1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật thương mại điện tử ở việt nam

79 124 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mạng Internet, mọi cách biệt về không gian và thời gian đều được phá bỏ, chỉ cần ngồi một chỗ vẫn có thể trao đổi, thực hiện các giao dịch với nhau, đáp ứng được yêu cầu về tính nhan

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Ở VIỆT NAM

PHẠM ĐÌNH NGHĨA

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

thông tin, s ố liệu trong luận văn là trung thực Các luận điểm được kế thừa được trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luân văn chưa từng được

công b ố trong công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Phạm Đình Nghĩa

Trang 4

Mặc dù tôi đã cố gắng để hoàn thiện luận văn này, nhưng do bản thân còn hạn chế nhiều về vốn kiến thức, không tránh khỏi những sai sót Kính mong Quý thầy cô hướng dẫn và góp ý để tôi tiếp tục sửa chữa, thay đổi, bổ sung hoàn thiện tốt hơn nữa luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Tác giả luận văn

Phạm Đình Nghĩa

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI

ĐIỆN TỬ VÀ PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 5

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở

2.2.3 Kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh hoặc

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Trang 6

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử 57

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Internet được cho là một trong những phát minh quan trọng nhất của loài người trong thế kỷ XX Sự phát triển mạnh mẽ của Internet với mạng toàn cầu World Wide Web (WWW) đã tạo ra những biến chuyển to lớn trong đời sống của con người, tạo ra sự gắn kết nhiều hơn và bền chặt hơn các mối quan hệ giữa con người với con người từ mọi khu vực, mọi miền văn hoá trên thế giới, xoá đi những cách biệt về cả không gian và thời gian Sự phát triển của Internet thực sự

đã ảnh hưởng và làm biến đổi rất nhiều các hoạt động trên thế giới trong đó có hoạt động thương mại Trước đây, để có thể thực hiện các giao dịch thương mại, người ta phải trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, thoả thuận với nhau, nhưng phương cách truyền thống này bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những cách biệt về địa lý và do vậy ảnh hưởng rất nhiều tới các giá trị thương mại được hình thành

Với mạng Internet, mọi cách biệt về không gian và thời gian đều được phá

bỏ, chỉ cần ngồi một chỗ vẫn có thể trao đổi, thực hiện các giao dịch với nhau, đáp ứng được yêu cầu về tính nhanh chóng, thuận tiện của thương mại toàn cầu, một cách thức mới trong hoạt động thương mại đã xuất hiện - đó là các giao dịch thương mại thông qua các phương tiện điện tử hay còn gọi là thương mại điện tử Với những ưu thế và những tiện ích to lớn của mình, thương mại điện tử đang dần trở thành một trong những phương thức hoạt động thương mại phổ biến và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới

Tại Việt Nam, cùng với sự xuất hiện của Internet, thương mại điện tử cũng xuất hiện và rất nhanh chóng trở thành một trong những phương thức hoạt động thương mại quan trọng góp phần vào quá trình phát triển của các doanh nghiệp cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và đời sống của mọi người dân nói chung Tuy nhiên, hiện nay không phải doanh nghiệp

và người tiêu dùng nào ở Việt Nam cũng sử dụng thương mại điện tử, hoặc

Trang 8

sử dụng chủ yếu để tham khảo Điều đó là quyền của doanh nghiệp và mọi người dân, tuy nhiên chưa thật sự phù hợp với những đòi hỏi của tiến trình hội nhập

Việc doanh nghiệp, người tiêu dùng chưa sử dụng và sử dụng hạn chế thương mại điện tử, bên cạnh các nguyên nhân về điều kiện kinh tế, công nghệ

kỹ thuật, tập quán, còn có một nguyên nhân rất quan trọng khác, đó là nguyên nhân môi trường pháp lý

Trong quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá thương mại điện tử được coi là một trong các cách thức để mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam tiếp cận nhanh hơn với sự phát triển chung của nền kinh tế toàn cầu Muốn vậy, có được một khung pháp lý hoàn thiện về thương mại điện tử, nhận thức đúng đắn về vai trò

và lợi ích của thương mại điện tử là đòi hỏi cấp thiết trong tiến trình hội nhập ngày nay Trong khuôn khổ của chương trình đào tạo cao học luật, tôi chọn đề tài: “Pháp luật Thương mại điện tử ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ

2 Tình hình nghiên cứu

Với sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử ở Việt Nam, thương mại điện tử là xu thế tất yếu trong sự phát triển thương mại, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền sản xuất, thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Để đưa ra các đề xuất, kiến nghị, giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử thì cần phải nghiên cứu đầy đủ các tri thức lý luận về thương mại điện tử và pháp luật thương mại điện tử Có như vậy mới có cơ sở lý luận vững chắc, sát với thực tiễn để đảm bảo tính thống nhất, minh bạch, khả thi của các ngành luật, văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại của các cá nhân, tổ chức được thực hiện bằng phương tiện điện tử

Trang 9

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này trên phương diện luật học không nhiều, những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra chưa được giải quyết triệt để hoặc chỉ còn mang tính lịch sử trong khi các quan hệ xã hội đa dạng đã thay đổi mạnh mẽ Vì vậy, đề tài cần được tiếp tục nghiên cứu một cách nghiêm túc, thỏa đáng: Cần xây dựng khái niệm về pháp luật thương mại điện tử, chỉ ra các nguyên tắc cơ bản của pháp luật thương mại điện tử, yêu cầu thực hiện pháp luật và những nội dung chủ yếu của pháp luật thương mại điện tử Nghiên cứu cơ chế thực hiện pháp luật và

cơ chế giải quyết tranh chấp trong thương mại điện tử cũng như cơ chế phối hợp giữa các chủ thể quản lý nhà nước trong việc tổ chức thực hiện, thực thi pháp luật thương mại điện tử Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm những vấn

đề lý luận về pháp luật thương mại điện tử Nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực trạng thực thi pháp luật, luận án đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử bảo đảm tính khả thi và mang lại hiệu quả thực hiện pháp luật đối với các quan hệ xã hội phát sinh trong thương mại điện tử

Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tham gia các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) và đã ký Hiệp định TPP

đã đặt ra nhiều thách thức đối với khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước Nên việc nghiên cứu các vấn đề về pháp luật thương mại điện tử không những nhằm đảm bảo tính an toàn, hợp pháp cho các quan hệ thương mại điện tử mà còn giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả

cơ chế thực thi pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ thêm một số vấn đề lý luận chung về thương mại điện tử và pháp luật về thương mại điện tử Đi sâu tìm hiểu và phân tích những vấn đề pháp lý về thương mại điện tử theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Tìm hiểu và

Trang 10

phân tích vai trò của pháp luật về thương mại điện tử trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế

Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam và đề xuất phương hướng và một số kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử đáp ứng được các đòi hỏi của thực tiễn và điều kiện Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là những vấn đề lý luận cùng các quy định pháp luật Việt Nam về thương mại điện tử Nghiên cứu pháp luật Việt Nam, luận văn đồng thời có sự so sánh, đối chiếu với các thông lệ quốc tế chung nhất

về thương mại điện tử, quy định của UNCITRAL và pháp luật của một số quốc gia về thương mại điện tử

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn này sử dụng tổng hợp các biện pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp, đối chiếu, so sánh và phân tích các vấn đề pháp lý Luận văn này có kế thừa và sử dụng một số kết quả nghiên cứu khoa học

đã được công bố trước đó của các tác giả trong và ngoài nước làm cơ sở cho kết luận khoa học

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn này gồm 3 chương:

Ch ương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thương mại điện tử và pháp

luật thương mại điện tử

Ch ương 2: Thực trạng Pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam

Ch ương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1 Khái niệm, đặc điểm thương mại điện tử

