Tổ chức tín dụng có quyền xử lý các tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ khi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hợp đồng tín dụng ngân hàng chứa nhiều yếu tố phức tạp và nhạy cảm nên
nó rất dễ dẫn đến tranh chấp của các bên trong hợp đồng Khi quyền, lợi ích hợp pháp của các bên bị xâm phạm, nếu không thỏa thuận được về cách thức giải quyết các bên phải làm thủ tục khởi kiện ra toà án yêu cầu tòa án bảo vệ Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng của Tòa án đóng vai trò rất quan trọng trong việc góp phần bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và đặc biệt là góp phần đưa đất nước phát triển đi lên như mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta đề ra Trong nền kinh tế thị trường hiện nay các giao dịch dân sự, đặc biệt là các hợp đồng tín dụng ngân hàng diễn ra ngày càng nhiều trên phạm vi rộng, hành vi vi phạm hết sức đa dạng, pháp luật điều chỉnh vấn đề này còn chung chung, chưa cụ thể gây khó khăn cho việc giải quyết các tranh chấp ở Tòa Trước tình hình đó cần phải hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng nhằm tạo điều kiện, đẩy nhanh quá trình giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực này cũng nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm pháp chế
xã hội chủ nghĩa
Thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ của mình cho bên có quyền, thì bên có quyền sử lý tài sản thế chấp của bên có nghĩa vụ
để đảm bảo quyền lợi cho mình Thực tế hiện nay trước tình hình kinh tế suy thoái, người dân và các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn nên việc thực hiện nghĩa vụ trả
nợ khi đến hạn đối với các hợp đồng tín dụng không được thực hiện, dẫn tới nợ xấu tăng cao, tranh chấp giữa ngân hàng các tổ chức tín dụng với khách hàng bên có nghĩa vụ trả nợ không ngừng ra tăng Thực tiễn khi giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản phát sinh nhiều vấn đề phức tạp đòi hỏi người giải quyết phải có trình độ chuyên môn sâu, nắm vững quy định pháp luật và áp dụng pháp luật chính xác Hiện nay, một số quy định của pháp luật về thế chấp, giải quyết tranh chấp phát sinh chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, chưa rõ ràng, gây nhiều tranh cãi cả về lý luận và thực tiễn áp dụng Bên cạnh đó, nhận thức pháp luật của các cấp tòa án còn chưa thống nhất dẫn đến rất nhiều bản án giải quyết tranh
Trang 2chấp hợp đồng tín dụng có thế chấp của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng đương
sự vẫn khiếu kiện kéo dài, hoặc không thi hành được gây nên tình trạng thiếu tin tưởng của người dân vào hệ thống cơ quan thực thi pháp luật
Xuất phát từ những lý do trên, em mạnh dạn chọn đề tài: “Giải quyết tranh
chấp hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản từ thực tiễn xét xử tại tỉnh Ninh
Bình” cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Luật Kinh tế của mình
2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có biện pháp bảo đảm là thế chấp tài sản Trên cơ sở
đó, luận văn phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, nơi tác giả đang công tác
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân đăc biệt là quan điểm của Đảng chỉ đạo về cải cách tư pháp trong thời gian tới
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Mác xít, chú trọng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp phổ biến và hiện đại khác như thống kê luật học, điều tra xã hội học, so sánh
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm ra những vướng mắc của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản và thực tiễn áp dụng pháp luật, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Để đạt được mục đích này, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Phân tích và làm rõ một số quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng, về thế chấp tài sản còn vướng mắc, khó áp dụng trong thực tiễn;
Trang 3- Tìm hiểu thực tiễn vận dụng pháp luật khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản của ngành Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình trong những năm gần đây;
- Đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thế chấp trong hợp đồng tín dụng
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả của luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận về vai trò của pháp luật và áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng
có thế chấp tài sản của Toà án nhân dân Luận văn có thể được sử dụng phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học Đặc biệt, luận văn có thể được coi là một tài liệu bổ ích đối với những Thẩm phán, cán bộ Toà án đang trực tiếp xét xử và giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản
6 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng và thế chấp bảo đảm cho
hợp đồng tín dụng
Chương 2: Nội dung tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng và hợp đồng
thế chấp tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng
Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng có thế chấp
tài sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình và phương hướng hoàn thiện pháp luật
về thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
Trang 4Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
VÀ THẾ CHẤP BẢO ĐẢM CHO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1.1 Một số vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng
Trang 5Trong đời sống xã hội, tín dụng do nhiều loại chủ thể thực hiện Tùy thuộc vào chủ thể cung ứng tín dụng mà tín dụng có thể phân chia thành các loại như: Tín dụng nhà nước, tín dụng hợp tác, tín dụng quốc tế, tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các nhà doanh nghiệp và cá nhân Với tư cách là người đi vay, ngân hàng và các tổ chức tín dụng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội; với tư cách là người cho vay, ngân hàng cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân
Ở nền sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn lưu động và vốn cố định của các doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội và nền kinh tế phát triển Tín dụng ngân hàng được đặc trưng bởi tính chuyên nghiệp của các hoạt động tín dụng do các tổ chức kinh doanh tiền tệ thực hiện Các
tổ chức này gọi là tổ chức tín dụng Tổ chức cung ứng tín dụng chủ yếu là các ngân hàng nên hoạt động tín dụng này được gọi là tín dụng ngân hàng Ngoài các tổ chức tín dụng cung ứng tín dụng là các ngân hàng, một số loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ khác cũng có cung ứng tín dụng như ngân hàng nên hoạt động cung ứng tín dụng của loại doanh nghiệp này cũng gọi là tín dụng ngân hàng Do đó, về phương diện pháp lý không có sự phân biệt hoạt động cung ứng tín dụng của hai loại chủ thể này trong áp dụng pháp luật ngân hàng
Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 cũng như năm 2010 và các quy định trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam về tín dụng ngân hàng không đưa ra khái niệm pháp lý về hợp đồng tín dụng Điều 51, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 quy định: Việc cho vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận3 Còn trong luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định tổ chức tín dụng cấp tín dụng dưới hình thức sau đây: Cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; bảo lãnh ngân hàng; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân
3 Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng năm 1997
Trang 6hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận4
Trong cuốn "Từ điển thuật ngữ Tài chính tín dụng" của Viện Khoa học Tài chính, Bộ Tài chính có nêu: "Hợp đồng tín dụng là văn bản ghi nhận những cam kết giữa người cho vay và người vay về những điều kiện của tín dụng như số tiền vay, phương thức cấp vốn vay, thời hạn vay, phương thức thu nợ, mức lãi suất, loại hình lãi suất, phương thức thu lãi" Về cơ bản, định nghĩa này có nội dung tương tự như định nghĩa trong các văn bản pháp luật, chỉ nêu ra các yêu cầu về nội dung của hợp đồng tín dụng ngân hàng Trong cuốn "Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam", tác giả Nguyễn Tuyến đưa ra định nghĩa: Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận chung bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay), theo đó, tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một
số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả
cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm5 Định nghĩa này đã đề cập được các dấu hiệu
cơ bản của hợp đồng tín dụng ngân hàng trên các phương diện: chủ thể (bên cho vay là tổ chức tín dụng, bên vay là tổ chức, cá nhân) đối tượng của hợp đồng (tiền), nguyên tắc cơ bản của quan hệ hợp đồng (điều kiện hoàn trả tiền vay) Tuy nhiên, nếu quan niệm quan hệ chuyển giao vốn theo hợp đồng chỉ là ứng trước một số tiền
sẽ không phản ánh đầy đủ tính pháp lý của quan hệ vay vốn là bên cho vay chuyển giao quyền sở hữu vốn vay cho bên vay hay chỉ là chuyển giao quyền sử dụng
Để làm rõ những dấu hiệu của hợp đồng tín dụng cần thiết phải làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến đặc điểm của nó
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng
Khi so sánh hợp đồng thông thường với một hợp đồng tín dụng ta thấy hợp đồng tín dụng có đặc điểm khác biệt so với các hợp đồng thông thường sau:
tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
Tổ chức tín dụng muốn thực hiện hoạt động cho vay phải hội đủ các điều kiện về thành lập, vốn pháp định, có điều lệ được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y và
có đại diện hợp pháp khi tham gia ký kết hợp đồng theo quy định của pháp luật
4 Điều 98 Luật đất đai năm 2013
5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội tr 91
Trang 7Những điều kiện trên đây không những góp phần hạn chế, loại trừ những tổ chức không đủ tiêu chuẩn kinh doanh trên thị trường tài chính mà còn góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng Ngoài ra, khi các tổ chức tín dụng hội đủ các điều kiện trên sẽ góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, là căn cứ để các thẩm phán, các trọng tài viên tiến hành thẩm định và đánh giá vấn đề hiệu lực của hợp đồng tín dụng
Để thực hiện hoạt động cho vay, tổ chức tín dụng phải tiến hành ký kết hợp đồng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên Trong hợp đồng tín dụng, tổ chức tín dụng luôn tham gia ký kết với tư cách là chủ thể cho vay nhằm phân phối lại nguồn vốn đã huy động từ tổ chức và cá nhân khác trong xã hội Với tư cách là chủ thể cho vay, tổ chức tín dụng (mà đa phần là các ngân hàng) phải thẩm định được phương án vay vốn, tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay Điều này là vô cùng cần thiết vì nó có khả nẳng hoàn trả nợ vay của bên đi vay Các ngân hàng tham gia vào quan hệ tín dụng chủ yếu để thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ và mục tiêu lợi nhuận, trừ trường hợp các ngân hàng chính sách thực hiện hoạt động tín dụng vì mục đích xã hội là chính
Thứ hai: Hợp đồng tín dụng phải luôn được ký kết dưới hình thức văn bản
Đặc trưng cơ bản của hoạt động tín dụng là đi vay để cho vay, vì vậy để cho vay lại của tổ chức tín dụng phải có trách nhiệm bảo toàn nguồn vốn tín dụng của mình Để thực hiện điều này thì quyền và nghĩa vụ của các bên (bên cho vay và bên
đi vay) phải cụ thể Pháp luật quy định các chủ thể khi tham gia vào quan hệ tín dụng phải thỏa thuận bằng văn bản các quyền và nghĩa vụ của mình Thực ra quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên Bởi vì hợp đồng tín dụng là cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh các chấp của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
