1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về xử lý vi phạm đối với các tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng

85 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 828,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yêu cầu hiện nay là cần có những đánh giá tổng quan về thực trạng xử lý vi phạm đối với các tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng ở các địa phương, những kết quả đạt được, tồn tại,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

-& -

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI CÁC

TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

VŨ ĐÌNH CƯỜNG

Hà Nội - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

-& -

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI CÁC

TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của chính tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Tôi đã làm hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Viện đại học mở Hà Nội

Vậy Tôi viết lời Cam đoan này đề nghị Viện đại học mở xem xétt để tôi

có thể bảo vệ luận văn./

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Đình Cường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và tiến hành nghiên cứu luận văn này tôi

đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các cá nhân và tập thể Tôi xin có lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này Trước hết tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Phạm Thị Giang Thu người đã tận tình hướng dẫn và giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hành thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu Viện đại học mở, trường Đại học luật Hà Nội, Ban chủ nhiệm Khoa sau Đại học-Viện đại học mở, các thầy

cô giáo đã trực tiếp tham gia giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, các cá nhân đã tạo điều kiện cho tôi trong công việc thu thập tài liệu và thông tin phục vụ cho đề tài./

VŨ ĐÌNH CƯỜNG

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 7

1.1 Khái quát về tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng 7

1.1.1 Khái quát về tổ chức tín dụng 7

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hoạt động ngân hàng 9

1.2 Tổng quan về pháp luật xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng 16

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng 16

1.2.2 Nội dung pháp luật về xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM 29

2.1 Cơ sở và nguyên tắc đánh giá thực trạng pháp luật xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng 29

2.1.1 Cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng 29

2.1.2 Nguyên tắc xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng 33

2.2 Thực trạng pháp luật xử lý vi phạm của tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng 34

2.2.1 Pháp luật xử lý vi phạm hình sự trong hoạt động ngân hàng 34

2.2.2 Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động ngân hàng 52

Trang 6

2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm trong hoạt

động ngân hàng trong thời gian tới 60

2.3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 60

2.3.2 Một số giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả pháp luật 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TMDV: Thương mại dịch vụ

OceanBannk: Ngân hàng Đại Dương

VNCB: Ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng Việt Nam TCTD: Tổ chức tín dụng

NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

REE: Công ty cổ phần cơ điện lạnh

TNHH MTV: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

HĐQT: Hội đồng quản trị

VDB: Ngân hàng phát triển Việt Nam

WTO: Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Muốn mở rộng phát triển bất kỳ ngành kinh tế nào cũng cần có vốn Để đáp ứng được nhu cầu về vốn cho tất cả các ngành, các khu vực kinh tế, đặc biệt ở những địa phương có nhiều khó khăn, nhà nước cần có những chính sách tín dụng hiệu quả thông qua ngân hàng

Hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển Kinh tế - Xã hội, là nơi cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế Trong thời gian vừa qua, sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam có

sự đóng góp quan trọng của hệ thống ngân hàng thương mại, nhưng sự bất ổn của nền kinh tế nước ta nếu có xảy ra thì cũng sẽ bắt nguồn từ chính hoạt động yếu kém của các ngân hàng, bởi phần lớn nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác là vay vốn từ ngân hàng

Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cộng với những yếu tố nội tại của nền kinh tế nước ta đang gặp nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh bị đình trệ, hàng chục nghìn doanh nghiệp bị phá sản, thị trường bất động sản đóng băng dẫn đến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro Trong bối cảnh đó, tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng càng gia tăng, tính chất phức tạp với những phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Nhiều vụ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng gây thiệt hại không chỉ về kinh tế mà còn làm mất ổn định kinh tế vĩ mô, gây khó khăn, rối loạn trong công tác điều hành của Nhà nước, trong đó có các hành vi vi phạm trong hoạt động ngân hàng

Hiện nay, các ngành kinh doanh nói chung và ngành ngân hàng nói riêng đang bước vào một giai đoạn cạnh tranh gay gắt Dự báo trong thời gian tới, cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước thì tình hình vi pham pháp luật

Trang 9

trong lĩnh vực kinh tế nói chung và vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng nói riêng sẽ tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp và khó lường, nhiều thủ đoạn, hành vi vi phạm tinh vi hơn sẽ diễn ra Trong bối cảnh đó đã và đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng hiện nay

Yêu cầu hiện nay là cần có những đánh giá tổng quan về thực trạng xử

lý vi phạm đối với các tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng ở các địa phương, những kết quả đạt được, tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân từ đó có những kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng

Vì những lý do đó mà tôi chọn đề tài “Pháp luật về xử lý vi phạm đối với các tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng”

- Tác giả Nguyễn Ngọc Lương (2017) làm luận án tiến sĩ luật học với

đề tài “Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

ở Việt Nam” do PGS TS Phạm Thị Giang Thu và TS Nguyễn Văn Tuyến là người hướng dẫn Trong luận án, tác giả cũng đề cập đến các vi phạm trong hoạt động cấp tín dụng và thực trạng xử lý vi phạm theo pháp luật hiện hành

Trang 10

- Tác giả Vũ Thị Huyền Trang (2015) làm luận văn thạc sĩ luật học với

đề tài “Pháp luật về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại từ các

tổ chức tín dụng và Ngân hàng Nhà nước - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” do PGS TS Phạm Thị Giang Thu hướng dẫn Tác giả nghiên cứu sâu

về thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn (một trong những hoạt động ngân hàng) và có phân tích về những vi phạm và hướng xử lý trong quá trình huy động vốn của tổ chức tín dụng

- Tác giả Nguyễn Mai Anh (2016) làm luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Pháp luật về kiểm soát an toàn đối với hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam” do PGS TS Phạm Thị Giang Thu hướng dẫn Nội dung đề tài phân tích về thực trạng pháp luật về kiểm soát an toàn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại, trong đó có đánh giá về những

vi phạm pháp luật trong quá trình cấp tín dụng có thể làm mất an toàn đối với ngân hàng

- Tác giả Phạm Quang Huy (2015) làm đề tài “Pháp luật về nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông” do TS Nguyễn Văn Tuyến hướng dẫn Đề tài tập trung phân tích thực trạng pháp luật, nguyên nhân và xác định trách nhiệm của các chủ thể có liên quan đến việc tạo ra nợ xấu tại tổ chức tín dụng

- Tác giả Kim Thị Huyền (2008) làm luận văn thạc sĩ luật học với đề tài

“Vấn đề bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng và quyền tự do kinh doanh của các tổ chức tín dụng” do TS Phạm Thị Giang Thu hướng dẫn Đề tài phân tích các quy định đảm bảo an toàn theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997

- Tác giả Phạm Thị Thương (2013) làm luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam” do TS Nguyễn Văn Tuyến hướng dẫn Luận văn tập

Trang 11

trung đánh giá việc thực hiện xử lý nợ xấu trong khuôn khổ pháp luật hiện hành và cũng đề cập một phần đến trách nhiệm của các chủ thể vi phạm pháp luật ngân hàng

Ngoài các luận văn, luận án nêu trên thì cũng có một số sách chuyên khảo nghiên cứu liên quan đến đề tài, cụ thể:

- Sách chuyên khảo “Hiệu quả và rủi ro trong hoạt động ngân hàng - Nghiên cứu tình huống các ngân hàng thương mại Việt Nam” do GS,TS Nguyễn Thị Cành chủ biên, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 Cuốn sách phân tích hoạt động ngân hàng dưới khía cạnh kinh tế, nhưng cũng gắn với các quy định pháp luật hiện hành về quản lý rủi ro ngân hàng

- Sách chuyên khảo “Pháp luật về hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động thẩm định cho vay của ngân hàng thương mại” của tác giả Lê Thị Ngân

Hà, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 Tác giả đề cập đến các quy định và thực trạng phòng ngừa và xử lý rủi ro cũng nhưng các vi phạm của tổ chức tín dụng trong quá trình quản trị rủi ro