1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử

Thương mại điện tử là một phương thức kinh doanh hiệu quả từ khi Internet ra đời và phát triển Chính vì vậy, nhiều người cho rằng thương mại điện

tử là giao dịch thương mại, mua sắm qua Internet và mạng Hiểu theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần bó hẹp trong việc mua bán hàng hóa và dịch

vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là qua Internet và các mạng liên thông khác, nhưng hiểu một cách tổng quát, thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại bằng những phương tiện điện tử Thương mại điện tử mang bản chất như các hoạt động thương mại truyền thống Tuy nhiên, thông qua phương tiện điện tử, các hoạt động thương mại được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, tiết kiệm chi phí và mở rộng không

gian kinh doanh Theo cách hiểu này “Thương mại điện tử không chỉ là bán

hàng trên m ạng hay bán hàng trên Internet mà là hoạt động kinh doanh bằng

các ph ương pháp điện tử Các phương pháp điện tử ở đây không chỉ có Internet

mà g ồm cả sử dụng các phương tiện công nghệ điện tử như điện thoại, máy FAX,

truy ền hình và mạng máy tính Thương mại điện tử cũng bao hàm cả việc trao đổi thông tin kinh doanh thông qua các phương tiện công nghệ điện tử Thông

tin ở đây không chỉ là những số liệu hay văn bản, tin tức mà nó gồm cả hình ảnh,

âm thanh và phim video” 1

1 https://www.uef.edu.vn

Trang 12

Theo Ủy ban Luật Thương mại Quốc tế UNCITRAL của Liên hợp

quốc:“Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các

ph ương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn

b ộ quá trình giao dịch Thuật ngữ thương mại (commerce) cần được diễn giải

theo ngh ĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất

th ương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại

(commercial) bao g ồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ

giao d ịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ, thoả thuận

phân ph ối, đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng (factoring), cho

thuê dài h ạn (leasing), xây dựng các công trình, tư vấn, kỹ thuật công trình

(engineering), đầu tư, cấp vốn, ngân hàng, bảo hiểm, thoả thuận khai thác hoặc

tô nh ượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh,

chuyên ch ở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt

ho ặc đường bộ” 2

Cũng như khái niệm thương mại trong Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại, định nghĩa trên cho thấy khái niệm thương mại điện tử được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế Mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một vài hoạt động trong hàng ngàn lĩnh vực

áp dụng của thương mại điện tử Khái niệm kinh doanh và khái niệm thương mại

ở Việt Nam hiện nay cũng có rất nhiều tương đồng với khái niệm thương mại của UNCITRAL

1.1.2 Đặc điểm của thương mại điện tử

Th ứ nhất, về hình thức, khi thực hiện giao dịch thương mại điện tử các bên không tiếp xúc trực tiếp với nhau, không cần quen biết nhau từ trước Trong hoạt động thương mại truyền thống, thông thường là các bên gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán, giao dịch và đi đến giao kết hợp đồng thông qua văn

Trang 13

bản, giấy tờ… Trong thương mại điện tử, nhờ sử dụng phương tiện điện tử có kết nối mạng viễn thông, giúp con người có thể chuyển đi thông điệp của cá nhân, tổ chức dưới dạng dữ liệu điện tử mà các bên thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi… với nhau mà không cần tiếp xúc trực tiếp cũng như thiết lập mối quan hệ quen biết từ trước Thực tế là các bên đã trao đổi trong môi trường ảo

Th ứ hai, phạm vi hoạt động thương mại điện tử không phụ thuộc vào biên

giới địa lý, văn hóa mà chỉ tồn tại duy nhất một thị trường đó là thị trường toàn cầu Nói cách khác, thương mại điện tử hầu như không có biên giới, không phân biệt quốc gia

Để thực hiện các giao dịch theo thương mại truyền thống, yếu tố biên giới hết sức quan trọng, hoạt động thương mại diễn ra trong phạm vi một khu vực, một quốc gia hay giữa nhiều chủ thể từ nhiều quốc gia khác nhau thông qua hoạt động xuất - nhập khẩu

Đối với thương mại điện tử, thông tin được số hóa và truyền qua mạng với tốc độ cao, do đó bất cứ ai ở bất cứ nơi nào cũng có thể tham gia và tiến hành các hoạt động thương mại với mức chi phí giao dịch được giảm tối đa

Th ứ ba, về chủ thể, trong thương mại truyền thống, một giao dịch phải có

ít nhất hai chủ thể tham gia bao gồm người mua - người bán, nhà đầu tư - người nhận đầu tư… Khác với thương mại truyền thống, thương mại điện tử phải có ít nhất ba chủ thể Ngoài các chủ thể tham gia vào giao dịch, phải có thêm nhà cung cấp dịch vụ mạng và tổ chức chứng thực Để các thông điệp dữ liệu điện tử

có thể truyền đi giữa các bên, phải có một tổ chức cung cấp dịch vụ mạng kết nối các chủ thể tham gia giao dịch với nhau An ninh, bảo mật là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của giao dịch, do đó phải có sự tham gia của tổ chức chứng thực để xác nhận độ tin cậy của các thông tin giao dịch trong thương mại điện tử

Trang 14

Th ứ tư, về thời gian, thời gian giao dịch trong thương mại điện tử không

giới hạn Các bên có thể tiến hành các giao dịch suốt 24 giờ tất cả các ngày liên tục ở bất cứ nơi nào có mạng viễn thông và có các phương tiện điện tử kết nối với các mạng này

Th ứ năm, trong thương mại điện tử, thông tin là yếu tố chính và quan

trọng nhất quyết định thị trường Khác với thương mại truyền thống, các bên tham giao thương mại điện tử không phải gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán, giao dịch và ký kết hợp đồng mà chỉ cần truy cập vào hệ thống thông tin của nhau hay hệ thống thông tin của các giải pháp tìm kiếm thông qua mạng Internet để tìm hiểu thông tin về nhau từ đó tiến hành đàm phán kí kết hợp đồng

Th ứ sáu, thương mại điện tử rất thuận tiện, nhưng có nguy cơ rủi ro cao

Thương mại điện tử thực hiện thông qua phương tiện kỹ thuật có kết nối mạng Internet, mạng di động, mạng viễn thông… do đó tiềm ẩn nhiều rủi ro Các rủi ro thường gặp là:

(i) Rủi ro về dữ liệu Đây là một trong rủi ro thường gặp, các thông tin về

dữ liệu có thể bị làm sai lệch, ví dụ như người nào đó lợi dụng sơ hở của hệ thống mạng để thay đổi địa chỉ nhận đối với chuyển khoản ngân hàng và do vậy chuyển khoản này sẽ được chuyển tới một tài khoản khác của người xâm nhập, hoặc một khách hàng quốc tế đặt hàng và sau đó đơn hàng này bị thay đổi địa chỉ nhận hàng mà người đặt không biết, hàng sẽ được gửi tới địa chỉ mới Các thông tin bí mật, ví dụ thông tin về tài khoản có thể bị đánh cắp và người đánh cắp thông tin tài khoản có thể lấy tiền trong tài khoản

(ii) Rủi ro liên quan đến công nghệ Xét trên góc độ công nghệ thì có ba

bộ phận dễ bị tấn công và tổn thương nhất khi thực hiện giao dịch thương mại điện tử là: (a) Hệ thống của khách hàng; (b) Máy chủ của doanh nghiệp - ISP - nhà cung cấp dịch vụ, người bán, ngân hàng; (c) Đường dẫn thông tin

Trang 15

(iii) Trong thương mại điện tử, gian lận thẻ tín dụng xảy ra khá phổ biến, gian lận thẻ tín dụng xảy ra đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với thương mại truyền thống Trong thương mại truyền thống, việc mất thẻ hoặc thẻ bị đánh cắp

là mối đe doạ lớn nhất đối với khách hàng thì trong thương mại điện tử mối đe doạ lớn nhất ngoài bị “mất” còn bị lộ thông tin thẻ tín dụng hoặc các thông tin giao dịch sử dụng thẻ tín dụng trong quá trình diễn ra giao dịch

Th ứ bảy, các loại hình giao dịch thương mại điện tử là rất phong phú, bao

gồm 5 loại hình:

(i) Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B - business to business) là giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện trên hệ thống ứng dụng thương mại điện tử như mạng giá trị gia tăng; dây chuyền cung ứng hàng hoá, các sàn giao dịch thương mại điện tử… Thương mại điện tử B2B đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, đặc biệt giúp giảm chi phí về thu thập thông tin tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị, đàm phán, tăng các cơ hội kinh doanh

Chính vì có khả năng giảm chi phí khi sử dụng thương mại điện tử, đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư vừa và nhỏ, thương mại điện tử chính là công cụ hữu hiệu, phù hợp giúp cho họ mở rộng thị trường kể cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế

(ii) Giao dịch giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C - business to consumer) là giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng qua các phương tiện điện tử Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử

để lựa chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng Giao dịch B2C tuy chiếm

tỷ trọng ít (khoảng 10%) trong thương mại điện tử nhưng phạm vi ảnh hưởng rất rộng Để tham gia hình thức kinh doanh này, doanh nghiệp sẽ thiết lập website,