Thường hợp đồng tín dụng là hợp đồng mẫu do các tổ chức tín dụng soạn thảo dựa trên quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của tổ chức tín dụng Các điều khoản cụ thể trong hợp đồng tín dụng phải đảm bảo xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của bên cho vay và bên đi vay Khi các bên thỏa thuận cụ thể
về quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng thì các bên phải thực hiện đúng các điều mà mình đã cam kết Khi xảy ra tranh chấp thì hợp đồng tín dụng là cơ sở để quy trách nhiệm cho các bên
Trang 8Thứ ba: Đối tượng của hợp đồng tín dụng luôn là vốn tiền tệ
Vốn tiền tệ trong hợp đồng tín dụng có thể là tiền đồng Việt Nam, vàng hoặc ngoại tệ Đối tượng này có thể tồn tại ở vật hiện hữu là tiền mặt hoặc bút tệ Đây là đặc điểm rất quan trọng trong quan hệ cho vay đối với tổ chức tín dụng nhất là ngân hàng Chính đặc điểm này đã giúp cho hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng và trở thanh một hình thức tín dụng phổ biến trong nền kinh
tế thị trường Từ vốn tiền tệ, bên đi vay họ có thể thỏa mãn bất kì nhu cầu nào của
họ kể cả số lượng vốn vay và mục đích vay vốn Cũng cần lưu ý rằng, bên cho vay
là công ty cho thuê tài chính nhưng đối tượng của nó là tài sản thì đây chính là quan
hệ cho thuê tài chính (chứ không phải là hoạt động cho vay theo quy định của pháp luật) và các bên phải ký hợp đồng thuê mua tài chính Như vậy, yếu tố đối tượng vốn tiền tệ là một đặc điểm không thể thiếu được của hợp đồng tín dụng ngân hàng
Thứ tư: Hợp đồng tín dụng luôn nhằm mục đích sinh lợi
Tính chất sinh lợi của hợp đồng tín dụng luôn được biểu hiện qua tỷ số chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn của các tổ chức tín dụng Lãi suất cho vay luôn cao hơn lãi suất huy động vốn và sự chênh lệch này luôn phụ thuộc vào cung cầu về vốn trên thị trường tùy thuộc vào từng thời điểm cụ thể, hiện nay mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận Các tổ chức tín dụng hoạt động theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan nên mục đích tìm kiếm lợi nhuận không chỉ là điều tất yếu
mà còn là động lực giúp ngân hàng duy trì hoạt động kinh doanh của mình Khách hàng càng nhiều, hợp đồng càng tăng thì lợi nhuận của tổ chức tín dụng càng sinh sôi, phát triển Vì vậy, vận mệnh của tổ chức tín dụng luôn gắn với khả năng tạo ra giá trị thặng dư của đồng tiền thông qua việc huy động vốn và kí kết hợp đồng tín dụng tín dụng Trong trường hợp này, trừ trường hợp các ngân hàng chính sách thực hiện hoạt động tín dụng vì mục đích xã hội là chính
Thứ năm: Hợp đồng tín dụng là hợp đồng ưng thuận
Thời điểm phát sinh hiệu lực pháp lý của hợp đồng là điểm mốc thời gian làm phát sinh quyền đồng thời cũng là cơ sở để phân định nghĩa vụ của các bên khi
có tiền vay hoặc rủi ro xảy ra Thông thường các bên trong hợp đồng tín dụng sẽ ghi
rõ thời gian mà hợp đồng có hiệu lực Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có nhiều trường hợp hợp đồng tín dụng ngân hàng chỉ ghi thời hạn vay và ngày giao kết hợp đồng
Trang 9mà không có thỏa thuận cụ thể về thời điểm phát sinh hiệu lực pháp lý của hợp đồng nên các thẩm phán gặp khó khăn trong việc xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Trong khoa học pháp lý hiện nay có hai quan điểm liên quan đến vấn đề này:
Quan điểm thứ nhất cho rằng hợp đồng tín dụng là hợp đồng thực tế vì nó là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự vay tài sản Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng này là lúc bên cho vay giao tài sản cho bên vay Trước thời điểm đó bên đi vay không có quyền yêu cầu bên cho vay thực hiện bất kỳ hành vi nào liên quan đến tài sản theo như những cam kết hai bên đã thỏa thuận Lập luận này phù hợp với luật pháp hiện hành vì những nhà soạn thảo cho rằng thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tín dụng là thời điểm ngân hàng thực hiện hành vi giải ngân Theo đó việc chuyển giao tiền vay không phải là một nghĩa vụ pháp lý trong hợp đồng tín dụng
mà bên cho vay phải thực hiện Nếu bên cho vay đã thỏa thuận sẽ cho vay nhưng sau đó họ không tiến hành hoạt động giải ngân thì hợp đồng tín dụng vẫn chưa hình thành và cho bên cho vay cũng không phải gánh chiệu một chế tài nào
Quan điểm thứ hai, bác bỏ lập luận trên và chứng minh hợp đồng tín dụng là hợp đồng ưng thuận Theo quan điểm này thì việc chuyển giao vốn vay là một nghĩa
vụ theo hợp đồng của tổ chức tín dụng, nếu tổ chức tín dụng không thực hiện đúng nghĩa vụ này mà gây thiệt hại cho bên đi vay thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Khi hợp đồng tín dụng tín dụng được giao kết theo đúng hình thức đã được pháp luật quy định, nếu hai bên không thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng, thì hợp đồng được coi là có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết Trên thực tế, các phương thức cấp tín dụng từ tổ chức tín dụng ngày càng phong phú và đa dạng dưới những hình thức cho vay theo hạn mức chứ không chỉ dừng lại ở hoạt động cho vay từng lần Vì vậy, việc xác lập các điều khoản quy định giới hạn quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như lựa chọn hình thức vay là hoàn toàn tự do thỏa thuận của bên cho vay và bên đi vay Với phương thức cho vay đa dạng, hợp đồng tín dụng đã bộc lộ nét đặc trưng riêng biệt là nó sẽ
có hiệu lực kể từ thời điểm ký nếu các bên không có thỏa thuận gì khác
Khi phân tích cả hai luồng quan điểm trên cùng một khía cạnh với mục đích tìm ra cách thức nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của các bên thì quan điểm thứ hai sẽ chiếm ưu thế hơn về mặt logic Việc xây dựng nên giới hạn về quyền và
Trang 10nghĩa vụ pháp lý của các bên vừa là mục đích của việc giao kết hợp đồng, vừa là hệ quả tất yếu của hành vi giao kết một hợp đồng hợp pháp Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng có hai hành vi được đánh dấu là cột mốc quan trọng đối với vai
trò và chấm dứt của hợp đồng Một là, hành vi giải ngân của tổ chức tín dụng, tạo
cơ sở tiền đề cho bên đi vay sử dụng một khoản tiền nhất định để bên đi vay thực
hiện nhu cầu của mình Hai là, hành vi hoàn trả vốn và lãi cho tổ chức tín dụng của
bên đi vay với ý nghĩa là chấm dứt hiệu lực của hợp đồng và giải phóng các bên khỏi quan hệ hợp đồng Hơn nữa, khi tổ chức tín dụng đã trải qua quá trình thẩm định hồ sơ, phương án kinh doanh, khả năng tài chính và có sự đồng thuận về ý chí thực hiện nội dung của hợp đồng, sau khi ký kết hợp đồng tín dụng có hiệu lực là phù hợp nhất Nếu coi việc giải ngân là quyền của tổ chức tín dụng và hợp đồng tín dụng chỉ có hiệu lực khi tiền được chuyển giao cho bên đi vay thì không thể bảo đảm quyền lợi của người đi vay Quan hệ tín dụng là quan hệ được xây dựng trên cơ
sở chữ tín thì việc tách biệt nó ra khỏi hợp đồng vay tài sản thời điểm có hiệu lực là hoàn toàn hợp lý Tính chất ưng thuận của hợp đồng tín dụng cũng được thể hiện rõ trong quy định tại khoản 16, Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, theo đó
“cấp tín dụng (cho vay) là việc tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”6
1.1.3 Chủ thể hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật tín dụng là quan hệ tài sản – Hàng hóa phát sinh trong quá trình sử dụng vốn tạm thời giữa tổ chức tín dụng và các tổ chức, cá nhân khác theo nguyên tắc có hoàn trả, dựa trên cơ sở tín nhiệm hoặc có sự bảo đảm, được các qui phạm pháp luật điều chỉnh Tham gia quan hệ này có ít nhất gồm hai chủ thể: là bên cho vay và bên đi vay
Bên cho vay: Luôn là tổ chức tín dụng, được thành lập và hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng và các pháp luật liên quan Có chức năng hoạt động, kinh doanh tín dụng, thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội
Bên đi vay (khách hàng), bao gồm: Nhóm khách hàng thứ nhất, các pháp
nhân: Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức
6 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
Trang 11khác Nhóm khách hàng thứ hai gồm: Cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, Doanh nghiệp Tư nhân Nhóm khách hàng thứ ba gồm: Các pháp nhân và cá nhân nước ngoài
Bên đi vay phải thỏa mãn các điều kiện liên quan đến năng lực chủ thể, mục đích sử dụng vốn vay, khả năng thanh toán khoản vay…
+ Điều kiện về năng lực chủ thể được xác định: Đối với khách hàng vay là
pháp nhân và cá nhân Việt Nam: Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự, cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài: Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định
1.1.4 Nội dung và hình thức hợp đồng tín dụng ngân hàng
1.1.4.4 Nội dung của hợp đồng tín dụng ngân hàng
Hợp đồng tín dụng ngân hàng “phải có nội dụng về điều kiện vay, mục đích
sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận”7
+ Điều khoản về điều kiện về vay vốn và mục đích sử dụng vốn Khi khách
hàng muốn vay vốn của Tổ chức tín dụng thì phải trình bày rõ về điều kiện vay vốn Điều này giúp cho tổ chức tín dụng nhận rõ được tình hình cũng như khả năng của khách hàng trong quan hệ tín dụng, việc xác định điều kiện vay phải dựa trên cơ sở
là mục đích sử dụng tiền vay, với từng mục đích khác nhau có thể có các điều kiện
vay khác nhau
7 Điều 17 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của thống đốc ngân hàng nhà nước về quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng
Trang 12Mục đích sử dụng tiền vay ngoài việc xác định các điều kiện vay còn là một
cơ sở quan trọng để xác định bản chất của hợp đồng là kinh tế hay dân sự, đồng thời
nó là cơ sở để kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng
+ Điều khoản về phương thức cho vay Tổ chức tín dụng thoả thuận với
khách hàng vay việc áp dụng các phương thức cho vay, việc lựa chọn phương thức phải được thể hiện trong hợp đồng Ví dụ, cho vay từng lần; mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết riêng cho từng lần và
ký kết hợp đồng tín dụng ngân hàng Đây là phương thức cho vay phổ biến đặc biệt trong các hợp đồng mà bên khách hàng không phải là khách hàng quen thuộc có độ tin cậy cao đối với tổ chức tín dụng
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định
và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh
Cho vay theo dự án đầu tư: Đây là phương thức cho vay trung hạn hoặc dài hạn theo đó Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống Để cho vay theo phương thức này, tổ chức tín dụng cần phải nắm rõ dự án đầu tư của khách hàng xem xét dự án có khả thi không, khách hàng phải trình bày rõ ràng cụ thể dự án của mình để tổ chức tín dụng quyết định có thể cho vay hay không
Cho vay hợp vốn: Khi một khách hàng muốn vay với một nguồn vốn vay khá lớn, một tổ chức tín dụng không đảm bảo được, khi đó một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác, sau đó là một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng
Cho vay trả góp: Trong trường hợp khách hàng không có khả năng trả nợ một lần hoặc do chu kỳ kinh doanh nên khách hàng phải trả nợ theo phương thức số lãi tiền vay phải trả chia ra để trả nợ trong nhiều kỳ hạn Khi đó tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức
Trang 13tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Thông qua các hợp đồng tín dụng ngân hàng trên thực thế thì cho dù vay dưới bất kỳ phương thức nào thì hợp đồng vay cũng thể hiện rõ các điều khoản chủ yếu và đảm bảo khả năng chi trả của khách hàng vay đúng thời hạn và cách thức trả
nợ
+ Điều khoản về số tiền vay và đảm bảo vốn vay Số tiền vay do các bên thỏa
thuận trong hợp đồng, theo đó thì tổ chức tín dụng sẽ cho khách hàng vay một số tiền nhất định, theo phương thức nhất định, tuy nhiên số tiền vay phải tuân theo các quy định về hạn mức tín dụng tại Điều 128 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 Tổng dư nợ của một khách hàng đối với một tổ chức tín dụng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng trừ trường hợp có sự ủy thác của chính phủ, các