Điểm qua tình hình nghiên cứu trên đây, có thể khẳng định, đề tài Pháp luật về xử lý vi phạm đối với các tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng

mặc dù cũng đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến ở những mức độ khác nhau, nhưng bối cảnh thực tiễn hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện nên đề tài vẫn còn có tính mới, tính thời sự và khoa học

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

Luận văn trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn để tìm ra những bất cập, hạn chế của pháp luật xử lý vi phạm đối với các tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ngân hàng và pháp luật liên quan để điều chỉnh hoạt động ngân hàng được hiệu quả và an toàn

Từ mục đích trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:

Trang 12

Một là, phân tích những vấn đề lý luận lý luận về vi phạm pháp luật và

xử lý vi phạm pháp luật của tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân

Hai là, đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm của tổ chức tín

dụng trong hoạt động ngân hàng

Ba là, đề xuất kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật xử lý vi

phạm trong hoạt động ngân hàng

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Luận văn có đối tượng nghiên cứu là hệ thống các quy định pháp luật

về xử lý vi phạm đối với các tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng cũng như thực tiễn áp dụng đối với các tổ chức tín dụng vi phạm hiện nay

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm pháp luật của tổ chức tín dụng từ năm 2010 cho đến nay Luận văn không nghiên cứu các quy định pháp luật xử lý vi phạm đối với tổ chức tín dụng nhưng không phải xuất phát từ hoạt động ngân hàng

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin

về luật học, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, luận văn cũng áp dụng nhiều phương pháp truyền thống trong nghiên cứu luật như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê và so sánh luật học

6 Ý nghĩa khoa học của luận văn:

- Luận văn xây dựng nội dung lý luận cơ bản về vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng và pháp luật về xử lý vi phạm đối với tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng

- Luận văn đã phân tích, bình luận quy định xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động ngân hàng như nhận diện hành vi vi phạm, chủ thể vi phạm, hình thức xử lý, thẩm quyền xử lý đối với hành vi vi phạm hoạt động ngân hàng; đưa ra nhận xét về ưu điểm, hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi pháp luật

Trang 13

về xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng hiện nay, tìm ra nguyên nhân dẫn đến hạn chế, bất cập đó

- Trên cơ sở những hạn chế, bất cập đã được luận giải, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả, chất lượng của việc xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng ở nước ta hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu kết luận, danh mục tài liệu, tham khảo, phần nội dung gồm 2 chương:

Chương 1: Những Vấn đề lý luận lý luận về vi phạm pháp luật và xử

lý vi phạm pháp luật của tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân

Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm của tổ chức tín dụng

trong hoạt động ngân hàng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT

VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA TỔ CHỨC TÍN

DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

1.1 Khái quát về tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng

1.1.1 Khái quát về tổ chức tín dụng

Theo Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010, khái niệm “tổ chức tín dụng” được quy định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo

quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân

hàng” Điểm đặc trưng của TCTD theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010 là

“hoạt động ngân hàng” - hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán

Từ khái niệm trên có thể nhận thấy các đặc điểm nổi bật của TCTD so với các tổ chức khác đó là:

Thứ nhất: đối tượng kinh doanh của các TCTD là tiền tệ - vật mang giá Đối với các chủ thể mua bán thông thường, tiền tệ là phương tiện thanh toán dùng trong các hoạt động mua bán, trao đổi Còn đối với các TCTD, tiền tệ còn có thêm chức năng là đối tượng kinh doanh Một đối tượng kinh doanh tiền ẩn nhiều rủi ro Bởi lẽ, các hàng hoá thông thường, bản thân nó đã kết tinh giá trị và sức lao động của người tạo ra nó, bởi vậy, giá cả của nó là do

nó quyết định Còn đối với tiền tệ, một phương tiện thanh toán, bản thân nó không tự quy định được giá trị của nó, bởi vậy, người kinh doanh nó cũng không thể quyết định được và ấn định giá cả Sự lên xuống của đồng tiền phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như: chính sách của nhà nước, tình hình kinh tế - xã hội…

Trang 15

Thứ hai, hoạt động thường xuyên của TCTD đó là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán; mà vẫn được đề cập đến một cách ngắn gọn là “đi vay để cho vay” Không phải tất cả các chủ thể kinh doanh đều có đủ vốn để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh Và cũng không phải lúc nào các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cũng được huy động để đầu tư kịp thời Từ những hạn chế đó, họ đã trở thành khách hàng của các TCTD Do đó, với tư cách là những định chế tài chính trung gian, các TCTD kinh doanh bằng cách luân chuyển nguồn vốn từ những đối tượng có nguồn vốn nhàn rỗi chuyển đến những đối tượng có nhu cầu sử dụng vốn tại một thời điểm nhất định

Thứ ba, hoạt động của các TCTD có tính nhạy cảm cao và luôn chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật Kinh doanh ngân hàng dựa trên niềm tin, vì vậy tính nhạy cảm trong kinh doanh rất cao Chỉ cần một biến động nhỏ cũng

có thể gây tác động đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng (một thay đổi nhỏ về lãi suất cũng có thể dẫn đến sự dịch chuyển khách hàng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác)

Nếu các TCTD hoạt động tốt, sẽ góp phần tiết kiệm các nguồn lực, giảm thiểu chi phí cho xã hội, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững Ngược lại, khi TCTD phá sản sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các khách hàng gửi tiền và sự phá sản của TCTD luôn có hiệu ứng dây chuyền, lây lan rất lớn và tác động xấu đến đời sống kinh tế, cho nên hoạt động kinh doanh ngân hàng phải được giám sát chặt chẽ, thường xuyên bằng pháp luật Những quy chế giám sát phổ biến là: quy định về an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, quy chế về phân phối tín dụng, quy chế về bảo vệ nhà đầu tư, quy chế về thành lập và cấp giấy phép kinh doanh cho các TCTD Thứ tư, kinh doanh ngân hàng gắn liền với yếu tố rủi ro Rủi ro có thể xảy ra đối với bất kỳ loại hình kinh doanh nào Tuy nhiên, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có những đặc điểm khác biệt với các lĩnh vực kinh doanh

Trang 16

khác về mức độ và nguyên nhân Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có tính lan truyền và để lại hậu quả to lớn, không chỉ bao gồm rủi ro nội tại của ngành

mà còn của tất cả các ngành khác trong nền kinh tế, không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác Những rủi ro thường gặp là: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh toán, rủi ro hối đoái, rủi ro trong quá trình hội nhập

Với các phân tích trên có thể nhận thấy TCTD là một chủ thể kinh doanh đặc thù Chúng có thể được nhận dạng dựa theo nhiều tiêu chí:

Nếu theo các lĩnh vực hoạt động, thì có thể chia thành tổ chức tín dụng là ngân hàng – được kinh doanh tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động có liên quan, và tổ chức tín dụng phi ngân hàng – được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán

Nếu theo hình thức sở hữu, có thể chia thành tổ chức tín dụng nhà nước,

tổ chức tín dụng tư nhân và tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài…

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hoạt động ngân hàng

Lịch sử phát triển nền sản xuất hàng hóa, từ sản xuất hàng hóa giản đơn

tới kinh tế thị trường với công nghệ hiện đại như ngày nay đều gắn với việc

mở rộng quan hệ thương mại giữa các khu vực, giữa các quốc gia.Việc mua, bán, trao đổi hàng hóa giữa các khu vực, giữa các quốc gia sử dụng đồng tiền khác nhau làm nảy sinh nhu cầu đổi tiền Để đáp ứng nhu cầu đổi tiền của các thương nhân, xã hội xuất hiện những người làm nghề đổi tiền Cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, nghề đổi tiền và các dịch vụ kinh doanh tiền tệ cũng phát triển trở thành một nghề kinh doanh và được gọi là nghề ngân hàng

Ngày nay, để đáp ứng sự phát triển đa dạng của nền kinh tế ở mỗi quốc gia và tính toàn cầu hóa của kinh tế thế giới, với sự phát triển của khoa học và công nghệ, hoạt động ngân hàng ngày càng mang tính đa dạng và tinh xảo về các