Trang 16

hình thành cơ sở dữ liệu về hàng hoá, dịch vụ; tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo, phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng

Thương mại điện tử B2C đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng Doanh nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí bán hàng do không cần phòng trưng bày hay thuê người giới thiệu bán hàng, chi phí quản lý cũng giảm hơn Người tiêu dùng không phải tới cửa hàng, có khả năng lựa chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc…

(iii) Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước (B2G- business

to government) là giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, trong đó

cơ quan nhà nước đóng vai trò khách hàng Quá trình trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước được thực hiện qua các phương tiện điện tử

Cơ quan nhà nước cũng có thể thiết lập những website tại đó đăng tải thông tin

về nhu cầu mua hàng của các cơ quan nhà nước, tiến hành việc đấu thầu hàng hoá, dịch vụ và lựa chọn nhà cung cấp trên website Thông qua các hoạt động

đó, một mặt giúp nhà nước tiết kiệm các chi phí tìm nhà cung cấp phù hợp, đồng thời tăng cường tính minh bạch trong hoạt động mua sắm công, chống tham ô, lãng phí

(iv) Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau (C2C- consumer to consumer) là giao dịch giữa các cá nhân với nhau Sự phát triển của các phương tiện điện tử làm cho các cá nhân có thể tham gia hoạt động thương mại với tư cách là người bán, người cung cấp dịch vụ Một cá nhân có thể tự thiết lập website để kinh doanh những mặt hàng do mình làm ra hoặc sử dụng một website có sẵn để đấu giá một số mặt hàng mình có C2C góp phần tạo nên sự đa dạng của thị trường Giao dịch giữa các cá nhân cũng góp phần cung cấp và chia

sẻ thông tin rộng rãi hơn trên thị trường

(v) Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân (G2C- government to consumer) là giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân, chủ yếu là giao dịch

Trang 17

mang tính hành chính, nhưng có thể mang những yếu tố của thương mại điện tử

Ví dụ đóng thuế qua mạng, trả phí khi đăng ký hồ sơ trực tuyến…

1.2 Pháp luật về thương mại điện tử

1.2.1 Khái niệm pháp luật thương mại điện tử

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, nhất là tin học

và mạng Internet, các loại hình thương mại điện tử ngày càng phong phú đa dạng đem lại nhiều lợi ích cho những người tham gia thương mại điện tử, người mua, người bán, người cung cấp dịch vụ viễn thông

Tuy nhiên, bản thân thương mại điện tử tiềm ẩn nhiều rủi ro mà chủ thể là các cá nhân, tổ chức hoạt động thượng mại thông qua các phương tiện điện tử có kết nối Internet mà phát sinh những quan hệ xã hội Những chủ thể này có thể bị xâm hại bởi các hành vi vi phạm của các đối tượng khác, các sự cố kỹ thuật… có thể gây ra những tổn hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động thương mại điện tử, có thể xâm hại đến lợi ích công, lợi ích chung của cộng đồng

Để bảo đảm an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,

tổ chức tham gia hoạt động thương mại điện tử, Nhà nước phải xây dựng, ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thương mại điện tử Chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử bên cạnh việc tuân thủ các quy định trực tiếp về thương mại điện tử, còn phải thực hiện các quy định pháp luật liên quan khác như đầu tư kinh doanh, thương mại, dân

sự Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử trở nên cần thiết và cấp bách Pháp luật về thương mại điện tử được xem là công cụ pháp

lý bảo vệ, định hướng chủ thể kinh doanh, tạo ra môi trường kinh doanh an toàn thông qua thương mại điện tử

Trong thương mại điện tử, các chủ thể tiếp xúc với nhau trong môi trường

ảo Các giao dịch thương mại truyền thống được phân định rõ ràng về ranh giới

Trang 18

quốc gia, thương mại điện tử được thực hiện trong môi trường hay thị trường phi biên giới Thương mại điện tử không thể thực hiện được nếu không có người thứ

ba là các nhà cung cấp dịch vụ mạng Nếu như trong thương mại truyền thống mạng lưới là phương tiện để trao đổi thông tin thì trong thương mại điện tử, mạng Internet chính là một thị trường Do vậy những vấn đề pháp lý nảy sinh trong môi trường ảo khác biệt so với môi trường truyền thống

Có thể định nghĩa, Pháp luật thương mại điện tử là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể là các cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động thương mại được thực hiện một phần hay toàn bộ quy trình thương mại bằng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hay các mạng mở khác

1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về thương mại điện tử

Th ứ nhất, quá trình hình thành các quy phạm pháp luật thương mại điện tử

ra đời do sự xuất hiện của công nghệ thông tin và mạng Internet trên toàn thế giới Ở Việt Nam cũng tương tự như vậy, vì không thể là ngoại lệ

Khi sử dụng công nghệ thông tin, viễn thông, trong đó có mạng Internet thì việc mua bán hàng hóa thay đổi và ngày càng phát triển nhanh chóng Khi sản phẩm máy tính cá nhân phổ cập, hạ tầng viễn thông phát triển, việc kết nối Internet trở thành nhu cầu tất yếu của mọi cá nhân, gia đình, tổ chức, doanh nghiệp thì hoạt động thương mại có bước ngoặt lớn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa

Sự hình thành các quan hệ thương mại điện tử luôn tiềm ẩn những rủi ro xuất phát từ những đặc thù của phương thức thương mại mới cần sự điều chỉnh bằng pháp luật để ngăn ngừa rủi ro, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ này Trước yêu cầu đó, pháp luật thương mại điện tử

Trang 19

được xây dựng kịp thời và triển khai đồng bộ để điều chỉnh các hoạt động thương mại điện tử

Th ứ hai, đối tượng điều chỉnh của quan hệ pháp luật thương mại điện tử là

một bộ phận đặc thù của quan hệ pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật thương mại truyền thống

Quan hệ pháp luật thương mại điện tử là những quan hệ đặc biệt, được thực hiện một phần hoặc toàn bộ thông qua phương tiện điện tử như điện thoại, điện thoại thông minh, máy tính có kết nối mạng Internet, mạng nội bộ hoặc các mạng mở khác Về bản chất thì thương mại điện tử cũng như thương mại truyền thống, tuy nhiên một phần hay toàn bộ các hành vi thương mại thực hiện bằng phương tiện điện tử và vì vậy pháp luật thương mại điện

tử có một số đặc thù riêng

Th ứ ba, pháp luật thương mại điện tử của các quốc gia cần tiếp cận với

các thông lệ quốc tế chung nhất, từ pháp luật thương mại điện tử quốc tế và có

sự vận dụng để điều chỉnh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh phát triển ở từng quốc gia

Một trong các đặc điểm cơ bản của thương mại điện tử là không biên giới nên khi tham gia vào các tổ chức thương mại khu vực hay toàn cầu hoặc các điều ước quốc tế liên quan thì các quốc gia cũng phải xây dựng pháp luật của mình trong lĩnh vực thương mại điện tử đảm bảo tương thích các thông lệ quốc tế, nguyên tắc chung cơ bản theo luật chơi của các thiết chế đó Nếu không như vậy, thương mại điện tử sẽ mất đi ý nghĩa và rất khó vận hành

Trên thực tế, khi xây dựng pháp luật thương mại điện tử, các quốc gia thường hoàn thiện theo hướng tiệm cận với các thông lệ quốc tế chung để đảm bảo các yếu tố, điều kiện hội nhập của mình cũng như thực hiện các cam kết quốc tế khác mà mình công nhận hoặc tham gia Việc tiếp thu các quy định của luật quốc tế cũng dựa trên đặc điểm của thương mại điện tử là tính chất

Trang 20

phi biên giới của các hoạt động thương mại điện tử Điển hình nhất là hầu hết các quốc gia, trong đó cả Việt Nam đều tham khảo Luật mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL

Th ứ tư, các nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật thương mại điện tử được xây dựng trên cở sở khuyến cáo bởi Luật mẫu của UNCITRAL

