuyết tậtkhông chỉ là sự khiếm khuyết về thể chất và tâm sinh lý mà còn do thái độ của

xã hội, sự phân biệt đối xử và gạt bỏ tạo một môi trường làm xói mòn thêmnhững khuyết tật này

- Hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật trong lĩnh vựcviệc làm

Người khuyết tật là một trong những đối tượng lao động đặc thù Do đặcđiểm về thể chất nên tìm kiếm việc làm, duy trì việc làm cũng như đảm bảo việclàm đối với họ thường khó khăn hơn so với những lao động khác Hơn nữa trongquá trình thực hiện công việc họ cần có những điều kiện sử dụng lao động riêngcho phù hợp với sức khỏe Tuy nhiên, người khuyết tật có quyền được hưởngviệc làm bền vững và cũng có thể làm việc năng suất như những người khác khi

có điều kiện lao động phù hợp Chính vì vậy cần phải có sự hỗ trợ, điều chỉnhhợp lý cho người khuyết tật để họ có thể tìm kiếm việc làm và có được việc làmbền vững, tức là thực hiện được quyền việc làm của mình Những hỗ trợ đặc biệtnhằm tạo cơ hội bình đẳng và đối xử bình đẳng giữa lao động khuyết tật vớinhững lao động khác tại nơi làm việc sẽ không bị coi là phân biệt đối xử Và đócũng không phải là sự ưu tiên hay ưu đãi mà chỉ là tạo điều kiện để ngườikhuyết tật được bình đẳng ngang bằng với những lao động khác, giúp họ tái hòanhập vào cộng đồng Điều này đặc biệt quan trọng đối với nữ lao động khuyếttật, những người này thường phải đối mặt với những bất lợi, khó khăn lớn hơn

so với người khác vì còn bị phân biệt đối xử thêm về giới tính

Tuy nhiên, sự hỗ trợ, điều chỉnh này không có nghĩa tạo ra gánh nặng chocác đơn vị sử dụng lao động có lao động là người khuyết tật Nhà nước với tưcách, vai trò là chủ thể quyền lực cùng với người sử dụng lao động phải chịutrách nhiệm chính trong việc hỗ trợ, điều chỉnh này và bản thân người khuyết tậtcũng phải có những cố gắng nhất định

Trang 32

1.2 Quy định pháp luật Việt Nam về việc làm đối với người khuyết tật

1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm.

Người khuyết tật nếu tham gia vào quan hệ lao động thì cũng trở thànhchủ thể của quan hệ lao động Vì vậy, cũng như những người lao động khác khi

đã trở thành chủ thể của quan hệ lao động, người khuyết tật cũng sẽ có cácquyền đồng thời cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của người lao động trongquan hệ lao động ở các lĩnh vực như tuyển dụng lao động, giao kết hợp đồng, sửdụng lao động, bảo đảm việc làm… Tuy nhiên, vì người khuyết tật là đối tượnglao động đặc thù nên pháp luật cũng có một số quy định riêng cho phù hợp vớiyếu tố đặc thù của họ

Thực tế cho thấy khi tham gia quan hệ lao động, người khuyết tật đượcgiảm thời gian làm việc, họ chỉ phải làm 7h trong một ngày và 42 h trong mộttuần Đặc biệt để bảo vệ sức khỏe cho người khuyết tật, pháp luật còn quy địnhngười khuyết tật không phải làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặctiếp xúc với các chất độc hại, người khuyết tật bị suy giảm khả năng lao động từ51% trở lên không phải làm thêm giờ, làm việc ban đêm theo danh mục do BộLao động- Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành Tuy nhiên, ngày nay cóquan điểm cho rằng những quy định mang tính chất ưu đãi người khuyết tật đólại chính là rào cản đối với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm Với nhữngquy định mang tính riêng biệt trong việc sử dụng lao động này, người sử dụnglao động sẽ không muốn sử dụng lao động là người khuyết tật do lo sợ năng suấtlàm việc sẽ bị giảm từ đó ảnh hưởng tới lợi ích của họ Bởi vậy, cần phải hướngtới việc đảm bảo điều kiện lao động để không xảy ra những rủi ro sức khỏe cho

cả người khuyết tật và người không khuyết tật thay vì giảm thời gian làm việchay cấm người khuyết tật không được làm một số công việc nào đó

1.2.2 Chế độ hỗ trợ việc làm với người khuyết tật và một số chủ thể có

trách nhiệm trong việc hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật

Trang 33

- Trách nhiệm của một số chủ thể trong lĩnh vực việc làm đối vớingười khuyết tật.