Trang 17

nghiệp vụ kinh doanh Đồng thời, cơ cấu chủ thể hoạt động trong hoạt động ngân hàng cũng đa dạng như: ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng…Tuy vậy, trong các tài liệu nghiên cứu và trong văn bản pháp luật của nhiều nước, khái niệm “hoạt động ngân hàng” thường được dùng chỉ hoạt động kinh doanh ngân hàng

Trong hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật, việc chuẩn hóa khái niệm “hoạt động ngân hàng” có tác dụng lớn trong việc xác định phạm vi áp dụng đạo luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh ngân hàng Chính vì vậy, trong đạo luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh ngân hàng của nhiều nước có điều luật ghi nhận hoạt động nào là hoạt động kinh doanh ngân hàng

Ở nhiều nước, pháp luật không đưa ra định nghĩa tổng quát về hoạt động ngân hàng mà liệt kê các hoạt động được coi là hoạt động ngân hàng Chẳng hạn, Luật các tổ chức tài chính và ngân hàng Malaysia năm 1989 [53, tr.8] liệt

kê các dạng hoạt động được coi là hoạt động ngân hàng như: huy động tiền gửi của khách hàng; cấp tín dụng; thực hiện các dịch vụ thanh toán…

Ở Việt Nam, tại Điều 6 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam và tại điều

4 Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 giải thích khái niệm hoạt động ngân hàng như sau: Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây:

- Nhận tiền gửi;

- Cấp tín dụng;

- Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận

Trang 18

Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác

Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng

Trong đó hoạt động cấp tín dụng là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất Bao gồm các nghiệp vụ:

+ Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

+ Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

+ Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thảo thuận

+ Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán

+ Cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại (NHTM) được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính thực hiện

Trang 19

theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính

Như vậy, hoạt động ngân hàng là loại hình hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế có đối tượng kinh doanh là tiền tệ Đây là dấu hiệu quan trọng để phân biệt hoạt động kinh doanh ngân hàng với các hoạt động kinh doanh khác

trong nền kinh tế

Hoạt động ngân hàng có những đặc điểm sau [46, tr.14-19]

Thứ nhất, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, gắn

liền với hệ thống tài chính - tiền tệ quốc gia Quá trình hình thành, phát triển cùng với những quy định của pháp luật đã tạo nên đặc điểm riêng của tổ chức tín dụng, họ là chủ thể thực hiện thường xuyên nhận và kinh doanh tiền gửi thông qua những sản phẩm kinh doanh cơ bản là nhận tiền gửi từ cá nhân và

tổ chức, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán… đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng Điều này còn được thể hiện qua cơ cấu vốn đặc thù cũng như cơ cấu thu nhập - chi phí của mỗi tổ chức tín dụng Ngoài ra, hoạt động của tổ chức tín dụng còn gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hoạt động thanh toán ở mỗi quốc gia, giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng, thực hiện chính sách tiền tệ trong từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia

Thứ hai, hoạt động của ngân hàng là một lĩnh vực kinh tế tổng hợp, liên

quan đến hầu hết các ngành kinh tế quốc dân, ảnh hưởng đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội của một nước Về cơ bản, tổ chức tín dụng nhận tiền gửi từ các cá nhân và các tổ chức rồi dùng số vốn đó để cho vay nhằm thu lợi nhuận Bằng các hoạt động dịch vụ chuyển tiền và thanh toán, ngân hàng cung cấp các phương tiện thanh vốn cho cả nền kinh tế Với việc cung cấp các dịch vụ khác, hoạt động ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu đa dạng, phức tạp của nền kinh tế và đời sống xã hội Các hoạt động đó vừa phản ánh tính đặc thù của ngân hàng, vừa phản ánh bản chất xã hội của ngân hàng Mặt khác, trong khi

Trang 20

thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại còn góp phần thực hiện việc cung ứng và điều tiết khối lượng tiền tệ cho nền kinh tế, điều tiết việc lưu thông tiền tệ, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa Mối quan hệ giữa ngân hàng với nền kinh tế và thể chế chính trị xã hội thể hiện mối quan hệ tương hổ và tác động ở cả hai chiều thuận nghịch Những chính sách, thể chế tích cực sẽ tác động đến sự phát triển, thay đổi tích cực của ngân hàng và ngược lại Đồng thời, các biến động của ngân hàng đến lượt nó sẽ tác động cả hai phương diện tích cực và tiêu cực đến thể chế chính trị, đời sống kinh tế của một đất nước

Thứ ba, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện,

tiềm ẩn nhiều rủi ro và chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước NHTM chỉ được phép thực hiện hoạt động khi nhận được giấy phép thành lập từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền Để nhận được giấy phép thành lập này, NHTM phải đáp ứng các điều kiện chặt chẽ và ở mức khá cao so với nhiều ngành khác liên quan đến vốn điều lệ (đạt yêu cầu vốn pháp định), trụ sở làm việc, bộ máy và nhân sự quản lý, kế họach chiến lược kinh doanh…) Bên cạnh đó, hầu hết các hoạt động kinh doanh cụ thể của NHTM như ngoại hối, thanh toán quốc

tế, phát hành công cụ nợ, mở rộng mạng lưới… đều phải được chấp nhận từ

cơ quan quản lý sau khi đáp ứng các điều kiện về năng lực kinh doanh Tham gia kinh doanh tiền tệ với tầm ảnh hưởng rộng khắp, bên cạnh những rủi ro thông thường trong kinh doanh, tổ chức tín dụng còn phải ứng phó với nhiều rủi ro đặc thù, phức tạp trong kinh doanh nhất so với các doanh nghiệp khác, bao gồm:

Rủi ro lãi suất là sự chênh lệch giữa lãi suất huy động đầu vào và lãi suất đầu ra do biến động của thị trường và chênh lệch giữa các kỳ hạn huy động và kỳ hạn đầu tư, cho vay ra thị trường Nếu không có sự quan tâm thích đáng đến việc quản lý rủi ro lãi suất, không dự đoán được xu hướng biến động của lãi suất thì các tổ chức tín dụng có thể bị thiệt hại nặng nề từ loại rủi ro

Trang 21

này, thậm chí rơi vào tình trạng thua lỗ dẫn đến phá sản

Rủi ro tín dụng xuất phát từ các hoạt động tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất do khách hàng không thực hiện và thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình theo cam kết trong hợp đồng với tổ chức tín dụng (cho vay, bảo lãnh, các hình thức cấp tín dụng khác) làm giảm hay mất giá trị của tài sản có

Thanh toán là một mấu chốt quan trọng trong công tác cân đối và điều hòa vốn, là yếu tố sống còn trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng Rủi ro thanh khoản là khả năng tổ chức tín dụng không thể đáp ứng nhu cầu rút tiền thường xuyên hoặc đột xuất của người gửi cũng như các nghĩa vụ chi trả tài chính khác

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, tổ chức tín dụng mà chủ yếu là ngân hàng thương mại thực hiện các nghiệp vụ tài chính được hạch toán ngoại bảng, các nghiệp vụ này (chủ yếu là nghiệp vụ bảo lãnh tài chính và giao dịch thư tín dụng) cũng tạo ra những rủi ro tín dụng cho ngân hàng thương mại ngoài các rủi ro tín dụng đã được ghi nhận trong nội bảng

Thứ tư, hoạt động ngân hàng mang tính chất của hoạt động dịch vụ

Giống như các dịch vụ khác, dịch vụ ngân hàng do tổ chức tín dụng cung cấp

có đặc điểm riêng khác biệt với sản phẩm hàng hóa thông thường đó là tính trừu tượng - vô hình, quá trình sản xuất - tiêu dùng diễn ra đồng thời

Bên cạnh đó, dịch vụ ngân hàng gắn liền với ba yếu tố :

Một là yếu tố con người: yếu tố con người phản ánh vai trò quan trọng của những cá nhân trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ ngân hàng Khách hàng thường cảm thấy rất khó khăn khi cố gắng hiểu chi tiết về dịch vụ ngân hàng Vì vậy, thực tế cho thấy những quyết định sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của khách hàng chịu ảnh hưởng rất lớn vào sự tin tưởng tổ chức tín dụng với đối tượng đánh giá trực tiếp là đội ngũ các nhân viên phụ trách quan hệ với khách hàng