Nhằm tạo khung pháp lý chung cho phát triển thương mại điện tử, năm

1996, Uỷ ban Luật Thương mại Quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL) đã soạn thảo Luật mẫu về thương mại điện tử, hình thành những quy định mẫu về thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu Luật mẫu không có giá trị bắt buộc, nhưng được khuyến cáo sử dụng như một tài liệu tham khảo cho các nước trong quá trình xây dựng pháp luật về thương mại điện tử của quốc gia mình Tinh thần của Luật mẫu là bảo đảm những giao dịch thương mại điện tử được thừa nhận giá trị pháp lý và nếu cần thiết thì sẽ có những hành động thích hợp để tăng cường khả năng thi hành cho những giao dịch bằng phương tiện điện

tử Nhiều quốc gia đã thể hiện các nguyên tắc và nội dung của Luật mẫu UNCITRAL vào hệ thống pháp luật quốc gia của mình

Th ứ năm, quan hệ pháp luật thương mại điện tử có sự tham gia của người

thứ ba - chủ thể cung cấp dịch vụ thông tin, kỹ thuật, dịch vụ chứng thực nội dung số, thanh toán trung gian hay các đơn vị cung cấp dịch vụ logictis

Đặc điểm của thương mại điện tử, việc thực hiện các hành vi thương mại điện tử còn có một thành tố quan trọng là bên thứ ba bảo đảm sự vận hành liên tục của mạng Internet, máy chủ lưu trữ dữ liệu, các đơn vị cung cấp các dịch vụ liên quan như đăng ký tên miền, cho thuê đường truyền Đặc điểm này đặt ra yêu cầu điều chỉnh pháp luật phức tạp hơn khi xây dựng các quy phạm pháp luật nội dung cũng như hình thức để xác định hiệu lực pháp luật, xác định những đặc thù khi giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại điện tử, ví dụ như chứng

cứ Đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước liên

Trang 21

quan khi thực thi pháp luật đảm bảo các yêu cầu về quản lý nhà nước theo chức năng nhiệm vụ của các chủ thể này

Th ứ sáu, pháp luật thương mại điện tử quy định chặt chẽ về an ninh, an

toàn trong hoạt động thương mại điện tử Do tiến hành một phần hay toàn bộ quy trình thương mại dựa trên mạng Internet, mạng viễn thông di động hay các mạng

mở bằng thiết bị điện tử nên đảm bảo an toàn hệ thống thông tin, viễn thông, bảo mật thông tin cá nhân là vấn đề được quan tâm đặc biệt khi xây dựng pháp luật thương mại điện tử

Trong thương mại điện tử, các thông tin được chuyển thành thông điệp dữ liệu hoặc thông tin chuyển tải bằng kỹ thuật tương tự (Analog) nên tất cả đều tiềm ẩn các rủi ro như sập hệ thống, trục trặc kỹ thuật, bị mất dữ liệu hoặc bị đánh cắp dữ liệu cho các mục đích khác chính vì vậy để bảo vệ thông tin cá nhân, bảo đảm an toàn thông tin, pháp luật thương mại điện tử phải quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cung cấp dịch vụ viễn thông, thông tin về việc bảo đảm an ninh, an toàn trong thương mại điện tử

1.2.3 Các nội dung chủ yếu của pháp luật thương mại điện tử

Th ứ nhất, đảm bảo an toàn và độ tin cậy cho các giao dịch thương mại

điện tử Người tham gia thương mại điện tử luôn cân nhắc về độ an toàn và tin cậy của các giao dịch trước khi quyết định tham gia Nếu người sử dụng cảm thấy thông tin về giao dịch của họ không được đảm bảo an toàn, có thể bị sửa đổi, có thể bị khám phá trái phép họ sẽ không tham gia thương mại điện tử Do

đó, cần phải có hạ tầng viễn thông an toàn, trên đó có các phương tiện để bảo vệ thông tin, tránh khám phá, sử dụng trái phép

Phải có một hành lang pháp lý đầy đủ phân định rõ ràng trách nhiệm của các chủ thể tham gia thương mại điện tử ở tất cả các công đoạn của giao dịch thương mại, mà tính an toàn, độ tin cậy dễ bị đe doạ như máy trạm, máy chủ, đường truyền… Ngoài ra, người sử dụng cần phải học cách tự bảo vệ mình bằng

Trang 22

nhiều cách, thí dụ như các biện pháp kỹ thuật như chia ổ cứng để đề phòng mất

dữ liệu, việc lưu trữ dữ liệu, mật khẩu…

Một trong những công cụ hữu hiệu đảm bảo an toàn cho các giao dịch trong thương mại điện tử đó là mã hóa thông tin Nó cho phép người sử dụng bảo vệ được thông tin của mình một cách an toàn, đảm bảo nguồn gốc thông tin

và tính toàn vẹn của thông tin Tuy nhiên khi sử dụng mã hoá, có thể xảy ra trường hợp như tội phạm có thể sử dụng chính công cụ này để mã hoá các thông tin, gây khó khăn cho việc điều tra Đồng thời, mã hoá nhiều khi cũng gây khó khăn cho giám đốc doanh nghiệp trong kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh doanh

do rất nhiều người thực hiện

Th ứ hai, bảo đảm tính riêng tư Sự riêng tư là những bí mật cá nhân, thuộc

về cá nhân, được pháp luật bảo vệ Quyền bí mật cá nhân là quyền cơ bản trong một xã hội dân chủ Việc bị nắm giữ dù là nhỏ nhất, một phần thông tin về chính mình thông qua Internet có nghĩa là đã mất đi quyền tự do cơ bản Hơn thế nữa, càng nhiều người biết về những chi tiết của đời sống của một người thì người đó

bị ảnh hưởng, can thiệp hay phán xét càng lớn Việc biết và kiểm soát khả năng tiết lộ thông tin cá nhân, kiểm soát việc truyền gửi và sử dụng thông tin cá nhân

là chìa khóa để bảo vệ tính riêng tư

Thông tin cá nhân được luật pháp tôn trọng và bảo vệ Cá nhân được quyền đảm bảo bí mật các thông tin về đời tư Khi thực hiện các giao dịch trong môi trường Internet, các chủ thể tham gia giao dịch thường được yêu cầu phải khai báo các thông tin cá nhân, ví dụ như số thẻ tín dụng, địa chỉ, ngày tháng năm sinh, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại cá nhân để phục vụ cho mục đích xác nhận, kiểm tra Sở dĩ có điều đó là do các bên tham gia giao dịch không quen biết nhau Các thông tin về đời tư này dễ bị bên thứ ba lấy cắp và sử dụng vào mục đích khác, gây phương hại đến người tham gia giao dịch thương mại điện

Trang 23

tử Do đó, trong thương mại điện tử cần quy định rõ trách nhiệm pháp lý của các bên tham gia giao dịch đối với các thông tin của các chủ thể

Các cá nhân coi thông tin riêng tư là tài sản của cá nhân mình và mọi việc sử dụng mà không có sự đồng ý của họ bị coi là ăn cắp thông tin cá nhân

Vì vậy một số học giả cho rằng các thông tin cá nhân phải được coi là quyền tài sản và được bảo vệ tương ứng Hiện tại việc ăn cắp bí mật cá nhân được pháp luật qui định là một tội phạm Một người xâm hại bí mật cá nhân của người khác có thể bị kiện Nếu một công ty theo dõi khách hàng của mình bằng cách thiết lập chế độ cookies và nếu khách hàng cảm thấy bí mật cá nhân của họ bị xâm phạm, họ có thể kiện công ty đó Vấn đề mâu thuẫn là một cơ chế quá nghiêm khắc về bảo vệ thông tin cá nhân có thể làm cản trở sự phát triển của thương mại điện tử

Cá nhân, tổ chức khi tham gia vào thương mại điện tử phải đảm bảo sự riêng tư Bí mật về hàng hoá mua bán, về thanh toán cả người mua và người bán phải tôn trọng Những nghĩa vụ pháp lý và đạo đức của việc tiết lộ gắn liền với một mối quan hệ đòi hỏi việc mở rộng bí mật thông tin cần phải bị ngăn cản Thương mại điện tử là hình thức kinh doanh qua mạng nên việc bảo vệ sự riêng tư là một vấn đề quan trọng đặt ra cho cả khía cạnh pháp lý và công nghệ Nguy cơ lộ bí mật riêng tư trong thương mại điện tử rất lớn, doanh nghiệp có thể lợi dụng nắm các bí mật riêng tư của khách hàng để lập kế hoạch kinh doanh, có thể bán cho doanh nghiệp khác, hoặc sử dụng vào các mục đích khác Thường có những doanh nghiệp dựa vào thu nhập từ việc bán thông tin cá nhân của khách hàng Gần như mọi công ty hiện nay đều sử dụng các thông tin cá nhân ở một mức độ nào đó Tuy nhiên, một số công ty phụ thuộc vào thu thập thông tin này nhiều hơn công ty khác