tổ chức, cá nhân hoặc khách hàng vay là một tổ chức tín dụng khác Trong trường hợp nhu cầu của khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng thì tổ chức tín dụng có thể cho vay hợp vốn với các tổ chức tín dụng khác theo quyết định của thống đốc ngân hàng Nhà nước, trường hợp đặc biệt Chính phủ có thể quyết định mức cho vay tối đa đối với từng trường hợp cụ thể [23, điều 128] Khi cho vay tổ chức tín dụng cần căn cứ vào Điều 127 Luật các Tổ chức tín dụng năm
2010 quy định về hạn chế cấp tín dụng, tùy thuộc vào đối tượng được cấp tín dụng
mà tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với các đối tượng là khác nhau: Không quá không quá 5%, 10%, 20% vốn tự có của mình8
Biện pháp bảo đảm vốn vay bao gồm biện pháp bảo đảm bằng tài sản và bảo đảm tiền vay không có bảo đảm về tài sản Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản là các cách thức sử dụng tài sản để cầm cố, thế chấp, trong trường hợp này tài sản phải thuộc sở hữu của khách hàng vay cũng có thể là bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba hoặc bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay Việc áp dụng biện
8 Điều 127 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
Trang 14pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo cách thức nào là do các bên tự thỏa thuận
và phải quy định rõ ràng trong hợp đồng về giá trị tài sản đem ra bảo đảm, theo nguyên tắc là giá trị tài sản bảo đảm này không được thấp hơn giá trị hợp đồng vay Khi tiến hành cho vay không có đảm bảo bằng tài sản thì tổ chức tín dụng chủ động lựa chọn khách hàng để cho vay hoặc cho các cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn
có đảm bảo bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội
Các biện pháp bảo đảm tiền vay được thực hiện trên nguyên tắc là:
- Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, không có bảo đảm bằng tài sản và chịu trách nhiệm về quyết định của mình, trường hợp tổ chức tín dụng là Nhà nước cho vay không có bảo đảm tín dụng bằng tài sản theo chỉ định của Chính phủ thì những tổn thất do những nguyên nhân khách quan của những khoản vay này do chính phủ xử lý
- Khi cho vay không bảo đảm bằng tài sản mà khách hàng vay vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng thì tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu khách hàng thực hiện các biện pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước hạn
Tổ chức tín dụng có quyền xử lý các tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ khi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết, bên khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết nếu vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ Hợp đồng thế chấp tài sản phải được lập bằng văn bản riêng hoặc ghi vào hợp đồng tín dụng ngân hàng, nếu hai bên có thỏa thuận thì các hợp đồng này phải được công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
+ Điều khoản về lãi suất cho vay và phương thức trả nợ Lãi suất tín dụng là
khoản tiền thường được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên tổng số tiền vay mà người đi
vay phải trả cho người cho vay trong thời gian một tháng, một năm Mức lãi suất
cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam Dựa trên nhu cầu cung và cầu vốn trên thị trường
và thực tế hoạt động kinh doanh của mình mà tổ chức tín dụng công bố lãi suất sao cho hợp lý Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng
ấn định và thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều
Trang 15chỉnh trong hợp đồng tín dụng Lãi suất phải được quy định rõ trong hợp đồng tín
dụng ngân hàng
Phương thức trả nợ là cách thức mà khách hàng vay sẽ trả nợ gốc và lãi cho
tổ chức tín dụng tùy theo từng nội dung mà hai bên có thể thỏa thuận trả nợ gốc và lãi cùng kỳ hạn hoặc khác kỳ hạn, có thể trả một lần hoặc nhiều lần
+ Điều khoản về chuyển nợ quá hạn Trường hợp khách hàng không trả được
nợ gốc đúng kỳ hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và có văn bản đề nghị thì tổ chức tín dụng xem xét cho điều chỉnh kỳ hạn trả nợ Thời hạn gia hạn nợ được xác định: Đối với cho vay ngắn hạn tối đa bằng 12 tháng, Đối với cho vay trung hạn
và dài hạn tối đa bằng 1/2 thời hạn cho vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng Trường hợp khách hàng đề nghị gia hạn nợ quá các thời hạn này do nguyên nhân khách quan và tạo điều kiện cho khách hàng có khả năng trả nợ, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc (Giám đốc) tổ chức tín dụng xem xét quyết định
và báo cáo ngay Ngân hàng nhà nước Việt Nam sau khi thực hiện
- Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lãi, gia hạn trả nợ lãi: Trường hợp khách hàng không trả nợ lãi đúng kỳ hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và có văn bản
đề nghị điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lãi, thì tổ chức tín dụng xem xét quyết định điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lãi Trường hợp khách hàng không trả hết nợ lãi trong thời hạn cho vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và có văn bản đề nghị gia hạn nợ lãi, thì tổ chức tín dụng xem xét quyết định thời hạn gia hạn nợ lãi Thời hạn gia hạn nợ lãi áp dụng theo thời hạn gia hạn nợ gốc
+ Điều khoản về kỳ hạn trả nợ Nợ gốc được trả khi đến hạn hoặc trả khi kết
thúc kỳ hạn gia hạn (nếu có) Nếu không trả nợ, ngân hàng tự động chuyển sang nợ quá hạn Một số ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn toàn bộ dư nợ gốc thực tế theo
hợp đồng nhưng chỉ tính lãi suất quá hạn đối với phần dư nợ gốc quá hạn Đối với
việc quá hạn trả lãi, các bên có thể thỏa thuận áp dụng hình thức phạt chậm trả tính
theo ngày hoặc lãi suất phạt đối với khoản lãi chậm trả
+ Điều khoản về quyền và nghĩa vụ Khách hàng vay có quyền: từ chối các
yêu cầu của tổ chức tín dụng không đúng với các thoả thuận trong hợp đồng tín dụng; Khiếu nại, khởi kiện việc vi phạm hợp đồng tín dụng theo quy định của pháp luật Khách hàng vay có nghĩa vụ: Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông
Trang 16tin, tài liệu đã cung cấp; Sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết khác; Trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng; Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thoả thuận về việc trả nợ vay và thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng
Tổ chức tín dụng có quyền: Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay; Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay vốn, dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc tổ chức tín dụng không có
đủ nguồn vốn để cho vay; Kiểm tra, giám sát quả trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng; Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng; Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc người bảo lãnh theo quy định của pháp luật; Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có thoả thuận khác, tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp khách hàng được bảo lãnh vay vốn; Miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ; mua bán nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và thực hiện việc đảo nợ, khoanh
nợ, xoá nợ theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Tổ chức tín dụng có nghĩa vụ: Thực hiện đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng; Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật
1.1.4.2 Hình thức của hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng phải được lập thành văn bản, trong đó có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận
Mẫu hợp đồng mà các ngân hàng đưa ra không phải là hợp đồng mẫu theo quy định của Bộ luật dân sự, mà chỉ là bản thảo để thuận tiện trong quá trình đàm
Trang 17phán ký kết hợp đồng Bên vay hoàn toàn có thể thoả thuận với ngân hàng thay đổi bất kỳ nội dung nào Tuy nhiên, trên thực tế thì bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản thiên về ràng buộc chặt chẽ đối với bên vay và có lợi cho Ngân hàng So với hợp đồng thương mại, hợp đồng tín dụng thường có điểm khác là có rất nhiều văn bản có các yếu tố như một hợp đồng như: Đơn đề nghị vay vốn, hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, hợp đồng thế chấp Chẳng hạn trong đơn đề nghị vay vốn có nhiều nội dung cơ bản của hợp đồng tín dụng như số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất vay và cam kết của bên vay Trường hợp ngân hàng ký chấp thuận những nội dung đó, thì hoàn toàn có thể thay thế cho một bản hợp đồng tín dụng Tương tự giấy nhận nợ cũng thường liệt kê lại một cách đầy đủ những điểm chủ yếu của hợp đồng tín dụng, nên trong nhiều trường hợp cũng đồng nghĩa với một hợp đồng tín dụng Do hợp đồng tín dụng được làm kỹ như vậy, nên rất ít khi xảy ra tranh chấp về chính hợp đồng tín dụng, mà thường là tranh chấp liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm để trả nợ
Theo quy định của pháp luật, thì chỉ có hợp đồng tín dụng được giao kết giữa các bên Tuy nhiên, trên thực tế, do thói quen bên cạnh hợp đồng tín dụng, các ngân hàng thường đưa ra thêm một loại văn bản nữa là khế ước nhận nợ (một loại giấy nhận nợ) Khế ước nhận nợ cũng có đủ các yếu tố chủ yếu của hợp đồng tín dụng
1.2 Thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng
1.2.1 Thế chấp tài để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
"Thế chấp" là từ Hán - Việt Theo học giả Đào Duy Anh: "Thế là bỏ đi, thay cho" [1, tr 394] còn "Chấp là cầm giữ, bắt"9 Sự ghép nối hai từ Hán - Việt này có thể hiểu "thế chấp" là "thay thế", giữ để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ Jane P.Mallor và A.James Barres trong cuốn "Môi trường pháp luật cho kinh doanh" khẳng định: Thế chấp là sự bảo đảm bằng chính tài sản hoặc bằng những chứng thư pháp lý về tài sản do người chủ sở hữu tài sản đưa ra (người thế chấp) để bảo đảm cho khoản tiền vay từ người cho vay (người nhận thế chấp) Việc sử dụng các bất động sản làm tài sản thế chấp xuất hiện ở nước Anh khoảng nửa đầu thế kỷ XII Từ
xa xưa, thế chấp được hiểu là một giao dịch bằng văn bản nhằm chuyển giao quyền
sở hữu bất động sản sang cho người nhận thế chấp và sau đó quyền sở hữu này sẽ
9 Đào Duy Anh (2000), Từ điển Hán - Việt, Nxb Khoa học xã hội, tr154
Trang 18được chuyển giao lại cho người đã thế chấp tài sản khi người này thanh toán nợ Người nhận thế chấp có quyền sở hữu đối với tài sản trong suốt thời gian thế chấp Nếu người đi vay không thực hiện nghĩa vụ của mình thì người nhận thế chấp sẽ có quyền sở hữu tuyệt đối Bất động sản sẽ được coi như một sự bồi thường nhưng sự bồi thường này không đồng nghĩa với việc thanh toán nợ Bên cạnh việc nắm giữ bất động sản, người nhận thế chấp có thể khởi kiện con nợ, yêu cầu một bản án và tìm kiếm thu nhập tài sản của con nợ để thu hồi vốn
Như vậy, theo quan điểm của Jane P Mallor và A.James Barres, thế chấp là
sự bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản là bất động sản Theo văn bản thỏa thuận, bên có nghĩa vụ (bên thế chấp) chuyển giao quyền sở hữu có điều kiện cho bên có quyền (bên nhận thế chấp) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình Tính có điều kiện của việc chuyển giao quyền sở hữu thể hiện ở chỗ, nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ thì quyền sở hữu của bên nhận thế chấp đối với tài sản thế chấp được thực hiện tuyệt đối Quyền sở hữu của bên nhận thế chấp đối với tài sản thế chấp không còn phụ thuộc vào điều kiện trả nợ của bên thế chấp Mặt khác, cũng thấy rõ rằng, với cách quan niệm trên về thế chấp thì tài sản thế chấp không phải dùng để thay thế nghĩa vụ trả nợ của bên vay