Hai là yếu tố quy trình cung cấp: được hiểu là sự tập trung vào các cơ

Trang 22

chế phân phối dịch vụ thông qua các chính sách kinh doanh, các thủ tục… xuất phát từ dịch vụ do nhiều yếu tố tạo thành nên đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ hơn về chất lượng; tính không tách biệt (sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời) của dịch vụ đòi hỏi quá trình cung cấp dịch vụ cần thiết phải linh hoạt nhất định để có thể thỏa mãn những nhu cầu tiềm năng; tính vô hình của dịch

vụ làm tăng vai trò của khách hàng trong việc đánh giá dịch vụ trước khi mua

Ba là yếu tố điều kiện thực hiện hữu hình hóa các dịch vụ gồm: nhóm các điều kiện ngoại vi, không có giá trị độc lập (như các sổ séc, sổ tiết kiệm, thẻ tín dụng…) và nhóm các điều kiện thiết yếu, có giá trị độc lập (mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch…)

Thứ năm, hoạt động ngân hàng liên quan đến nhiều đối tượng, có ảnh

hưởng với quy mô và phạm vi rộng lớn Nếu nhìn nhận tổ chức tín dụng như một doanh nghiệp tham gia kinh doanh trên thị trường thì có thể nói đây là các tổ chức có quy mô vốn tự có, giá trị tài sản, doanh số hoạt động, mạng lưới chi nhánh, đội ngũ nhân viên…lớn và rộng khắp trên phạm vi quốc gia, thậm chí nhiều quốc gia

Thứ sáu, hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính “nhạy cảm” cao,

rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý xã hội và có tác động lây truyền Là trung gian tài chính, ngân hàng đứng giữa người gửi tiền (người cho mình huy động vốn) và người đi vay (người sử dụng vốn) Chính vì thế, trong mối quan

hệ tay ba này, giữa ngân hàng thương mại với người gửi tiền và người đi vay đều phải dựa vào lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau là yếu tố bao trùm hàng đầu trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần thiết cho quan hệ tín dụng phát sinh Lòng tin trong quan hệ tín dụng được hình thành nên và được củng cố từ nhiều phía Trong mối quan hệ với tổ chức tín dụng thì lòng tin của khách hàng là số tiền gửi của họ được ngân hàng quản lý một cách tốt nhất bao gồm

cả việc tiền gửi được cất giữ một cách an toàn nhất, được đầu tư một cách hiệu quả nhất và nhanh chóng được rút ra khi cần thiết Trong quan hệ tín

Trang 23

dụng, lòng tin của ngân hàng (người cho vay) đối với khách hàng (người đi vay) quan trọng hơn rất nhiều vì ngân hàng cho họ vay vốn với cam kết hoàn trả của họ.Trong mối quan hệ này, ngân hàng phải duy trì niềm tin cho mình

và người gửi tiền và do vậy, phải cân nhắc kỹ lưỡng năng lực, uy tín của người đi vay Nếu không, ngân hàng sẽ không thu hồi được vốn để hoàn trả cho người gửi tiền và do vậy, cũng sẽ đánh mất luôn lòng tin đối với dân chúng Tình trạng tài chính của một ngân hàng phụ thuộc vào niềm tin của khách hàng gửi tiền, vào giá trị của ngân hàng đó

1.2 Tổng quan về pháp luật xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng

Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Từ đó có thể định nghĩa: Vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng là những hành vi trái pháp luật, có lỗi do cá nhân hoặc tổ chức có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, vi phạm các quy định trong hoạt động ngân hàng được pháp luật bảo vệ

Vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng khác với vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực khác ở chỗ hành vi phải xâm phạm các quy định của hoạt động ngân hàng, nếu không xâm phạm các quy định của hoạt động ngân hàng thì thuộc về hành vi vi phạm lĩnh vực pháp luật khác

Những dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng được thể hiện như sau:

Thứ nhất, là hành vi do con người thực hiện Vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng trước hết phải là hành vi của con người hoặc tổ chức (các chủ thể pháp luật) vi phạm các quy định trong hoạt động ngân hàng Đây

là dấu hiệu không thể thiếu vì không có hành vi của con người thì không xác

Trang 24

định được vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng

Thứ hai, tính trái pháp luật Vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng không những là hành vi nguy hiểm cho xã hội của các chủ thể pháp luật

mà hành vi đó còn phải trái với pháp luật trong hoạt động ngân hàng Hành vi trái pháp luật trong hoạt động ngân hàng được thực hiện không đúng với những quy định của pháp luật trong hoạt động ngân hàng như không làm những việc mà pháp luật yêu cầu, làm những việc mà pháp luật cấm hoặc tiến hành hoạt động vượt quá giới hạn, phạm vi cho phép của pháp luật trong hoạt động ngân hàng

Thứ ba, có lỗi của chủ thể Mỗi hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng đều được hình thành trên cơ sở nhận thức và kiểm soát của chủ thể vi phạm, nghĩa là chủ thể nhận thức và điều khiển được hành vi của mình Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể vi phạm đối với hành vi trái pháp luật trong hoạt động ngân hàng của mình Chỉ những hành vi nào có lỗi (được chủ thể thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý) mới có thể bị coi

là vi phạm pháp luật

Thứ tư, chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật trong hoạt động ngân hàng phải có năng lực trách nhiệm pháp lý Năng lực pháp lý là khả năng chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể đối với hành vi của mình Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể vi phạm trong hoạt động ngân hàng do Nhà nước quy định trong pháp luật Năng lực trách nhiệm pháp lý của mỗi cá nhân thường được xác định dựa vào hai yếu tố là độ tuổi và khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của chủ thể ở thời điểm hành vi được thực hiện

+ Vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng có những đặc điểm sau

Trang 25

dụng và nền kinh tế

Nhóm hành vi vi phạm đến tính chính xác của tài liệu, giấy tờ để chiếm đoạt tài sản ngân hàng mà hành vi phổ biến là ký hợp đồng tiền gửi giả mạo, tạo dựng hồ sơ dự án; giả mạo hợp đồng mua bán hàng hóa để thế chấp vay ngân hàng, chiếm đoạt tài sản

Hành vi xâm phạm sở hữu như trộm, cướp tài sản tại các cây ATM Hành vi sử dụng công nghệ cao như thông qua mạng Internet xâm nhập vào các tài khoản trong ngân hàng để chiếm đoạt tiền trong tài khoản

Hành vi làm giả thẻ ngân hàng để rút tiền qua hệ thống ngân hàng

Hành vi rửa tiền qua hệ thống ngân hàng

Vi phạm quy định về quản lý và sử dụng giấy phép; vi phạm quy định về

tổ chức, quản trị, điều hành; vi phạm quy định về cổ phần, cổ phiếu; vi phạm quy định về huy động vốn và phí cung ứng dịch vụ; vi phạm quy định về cấp tín dụng, nhận ủy thác, ủy thác và hoạt động liên ngân hàng…

Thứ hai, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm trong hoạt động ngân hàng

gồm hai nhóm đối tượng trong và ngoài ngành ngân hàng, trong đó nhóm đối tượng là cán bộ ngân hàng có vai trò chủ chốt thực hiện hành vi vi phạm Nhóm đối tượng là cán bộ ngân hàng lợi dụng vị trí công tác, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi vi phạm, thông thường nhóm đối tượng này thực hiện các hành vi phổ biến như lợi dụng chức

vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi tham nhũng; lợi dụng vị trí công tác, uy tín của tổ chức ngân hàng để thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền của các ngân hàng, tổ chức và cá nhân; cán bộ ngân hàng bị lôi kéo, mua chuộc, tiếp tay cho tội phạm thể hiện ở hành vi như đưa, nhận lối lộ; cán bộ ngân hàng thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng…

Nhóm đối tượng vi phạm ngoài ngành ngân hàng với các hành vi phổ biến như: hành vi lừa đảo với các thủ đoạn như tạo dựng hồ sơ dự án để thế chấp vay vốn ngân hàng; mua chuộc cán bộ nhà nước, cán bộ ngân hàng tiếp