 Trách nhiệm của nhà nước:

Điều 13 BLLĐ có quy định: “ Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội” Người khuyết tật cũng là công

dân, là lực lượng lao động xã hội là bộ phận dân cư cần được quan tâm đặc biệt

nên Nhà nước càng cần phải có trách nhiệm hơn đối với đối tượng này.“Nhà nước bảo hộ quyền làm việc của người tàn tật và khuyến khích việc thu nhân, tạo việc làm cho người tàn tật Hàng năm, Nhà nước dành một khoản ngân sách

để giúp người tàn tật phục hồi sức khỏe, phục hồi chức năng lao động, học nghề

và có chính sách cho vay với lãi xuất thấp để người tàn tật tự tạo việc làm và tự

ổn định đời sống” Cụ thể theo Điều 33 Luật người khuyết tật thì “Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của người khuyết tật” Điều 125 BLLĐ thì có quy định

 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân:

Giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, người khuyết tật nóiriêng không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xãhội Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cá nhân vì vậy cũng có trách nhiệm giảiquyết việc làm cho người lao động trong đó có người khuyết tật Đặc biệt, ngườikhuyết tật lại là đối tượng lao động đặc thù nên các cơ quan, tổ chức, doanhnghiệp cá nhân càng cần phải có sự quan tâm đến đối tượng này nhằm đảm bảocho họ được bình đẳng như những người lao động khác mà không bị phân biệtđối xử Để tránh tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử, tạo ra những rào cản dẫn đến

sự hạn chế cơ hội có việc làm của người khuyết tật, Luật Người khuyết tật quyđịnh các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cá nhân không được từ chối tuyển dụngngười khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêuchuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc củangười khuyết tật Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là

Trang 34

người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điềukiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật đồng thời phải thựchiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động là người khuyếttật Tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn học nghề, tư vấn và giớithiệu việc làm cho người khuyết tật.

Đặc biệt, các doanh nghiệp còn có trách nhiệm nhận tỷ lệ lao động làngười khuyết tật đối với một số nghề và công việc theo quy định của Chính phủ(theo khoản 3 Điều 125 BLLĐ) Theo Điều 14 Nghị định 81/NĐ-CP các doanhnghiệp thuộc các ngành sản xuất điện năng, luyện kim, hoá chất, địa chất, đo đạcbản đồ, dầu khí, khai thác mỏ, khai thác khoáng sản, xây dựng cơ bản, vận tảiphải nhận 2% lao động là người khuyết tật; doanh nghiệp thuộc các ngành khác là3% Tỷ lệ người tàn tật các doanh nghiệp phải tiếp nhận là tỷ số giữa số người tàntật so với tổng số lao động có mặt bình quân tháng của doanh nghiệp

Trường hợp nếu doanh nghiệp không nhận hoặc nhận ít hơn tỷ lệ quy địnhthì phải góp một khoản tiền theo quy định của Chính phủ vào quỹ việc làm đểgóp phần giải quyết việc làm cho người tàn tật Cụ thể theo Nghị định số16/NĐ-CP ngày 23/4/2004 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 81/NĐ-

CP về lao động là người khuyết tật, nếu doanh nghiệp tiếp nhận số lao động làngười khuyết tật vào làm việc thấp hơn tỷ lệ quy định thì hàng tháng phải nộpvào Quỹ việc làm cho người tàn tật một khoản tiền bằng mức tiền lương tốithiểu hiện hành do Nhà nước quy định nhân với số lao động là người tàn tật màdoanh nghiệp cần phải nhận thêm để đủ tỷ lệ quy định

- Chế độ hỗ trợ đối với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm.Người khuyết tật là những người bị khiếm khuyết về thể chất hay tinhthần nên thường bị suy giảm khả năng lao động Các đơn vị sử dụng lao độngthường không muốn nhận người khuyết tật vì sợ rằng năng suất lao động khôngcao Do đó, để khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh nhận người khuyếttật vào làm việc, Nhà nước đã có chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với các cơ sở này

Cụ thể các cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên

là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp

Trang 35

cho người khuyết tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn vớilãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuêđất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục

vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tậtcủa người lao động và quy mô doanh nghiệp ( Điều 30 Luật Người khuyết tật)

Theo quy định của pháp luật, các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ươnglập quỹ việc làm cho người khuyết tật để giúp người khuyết tật phục hồi chứcnăng lao động và tạo việc làm Quỹ này được sử dụng vào các mục đích: cấp hỗtrợ cho các đối tượng là các cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho ngườikhuyết tật để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu, duy trì việc dạy nghề vàphát triển sản xuất; các doanh nghiệp nhận người khuyết tật vào làm việc caohơn tỷ lệ quy định; cho vay với lãi suất đối với các đối tượng như cơ sở sản xuấtkinh doanh dành riêng cho người khuyết tật; cá nhân và nhóm lao động là ngườikhuyết tật; doanh nghiệp nhận số lao động là người khuyết tật vào làm việc caohơn tỷ lệ quy định; các hoạt động phục hồi chức năng lao động cho ngườikhuyết tật (Nghị định 81/NĐ-CP)