Các học giả Christian Gavanda, Jean Stoufflet cho rằng: Thế chấp là một biện pháp cổ điển được sử dụng rộng rãi trong nghiệp vụ ngân hàng để đảm bảo cho các khoản vay dài hạn Chỉ trong một số trường hợp ngoại lệ người ta mới sử dụng biện pháp bảo đảm này cho các khoản tín dụng ngắn hạn Khi thì thế chấp là một biện pháp bảo đảm bên ngoài - có nghĩa nó nằm ngoài việc sử dụng tài sản vay, khi thì ngược lại, việc thế chấp được thực hiện ngay trên tài sản hình thành từ khoản vay và thế chấp được thực hiện ngay trên tài sản hình thành từ khoản vay và thế chấp được gộp vào trong việc cho vay Thế chấp tài sản bằng động sản là một biện pháp bảo đảm mà các ngân hàng sử dụng trong một số trường hợp đặc biệt do Luật quy định Tài sản thế chấp chủ yếu là máy bay, tàu thủy
Quan điểm trên đây khẳng định rằng, thế chấp là một biện pháp bảo đảm cho các khoản vay Tài sản thế chấp có thể là tài sản hiện hữu hoặc tài sản hình thành từ chính nguồn vốn vay; có thể là bất động sản hoặc tài sản có giá trị lớn
Theo Giáo trình Luật dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội khái niệm thế chấp được hiểu như sau: Về phương diện ngữ nghĩa, thế chấp tài sản là việc một
Trang 19bên dùng một tài sản để thay thế, chấp hành một nghĩa vụ trước đó Thế chấp tài sản
là sự thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật, theo đó bên có nghĩa vụ phải dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền10
Theo quy định tại Điều 317 BLDS năm 2015 “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của hợp đống thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng
Trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định ở Việt Nam, giao dịch bảo đảm được định nghĩa là hợp đồng mà theo đó một bên (gọi là bên bảo đảm) cam kết với bên có quyền (gọi là bên nhận bảo đảm) về việc sẽ thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ cụ thể đối với bên có quyền, nếu đến hạn mà nghĩa vụ hoặc các nghĩa vụ đó không được người có nghĩa vụ thực hiện Giao dịch bảo đảm có nhiều loại khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là giao dịch bảo lãnh, giao dịch cầm cố và giao dịch thế chấp Đây cũng là những biện pháp bảo đảm nghĩa vụ được áp dụng phổ biến nhất trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Với tư cách là một giao dịch bảo đảm, giao dịch thế chấp (hay hợp đồng thế chấp) là thỏa thuận giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp, theo đó bên thế chấp cam kết sẽ đem các tài sản của mình để bảo đảm thực hiện một hay nhiều nghĩa vụ của chính mình hoặc của người thứ ba (bên có nghĩa vụ) đối với bên nhận thế chấp
mà không cần phải chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp
Xét về phương diện học thuật, ngoài những đặc điểm mang tính bản chất của hợp đồng thế chấp nói chung, hợp đồng thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng còn có những đặc trưng pháp lý sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay luôn có
một bên là tổ chức tín dụng - với tư cách là bên nhận thế chấp (bên có quyền đòi nợ theo hợp đồng tín dụng) Ngoài ra, chủ thể thứ hai là bên thế chấp và chủ thể này có thể chính là bên vay hoặc người thứ ba có tài sản thế chấp cho tổ chức tín dụng Do
10 Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội tr
317
Trang 20chủ thể nhận thế chấp là tổ chức tín dụng nên việc phòng tránh rủi ro tín dụng cho chủ thể này là vấn đề hết sức quan trọng, được pháp luật quan tâm đặc biệt vì mục tiêu giữ vững an toàn của hệ thống ngân hàng và đảm bảo lợi ích quốc gia
Thứ hai, nghĩa vụ được bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp thường là nghĩa vụ
hoàn trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay vốn Nghĩa vụ này phát sinh từ hợp đồng tín dụng, bao gồm nợ gốc, nợ lãi, các khoản phí, tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Thực tế cho thấy, do nghĩa vụ hoàn trả tiền vay trong hợp đồng tín dụng thường có giá trị lớn và có tính rủi ro cao nên hầu hết các tổ chức tín dụng khi cho vay đều mong muốn sử dụng biện pháp bảo đảm tiền vay để phòng tránh rủi ro cho các khoản tín dụng đã cung cấp Chính vì vậy, các hợp đồng thế chấp hiện nay được giao kết chủ yếu là nhằm bảo đảm cho nghĩa
vụ trả nợ tiền vay phát sinh từ các hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng Thực tế đó, càng chứng tỏ vai trò của các biện pháp bảo đảm tiền vay nói chung và biện pháp thế chấp tài sản nói riêng đối với yêu cầu bảo đảm quyền chủ nợ cho các tổ chức tín dụng trong điều kiện nền kinh tế thị trường
Thứ ba, đặt trong mối quan hệ với hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
được coi là một hợp đồng phụ luôn đi cùng với hợp đồng chính – hợp đồng tín dụng Trong quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng Do tổ chức tín dụng rất coi trọng vai trò tác dụng của các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay nên hợp đồng bảo đảm nói chung và hợp đồng thế chấp nói riêng thường được các bên (tổ chức tín dụng và bên bảo đảm) giao kết thành một hợp đồng riêng, tách khỏi hợp đồng tín dụng, với nhiều điều khoản chi tiết và rất cụ thể Điều này là cần thiết, vì việc giao kết một hợp đồng thế chấp riêng rẽ với hợp đồng tín dụng sẽ tạo điều kiện cho các bên có cơ hội thỏa thuận chi tiết, cụ thể và đầy đủ hơn về các điều khoản của hợp đồng bảo đảm tiền vay Trên cơ sở đó, giúp cho việc thực hiện hợp đồng bảo đảm và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo đảm tiền vay cũng dễ dàng, thuận lợi hơn
1.2.3 Đối tượng của thế chấp tài sản để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng
Trong quan hệ thế chấp tài sản, không phải bất cứ tài sản nào cũng có thể đem thế chấp, một tài sản là đối tượng của biện pháp thế chấp phải đáp ứng những yêu cầu của pháp luật đối với tài sản bảo đảm Trước tiên tài sản đó phải thuộc sở
Trang 21hữu của bên thế chấp Tài sản đó không thuộc đối tượng bị kê biên, phong toả và phải là loại tài sản được phép giao dịch Bên thế chấp phải mua bảo hiểm đối với tài sản nếu pháp luật có quy định Như vậy, đối tượng của thế chấp tài sản phải là những tài sản không bị cấm lưu thông và bên thế chấp có đầy đủ ba quyền năng của chủ sở hữu: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và định đoạt tài sản thế chấp đó Trước đây, BLDS năm 1995 qui định, đối tượng thế chấp chỉ có thể là bất động sản và một số tài sản nhất định như tàu bay, tàu biển Theo quy định của BLDS năm 2015 đối tượng thế chấp được mở rộng, không chỉ bó hẹp trong qui định tài sản thế chấp là bất động sản nữa mà bao gồm cả động sản, quyền tài sản, vật hiện có và vật hình thành trong tương lai
Trường hợp đối với tài sản thế chấp là bất động sản thì bất động sản đó phải
thuộc sở hữu của bên thế chấp Điều 107 BLDS năm 2015 qui định “Bất động sản
bao gồm đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó, các tài sản khác gắn liền với đất đai và các tài sản
do pháp luật qui định” Bên thế chấp khi thế chấp những bất động sản trên họ phải
có trách nhiệm chứng minh mình là chủ sở hữu hợp pháp của những tài sản đó, qua giấy tờ pháp lý như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu
Trường hợp đối tượng thế chấp là động sản Đây là qui định hoàn toàn mới của BLDS năm 2015 Qui định động sản là đối tượng của thế chấp đã tạo ra rất nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi cho các chủ thể của thế chấp, đặc biệt trong trường hợp bên thế chấp là doanh nghiệp Trước đây, Bộ luật Dân sự 1995 qui định những tài sản là động sản có giá trị lớn như dây chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị… không thuộc đối tượng thế chấp, khi có nhu cầu về vốn các bên chỉ có thể lựa chọn biện pháp cầm cố Điều này sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Vì khi lựa chọn biện pháp cầm cố, doanh nghiệp sẽ phải chuyển giao quyền sở hữu tài sản đó cho bên nhận cầm cố Như vậy bên cầm
cố không được tiếp tục khai thác công dụng của tài sản đó nữa, dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ bị ngưng trệ Bộ Luật dân sự 2005 qui định động sản là đối tượng của biện pháp thế chấp đã khắc phục được những hạn chế trên, giúp cho bên thế chấp vừa có vốn để sản xuất kinh doanh mà vẫn có thể sử dụng tài sản đó Qui định này mở rộng đối tượng của biện pháp thế chấp
Trang 22Các bên chủ thể có quyền thoả thuận về việc thế chấp một phần hoặc toàn bộ động sản, bất động sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ Bên có nghĩa vụ cũng có thể dùng một tài sản thế chấp bảo đảm cho nhiều khoản vay nếu tài sản đó có giá trị lớn hơn tổng giá trị các khoản vay Đối tượng thế chấp cũng có thể là quyền tài sản
Theo quy định tại Điều 115 BLDS năm 2015, “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”
Kế thừa những quy định của BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 còn cho phép các bên được sử dụng tài sản hình thành trong tương lai để thế chấp Tài sản hình thành trong tương lai có thể là hoa lợi, lợi tức, công trình đang xây dựng, tài sản hình thành từ vốn vay …và các tài sản khác mà bên bảo đảm có quyền nhận, nhưng vào thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết tài sản đó chưa tồn tại hoặc đã tồn tại nhưng đang trong thời gian hình thành Ví dụ: thế chấp cà phê chuẩn bị đến mùa thu hoạch, tòa nhà chưng cư đang xây dựng… Ngoài những loại tài sản trên, đối tượng của thế chấp có thể là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản đang cho thuê Tuy nhiên khi thế chấp tài sản đang cho thuê, bên thế chấp phải có trách nhiệm thông báo về việc tài sản thế chấp đang được dùng để cho thuê Điều 24 NĐ 163/2006/NĐ-CP quy định “trường hợp thế chấp tài sản đang cho thuê thì bên thế chấp phải có trách nhiệm thông báo về việc cho thuê tài sản cho bên nhận thế chấp”11 Trường hợp các bên sử tài sản được bảo hiểm để thế chấp thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp
Nhìn chung so với qui định về đối tượng thế chấp trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005, đối tượng thế chấp theo qui định BLDS năm 2015 được mở rộng hơn rất nhiều Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho bên nhận thế chấp có thể duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh một cách tốt nhất
1.2.4 Hình thức của thế chấp tài sản đảm bảo thực hiện hợp đồng tín
dụng
Cam kết thế chấp là cơ sở thực hiện biện pháp thế chấp tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng Cam kết thế chấp có thể được đưa vào trong hợp đồng tín dụng hoặc trong một văn bản riêng Trong trường hợp cam kết thế chấp được lập thành
11 Điều 24 Nghị định 163/2006/ NĐ – CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm
Trang 23văn bản riêng thì hình thành nên một hợp đồng thế chấp Nếu cam kết thế chấp ghi trong văn bản hợp đồng tín dụng ngân hàng thì nó chỉ có ý nghĩa là một điều khoản của hợp đồng tín dụng ngân hàng Theo Christian Gavanda và Jean Stoufflet thì việc ghi nhận cam kết thế chấp thành văn bản riêng thường được ưa thích hơn và thậm chí là cần thiết nếu hợp đồng chính là một tư chứng thư Pháp luật hiện hành của Việt Nam còn cho phép việc thế chấp tài sản có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi vào hợp đồng tín dụng ngân hàng
Trong trường hợp việc thế chấp được lập thành hợp đồng riêng thì sẽ tồn tại hai hợp đồng: Hợp đồng tín dụng ngân hàng và hợp đồng thế chấp tài sản Hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng có nghĩa vụ cần được bảo đảm (giao dịch được bảo đảm), còn hợp đồng thế chấp (giao dịch thế chấp) là hợp đồng phát sinh giữa bên cho vay (tổ chức tín dụng - bên nhận thế chấp) với bên thế chấp (bên vay vốn hoặc người bảo lãnh bằng tài sản thế chấp) Vấn đề cần được làm rõ là quan hệ bản chất và quan hệ hiệu lực giữa hai hợp đồng này như thế nào?