Trang 26

tay cho hành vi lừa đảo, vì nếu không có sự tiếp tay của cán bộ ngân hàng thì khó xảy ra các hành vi lừa đảo chiếm đoạt được tài sản của ngân hàng

Thứ ba, đối tượng tác động chủ yếu của hành vi vi phạm trong hoạt

động ngân hàng thường là tiền, vàng hoặc các loại giấy tờ có giá khác

Thứ tư, vi phạm trong hoạt động ngân hàng sử dụng công nghệ cao

ngày càng gia tăng về số vụ với phương thức, thủ đoạn tinh vi, phức tạp Trong thời gian qua, hành vi vi phạm sử dụng công nghệ cao trong hoạt động ngân hàng diễn ra với một số thủ đoạn như sau: trộm cắp thông tin cá nhân và thông tin thẻ trên hóa đơn cà thẻ; Skimming lấy thông tin từ máy ATM; sử dụng phần mềm gián điệp; truy cập bất hợp pháp vào webssite, cơ sở dữ liệu

để trộm cắp dữ liệu…

Thứ năm, thiệt hại về tài sản do hành vi vi phạm trong hoạt động ngân

hàng gây ra thường lớn, có những vụ án lên đến hàng nghìn tỷ đồng Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm tham nhũng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Phòng giao dịch Điện Biên Phủ và Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam chi nhánh Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh gây thiệt hại 4.600 tỷ đồng1 Vụ án Vũ Quốc Hảo cùng đồng phạm lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, xảy ra tại Công ty cho thuê tài chính II, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, gây thiệt hại 4.700 tỷ đồng2

Từ những phân tích về vi phạm pháp luật ngân hàng nêu trên, có thể nhận thấy việc xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng là việc cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm các quy định

1 Xem Kết luận của cơ quan điểu tra số 12/C46-P10 ngày 3.12.2012

2 Xem: Nguyên tổng giám đốc ALCII lãnh thêm án tử hình,

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/nguyen-tong-giam-doc-alcii-lanh-them-an-tu-hinh-20151127135053078rf20160728154043087.chn, truy cập ngày 3.10.2017

Trang 27

trong hoạt động ngân hàng Như vậy, chỉ có những cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới có quyền xử phạt các hành vi vi phạm trong hoạt động ngân hàng

Xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng thường phức tạp, khó khăn Như khi xử lý các tội phạm trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng liên quan đến Điều 178 và 179 Bộ luật Hình sự, cơ quan tố tụng gặp khó khăn trong việc xác định các tình tiết định tội, định khung như “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng” và “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” Từ sau khi Bộ luật hình sự được ban hành, sửa đổi, bổ sung cho đến nay, các tình tiết này vẫn chưa có văn bản hướng dẫn Trong thực tế, các cơ quan tố tụng đã áp dụng Thông tư liên ngành số 02/2001/TTLT-TANDTCVKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự năm 1999, hướng dẫn các tình tiết định khung của các tội trong các tội xâm phạm sở hữu để áp dụng cho các tình tiết ở Điều 178 và 179 Bộ luật Hình sự Tuy nhiên, việc vận dụng như trên không phù hợp vì hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng của các tội phạm trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng không chỉ là thiệt hại về tài sản, tiền mà còn có cả những hậu quả khác về mặt kinh tế, xã hội Ngoài ra, trong quá trình xử lý các hành vi làm giả và sử dụng thẻ ngân hàng giả để chiếm đoạt tiền của các ngân hàng, cơ quan tiến hành tố tụng còn lúng túng trong việc định tội danh giữa hai tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 Bộ luật hình sự) hay tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b Bộ luật hình sự) Thứ hai, xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng còn chậm, xử lý thiếu triệt trể, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan của tình trạng này, trong đó phải kể đến một số yếu tố chủ

Trang 28

yếu là: hành vi, thủ đoạn vi phạm tinh vi, diễn biến phức tạp, nhiều đối tượng liên quan, có sự cấu kết, phối hợp chặt chẽ giữa các đối tượng, gây khó khăn cho công tác xử lý của các cơ quan chức năng Bên cạnh đó, công tác giám định thiệt hại trong các vụ án tín dụng, ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiển đặt ra

Thứ ba, việc thu hồi tài sản bị thiệt hại, thất thoát hiệu quả không cao, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho Nhà nước và hệ thống ngân hàng, và sẽ trực tiếp gây thiệt hại cho những người gửi tiền nếu những vi phạm pháp luật này dẫn đến ngân hàng bị phá sản

1.2.2 Nội dung pháp luật về xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng

1.2.2.1 Hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng

a Nhóm hành vi vi phạm trong lĩnh vực huy động vốn bao gồm

- Vi phạm quy định về nhận tiền gửi, thể hiện ở hành vi nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không đúng quy định của pháp luật; nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân khi không được phép nhận tiền gửi

- Vi phạm quy định về phát hành giấy tờ có giá Vi phạm này thể hiện ở các hành vi sau: phát hành giấy tờ có giá không đúng nội dung với văn bản chấp thuận của cấp có thẩm quyền; không thực hiện đúng quy định về đối tượng được mua giấy tờ có giá, điều kiện phát hành giấy tờ có giá, điều kiện chuyển đổi đối với trái phiếu chuyển đổi; phát hành giấy tờ có giá bằng đồng Việt Nam, bằng ngoại tệ để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong hoặc nước ngoài khi chưa được cấp có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản theo quy định của pháp luật

- Vi phạm quy định về lãi suất huy động vốn,với các hành vi sau: không niêm yết công khai lãi suất huy động vốn; niêm yết lãi suất huy động vốn không rõ ràng, gây nhầm lẫn cho khách hàng; áp dụng lãi suất huy động vốn cao hơn mức đã niêm yết

b Nhóm hành vi vi phạm trong lĩnh vực cấp tín dụng

Trang 29

Bao gồm các hành vi sau: cho vay không có bảo đảm trái quy định của pháp luật; cho vay quá giới hạn quy định; hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về cho vay trong hoạt động tín dụng (điều 179 Bộ luật hình sự 1999); cấp tín dụng đối với tổ chức, cá nhân theo quy định không được cấp tín dụng (Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng); cấp tín dụng đối với tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; cấp tín dụng không có bảo đảm; vi phạm quy định về thẩm định tài sản thế chấp vay vốn; vi phạm quy định về ủy thác và nhận ủy thác cho vay; cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho các đối tượng mà theo quy định phải hạn chế cấp tín dụng (Khoản 1 Điều 127 Luật các tổ chức tín dụng); vi phạm giới hạn cấp tín dụng (Điều 127,128 Luật các tổ chức tín dụng); vi phạm về giới hạn và điều kiện cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu của ngân hàng thương mại,chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Khoản 5 Điều 128 Luật các tổ chức tín dụng); vay vốn thông qua khách hàng vay; ký hợp đồng cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật; cấp tín dụng không có hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng văn bản; ép khách hàng sử dụng tiền vay gửi lại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; lập hợp đồng cấp tín dụng không đủ các nội dung, miễn giảm lãi suất tín dụng, cơ cấu thời hạn trã

nợ, áp dụng lãi suất cấp tín dụng không đúng quy định của pháp luật; không kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay và trã nợ của khách hàng theo quy định của pháp luật; lưu giữ hồ sơ cấp tín dụng không đúng quy định của pháp luật…

c Nhóm hành vi vi phạm trong lĩnh vực cung ứng các dịch vụ thanh toán

- Vi phạm quy định về hoạt động thanh toán,với các hành vi: không thực

đúng quy định của pháp luật về thời gian trong thanh toán, chuyển tiền; sửa chữa, tẩy xóa không đúng quy định trên các phương tiện thanh toán, chứng từ thanh toán; cung cấp, tiết lộ thông tin liên quan đến tiền gửi của chủ tài khoản tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không đúng quy định của pháp luật; cung cấp thông tin không

Trang 30

trung thực trong quá trình cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán; không tuân thủ quy định của pháp luật về sử dụng và ủy quyền sử dụng tài khoản thanh toán; ký duyệt lệnh thanh toán không đúng thẩm quyền hoặc sử dụng chữ ký điện tử của người khác; mở, sử dụng tài khoản thanh toán không đúng quy định của pháp luật; làm giả chứng từ để chuyển tiền, rút tiền khi sử dụng dịch vụ thanh toán; vi phạm quy định thanh toán bằng tiền mặt; phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không phù hợp; che giấu, thanh toán đối với những khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp…