Khi quyền riêng tư được thể hiện trên thế giới ảo, biện pháp bảo vệ khác với thế giới thật và vì vậy pháp luật phải bảo vệ thích hợp trong môi trường ảo

Trang 24

Quyền riêng tư được hiến pháp hầu hết các quốc gia bảo hộ, tuy nhiên có tính tương đối Vì vậy, nếu liên quan đến trật tự công, quyền riêng tư có thể bị hạn chế ở mức độ nhất định Điều đó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau

Th ứ ba, đảm bảo nguyên tắc toàn vẹn về thông tin Thông tin cá nhân

không bị thay đổi hoặc hủy đi một cách trái phép Nguyên tắc chất lượng thông tin, thông tin phải chính xác, đúng thời gian, hoàn thiện và liên quan tới mục đích mà nó được cung cấp hoặc sử dụng Nguyên tắc giới hạn thu thập, dữ liệu

cá nhân phải có được bằng phương tiện hợp pháp và trong trường hợp thích hợp với kiến thức và sự thống nhất về đối tượng dữ liệu Nguyên tắc mục đích cụ thể,

dữ liệu cá nhân phải được bảo vệ một cách hợp lý chống lại các nguy cơ giống như mất hoặc việc truy cập trái phép, việc phá hủy, sử dụng, thay đổi hoặc tiết lộ

dữ liệu Nguyên tắc không che đậy, cần có chính sách cởi mở phù hợp với sự phát triển, thực tiễn đồng thời cần có chính sách đối với dữ liệu cá nhân Nguyên tắc trách nhiệm giải trình, người lập và lưu trữ thông tin luôn có trách nhiệm giải trình Người kiểm soát dữ liệu có trách nhiệm tạo sự phù hợp với những biện pháp dựa trên các nguyên tắc được nêu

Th ứ tư, pháp luật về thương mại về điện tử phải bảo vệ người tiêu dùng

Thương mại điện tử áp dụng công nghệ hiện đại, mang lại nhiều tiện ích cũng như giá trị kinh tế Tuy nhiên, trong thương mại điện tử, người mua lẫn người bán không cần gặp nhau hay biết nhau, hàng hóa cũng không xem được trực tiếp mà chỉ trong môi trường ảo nên dễ xảy ra các rủi ro và người bị thiệt thường là người tiêu dùng Với kinh doanh điện tử, người mua thường phải trả tiền trước cho các sản phẩm, dịch vụ mà họ mua qua mạng, song lại chưa biết được chất lượng sản phẩm và việc giao hàng có diễn ra đúng như người bán đã cam kết không

Vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn khi hai chủ thể ở hai quốc gia khác nhau, chịu các luật điều chỉnh khác nhau, thẩm quyền tài phán khác nhau Do vậy,

Trang 25

trong các quy định pháp luật về thương mại điện tử, các quốc gia đều bảo vệ người tiêu dùng Tuy nhiên, do luật pháp ở mỗi quốc gia là không giống nhau, nên nếu hai chủ thể thuộc hai quốc gia khác nhau thì hai bên cần thoả thuận trước về luật sẽ áp dụng

Th ứ năm, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Trong đời sống nói chung và hoạt

động kinh tế hiện nay, việc sở hữu và bảo vệ các ý tưởng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Những ý tưởng tự bản thân chúng đã là tài sản và trở thành hàng hóa Ý tưởng cũng đem lại khả năng cạnh tranh tốt hơn hơn cho người sở hữu

nó trong thời đại thông tin Vì vậy, cần có chế độ pháp lý cho việc bảo vệ ý tưởng Nếu thiếu một hệ thống pháp luật như vậy sẽ không chỉ kìm hãm sự phát triển mà còn ngăn cản sự thịnh vượng của nền kinh tế thông tin Trong thực tế các ý tưởng bị đánh cắp và bán cho đối thủ cạnh tranh tạo cho người

có được chúng những lợi thế cạnh tranh không nhỏ Điều này đúng cả trong môi trường mạng

Pháp luật truyền thống được xây dựng dựa trên các khái niệm về chủ quyền và lãnh thổ Internet không bị giới hạn bởi biên giới lãnh thổ, Internet được coi là một chiếc máy sao chụp khổng lồ Nhờ vào khả năng và đặc tính của công nghệ kỹ thuật số mà thương mại điện tử có thể có ảnh hưởng rất lớn đến quyền tác giả và các quyền liên quan Nếu những qui định không được đưa ra và

áp dụng một cách phù hợp, thì việc áp dụng những nguyên lý cơ bản của quyền tác giả và các quyền liên quan khó có thể thực hiện được Trên Internet, một người có thể tạo ra một số lượng lớn các bản sao một bản nhạc, một bộ phim, một tác phẩm nghệ thuật, một chương trình máy tính mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng Thực tế là các loại sản phẩm này không có sự khác biệt về chất lượng giữa bản sao và bản gốc Các bản sao có thể được truyền gửi đến các khu vực khác nhau trên thế giới chỉ trong vài phút Kết quả là làm mất thị trường truyền thống của các sản phẩm đó

Trang 26

Tổ chức sở hữu trí tuệ WIPO với 179 nước thành viên chịu trách nhiệm hình thành khuôn khổ pháp luật và chính sách ở tầm quốc tế để tăng cường việc tạo ra và bảo vệ sở hữu trí tuệ WIPO đã có 23 hiệp định quốc tế liên quan đến bảo vệ sở hữu trí tuệ

Th ứ sáu, các vấn đề về hợp đồng thương mại điện tử Thương mại điện tử

thực hiện các giao dịch trong môi trường ảo, nếu các hình thức thông tin điện tử không được ghi nhận về mặt pháp lý là một trong những hình thức của hợp đồng, thì các hợp đồng được giao kết trên mạng máy tính thể sẽ bị coi là vô hiệu Nếu đòi hỏi hợp đồng thương mại, dân sự phải được thể hiện dưới hình thức viết và chữ ký tay thì những ưu thế của giao dịch thương mại điện tử sẽ không được tận dụng và phát huy Chính vì vậy, xoá bỏ rào cản ảnh hưởng đến sự phát triển của thương mại điện tử là sự ghi nhận về mặt pháp lý đối với giá trị của giao dịch thông qua phương tiện điện tử

Theo pháp luật, hợp đồng được lập khi các bên đạt được sự nhất trí về các điều kiện ghi trong hợp đồng bất kể là thoả thuận miệng hay bằng văn bản Vấn

đề nảy sinh là việc xác định nơi giao kết hợp đồng để xác định luật giải quyết khi

có tranh chấp Trong hầu hết các trường hợp thì quốc gia nơi đặt webserver không hề được quan tâm và không phải lúc nào vị trí của webserver cũng rõ ràng Domain name cũng không phải là căn cứ để xác định nơi giao kết hợp đồng Có nhiều doanh nghiệp Việt Nam buôn bán qua domain name nước ngoài

và ngược lại

Hầu hết các loại hợp đồng đều có thể giao kết qua mạng, tuy nhiên cũng

có một số loại hợp đồng theo quy định của pháp luật phải thể hiện bằng văn bản,

có công chứng và đăng ký Luật pháp các nước đều không phủ nhận giá trị pháp

lý của hợp đồng ảo chỉ vì nó là dạng dữ liệu (bản ghi điện tử)

Có nhiều loại hợp đồng trong không gian ảo, đó là hợp đồng hàng hoá, dịch vụ và các dịch vụ số hoá Hàng hoá khi chào bán trên mạng phải đảm bảo

Trang 27

chất lượng, phù hợp với mục đích sử dụng, an toàn và không có khuyết điểm nhỏ Trường hợp không được coi là có khuyết điểm nhỏ nếu như người bán chỉ

ra cho người mua trước khi ký kết hợp đồng Cung cấp dịch vụ chính là cung cấp sức lao động, kỹ năng Ví dụ: Việc mua một phần mềm tại cửa hàng thì phần mềm là hàng hoá, còn hợp đồng với một công ty tin học thuê viết một phần mềm thì đó là hợp đồng cung cấp dịch vụ Dịch vụ số hoá là người bán có thể gửi cho người mua các loại sản phẩm như băng video, âm nhạc, sách báo, phần mềm… qua mạng Internet