Đối với trường hợp bên vay vốn đồng thời là bên thế chấp thì hợp đồng thế chấp đương nhiên có cùng bản chất với hợp đồng tín dụng ngân hàng vì chúng có cùng cơ cấu chủ thể, cùng mục đích thiết lập hợp đồng và đều được lập dưới hình thức văn bản hợp đồng Ví dụ: doanh nghiệp tư nhân A ký hợp đồng vay vốn để kinh doanh với ngân hàng B (hợp đồng kinh tế) và ký hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ (hợp đồng kinh tế)
Đối với trường hợp nghĩa vụ trả nợ của bên vay được bảo đảm bằng biện pháp bảo lãnh và để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh bên bảo lãnh thế chấp tài sản của mình cho ngân hàng thì sẽ tồn tại hai hợp đồng có cơ cấu chủ thể khác nhau: Hợp đồng tín dụng ngân hàng được ký kết giữa tổ chức tín dụng (Bên cho vay) với
tổ chức cá nhân vay vốn (Bên vay); Hợp đồng bảo lãnh được ký kết giữa Tổ chức tín dụng (Bên nhận thế chấp) với bên thế chấp (trong đó bên thứ ba cam kết dùng tài sản của mình thế chấp cho tổ chức tín dụng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh) Do có cơ cấu chủ thể độc lập nên hai hợp đồng này không chi phối lẫn nhau
về bản chất pháp lý
Tóm lại: Hình thức thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng thế chấp tài sản hoặc cam kết thế chấp tài sản được ghi trong hợp đồng tín dụng ngân hàng, ghi nhận sự thỏa thuận của Tổ chức tín dụng (bên
Trang 24nhận thế chấp) với bên vay vốn hoặc người bảo lãnh (bên thế chấp) theo đó Bên thế chấp, sử dụng tài sản là bất động sản hoặc động sản mà pháp luật cho phép thế chấp
để bảo đảm nghĩa vụ của bên vay vốn Việc thế chấp tài sản bắt buộc phải lập thành văn bản và nếu pháp luật có qui định phải công chứng, chứng thực và đăng ký, khi
đó việc công chứng, chứng thực và đăng ký thì đăng ký điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Nếu các bên không tuân thủ thì hợp đồng thế chấp sẽ vô hiệu
1.2.5 Chủ thể của thế chấp tài sản để bảo đảm hợp đồng tín dụng
Chủ thể trong quan hệ thế chấp bao gồm bên thế chấp và bên nhận thế chấp Bên thế chấp là bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ Bên thế chấp cũng có thể là người thứ ba trong trường hợp người thứ ba thế chấp QSDĐ để bảo đảm nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ Bên nhận thế chấp là bên có quyền, là chủ nợ có bảo đảm và được quyền ưu tiên đối với tài sản bảo đảm Khi tham gia vào quan hệ thế chấp, các chủ thể của thế chấp tài sản phải đáp ứng đầy đủ qui định của pháp luật về điều kiện chủ thể và có tài sản bảo đảm
BLDS năm 2015 qui định chủ thể của các giao dịch dân sự là cá nhân, pháp nhân Từ đây có thể suy đoán chỉ cá nhân, pháp nhân mới là chủ thể của hợp đồng thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ Tuy nhiên quy định này lại mâu thẫn với luật Đất đai 2013, bởi luật Đất đai vẫn cho phép hộ gia đình được sử dụng quyền sử dụng đất là tài sản chung củ hộ gia đình đem đi thế chấp tại các tổ chức tín dụng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ Các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự nói chung và thế chấp nói riêng đều phải thoả mãn các điều kiện của pháp luật đối với chủ thể của giao dịch Nếu chủ thể là cá nhân thì phải đạt độ tuổi nhất định (18 tuổi trở lên) và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, chỉ khi cá nhân nhận thức, làm chủ hành vi của mình họ mới có thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh từ quan hệ thế chấp Trường hợp chủ thể của quan hệ thế chấp là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thì họ phải có người đại diện theo pháp luật và việc tham gia quan hệ thế chấp phải phù hợp với các qui định của pháp luật cũng như điều lệ của pháp nhân đó
Tài sản thế chấp, thông thường là những tài sản có giá trị lớn và do bên thế chấp giữ Trong một số trường hợp, nếu các bên có thoả thuận tài sản thế chấp sẽ được giao cho người thứ ba giữ
Trang 251.3 Mối quan hệ hiệu lực giữa hợp đồng thế chấp tài sản với hợp đồng tín dụng
Đây là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu luật học, luật gia, luật sư và những người thực hành pháp luật, không chỉ về phương diện học thuật mà cả trong thực tiễn áp dụng pháp luật, đặc biệt là thực tiễn hoạt động cho vay có bảo đảm của tổ chức tín dụng
Về phương diện học thuật Vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất liên quan đến mối quan hệ giữa hợp đồng thế chấp tài sản với hợp đồng tín dụng, đó là việc xác định tính độc lập hay tính phụ thuộc giữa hai hợp đồng này Nói cách khác, mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng bảo đảm tiền vay nói chung và hợp đồng thế chấp tài sản nói riêng có phải là mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ hay không?
Một số quan điểm cho rằng: Mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản có thể coi là mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ Trong một thời gian khá dài, do tồn tại những quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng chính và hợp đồng phụ (Điều 405 BLDS năm 1995, Điều 406 BLDS năm 2005; Điều 402 BLDS 2015) nên trong khoa học pháp lý và cả trong quá trình xây dựng pháp luật cũng như thực thi pháp luật, đã xuất hiện quan điểm suy luận coi hợp đồng tín dụng là hợp đồng chính, trong khi hợp đồng bảo đảm tiền vay nói chung và hợp đồng thế chấp tài sản nói riêng có thể coi là hợp đồng phụ Có lẽ quan điểm này dựa trên lập luận cho rằng, sự bảo đảm chỉ có giá trị khi tồn tại nghĩa
vụ được bảo đảm (nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng chính) Do nhìn nhận như vậy, nhiều ý kiến cho rằng, có thể coi mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng bảo đảm tiền vay nói chung và hợp đồng thế chấp tài sản nói riêng là mối quan hệ giữa hợp đồng chính với hợp đồng phụ Điều này không chỉ tồn tại trong các diễn đàn khoa học mà thực tế đã trở thành những quy định của luật pháp có giá trị bắt buộc thi hành ở Việt Nam trong những năm trước đây
Như vậy, có thể khẳng định rằng, trong lịch sử pháp chế Việt Nam đã từng tồn tại quan niệm cho rằng hợp đồng tín dụng là hợp đồng chính và hợp đồng cầm
cố, thế chấp, bảo lãnh là hợp đồng phụ Điều đó cũng có nghĩa rằng, theo quan điểm này, nếu hợp đồng tín dụng (hợp đồng chính) bị vô hiệu thì hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh (với tính chất là hợp đồng phụ) cũng đương nhiên bị vô hiệu theo
Trang 26Ngược lại, nếu hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bị vô hiệu thì không tất yếu hay chắc chắn làm vô hiệu hợp đồng tín dụng (hợp đồng chính) Trải qua thời gian, quan điểm này đã từng được xem là “chính thống” trong nhiều năm và được các luật sư, tòa án thường xuyên viện dẫn như là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết các vụ tranh chấp về hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản
ở Việt Nam
Tuy nhiên, trong thực tiễn pháp lý cũng như trong các diễn đàn trao đổi học thuật, từng có ý kiến cho rằng, chỉ nên coi hợp đồng tín dụng là hợp đồng chính và hợp đồng bảo đảm tiền vay (trong đó có hợp đồng thế chấp) là hợp đồng phụ khi cả hai loại hợp đồng này đều có thành phần chủ thể giống nhau, nghĩa là cả hai hợp đồng này đều cùng được giao kết bởi hai chủ thể xác định Theo ý kiến chúng tôi, nhận thức này không thật chính xác, bởi vì khi nói đến mối quan hệ chính - phụ giữa hai hợp đồng nào đó, chủ yếu là nhằm xác định mối quan hệ ảnh hưởng, chi phối về hiệu lực giữa hai hợp đồng đó với nhau, chứ không giới hạn ở khía cạnh chủ thể của hợp đồng Nói cách khác, một hợp đồng có thể được coi là hợp đồng chính và một hợp đồng khác có thể được coi là hợp đồng phụ, xét trong mối tương quan về hiệu lực giữa hai hợp đồng này với nhau, bất luận chủ thể ký kết hai loại hợp đồng này có trùng nhau hay không
Một số quan điểm khác lại cho rằng: Mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng thế chấp không hoàn toàn là mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ Quan điểm này đã được thể hiện trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (thay thế cho Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999) Trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006, nhà làm luật đã có sự thay đổi quan niệm theo hướng thực tế hơn, không hoàn toàn coi mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp là mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ Cụ thể là, Điều 15 Nghị định số
163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 quy định: “1 Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác…”
Theo quy định nói trên, nếu áp dụng cho hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế
Trang 27chấp tài sản thì có thể hình dung mối tương quan về hiệu lực giữa hai hợp đồng này
(hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp) như sau:
Trường hợp thứ nhất có hai khả năng xảy ra:
Một là, nếu hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp bị vô hiệu hoặc đã
có hiệu lực nhưng bị hủy bỏ bởi thỏa thuận của các bên hoặc bởi ý chí đơn phương của một bên nhưng chưa được thực hiện thì hợp đồng thế chấp bị chấm dứt Cần lưu
ý rằng theo quy định của điều luật nêu trên thì trong trường hợp này, hợp đồng thế chấp bị chấm dứt, nghĩa là đã có hiệu lực rồi sau đó mới chấm dứt hiệu lực do không cần thiết duy trì hiệu lực của hợp đồng thế chấp nữa, chứ không phải là hợp đồng thế chấp bị vô hiệu ngay từ khi ký kết
có hiệu lực nhưng bị hủy bỏ bởi thỏa thuận của các bên hoặc bởi ý chí đơn phương của một bên và đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ thì hợp đồng thế chấp không bị đương nhiên chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thế chấp này vì thấy không cần thiết phải tiếp tục thực hiện hợp đồng nữa Trong trường hợp này, nếu hợp đồng thế chấp không bị chấm dứt trong khi tổ chức tín dụng đã giải ngân cho khách hàng thì bên nhận thế chấp (tổ chức tín dụng) có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi số tiền đã giải ngân cho khách hàng
Trường hợp thứ hai: Hợp đồng thế chấp bị vô hiệu hoặc bị hủy bỏ hoặc bị đơn phương chấm dứt sẽ không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng tín dụng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hủy bỏ hay chấm dứt hợp đồng tín dụng