- Vi phạm quy định về hoạt động thẻ, với các hành vi: xâm nhập hoặc tìm cách xâm nhập, đánh cắp dữ liệu, phá loại, làm thay đổi trái phép chương trình phần mềm, cơ sở dữ liệu điện tử sử dụng trong thanh toán; lợi dụng lỗi

hệ thống mạng máy tính để trục lợi; mở hoặc duy trì tài khoản thanh toán nặc danh, mạo danh; lấy cắp, thông đồng để lấy cắp thông tin thẻ, mua bán, tiết lộ,

sử dụng trái phép thông tin thẻ ngân hàng của người khác, làm thẻ giả, thực hiện các giao dịch giả mạo; phát hành thẻ, thanh toán thẻ không đúng quy định pháp luật; không đảm bảo yêu cầu theo quy định của pháp luật đối với máy giao dịch tự động; không đảm bảo an toàn, bảo mật hoạt động của máy giao dịch tự động; lắp đặt, thay đổi địa điểm, chất dứt hoạt động của máy giao dịch tự động không đúng quy định của pháp luật; không đảm bảo thời gian phục vụ khách hàng của hệ thống máy giao dịch tự động…

1.2.2.2 Chủ thể vi phạm và chủ thể xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng

- Nhóm chủ thể thực hiện hành vi vi phạm trong hoạt động ngân hàng bao gồm nhóm đối tượng trong ngành ngân hàng và ngoài ngành ngân hàng + Nhóm đối tượng trong ngành ngân hàng như tổ chức ngân hàng và cán

bộ, nhân viên ngân hàng Tổ chức ngân hàng bao gồm các ngân hàng thương mại; ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác; quỹ tín dụng nhân dân; công

ty tài chính; công ty cho thuê tài chính…Cán bộ, nhân viên ngân hàng là những người làm việc trong ngành ngân hàng, gồm những người có chức vụ

Trang 31

quyền hạn và những người không có chức vụ quyền hạn Người có chức vụ quyền hạn như: Chủ tịch, Phó chủ tịch hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc các ngân hàng thương mại, các chi nhánh, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng tín dụng, Phòng Thẩm định hồ sơ và tài sản đảm bảo, Phòng giao dịch…Người không có chức vụ quyền hạn như giao dịch viên, cán bộ tín dụng, những người làm công tác kiểm tra, thẩm định hồ sơ vay…

+ Đối tượng ngoài ngành ngân hàng bao gồm tổ chức và cá nhân Tổ chức ở đây là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, các tổ chức xã hội Cá nhân là những người có chức vụ trong các công ty, doanh nghiệp như Giám đốc, Kế toán trưởng và những người có chức vụ khác trong doanh nghiệp

Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm trong hoạt động ngân hàng thông thường đều có sự móc nối, cấu kết, thông đồng giữa các đối tượng trong ngành ngân hàng và đối tượng ngoài ngành ngân hàng Nếu không có sự móc nối, thông đồng với nhau thì khó có thể thực hiện hành vi vi phạm.Vì hoạt động ngân hàng được quản lý rất chặt chẽ bởi các quy định của Ngân hàng nhà nước

Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm trong hoạt ngân hàng là cá nhân thì cá nhân đó phải đủ năng lực trách nhiệm pháp lý theo quy định, là tổ chức khi tổ chức đó được thành lập hợp pháp, hoạt động theo quy định của pháp luật

- Nhóm chủ thể xử lý hành vi vi phạm trong hoạt động ngân hàng bao gồm cơ quan tư pháp và cơ quan quản lý nhà nước

Cơ quan tư pháp là Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền giải quyết các vụ án hình sự và vụ án dân sự trong lĩnh vực ngân hàng

Cơ quan quản lý nhà nước là Ngân hàng nhà nước gồm những người sau: thanh tra viên ngân hàng đang thi hành công vụ, Chánh thanh tra, giám sát Ngân hàng nhà nước, Cục trưởng Cục thanh tra giám sát ngân hàng,

Trang 32

Chánh thanh tra giám sát ngân hàng, trưởng đoàn thanh tra do Thống đốc ngân hàng Nhà nước, Chánh thanh tra giám sát ngân hàng ra quyết định

1.2.2.3 Chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng

Hình thức xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng bao gồm: hình sự, hành chính, dân sự và kỷ luật

Chế tài hình sự trong hoạt động ngân hàng thì bị xử lý theo quy định của

Bộ luật Hình sự Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ Luật hình sự và do Tòa án quyết định

Hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung

Hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình Trong đó hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất

Hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền khi không áp dụng hình phạt chính; trục xuất khi không áp dụng hình phạt chính

Đối với mỗi tội phạm trong hoạt động ngân hàng, người phạm tội chỉ áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung Điều đáng lưu ý là khi đã áp dụng chế tài hình sự thì không áp dụng đồng thời chế tài hành chính

Chế tài hành chính trong hoạt động ngân hàng được quy định tại Điều 3

Nghị định 96/2014/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, bao gồm hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung

Hình thức xử phạt chính: cảnh cáo; phạt tiền

Hình thức xử phạt bổ sung: tước quyền sử dụng giấy phép, giấy chứng

Trang 33

nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp về một hoặc một số hoạt động, dịch vụ ngân hàng và một số hoạt động kinh doanh khác thuộc lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng hoặc đình chỉ có thời hạn đối với một hoặc một số hoạt động ngân hàng

và một số hoạt động kinh doanh khác được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép có vi phạm quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

Chế tài dân sự để xử lý các vi phạm pháp luật ngân hàng là chế tài bồi

thường thiệt hại Khi tổ chức tín dụng, người lãnh đạo của tổ chức tín dụng trong điều hành khi thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến thiệt hại thì phải bồi thường, nếu người bị thiệt hại có yêu cầu Chế tài dân sự được áp dụng độc lập với chế tài hình sự hoặc chế tài hành chính Về cơ bản, chế tài dân sự sẽ áp dụng trong 2 trường hợp:

Một là, tổ chức tín dụng vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân,

tổ chức khác (người gửi tiền, người đi vay, người được bảo lãnh, v.v ) thì phải bồi thường thiệt hại cho các chủ thể đó

Hai là, những người có thẩm quyền đại diện cho tổ chức tín dụng trong điều hành gây thiệt hại cho tổ chức tín dụng thì phải bồi thường cho tổ chức tín dụng theo quy định của Luật Doanh nghiệp

Để thực hiện chế tài bồi thường, cần có những điều kiện sau:

- Thứ nhất, người bị thiệt hại phải có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại

- Thứ hai, tổ chức tín dụng/người có thẩm quyền của tổ chức tín dụng phải có lỗi trong việc để xảy ra thiệt hại

- Thứ ba, có thiệt hại và thiệt hại này phải có nguyên nhân từ hành vi có lỗi của tổ chức tín dụng/người có thẩm quyền của tổ chức tín dụng

Chế tài kỷ luật là chế tài thực hiện theo quy định của pháp luật lao động Theo đó, chủ thể là cá nhân vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng có thể bị áp dụng một trong các chế tài như: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, chuyển công việc khác hoặc buộc thôi việc Chế tài này cũng độc lập các chế

Trang 34

tài đã phân tích ở trên

1.2.2.4 Thẩm quyền xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng

- Đối với vi phạm hình sự trong hoạt động ngân hàng, Tòa án nhân dân các cấp là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định áp dụng chế tài hình sự Việc

áp dụng chế tài hình sự phải thông qua xét xử tại Tòa án nhân dân theo thủ tục

tố tụng do luật định

- Đối với vi phạm hành chính trong hoạt động ngân hàng thì những người sau đây có thẩm quyền xử phạt: thanh tra viên ngân hàng đang thi hành công vụ, Chánh thanh tra, giám sát Ngân hàng nhà nước, Cục trưởng Cục thanh tra, giám sát ngân hàng, Chánh thanh tra, giám sát ngân hàng, Trưởng đoàn thanh tra do Thống đốc ngân hàng Nhà nước, Chánh thanh tra, giám sát ngân hàng ra quyết định [12]