Công ước về sử dụng chứng từ điện tử trong Hợp đồng quốc tế đã được phiên họp lần thứ 60 của Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tại Nghị quyết

số A/RES/60/21 ngày 9/11/2005 Công ước này do Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) xây dựng, nhằm đưa ra một khung quy định chung cho những vấn đề cơ bản nhất của giao kết và thực hiện hợp đồng thông qua phương tiện điện tử Việc áp dụng rộng rãi và đồng nhất những quy định này giữa các quốc gia sẽ góp phần xóa bỏ trở ngại đối với việc sử dụng chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại quốc tế, nâng cao tính chắc chắn về phương diện pháp lý cũng như tính ổn định về phương diện thương mại của hợp đồng điện tử, và giúp doanh nghiệp tiếp cận được những phương thức tiến hành thương mại hiện đại, hiệu quả nhất

Bên cạnh Công ước về sử dụng chứng từ điện tử trong Hợp đồng thương mại Quốc tế, UNCITRAL cũng ban hành một loạt văn bản cốt lõi của hệ thống luật quốc tế liên quan đến thương mại điện tử như Luật mẫu về Thương mại điện

tử năm 1996 và Luật mẫu về Chữ ký điện tử năm 2001…

Th ứ bảy, các yêu cầu hình thức văn bản, chữ ký, văn bản gốc Có một

số loại giao dịch pháp luật quy định phải thực hiện bằng văn bản Các loại giao dịch này thường là giao dịch về tài sản có đăng ký Các loại giao dịch

mà pháp luật đòi hỏi hình thức văn bản phải là văn bản trên giấy sẽ không

Trang 28

tiến hành qua mạng Giống như các văn bản trên giấy, các giao dịch thương mại điện tử khi cần phải có chữ ký để ràng buộc chủ thể với nội dung tài liệu Chữ ký điện tử sẽ được sử dụng trong những trường hợp như vậy UNCITRAL đã ban hành luật mẫu về chữ ký điện tử để các nước tham chiếu khi xây dựng luật của mình

Đảm bảo tính nguyên vẹn, bản gốc của tài liệu trong thương mại điện tử là một nhu cầu Đối với những tài liệu về quyền sở hữu hay giấy tờ có giá, như vận đơn khi quyền đi liền với việc chiếm hữu tài sản đó, thì điều cơ bản là đảm bảo rằng bản gốc phải ở trong tay người có quyền sở hữu tài sản mà giấy tờ thể hiện Trong thương mại điện tử con người có thể tạo được các bản sao giống hệt như bản gốc một cách dễ dàng Điều quan trọng là tập dữ liệu do một người khởi tạo không bị thay đổi về nội dung, hay nói cách khác là đảm bảo sự nguyên vẹn của

dữ liệu

Vấn đề bản gốc có liên quan chặt chẽ đến vấn đề chữ ký và văn bản trong môi trường kinh doanh điện tử Bản gốc thể hiện sự toàn vẹn của thông tin chứa đựng trong văn bản Trong môi trường giao dịch qua mạng thì vấn đề bản gốc được đặt gắn liền với việc sử dụng chữ ký điện tử Do đó chữ ký điện tử không những chỉ xác định người ký mà còn nhằm xác minh cho tính toàn vẹn của nội dung thông tin chứa trong văn bản Việc sử dụng chữ ký điện tử đồng nghĩa với việc mã hoá tài liệu được ký kết Về nguyên tắc, văn bản điện tử và văn bản truyền thống có giá trị pháp lý như nhau Pháp luật cần làm rõ sẽ là cơ sở cho việc xác định giá trị chứng cứ của văn bản điện tử và điều đó sẽ giúp cho giao dịch an toàn hơn, hạn chế rủi ro tốt hơn

Th ứ tám, thời điểm, địa điểm gửi, nhận thông điệp điện tử Thời gian giao

kết rất quan trọng để xác định thời điểm bắt đầu nghĩa vụ của các bên Do các bên trong thương mại điện tử không quen biết nhau, ở xa nhau, trên các múi giờ khác nhau, liên lạc với nhau qua mạng nên xác định thời điểm giao kết thương

Trang 29

mại là khó khăn và các bên rất dễ hiểu khác nhau về thời điểm giao dịch Điều

đó dễ dẫn đến các tranh chấp

Người được chào hàng nếu chấp nhận chào hàng thì đã tạo ra một hợp đồng trực tiếp Sự phản hồi của khách hàng chấp nhận đơn chào hàng là sự trả giá Trường hợp này người mua là người trả giá, người bán là người chấp nhận hợp đồng Việc xác lập hợp đồng không nhất thiết phải do con người thực hiện,

mà có thể chấp nhận tự động bằng hệ thống máy móc Ví dụ, khi người chủ đặt máy bán nước giải khát tự động, được coi là chấp nhận trả giá khi khách bỏ tiền vào máy

Khi tiến hành thương mại điện tử, người chào hàng có thể quy định thời gian gửi ý kiến chấp nhận, khi đó thời điểm chấp nhận hợp đồng là thời điểm thông tin chấp nhận của khách hàng nhập vào hệ thống của người chào hàng

Thời gian nhận được thông điệp điện tử được xác định theo nguyên tắc nếu người nhận chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thì thời gian nhận là khi thông điệp điện tử nhập vào hệ thống thông tin đó hoặc khi nhập vào hệ thống thông tin khác nhưng người nhận đang làm việc để truy lục thông điệp điện tử

Nếu người nhận không chỉ định hệ thống thông tin thì tính thời điểm nhận

là thời điểm thông điệp điện tử truy nhập vào hệ thống thông tin của người nhận

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thương mại điện tử là hoạt động thương mại trong môi trường điện tử So với thương mại truyền thống, thương mại điện tử có nhiều đặc điểm khác biệt như việc hoạt động trong môi trường ảo, tính không biên giới, có sự tham gia của bên thứ ba là nhà cung cấp dịch vụ điện tử

Pháp luật về thương mại điện tử phải phù hợp với các đăc điểm của thương mại điện tử Nó ra đời do nhu cầu các quan hệ pháp luật thương mại được thực hiện bằng các phương tiện điện tử có kết nối Internet, mạng viễn thông và các mạng mở khác

Pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam về thương mại điện tử đều có sự tiếp thu từ các thông lệ quốc tế chung nhất, các điều ước quốc tế và Luật Mẫu của UNCITRAL và có sự điều chỉnh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh phát triển ở từng quốc gia

Các quan hệ thương mại điện tử là các quan hệ thương mại thực hiện trên các phương tiện điện tử, bởi vậy, pháp luật về thương mại điện tử tuân thủ các nguyên tắc chung của pháp luật thương mại chung, nhưng có những đặc trưng riêng Pháp luật phải bảo đảm tính an toàn, hợp pháp và minh bạch môi trường điện tử; thừa nhận các thông điệp nội dung giao dịch thương mại qua các phương tiện điện tử; thừa nhận chữ ký điện tử nhằm bảo đảm tính xác thực, toàn vẹn, bảo mật của thông tin được trao đổi; quy định cụ thể các vấn đề có liên quan đến việc giao kết hợp đồng thương mại điện tử; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử; quy định cơ chế giải quyết tranh chấp

và việc xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động thương mại điện tử

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

2.1 Khái quát quá trình hình thành pháp luật thương mại điện tử

Trước năm 2000, thương mại điện tử còn là vấn đề mới mẻ đối với khoa học pháp lý Đã có những quy định nhưng chưa thể hiện được bản chất và chưa giải quyết được những vấn đề cơ bản mà thương mại điện tử đặt ra Luật Thương mại năm 1997 quy định về hình thức hợp đồng bằng phương tiện điện tử như fax, telex, thư điện tử và coi chúng là văn bản3 Quy định này chỉ nhằm khẳng định hình thức văn bản của hợp đồng, chưa cụ thể hoá các khía cạnh kỹ thuật của thương mại điện tử cho việc áp dụng một cách có hiệu quả Thư điện tử, fax, telex… trong giao dịch thương mại chưa có cơ sở chắc chắn để chứng minh trong các vụ việc tranh chấp kinh tế

Từ năm 2000 đến năm 2003, một số văn bản pháp luật chuyên ngành đã

có những quy định về giao dịch điện tử, như Bộ luật Hình sự năm 2000, Luật Hải quan năm 2001, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, một số văn bản dưới luật trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính… Tuy nhiên, do nhận thức chưa toàn diện về thương mại điện tử, quy định trong cácvăn bản trên còn thiếu cơ sở cụ thể, chưa thật rõ ràng vì vậyviệc khó khăn khi áp dụng trên thực tế