Cơ sở dạy nghề và những cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho ngườitàn tật được giúp đỡ cơ sở vật chất ban đầu về nhà xưởng, trường, lớp, trang bị,thiết bị và được miễn thuế, được vay vốn với lãi xuất thấp Theo điều 3 Nghịđịnh 81/NĐ-CP, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người lao động làngười tàn tật phải có đủ điều kiện như:

o Có trên 51% số lao động là người tàn tật;

o Có quy chế hoặc điều lệ phù hợp với đối tượng lao động là người tàn tật

1.3 Đánh giá khung pháp lý về vấn đề đảm bảo cơ hội việc làm cho người khuyết tật

1.3.1 Những tác động tích cực của pháp luật đối với vấn đề việc làm của người khuyết tật

Ngày 17 tháng 6 năm 2010 với 431 phiếu thuận chiếm hơn 80% tổng sốphiếu, Quốc hội Việt Nam đã chính thức thông qua Luật về người khuyết tật đầutiên của Việt Nam Bộ luật với 10 chương và 53 điều có hiệu lực thực thi từ năm

2011 Trước khi luật về người khuyết tật được thông qua, chính phủ Việt Namcũng đã nhìn nhận được tầm quan trọng của cộng đồng người khuyết tật trong

Trang 36

nước Năm 2007, Việt nam đã trở thành thành viên thứ 118 tham gia ký Côngước quốc tế về quyền của người khuyết tật Trước đó, vào năm 1998, Việt Nam

đã có “Pháp lệnh về người khuyết tật” Tuy nhiên pháp lệnh này đã cho thấynhiều bất cập liên quan đến vấn đề thực thi các quyền và nghĩa vụ đối với ngườikhuyết tật Luật Người khuyết tật ra đời đánh dấu bước chuyển mình quan trọngcủa pháp luật Việt Nam về người khuyết tật.Cho thấy sự chú trọng của nhà nướcViệt Nam với cộng đồng người khuyết tật – một bộ phận của xã hội

Hệ thống pháp luật của Việt Nam quy định về người khuyết tật ngoài

“Pháp lệnh người tàn tật”, một số văn bản pháp luật liên quan trực tiếp hay giántiếp đến ngươi khuyết tật như Luật dạy nghề, Luật người khuyết tật 2010 thì BộLuật lao động 2005 và mới đây nhất là Bộ Luật lao động được sửa đổi bổ sung

2012 cũng thể hiện rõ ý chí của nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp, đảm bảo việc làm cho người khuyết tật Bộ Luật lao động 2005 hay BộLuật lao động được sửa đổi bổ sung 2012 đều có những khoản mục riêng quyđịnh về việc làm cho người khuyết tật Nhìn chung Luật lao động sửa đổi và bổsung 2012 (mục 4 chương XI) được bổ sung quy định rõ ràng và hợp lý hơn sovới Luật lao động năm 2005 Kế thừa và rút kinh nghiệm từ các văn bản quyphạm pháp luật trước đây về việc làm người khuyết tật, Luật Người khuyết tật

2010 hay Bộ luật lao động lao động 2012 phần quy định về Dạy nghề và việclàm cho người khuyết tật có nhiều điều khoản quy định có lợi hơn rất nhiều chongười khuyết tật cũng như người sử dụng lao động là người khuyết tật

Tổng thể pháp luật giải quyết việc làm cho người khuyết tật được xâydựng nhằm loại bỏ những bất công mà người khuyết tật đang phải gánh chịu,xóa bỏ các cơ chế khiến người khuyết tật bị tách biệt ra ngoài xã hội, đồng thờităng cường cơ hội việc làm bình đẳng cho họ trong thị trường lao động Nộidung pháp luật giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật bao gồm một

số quy định cơ bản liên quan trực tiếp đến việc làm cho người khuyết tật nhưdạy và học nghề cho người khuyết tật, quy định về các chính sách hỗ trợ ưu đãiviệc làm Trong nghiên cứu này nhóm xin tập trung các ưu điểm chủ yếu ở hai

Ngày đăng: 25/04/2020, 17:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật Người Khuyết Tật 2010 (số 51/2010/QH12) 2. Luật Lao động 1994, 2012 (số 10/2012/QH13) Khác
5. Văn bản, báo cáo liên quan đến người khuyết tật của Bộ lao động thương binh và xã hội Khác
6. Sách báo tạp chí liên quan đến người khuyết tật: - Tạp chí Người khuyết tật số 1-10 / 2014 – 2015 Khác
9. Báo cáo nghiên cứu về người khuyết tật năm 2011 của Viện nghiên cứu phát triển xã hội thực hiện với sự hỗ trợ về tài chính của AusAid ( Cơ quan phát triển quốc tế Úc) Khác
10. Báo cáo tổng kết số liệu dân số và nhà ở năm 2009 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w