- Đối với vi phạm dân sự, việc áp dụng chế tài dân sự sẽ theo thỏa thuận của các bên trong giao dịch hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng hoặc theo quyết định của Tòa án Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, Tòa án nhân dân cũng có thể áp dụng đồng thời cả chế tài hình sự và chế tài dân sự

- Đối với vi phạm kỉ luật, tổ chức tín dụng sẽ áp dụng chế tài đối với cá nhân người lao động vi phạm theo quy định của Bộ luật Lao động

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, là nơi cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế Trong thời gian vừa qua, sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam có

sự đóng góp quan trọng của hệ thống ngân hàng thương mại, nhưng sự bất ổn của nền kinh tế nước ta nếu có xảy ra thì cũng sẽ bắt nguồn từ chính hoạt động yếu kém của các ngân hàng, bởi phần lớn nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác là vốn vay từ ngân hàng Mặt khác, trong thời gian gần đây tình hình vi phạm, tội phạm kinh tế xảy ra trong hoạt động ngân hàng rất phức tạp, gia tăng về số vụ và mức độ thiệt hại, với phương thức, thủ đoạn hoạt động tinh vi, gây thiệt hại nghiêm trọng cho các tổ chức tín dụng và ảnh hưởng đến sự ổn định của kinh tế vĩ mô

Qua kết quả nghiên cứu chương 1 của luận văn đã trình bày khái quát một số vấn đề cơ bản sau:

- Đề cập khái quát chung về tổ chức tín dụng, trong đó làm rõ khái niệm,

đặc điểm hoạt động ngân hàng; tổng quan về xử lý vi phạm pháp luật trong

hoạt động ngân hàng, khái niệm, đặc điểm của vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động Ngân hàng

- Trên cơ sở nghiên cứu nội dung pháp luật hiện nay về xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng bao gồm hành vi vi phạm, chủ thể vi phạm, hình

thức xử lý vi phạm và thẩm quyền xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng

để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý vi

phạm trong hoạt động ngân hàng ở chương 2

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI

2.1.1.1 Tình hình hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng

Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng đã huy động và cung cấp một lượng vốn khá lớn cho nền kinh tế, ước tính hàng năm chiếm khoảng 16-18% GDP, gần 50% vốn đầu tư toàn xã hội Tăng trưởng tín dụng liên tục tăng trong các năm, các dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng Ngoài các loại hình nhận gửi với mức lãi suất linh động nhằm tạo ra nhiều gói dịch vụ tiền gửi phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng, các phương thức thanh toán cũng ngày càng trở nên đa dạng: séc, nhờ thu, tín dụng chứng từ, chuyển tiền, chuyển tiền qua thẻ ATM…,việc cấp tín dụng cũng trở nên dễ dàng với các gói vay hấp dẫn kích thích nhu cầu sử dụng vốn cũng như đáp ứng nhu cầu vốn của nhiều chủ thể kinh doanh khác nhau Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã và đang tích cực chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nâng dần vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế, điều này tạo ra cơ hội để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong nước, đồng thời cũng đặt ra không ít những thách thức cần phải vượt qua

Tuy nhiên, sau 6 tháng triển khai qua kiểm tra các món vay hổ trợ lãi suất tại 272 chi nhánh của 52 Ngân hàng thương mại Ngân hàng Nhà nước

Trang 37

phát hiện 3.923 món vay vi phạm tương đương 8.334 tỷ đồng, trong đó chủ yếu vi phạm thủ tục hồ sơ nghiệp vụ ngân hàng và cho vay trùng lặp Đã phát hiện sai phạm và kiến nghị thu hồi 355,69 tỷ đồng chủ yếu là cho vay sai đối tượng, sử dụng vốn không đúng mục đích

Theo quy định tại Điều 34, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại quy định: Một cổ đông cá nhân sở hữu tối đa 10% vốn điều lệ của một ngân hàng (Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định là 5%).Thời gian qua một số nhóm cổ đông lớn ở ngân hàng thương mại cổ phần có biểu hiện thao túng, điều hành ngân hàng phục vụ riêng cho nhóm cổ đông của mình Vốn của một số ngân hàng thương mại cổ phần “ngoắc” vào nhau dẫn đến một ngân hàng gặp khó khăn thì các ngân hàng liên quan gặp khó khăn theo… ngân hàng cổ phần nào cũng hình thành nhóm cổ đông sở hữu 60 – 70 % vốn điều lệ Chính họ điều hành hoạt động của ngân hàng, ban lãnh đạo ngân hàng chỉ là công cụ để họ chỉ đạo Họ lập các doanh nghiệp vệ tinh và chỉ đạo cổ đông vay vốn ngân hàng “của mình” đầu tư vào chứng khoán, bất động sản, nếu không gặp rủi ro thì nhóm cổ đông này thu lợi rất lớn, nhưng gặp rủi ro, thua lỗ hoặc thu hồi không được nợ thì đẩy ngân hàng đến chổ thiếu thanh khoản, thậm chí có nguy cơ đổ vỡ, người dân, cơ quan, tổ chức gửi tiền bị thiệt hại, ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự xã hội, Nhà nước phải gánh chịu hậu quả

Cổ đông lớn của ngân hàng này dùng cổ phiếu thế chấp vay vốn ngân hàng khác để mua cổ phần và trở thành cổ đông lớn của ngân hàng khác…cứ như thế, một cổ đông lớn có thể trở thành cổ đông lớn của nhiều ngân hàng Nếu cộng lại tổng số cổ phần thì cổ đông lớn này có lượng tiền khổng lồ nhưng thực tế họ chỉ có một lượng tiền góp vốn nhất định ban đầu Tình hình này diễn ra khá phổ biến ở các ngân hàng cổ phần Nếu một ngân hàng cổ phần gặp khó khăn hoặc đổ vỡ thì ngân hàng liên quan gặp khó khăn hoặc đổ

Trang 38

vở theo

Tình hình trên cho thấy sự nguy hiểm trong việc thao túng của các nhóm cổ đông lớn trong hoạt động của một số NHTM cổ phần Chính vì vậy, ngày 18/01/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 05/2010/NĐ-CP quy định việc áp dụng Luật phá sản đối với các tổ chức tín dụng, ngày 14/3/2013 Ngân hàng Nhà nước ban thành Thông tư số 07/2013/TT- NHNN quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng Tuy nhiên, tình hình kinh tế xã hội vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn thách thức: kinh

tế vĩ mô chưa vững chắc, sản xuất của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn; thị trường bất động sản, chứng khoán trì trệ…Tình hình trên đã làm phức tạp thêm những nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển vi phạm pháp luật kinh tế, trong đó có vi phạm trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng [19, tr.75-79]Thực tế cho thấy hành vi vi phạm trong hoạt động ngân hàng thường xảy ra ở các ngân hàng thương mại cổ phần với tỷ lệ cao.Vì hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần ở nước ta hiện nay phát triển mạnh, đa dạng với nhiều chi nhánh, phòng giao dịch, số lượng tiền huy động và cho vay lớn, đóng vai trò quan trọng là trung tâm của nền kinh tế Mặt khác hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh giữa các ngân hàng thương mại cổ phần vì mục đích lợi nhuận diễn ra gay gắt Do đó ngân hàng thương mại cổ phần là nơi dễ xảy ra vi phạm trong hoạt động ngân hàng hơn các tổ chức tín dụng khác

2.1.1.2.Tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng

Trong những năm gần đây, tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng diễn biến rất phức tạp và ngày càng có chiều hướng gia tăng Số vụ phạm tội được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử hằng năm tăng đáng kể; tính chất, thủ đoạn vi phạm ngày càng tinh vi, nhiều vụ các đối tượng đã lợi dụng công nghệ cao để thực hiện hành vi vi phạm; tài sản thiệt hại ngày càng lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế và đời sống xã hội