Năm 2002, Chính phủ giao Bộ Thương mại chủ trì xây dựng Pháp lệnh Thương mại điện tử nhằm hình thành cơ sở pháp lý cho thương mại điện tử Sau gần hai năm xây dựng, tới cuối năm 2003, Bộ Thương mại đã hoàn thành Dự thảo 6 của Pháp lệnh và chuẩn bị trình Chính phủ Tuy nhiên, do tầm quan trọng của giao dịch điện tử đối với mọi mặt của kinh tế xã hội nên Quốc hội đã quyết

3 Xem điều 49 LTM 1997

Trang 32

định xây dựng Luật Giao dịch điện tử và giao cho Bộ bưu chính và Viễn thông chủ trì

Một số văn bản pháp luật chuyên ngành cũng có những quy định thừa nhận các giao dịch điện tử như Luật Kế toán với nội dung thừa nhận giá trị pháp

lý của chứng từ điện tử, Luật Thương mại (sửa đổi) thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong các hoạt động thương mại, Bộ Luật Dân sự năm 2005

và 2015 có những quy định về hình thức hợp đồng điện tử trong các giao dịch dân sự Hai văn bản quan trọng khác là Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/2/2007 Quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch

vụ chứng thực chữ ký số và Nghị định số 58/2016/NĐ-CP Quy định chi tiết về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm

mật mã dân sự

Nhìn chung, những văn bản được coi là quan trọng nhất nhằm hình thành khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho ứng dụng và phát triển thương mại điện tử đều được khởi động xây dựng trong năm 2004, tạo cơ sở hình thành các văn bản pháp lý chi tiết hơn về những vấn đề như bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, thông tin cá nhân trong thương mại điện tử, cơ chế điều chỉnh các hình thức ứng dụng thương mại điện tử cụ thể, cơ chế xác định chứng

cứ và giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, phải đến khi Luật giao dịch điện tử năm

2005 được ban hành và nhất là Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, ngày 16 tháng 05 năm 2013 về thương mại điện tử thì pháp luật về thương mại điện tử mới giải quyết những vấn đề cơ bản mang tính hệ thống mà thương mại điện tử đặt ra

2.2 Thực trạng quy định pháp luật về thương mại điện tử

2.2.1 Nguyên tắc tự do kinh doanh và tự do thỏa thuận

Nguyên tắc căn bản của hoạt động thương mại là bảo vệ quyền tự do kinh doanh và tự do hợp đồng Nguyên tắc này được thể hiện trong Hiến pháp 2013,

Bộ luật dân sự và đặc biệt được quy định cụ thể trong Luật Thương mại, cụ thể:

Trang 33

“Các bên có quy ền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật,

thu ần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các

bên trong ho ạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó

Trong ho ạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được

th ực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào”4

Liên quan đến tự do hợp đồng Bộ luật dân sự năm 20155 có bước tiến xa

hơn Luật thương mại, bởi Luật thương mại quy định “thỏa thuận không trái với

các quy định của pháp luật”, Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Mọi cam kết, thỏa

thu ận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực

th ực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” 6 Quy định hạn chế chỉ đối với điều cấm của pháp luật so với quy định không được trái với quy định của pháp luật cho thấy một bước tiến quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ quyền tự do kinh doanh và tự do hợp đồng Các bên được tự do thỏa thuận rộng hơn, chỉ bị hạn chế bởi các điều cấm rõ ràng trong các quy định của pháp luật

Pháp luật về thương mại điện tử tuân theo nguyên tắc cơ bản này, theo đó:

“Các ch ủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử có quyền tự do thỏa thuận

không trái v ới quy định của pháp luật để xác lập quyền và nghĩa vụ của từng bên

trong giao d ịch Thỏa thuận này là căn cứ để giải quyết các tranh chấp phát sinh

trong quá trình giao d ịch 7

Trong thương mại điện tử, quyền tự do thỏa thuận là sự tự nguyện lựa chọn sử dụng phương tiện điện tử để thực hiện giao dịch, tự thỏa thuận về việc lựa chọn loại công nghệ để thực hiện giao dịch điện tử bảo đảm sự bình đẳng an toàn, quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch điện tử

4

Điều 11 Luật Thương mại

5 Xem điều 3 BLDS năm 2015

6 Khoản 2 điều 3 BLDS năm 2015

7 Khoản 1 điều 26 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP

Trang 34

Nguyên tắc này đòi các quy định chặt chẽ hơn về các nghĩa vụ của bên bán hàng trên website bán hàng, sàn giao dịch điện tử, website đấu giá trực tuyến Thông thường website bán hàng xây dựng các phần mềm, thiết kế các giao diện có lợi cho người bán, có thể không quy định rõ ràng về nghĩa vụ và cam kết của người bán, khách hàng luôn phải tuân theo các hợp đồng mà mình hoàn toàn không có quyền thương lượng, vì vậy có thể gặp nhiều rủi do như đội giá sản phẩm nhiều lần so với giá thực tế trên thị trường; các sản phẩm, dịch vụ mà người tiêu dùng xem xét và chấp nhận đặt mua trên website thương mại điện tử không hoàn toàn giống với sản phẩm, dịch vụ được cung cấp trên thực tế, điều này rất dễ gây mất niềm tin và thiệt hại cho người tiêu dùng Về thông tin cá nhân, rất nhiều người tiêu dùng bức xúc khi tên tuổi, số điện thoại, địa chỉ của họ có thể bị các doanh nghiệp sử dụng phương thức thương mại điện tử cung cấp cho bên thứ ba, gây ảnh hưởng đến sự an toàn và bảo mật thông tin của khách hàng Đến khi xảy ra các tranh chấp thì người tiêu dùng thường ở thế bất lợi hơn

Tuy nhiên, khi đi vào cụ thể không có những quy định, điều hành đi ngược lại nguyên tắc này Ví dụ điển hình có thể nêu là việc kết nối dịch vụ đi

chung của Uber và Grab được đăng trên báo Lao động điện tử: “Trong công

v ăn số 6781/BGTVT-VT ký ngày 22.6, Bộ GTVT yêu cầu Uber và Grab không

áp d ụng dịch vụ đi chung xe đối với xe hợp đồng Nguyên nhân của yêu cầu

này được nhận định là do dịch vụ đi chung xe không phù hợp với quy định hiện

hành C ụ thể, theo Bộ GTVT, với mỗi chuyến xe hợp đồng, hành khách (hoặc

nhóm) đã ký giao kết trọn gói cả chuyến xe, không phải là thuê chỗ ngồi nên

vi ệc đơn vị vận tải có thêm hợp đồng với nhiều người khác sẽ gây bất tiện cho

Trang 35

Uber.http://laodong.com.vn/kinh-te/bo-gtvt-cam-Uber và Grab không bao giờ là người kinh doanh vận tải, họ là người kết nối điện tử những người kinh doanh vận tải, một loại hoạt động thương mại điện

tử Đi chung hay không là quyền tự quyết định của khách hàng sử dụng xe và chủ xe Tại sao Bộ giao thông lại có quyền cho rằng đi chung sẽ gây ra sự bất tiện khi chính họ muốn như vậy Nhìn từ góc độ khác, dịch vụ kết nối đi chung

là giải pháp rất tích cực chống ùn tắc đang là vấn nạn lớn của Việt Nam hiện nay, chưa nói đến những ưu điểm khác như tiết kiệm, thân thiện

2.2.2 Xác định phạm vi hoạt động kinh doanh.

Về nguyên lý, hoạt động thương mại điện tử không tồn tại biên giới địa lý, văn hóa mà chỉ tồn tại thị trường toàn cầu Do đó, việc xác định phạm vi hoạt động kinh doanh trong thương mại điện tử là cần thiết để khi phát sinh tranh chấp giữa các chủ thể khi tham gia hoạt động thương mại điện tử có thể xác định thẩm quyền giải quyết Trên thực tế, nếu các bên không giải quyết được mà phải đưa vụ việc ra tòa án để giải quyết thì thẩm quyền của Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự sẽ là nơi cư trú của bị đơn hoặc nơi thực hiện hợp đồng, trong đó nơi

bị đơn có trụ sở hoặc cư trú sẽ được lựa chọn chủ yếu

Chính vì thế Nghị định về thương mại điện tử đã quy định: “Nếu thương

nhân, t ổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và

xúc ti ến thương mại trên website thương mại điện tử không nêu cụ thể giới hạn địa lý của những hoạt động này, thì các hoạt động kinh doanh đó được coi là

ti ến hành trên phạm vi cả nước.”9

Quy định này tiếp tục khẳng định quyền tự do kinh doanh, bởi lựa chọn phạm vi kinh doanh thuộc quyền của người kinh doanh Nếu họ không lựa chọn thì pháp luật áp đặt rất hợp lý đó là phạm vi toàn quốc

Trong thời gian vừa qua, các tranh chấp xảy ra chưa có nhiều vướng mắc khi xác định về phạm vi kinh doanh của hoạt động thương mại điện tử bởi hầu

9 Khoản 2 điều 26 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP

Trang 36

hết là các tranh chấp nhỏ và cũng ít khi đưa đến tòa Thông thường các bên tự giải quyết, hoặc thông qua nhà cung cấp dịch vụ mạng Tuy nhiên, nếu phải giải quyết tại Tòa án thì đây luôn là vấn đề phức tạp, nhất là khi tranh chấp còn liên quan đến quốc gia khác

2.2.3 Kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh hoặc hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện

Theo quy định của pháp luật, người ứng dụng thương mại điện tử để kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh hoặc hàng hóa, dịch vụ kinh doanh

có điều kiện phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến việc kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó.10

Trong hoạt động thương mại điện tử, do các thông tin trao đổi giữa người mua, người bán được thực hiện thông qua môi trường mạng và các thiết bị điện

tử thuộc sở hữu của các chủ thể tham gia nên không bị giám sát, kiểm tra chặt chẽ, vì vậy hoạt động mua bán hàng hóa bị cấm, bị hạn chế kinh doanh vẫn trở thành đối tượng của các giao dịch thương mại điện tử như các hàng hóa được tự

do lưu thông

Thương mại điện tử ứng dụng công nghệ điện tử và mạng viễn thông đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới thành công Pháp luật hầu như chưa

có các giải pháp kỹ thuật nào để kiểm soát được vấn đề này

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nhà cung cấp dịch vụ mạng bắt buộc phải đưa ra các cảnh báo với người sử dụng, thí dụ tại Nhật Bản, việc bán thuốc

lá cho trẻ em bị cấm mà thuốc là thường được bán bằng máy bán hàng tự động Khi người mua hàng đặt hàng, máy sẽ đưa ra câu hỏi: Bạn đã đủ 18 tuổi chưa? Nếu trả lời đủ thì bạn mới có thể tiếp tục giao dịch Một số mặt hàng hay dịch vụ

sẽ bắt buộc phải có cảnh báo cho người đặt hàng, thí dụ bạn cần có đơn thuốc

Trang 37

của bác sỹ, bạn chỉ nên dùng khi nào Tất cả những vấn đề như vậy hầu như chưa được pháp luật Việt Nam quan tâm

2.2.4 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Người sở hữu website thương mại điện tử bán hàng và người bán trên website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng Khách hàng trên website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử là người tiêu dùng kép, người tiêu dùng dịch vụ thương mại điện tử và là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ do người bán trên website này cung cấp Trường hợp người bán trực tiếp đăng thông tin về hàng hóa, dịch vụ của mình trên website thương mại điện tử thì thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử và thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng không phải là bên thứ ba cung cấp thông tin theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định về quyền của người tiêu dùng được bảo đảm an toàn, bí mật thông tin của mình khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ Trường hợp các doanh nghiệp thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của người tiêu dùng thì doanh nghiệp có trách nhiệm: (a) Thông báo rõ ràng, công khai trước khi thực hiện với người tiêu dùng về mục đích hoạt động thu thập, sử dụng thông tin của người tiêu dùng; (b) Sử dụng thông tin phù hợp với mục đích đã thông báo với người tiêu dùng và phải được người tiêu dùng đồng ý; (c) Bảo đảm an toàn, chính xác, đầy đủ khi thu thập, sử dụng, chuyển giao thông tin của người tiêu dùng; (d) Tự mình hoặc có biện pháp để người tiêu dùng cập nhật, điều chỉnh thông tin khi phát hiện thấy thông tin đó không chính xác; (đ) Chỉ được chuyển giao thông tin của người tiêu dùng cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của người tiêu dùng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Trang 38

Khi tham gia vào các giao dịch thương mại điện tử, người tiêu dùng được hưởng nhiều tiện ích, nhưng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro, bị xâm phạm quyền lợi diễn ra phổ biến, thường xuyên xảy ra trong giao dịch thương mại điện tử như thông tin của người tiêu dùng không được quản lý chặt chẽ, bị lộ lọt dẫn đến hiện tượng nhắn tin spam những nội dung quảng cáo, chào mời dịch vụ hoặc dụ

dỗ chơi cá cược…Các tin nhắn này phần lớn có mục đích lừa đảo, hướng dẫn người xem thực hiện theo các yêu cầu để có thể thu lợi bất chính Nếu thực hiện theo các hướng dẫn này, người tiêu dùng có thể ngay lập tức bị trừ tiền trong tài khoản Nếu tỉnh táo, không thực hiện theo các nội dung hướng dẫn thì người tiêu dùng cũng cảm thấy bức xúc và khó chịu khi liên tục phải mở điện thoại để kiểm tra tin nhắn

Vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử còn tập trung vào hành vi không cung cấp thông tin đẩy đủ, chính xác; không cung cấp thời gian nghiên cứu và chính sách chấm dứt hợp đồng… theo đó người dùng bị mua phải hàng kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái hoặc bị dụ dỗ mua bán các gian hàng ảo trên Internet với số tiền lớn

Trước những vụ việc xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thời gian gần đây, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã quy định những điều khoản nhằm đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng khi tiến hành các giao dịch điện tử Bên cạnh các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì các quy định về kiểm soát hoạt động giao dịch điện tử cũng được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác

Nghị định số 52/2013/NĐ-CP quy định các hành vi bị cấm trong thương mại điện tử để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng như: (i) lợi dụng thương mại điện tử để kinh doanh hàng giả, hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; (ii) lợi dụng danh nghĩa hoạt động kinh doanh thương mại điện tử để huy động vốn

Trang 39

trái phép; (iii) cung cấp các dịch vụ thương mại điện tử hoặc dịch vụ giám sát, đánh giá và chứng thực trong thương mại điện tử khi chưa đăng ký, chưa được cấp phép hoặc không đúng với thông tin trong hồ sơ đăng ký hoặc cấp phép; (iv) gian dối hoặc cung cấp thông tin sai sự thật khi thực hiện các thủ tục thông báo thiết lập website thương mại điện tử, đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử, đăng ký hoặc xin cấp phép các dịch vụ giám sát, đánh giá và chứng thực trong thương mại điện tử; (vi) sử dụng các đường dẫn, biểu trưng hoặc công nghệ khác trên website thương mại điện tử để gây nhầm lẫn về mối liên hệ với thương nhân, tổ chức, cá nhân khác; (vii) sử dụng đường dẫn để cung cấp những thông tin trái ngược hoặc sai lệch so với thông tin được công bố tại khu vực website có gắn đường dẫn này; (viii) thực hiện các hành vi lừa đảo khách hàng trên website thương mại điện tử; (ix) giả mạo thông tin của thương nhân, tổ chức, cá nhân khác để tham gia hoạt động thương mại điện tử

Nghị định 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng Theo đó, khi giao kết hợp đồng từ xa, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin cơ bản, ví dụ tên của tổ chức, cá nhân kinh doanh, số điện thoại liên lạc, địa chỉ, trụ sở, địa chỉ cơ sở chịu trách nhiệm về đề nghị giao kết hợp đồng; chất lượng của hàng hóa, dịch vụ; chi phí giao hàng; phương thức thanh toán, phương thức giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ;…11

Trường hợp bên thứ ba cung cấp dịch vụ tới người tiêu dùng thì bên thứ

ba cũng phải chịu trách nhiệm liên đới về việc cung cấp thông tin không chính xác hoặc không đầy đủ, trừ trường hợp chứng minh đã thực hiện tất cả các biện

11 Điều 17 Nghị định 99/2011/NĐ - CP

Ngày đăng: 25/04/2020, 14:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w