Trang 39

Đặc biệt là tại hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần và một số tổ chức tín dụng đã xảy ra nhiệm vụ, việc vi phạm, tham nhũng rất nghiêm trọng do cán bộ ngân hàng và những người ngoài ngành ngân hàng gây ra

Theo số liệu của Cơ quan điều tra trên toàn quốc, dù chỉ chiếm 0,22% trong tổng số các vụ phạm tội nhưng mức độ thiệt hại của các vụ án trong lĩnh vực Tín dụng - Ngân hàng lại chiếm tới 60% Điều này không chỉ gây thiệt hại trực tiếp tới lợi nhuận của ngành Ngân hàng mà còn gây ra nhiều hậu quả kinh tế rất nghiêm trọng Mặc dù Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp ngăn chặn, xử lý nhưng loại hình tội phạm này vẫn diễn biến phức tạp và ngày càng tinh vi hơn

2.1.1.3.Nguyên nhân vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng

Nguyên nhân vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng có rất nhiều nguyên nhân nhưng tập trung vào các nguyên nhân chính sau đây:

Thứ nhất, kinh doanh tiền tệ, ngân hàng là lĩnh vực nhạy cảm, hấp dẫn

đối với các loại tội phạm, cám dỗ với một bộ phận cán bộ ngân hàng thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn tham ô, tham nhũng, biển thủ công

quỹ, vi phạm pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng cho tổ chức tín dụng

Thứ hai, do thời kỳ trước năm 2011, các tổ chức tín dụng chạy theo

mục tiêu lợi nhuận, tăng trưởng nóng, đầu tư lớn vào các lĩnh vực rủi ro như bất động sản, đầu tư tài chính, vi phạm các tiêu chuẩn, điều kiện cấp tín dụng

và các quy định an toàn hoạt động ngân hàng

Thứ ba, hoạt động ngân hàng phát triển nhanh, đa dạng và phức

tạp trong bối cảnh hội nhập quốc tế và hiện đại hóa công nghệ, tình hình tham nhũng và tội phạm ngày càng tinh vi, phức tạp trong khi đó công tác quản lý nhà nước về vấn đề này còn nhiều hạn chế, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, còn chồng chéo, chưa có chế tài đủ ma ̣nh để xử lý nghiêm minh đối với

các hành vi vi pha ̣m pháp luâ ̣t Còn nhiều mâu thuẫn giữa các văn bản luật hiện hành, tạo nhiều kẽ hở để những hành vi vi phạm xảy ra Công tác thanh

Trang 40

tra, giám sát còn nhiều bất cập, hạn chế

Thứ tư, một bộ phận cán bộ ngân hàng suy thoái về đạo đức nghề

nghiệp và vi phạm quy định của pháp luật, thậm chí câu kết với các đối tượng bên ngoài để phạm tội Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, quản lý cán bộ

có nơi có lúc còn làm chưa tốt dẫn đến sai phạm Tại một số đơn vị ngân hàng, cán bộ lãnh đạo chưa thực sự quan tâm và triển khai quyết liệt những biện pháp phòng, chống tham nhũng, tội phạm một cách có hiệu quả

Thứ năm, hệ thống quản trị, kiểm soát, kiểm toán nội bộ của một số tổ

chức tín dụng còn yếu, dẫn đến sơ hở trong quản lý, điều hành, chưa phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời, chậm hoặc không phát hiện được các hành vi vi phạm, tiêu cực, tham nhũng Một số tổ chức tín dụng hoạt động thiếu công khai, minh bạch hoặc bị thao túng, chi phối bởi các cổ đông lớn, đặc biệt là trong việc cho vay, đầu tư tài chính phục vụ cho các công ty con của cổ đông lớn hoặc đáp ứng cho lợi ích riêng của cổ đông lớn và người có liên quan Các khoản cho vay, đầu tư đối với cổ đông lớn và người có liên quan thường rất lớn (vượt giới hạn an toàn) và rủi ro cao cho tổ chức tín dụng Những sai phạm xảy ra ở một số tổ chức tín dụng còn do hội đồng quản trị, hội đồng thành viên, lãnh đạo của tổ chức tín dụng buông lỏng quản lý, các chính sách, quy định quản lý, kiểm soát nội bộ, các quy trình, thủ tục nghiệp vụ ngân hàng có nhiều bất cập, sơ hở, đặc biệt là trong các hoạt động cấp tín dụng, thẩm định cho vay, đầu tư tài chính, thanh toán, chuyển tiền

2.1.2 Nguyên tắc xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng

Nhằm đảm bảo việc xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng được nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả để bảo vệ lợi ích chính đáng cho các chủ thể

có liên quan, người gửi tiền và Nhà nước thì cần tôn trọng các nguyên tắc cơ bản sau đây:

Một là, mọi hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu

Ngày đăng: 25/04/2020, 14:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Bộ Công an: Báo cáo kết quả điều tra vụ án Huỳnh Thị Huyền Như, số 514/C46-P10 ngày 12-9-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra vụ án Huỳnh Thị Huyền Như
9. Bộ Công an: Báo cáo kết quả điều tra vụ án Nguyễn Đức Kiên, số 05/C46-P10 ngày 01-8-2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra vụ án Nguyễn Đức Kiên
10. Bộ Công an (2012), Tội phạm trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2012
18. Hồ Diệu (2001), Giáo trình tín dụng ngân hàng, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tín dụng ngân hàng
Tác giả: Hồ Diệu
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
19. Phạm Tiến Dũng (2013), Phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại theo chức năng của lực lượng cảnh sát kinh tế, Luận án Tiến sĩ, Học viện CSND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại theo chức năng của lực lượng cảnh sát kinh tế
Tác giả: Phạm Tiến Dũng
Năm: 2013
20. Đảng cộng sản Việt Nam (2011) Văn kiện hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa XI, Lưu hành nội bộ,Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa XI
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật
21. PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan (2010), Giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
22. Phan Ngọc Hà (2014), Một số biện pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn chi nhánh Đà Nẵng, Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 11/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn chi nhánh Đà Nẵng
Tác giả: Phan Ngọc Hà
Năm: 2014
23. GS.TS.Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên) (2012), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: GS.TS.Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2012
26. PGS.TS.Nguyễn Minh Kiều (2006), Nghiệp vụ Ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ Ngân hàng
Tác giả: PGS.TS.Nguyễn Minh Kiều
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2006
27. PGS.TS.Nguyễn Minh Kiều (2012), Tiền tệ và hoạt động ngân hàng, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Tác giả: PGS.TS.Nguyễn Minh Kiều
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2012
28. Nguyễn Ngọc Lương, Phạm Thị Giang Thu (2014), Quản trị rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại, Tạp chí Dân chủ và Pháp Luật. Bộ Tư Pháp, Số 7/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lương, Phạm Thị Giang Thu
Năm: 2014
29. Đinh Thị Thùy Nga (năm 2010), Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
39. Lê Đình Nghị (2009), Giáo trình Luật Dân sự, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Dân sự
Tác giả: Lê Đình Nghị
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
40. Nguyễn San Miên Nhuận – Nguyễn Xuân Trường (2013), Phòng, chống tội phạm trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam hiện nay,Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng, chống tội phạm trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn San Miên Nhuận – Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – sự thật
Năm: 2013
41. TS.Nguyễn Duy Phương ( 2013), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Phần 1, Nxb Đại học Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
42. ThS.Đỗ Thị Minh Phượng (2012), Đấu tranh phòng chống tội phạm trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam hiện nay, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Khoa Luật, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh phòng chống tội phạm trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: ThS.Đỗ Thị Minh Phượng
Năm: 2012
45. Thanh tra Chính phủ ( 2011), Giới thiệu chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật
47. Phạm Thị Giang Thu - Nguyễn Ngọc Lương, bài viết, Hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa rủi ro tín dụng của các tổ chức tín dụng, Tạp chí Dân chủ và Pháp Luật Bộ Tư Pháp, Số 7/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa rủi ro tín dụng của các tổ chức tín dụng
50. Hoàng Thanh Thúy (năm 2010), pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm tiền vay tại ngân hàng thương mại Việt Nam, luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm tiền vay tại ngân hàng thương mại Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w