Từ việc phân tích, bình luận và khảo cứu các quan điểm trên đây, chúng tôi cho rằng: Xét trong mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng bảo đảm tiền vay thì không thể coi hợp đồng tín dụng là hợp đồng chính và hợp đồng bảo đảm tiền vay (trong đó có hợp đồng thế chấp tài sản) là hợp đồng phụ Do đó cũng không có cơ sở để khẳng định rằng; bản chất mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng thế chấp là quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ, vì các lý
do sau đây:
Thứ nhất, về khía cạnh học thuật, tự thân mỗi hợp đồng này (tức hợp đồng
tín dụng và hợp đồng thế chấp) đều đã có đầy đủ các yếu tố để được coi là một hợp đồng thực thụ Vì thế, tự nó sẽ phát sinh hiệu lực nếu thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (theo quy định tại Điều 117 BLDS 2015), chứ không
Trang 28cần phải phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng khác Điều này có nghĩa, hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản đều là những hợp đồng độc lập, không hề ảnh hưởng và chi phối đến hiệu lực của nhau, cho dù mục đích của việc thiết lập hợp đồng thế chấp là nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng
Từ lập luận như vậy, có thể kết luận rằng, nếu hợp đồng tín dụng bị vô hiệu hoặc bị chấm dứt, hủy bỏ thì cũng không ảnh hưởng gì đến hiệu lực của hợp đồng thế chấp tài sản Ngược lại, nếu hợp đồng thế chấp tài sản bị vô hiệu hoặc bị chấm dứt, hủy bỏ thì cũng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng tín dụng và khi đó, hợp đồng tín dụng trở thành hợp đồng không có bảo đảm bằng tài sản
Thứ hai, về khía cạnh pháp luật thực định, tại Điều 407 BLDS năm 2005, tuy
nhà làm luật vẫn mô tả rõ bản chất pháp lý của mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ nhưng đồng thời cũng khẳng định rằng, các quy định về mối quan hệ này không áp dụng cho các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự, trong đó có biện pháp thế chấp tài sản Theo ý kiến chúng tôi, nhà làm luật lựa chọn giải pháp này cho mối quan hệ giữa hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm với hợp đồng bảo đảm là khá hợp lý, vì nó giúp cho bên chủ nợ tránh được những rủi ro về kinh tế trong trường hợp hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà bên chủ nợ (bên nhận bảo đảm) đã thực hiện hợp đồng này với người bảo đảm
1.4 Xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo hợp đồng tín dụng
Các quy định về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay nói chung và xử lý tài sản thế chấp nói riêng có vai trò quan trọng trong pháp luật về thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng Bởi vì mục tiêu của thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng sẽ không đạt được nếu không có một
cơ chế hữu hiệu trong xử lý tài sản thế chấp Mục đích của việc xử lý tài sản thế chấp là tạo ra nguồn trả nợ khác cho Tổ chức tín dụng cho vay khi nguồn trả nợ chính của bên vay không có hoặc không còn đủ để trả nợ Như vậy, không phải trong mọi trường hợp thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng thì tài sản thế chấp đều phải xử lý để thu hồi nợ Việc xử lý tài sản thế chấp chỉ có thể được tiến hành khi có những căn cứ nhất định Theo Điều 56, Nghị định
số 163/2006/NĐ-CP, khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với Tổ chức tín
Trang 29dụng, thì tài sản bảo đảm tiền vay được xử lý để thu hồi nợ12 Theo quy định trên thì tài sản thế chấp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng được xử lý để thu hồi nợ khi nghĩa vụ trả nợ (nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp) của khách hàng đã phát sinh mà bên thế chấp tài sản không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Thông thường nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản thế chấp phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo hợp đồng tín dụng, trong một số trường hợp đặc biệt mặc dù kỳ hạn trả nợ tiền vay chưa đến hạn những nghĩa vụ trả
nợ đã phát sinh đó là các trường hợp được pháp luật quy định như: Khách hàng vay
vi phạm hợp đồng tín dụng Tổ chức tín dụng có quyền được chấm dứt cho vay thu hồi nợ trước hạn; Hoặc trường hợp khách hàng vay là tổ chức kinh tế bị giải thể trước khi đến hạn trả nợ, hoặc trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hóa mà không có biện pháp giải quyết khác
về kế thừa nghĩa vụ trả nợ …thì nghĩa vụ trả nợ tuy chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn
Pháp luật hiện hành về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, đặc biệt là các quy định được ban hành ở Nghị định số 163/2006/NĐ-CP khá hoàn thiện và góp phần phát huy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các Tổ chức tín dụng Trên cơ sở
những quy định có tính nguyên tắc của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP
1.4.1 Các trường hợp xử lý tài sản thế chấp
Quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền của bên nhận thế chấp và quyền này chỉ được đặt ra khi phát sinh các căn cứ theo qui định của pháp luật hoặc thoả thuận của các bên Điều 56 NĐ 163/2006/NĐ-CP qui định các trường hợp xử lý tài sản thế chấp
- Tài sản thế chấp được xử lý khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm
mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Như vậy trong trường hợp pháp luật có qui định hoặc các bên trong hợp đồng vay tài sản có thoả thuận về thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà khi thời hạn đã đến, bên thế chấp không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc tuy có thực hiện nhưng không đầy đủ thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ trả nợ và có quyền yêu cầu thanh toán trước so với các chủ nợ không có bảo đảm khác
12 Điều 56 Nghị định 163/2006/ NĐ – CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm
Trang 30- Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thoả thuận hoặc qui định của pháp luật Qui định thời hạn thực hiện nghĩa vụ nhằm bảo đảm quyền lợi của bên chủ nợ và ràng buộc trách nhiệm bên vay nợ Tuy nhiên, trong thời hạn thực hiện nghĩa vụ đó không phải bên có nghĩa vụ nào cũng có ý thức thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật hoặc thoả thuận của các bên như bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp, sử dụng vốn vay đúng mục đích Trong trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ đó thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp
- Pháp luật qui định tài sản thế chấp phải được xử lý để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác Đó là trường hợp một tài sản thế chấp được dùng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ, trong đó có nghĩa vụ đã đến hạn thì các nghĩa vụ khác mặc dù chưa đến hạn nhưng được coi là đã đến hạn, tài sản thế chấp sẽ được đem xử lý để thanh toán khoản nợ đến hạn và chưa đến hạn13
Ngoài ra các bên có thể thoả thuận các trường hợp khác xử lý tài sản thế chấp phù hợp với qui định của pháp luật Việc xử lý tài sản thế chấp liên quan đến quyền lợi của các bên trong hợp đồng, do đó việc xử lý tài sản thế chấp phải dựa trên nguyên tắc luật định Trong đó sự thoả thuận của các bên là nguyên tắc đặt lên hàng đầu Trường hợp các bên không có thoả thuận thì tài sản thế chấp sẽ được bán đấu giá theo qui định của pháp luật Bán đấu giá tài sản là phương thức tốt nhất bảo đảm lợi ích của các bên Qua phương thức bán đấu giá, quyền lợi của bên nhận thế chấp được bảo đảm một cách nhanh chóng, tránh được sự rườm rà, phức tạp của những thủ tục hành chính Đối với bên thế chấp, nếu tài sản thế chấp được xử lý theo phương thức bán đấu giá thì giá trị tài sản luôn được bảo đảm ở mức độ cao nhất so với các hình thức xử lý khác
1.4.2 Phương thức xử lý tài sản thế chấp
Theo Điều 59, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP thì các bên có thể lưạ chọn một trong các phương thức sau đây để xử lý tài sản đảm bảo:
- Bán tài sản bảo đảm tiền vay;
- TCTD nhận chính tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm;
13 Điều 56 Nghị định 163/2006/ NĐ – CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm
Trang 31- TCTD được trực tiếp nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ bên thứ ba
trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ
1.4.2.1 Về phương thức bán tài sản bảo đảm
Khoản 1 Điều 59 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 Với các quy định của pháp luật hiện hành về việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo phương thức bán tài sản, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Một là, việc trao cho Tổ chức tín dụng được bán tài sản trong trường hợp
không xử lý được tài sản theo thỏa thuận là quy định "vượt quyền" với quy định tại BLDS Bởi vì, BLDS chỉ trao quyền cho bên nhận bảo đảm được yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bán đấu giá, nếu các bên không có thỏa thuận khác
thể thực hiện phương thức bán tài sản, trừ việc ủy quyền bán đấu giá tài sản cho Trung tâm hoặc doanh nghiệp có chức năng bán đấu giá Thực tế cho thấy việc ban hành quy trình, thủ tục bán tài sản công khai, khách quan sẽ quyết định tới giá trị tài sản bảo đảm và ảnh hưởng tới việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng tại Tổ chức tín dụng, đặc biệt là trong trường hợp không có sự thỏa thuận hoặc không có
sự tham gia của bên bảo đảm vào quá trình xử lý tài sản
Ba là, việc quy định trao quyền bán tài sản cho Tổ chức tín dụng mới được
ghi nhận tại các văn bản về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay mà chưa được điều chỉnh tại các văn bản liên quan đến việc xử lý tài sản như quy định về hồ sơ, thủ tục và việc xác định năng lực hành vi của người chuyển nhượng tài sản trong thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, công chứng Chính sự không đồng bộ này đã tạo ra những vướng mắc cho Tổ chức trong trong việc hoàn tất các thủ tục xử lý tài sản nếu như bên có tài sản bị xử lý không tự nguyện bàn giao và hoàn tất hồ sơ chuyển giao tài sản
1.4.2.2 Về phương thức nhận chính tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm
Trước khi có Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các Tổ chức tín dụng, tại Quyết định số 217/QĐ-NH ngày 17/8/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã quy định về việc "gán nợ cho bên nhận thế chấp" Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm số 1590/HSST ngày 10/12/1999 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án EPCO - Minh Phụng cũng đã áp
Trang 32dụng phương thức "cấn trừ nợ" và giao tài sản bảo đảm cho các ngân hàng quản lý, khai thác, phát mãi thu hồi nợ Thực chất, các phương thức này chính là việc vận dụng Điều 301 BLDS quy định việc "thực hiện nghĩa vụ dân sự thay thế được" Phương thức nhận tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế nghĩa vụ được bảo đảm được pháp luật quy định áp dụng cho cả trường hợp xử lý tài sản theo thỏa thuận và trường hợp TCTD có quyền chủ động xử lý mà không phụ thuộc vào thỏa thuận với bên bảo đảm Đây là một đặc thù khác với phương thức nhận tài sản để thay thế nghĩa vụ trong giao dịch dân sự quy định tại Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và sau được quy định tại nghị định 163/2006/NĐ–CP ngày 29/12/2006 Theo Nghị định này, các bên được thực hiện phương thức nhận tài sản khi có thỏa thuận
Với phương thức nhận tài sản thay thế nghĩa vụ trả nợ hiện hành cho thấy, phương thức nhận chính tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm là một phương thức mà pháp luật trao quyền cho TCTD nhằm giải phóng tối đa các khoản nợ xấu và tài sản bảo đảm gây nợ tồn đọng hoặc những tài sản khó xử lý, tài sản đặc thù Việc xử lý tài sản theo phương thức này mà không cần có thỏa thuận với bên bảo đảm tại hợp đồng là một "đặc ân" mà pháp luật trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng đã quy định cho TCTD để thu hồi nợ Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, khi TCTD thực hiện phương thức này mà không có thỏa thuận với bên bảo đảm sẽ không tuân thủ tính công khai, khách quan của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, đặc biệt khi TCTD thực hiện quyền tự quyết định giá trị tài sản để nhận cho mình Đồng thời, dưới góc độ hoạt động nghiệp vụ thì việc TCTD nhận tài sản mà tài sản đó chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng cho chính Tổ chức tín dụng sẽ tạo ra nguy cơ phá vỡ giới hạn tỷ lệ an toàn trong hoạt động của TCTD Bởi vì, pháp luật quy định việc đầu tư vào tài sản cố định của một TCTD không được vượt quá 50% vốn tự có Hơn nữa, quy định này xung đột với quy định tại BLDS về việc quyền sở hữu của chủ tài sản bị xử lý chỉ chấm dứt khi việc xử lý tài sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện Mặt khác cũng cần thấy rằng, hiện nay, có một số cách hiểu và vận dụng phương thức nhận tài sản để thay thế nghĩa vụ được bảo đảm không thống nhất Theo pháp luật hiện hành thì khi TCTD thực hiện phương thức này, tài sản sẽ được xác định giá trị để bù trừ nghĩa
vụ Trường hợp giá trị tài sản được định giá không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì bên
Trang 33bảo đảm phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trường hợp có chênh lệch thừa thì phần chênh lệch đó sẽ thuộc về bên bảo đảm Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, việc xác định giá trị tài sản tại thời điểm "bù trừ" không có ý nghĩa, bên bảo đảm sẽ có quyền lợi và nghĩa vụ đến khi tài sản bảo đảm được bán để thu hồi nợ Trong vụ án EPCO
- Minh Phụng, Tòa án đã áp dụng phương thức này và giao tài sản cho các ngân hàng "quản lý, khai thác, phát mãi thu hồi nợ" tương đương với tổng số nợ đã được cấn trừ Mặc dù vậy, khi ngân hàng xử lý tài sản, số tài sản có giá trị dôi ra so với giá trị xác định tại bản án vẫn được coi là tài sản của bên thế chấp mà không phải là tài sản của ngân hàng thương mại đã nhận tài sản cấn trừ Quan điểm này không phù hợp với bản chất của phương thức nhận tài sản, chưa có sự phân biệt rõ phương thức này với phương thức "bán" tài sản Đồng thời, việc hiểu và vận dụng phương thức nhận tài sản theo quan điểm này không đảm bảo được lợi ích của Tổ chức tín dụng khi thực hiện xử lý tài sản bằng phương thức nhận tài sản
1.4.2.3 Về phương thức nhận tài sản từ bên thứ ba trong trường hợp bên thứ ba có nghĩa vụ trả tiền cho khách hàng vay, bên thế chấp
Trong thực tiễn thực hiện các giao dịch bảo đảm nói chung, giao dịch bảo đảm tiền vay nói riêng, việc Tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm là tài sản do người thứ ba có nghĩa vụ phải trả cho bên bảo đảm (khách hàng vay, bên bảo lãnh) ngày càng phổ biến Khi nền kinh tế thị trường phát triển, các công cụ thanh toán, công cụ vay - nhận nợ được sử dụng ngày càng nhiều thì việc sử dụng các công cụ này để bảo đảm tiền vay cũng như việc xử lý tài sản bảo đảm bằng phương thức này
là tất yếu
Phương thức Tổ chức tín dụng được nhận các khoản tiền hoặc tài sản từ bên thứ ba trong trường hợp bên thứ ba có nghĩa vụ trả tiền hoặc tài sản cho khách hàng vay, bên bảo lãnh có nguồn gốc từ quy định về chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ tại mục 4 chương I Phần thứ ba Bộ luật dân sự
Thực tiễn thực hiện phương thức này đã bộc lé những bất cập do pháp luật không quy định cụ thể "các bên" trong thỏa thuận xử lý tài sản Đối với một số tài sản, việc thỏa thuận thực hiện phương thức này giữa bên bảo đảm, Tổ chức tín dụng
và bên thứ ba là cần thiết, nhưng trong một số trường hợp nhất định, có những tài sản không cần thiết phải có sự thỏa thuận với bên thứ ba (ví dụ như khi Tổ chức tín
Trang 34dụng thực hiện quyền yêu cầu bên thứ ba thanh toán một số loại giấy tờ có giá như séc, hối phiếu )
1.4.2.4 Về phương thức xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất
Do đặc thù của chế độ quản lý đất đai, việc thế chấp và xử lý quyền sử dụng đất thế chấp được thực hiện theo quy định tại các văn bản pháp luật đất đai Theo thống kê, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được thế chấp tại các Tổ chức tín dụng chiếm tới 80% tổng số tài sản bảo đảm và hầu hết số
nợ không xử lý được còn tồn đọng ở bất động sản thế chấp cũng lên đến 90% tổng
số nợ có tài sản bảo đảm
Thủ tục và phương thức xử lý quyền sử dụng đất để thu hồi nợ cho các Tổ chức tín dụng được quy định tương đối phức tạp và không thống nhất Điều 301 BLDS năm 2015 quy định về xử lý quyền sử dụng đất thế chấp như sau Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác
Việc xử lý quyền sử dụng đất thế chấp tại các Tổ chức tín dụng còn được quy định tại một số Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết Tại Phụ lục G của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, "sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, các đơn vị tài chính ngân hàng 100% vốn đầu tư của Hoa kỳ chỉ được nhận thế chấp quyền sử dụng đất của các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và có được quyền sử dụng đất mà được thế chấp cho khoản vay trong trường hợp mất khả năng thanh toán cho khoản vay, phá sản hay giải thể của
xí nghiệp vay nợ đó14
Trên thực tế các ngân hàng thương mại gặp rất nhiều khó khăng trong quá trình thực hiện việc chuyển nhượng theo sự thỏa thuận tại hợp đồng thế chấp do sự không hợp tác của bên thế chấp Mặt khác cơ quan công chứng không thực hiện công chứng trong hợp đồng chuyển nhượng do bên nhận thế chấp ký mà phải yêu cầu sự có mặt của bên thế chấp hoặc đồng ý công chứng khi có quyết định, bản án của tòa án, quyết định của cơ quan thi hành án Với quy định việc bán đấu giá tài sản khi bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bên thế chấp không thực hiện việc trả nợ thay là một quy định tiến bộ nhưng thực hiện rất khó khăn khi bên thế chấp không
tự nguyện và cản trở Cuối cùng, phương án thường được các ngân hàng thương
14 "Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ", Công báo, (7) và (8), tr540
Trang 35mại lựa chọn là khởi kiện tại tòa án nhân dân có thẩm quyền Với quyết định, bản
án có hiệu lực pháp luật được chuyển qua cơ quan thi hành án, cơ quan thi hành án lại phải tốn nhiều công sức trong quá trình thi hành án mới thực hiện việc kê biên phát mãi tài sản thế chấp Quá trình từ khởi kiện đến khi thi hành án mất nhiều tháng đến nhiều năm, tốn nhiều công sức, tiền bạc và làm tăng các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại
Việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng
sự thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, trên thực tế việc xử lý tài sản thế chấp gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là sự thiếu thiện chí, hợp tác từ phía khách hàng (bên bảo đảm) Trong khi đó yêu cầu khách quan của việc xử lý tài sản bảo đảm nói chung và xử lý tài sản thế chấp nói riêng đặt ra là
phải bảo đảm tính nhanh chóng, công khai, thủ tục đơn giản, thuận tiện, bảo đảm
quyền, lợi ích của các bên và tiết kiệm chi phí
Kết luận Chương 1
Trong các biện pháp bảo đảm, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng là một hình thức giao dịch bảo đảm thường được áp dụng Biện pháp thế chấp tài sản tạo cho TCTD khả năng khấu trừ giá trị tài sản để thu hồi
nợ, tránh được tổn thất trong hoạt động cho vay Thế chấp tài sản có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động cho vay của các TCTD Vai trò của thế chấp tài sản quyết định vai trò của pháp luật điều chỉnh quan hệ thế chấp tài sản Pháp luật nước
ta phân biệt biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự với biện pháp bảo đảm tiền vay nên
đã hình thành nhóm các quy phạm pháp luật về thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG TRANH CHẤP PHÁP SINH
TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP TÀI SẢN
BẢO ĐẢM CHO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 2.1 Nội dung tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
Tranh chấp hợp đồng tín dụng là biểu hiện sự mâu thuẫn hay không thống nhất về quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích phát sinh từ hợp đồng tín dụng của bên cho vay là các tổ chức tín dụng và khách hàng vay trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng
Một hợp đồng tín dụng chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về phương diện quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài (mặt khách quan) thông qua những bằng chứng cụ thể và xác định được Ví dụ, vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi, nghĩa vụ trả nợ gốc khi đến kỳ hạn trả nợ Vì thế, không phải cứ khi nào vi phạm hợp đồng thì khi đó có tranh chấp mà đôi khi sự vi phạm hợp đồng diễn ra trước và tranh chấp hợp đồng lại là sự kiện diễn ra sau đó một khoảng thời gian nhất định Thậm chí, có sự vi phạm hợp đồng tín dụng nhưng không thể có sự tranh chấp bởi các bên không bày tỏ ra bên ngoài về sự bất đồng hay xung đột lợi ích giữa họ với nhau bằng các hành vi phản kháng cụ thể có giá trị chứng cứ Vấn
đề đặt ra là ta làm thế nào để tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những tranh chấp
đó, từ đó mới đưa ra những biện pháp khắc phục, dần dần hạn chế những tranh chấp xảy ra đó mới là điều quan trọng và cần thiết nhất Trong thực tiễn các tranh chấp phát sinh thường là những tranh chấp sau:
2.1.1 Tranh chấp về hành vi vi phạm nghĩa vụ của một hoặc các bên trong hợp đồng
Hành vi vi phạm nghĩa vụ này, có thể là hành vi của bên cho vay (các ngân hàng và các định chế tài chính khác) Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, hợp đồng tín dụng có đặc điểm của hợp đồng ưng thuận, hình thức bắt buộc
bằng văn bản Tại khoản 4 Điều 400 BLDS năm 2015 “4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản”; Điều 401 BLDS năm 2015 quy định:
“Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ trường hợp
có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” Có thể suy đoán, hợp đồng
Trang 37tín dụng sẽ có hiệu lực ngay tại thời điểm các bên giao kết xong hợp đồng Sau khi hợp đồng tín dụng có hiệu lực, việc giải ngân khoản tín dụng mà hai bên đã thoả thuận là nghĩa vụ của bên cho vay Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp sau khi ký kết hợp đồng tín dụng với khách hàng bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân Điều này, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay như bên vay không tiến hành kế hoạch kinh doanh như
dự kiến, không có vốn đầu tư vào dự án đầu tư, đấu thầu đã được đăng ký Hậu quả
là bên cho vay bị tổn thất rất lớn về hiệu quả kinh tế cũng như uy tín, danh dự, thậm chí thương hiệu của bên vay ví dụ như:
Ngày 24/04/2012, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Phúc Yên đã ký hợp đồng tín dụng cho vay ngắn hạn đối với Công ty TNHH MTV Hưng Lợi với số tiền cho vay là 10.000.000.000đ (mười tỷ đồng chẵn), mục đích vay là để kinh doanh ô tô, máy móc thiết bị công trình, phụ tùng thay thế Trong đó: Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Phúc Yên sẽ giải ngân cho Công ty TNHH một thành Viên Hưng Lợi theo các hợp đồng mua bán hàng hóa mà Công ty TNHH một thành Viên Hưng Lợi giao kết với khách hàng, để Công ty TNHH một thành Viên Hưng Lợi trả tiền cho khách hàng của mình Thực hiện hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Phúc Yên đã giải ngân cho Công ty TNHH một thành Viên Hưng Lợi nhiều lần bằng tiền mặt Mỗi lần giải ngân Công ty TNHH một thành Viên Hưng Lợi đều lập giấy nhận nợ thể hiện số tiền vay, ngày vay và ngày
Đối với hai lần giải ngân đầu tiền thì ngân hàng giải ngân đúng thời hạn và
số tiền ghi trên giấy nhận nợ Đến lần thứ ba do không chuẩn bị đủ lượng tiền mặt nên ngân hàng đã không giải ngân đúng ngày như trong giấy nhận nợ của Công ty TNHH một thành Viên Hưng Lợi mà lại chuyển tiền vào tài khoản cho Công ty
Trang 38TNHH một thành Viên Hưng Lợi Không may cho Ngân hàng là ngày ngân hàng chuyển khoản lại vào cuối giờ chiều ngày thứ sáu, sau đó là 2 ngày nghỉ thứ bảy và chủ nhật, Ngân hàng không làm việc nên Công ty TNHH một thành Viên Hưng Lợi không rút được tiền trong tài khoản của mình ra để trả tiền hàng cho đối tác đã ký kết theo đúng hợp đồng Vì chậm thanh toán nên Công ty TNHH một thành Viên Hưng Lợi bị phía đối tác phạt 1% giá trị hợp đồng
Công ty TNHH một thành Viên Hưng Lợi cho rằng vì Ngân hàng vi phạm nghĩa vụ giải ngân cho Công ty Hưng Lợi nên công ty Hưng Lợi mới bị đối tác phạt
vi phạm hợp đồng Nên khoản tiền phạt này Công ty Hưng Lợi đề nghị Ngân hàng phải chịu thay cho Công ty Hưng Lợi Đại diện Ngân hàng không chấp nhận vì cho rằng mình đã giải ngân theo đúng hợp đồng đã ký kết Trong trường hợp trên phía ngân hàng đã có lỗi trong việc giải ngân khoản tiền vay cho Công ty Hưng Lợi Vì Hợp đồng cũng như giấy nhận nợ của Công ty Hưng Lợi với ngân hàng đã thể hiện Ngân hàng giải ngân cho Công ty Hưng Lợi bằng tiền mặt chứ không phải chuyển khoản Nhưng ở đây ngân hàng đã chuyển khoản cho Công ty Hưng Lợi như vậy là
vi phạm nghĩa vụ giải ngân mà hai bên đã thỏa thuận
Hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng cũng có thể là hành vi của bên vay hoặc bên thứ ba có tài sản thế chấp khi vi phạm nghĩa vụ thanh toán
Năm 2010, do nhu cầu sản xuất kinh doanh mở rộng, Công ty trách nhiệm hữu hạn Phương Đông đã vay của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn chi nhánh Ninh Bình số tiền là 200 triệu đồng Trong đó lần vay cuối cùng ngày 24/6/2010 là 80 triệu đồng Số vay còn lại được công ty Phương Đông thế chấp bằng ngôi nhà ba tầng có diện tích 482 mét vuông, là tài sản của bà Nguyễn Thị Dung Nhưng sau đó, do hoạt động kinh doanh thua lỗ nên khi đến hạn công ty Phương Đông đã không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn như đã cam kết
Vì thế, ngày 12/4/2012 ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Ninh Bình đã khởi kiện yêu cầu công ty Phương Đông phải thanh toán cả gốc và lãi
là 290 triệu đồng Nếu công ty Phương Đông không thanh toán được thì đề nghị xử
lý tài sản thế chấp của bà Nguyễn Thị Dung để thu hồi nợ cho Ngân hàng Đây là dạng tranh chấp xảy ra nhiều nhất trong các tranh chấp hợp đồng tín dụng mà ta sẽ phân tích sâu hơn
Trang 392.1.2 Tranh chấp hợp đồng tín dụng xuất phát từ việc vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi
Lãi suất trong hợp đồng tín dụng là một trong những yếu tố quan trọng nhất
mà các Tổ chức tín dụng sử dụng để cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh Bên cạnh những yếu tố như uy tín, chất lượng phục vụ hay vị trí địa lí thuận lợi thì lãi suất là mối quan tâm đầu tiên của khách hàng gửi tiền cũng như khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn Mức lãi suất cho vay thấp là công cụ hiệu quả để thu hút khách hàng vay vốn, tăng thu nhập cho Tổ chức tín dụng
Việc thỏa thuận lãi suất trong Hợp đồng tín dụng luôn chịu sự chi phối của chính sách nhà nước Qua nhiều thời kì, Ngân hàng nhà nước đã đưa ra một số chính sách điều hành lãi suất cho vay trong hoạt động tín dụng Những chính sách này đã tác động đến lãi suất cho vay của các Tổ chức tín dụng và là nguyên nhân dẫn đến những tranh chấp về lãi suất đã từng xảy ra hoặc có thể phát sinh Tranh chấp về lãi suất ít khi là nội dung chính của một vụ việc, mà thông thường chỉ khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ và vụ việc được đưa ra giải quyết tại cơ quan chức năng, những bất đồng quan điểm quanh vấn đề lãi suất mới phát sinh
Nhìn chung, các dạng tranh chấp về lãi suất có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng là:
- Tổ chức tín dụng hoặc người đi vay yêu cầu điều chỉnh lãi suất khi hợp đồng tín dụng quy định lãi suất cố định và thời hạn vay vẫn còn
- Tranh chấp về mức lãi suất trong hợp đồng và cách tính lãi trong hạn
- Tranh chấp về lãi suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với khoản nợ quá hạn
Liên quan đến vấn đề thỏa thuận thay đổi lãi suất khi thời hạn trong hợp đồng chưa hết Về mặt lí luận, khi các bên đã thỏa thuận về lãi suất cố định trong Hợp đồng tín dụng thì lãi suất sẽ không được điều chỉnh trong suốt thời hạn vay Tuy nhiên, pháp luật không cấm điều chỉnh lãi suất trong trường hợp các bên có sự thống nhất ý chí Do đó, tranh chấp về thỏa thuận thay đổi lãi suất khi thời hạn vay chưa kết thúc chỉ xảy ra trong hai trường hợp:
Một là: Khách hàng yêu cầu giảm lãi suất hoặc miễn lãi;
Hai là: Tổ chức tín dụng yêu cầu tăng lãi suất nhất là trong giai đoạn từ 2008 đến nay khi các tổ chức tín dụng đều ghi trong Hợp đồng tín dụng là áp dụng lãi
Trang 40suất thả nổi theo từng thời điểm thậm chí ngân hàng áp dụng lãi suất thả nổi mỗi tháng điều chỉnh một lần dẫn đến những tranh chấp phát sinh
Liên quan đến vấn đề khách hàng yêu cầu giảm lãi suất hoặc miễn lãi suất Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, không phải bên vay luôn có khả năng trả nợ gốc và lãi đúng hạn Có nhiều trường hợp do một số lí do khách quan như tai nạn, rủi ro hoặc thị trường biến động dẫn đến tình hình kinh doanh bị ảnh hưởng… nên khách hàng vay vốn không có khả năng trả nợ cho Tổ chức tín dụng Trong những tình huống như vậy thông thường khách hàng làm đơn xin giảm lãi suất hoặc miễn một phần lãi, Tổ chức tín dụng sẽ xem xét và chấp thuận yêu cầu này tùy thuộc vào tình hình thực tế Thông thường Tổ chức tín dụng sẽ chấp nhận kèm theo một vài yêu cầu Cũng có trường hợp bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn ngay cả khi Tổ chức tín dụng yêu cầu nhiều lần vẫn không thanh toán Lúc này,
Tổ chức tín dụng khởi kiện ra tòa và trong quá trình hòa giải hai bên có thỏa thuận nếu khách hàng thanh toán ngay khoản nợ gốc thì Tổ chức tín dụng sẽ giảm lãi suất đồng nghĩa với việc giảm một phần tiền lãi mà khách hàng phải trả hoặc miễn một phần lãi Vụ việc như vậy sẽ không có tranh chấp nếu hai bên thực hiện đúng nghĩa
vụ của mình, trên thực tế vẫn có tình huống khách hàng không thực hiện đúng cam kết dẫn đến tranh chấp xảy ra Trường hợp ông Hoàng Văn Tuấn và Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình dưới đây là một ví dụ cho tình huống này
Ngân hàng An Bình khởi kiện ông Tuấn ra Tòa án vì đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho khoản vay 500.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dung số 100/HĐTD ngày 12/02/2010 mà hai bên đã ký kết Theo hợp đồng tín dụng thì lãi suất trong hạn là 18%/năm, lãi quá hạn là 27%/ năm Do tình hình khó khăn nên ông Tuấn không trả được gốc và lãi cho ngân hàng An Bình theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng Ông Tuấn đã làm đơn đề nghị ngân hàng An Bình giảm lãi suất trong hạn xuống 15% và miễn tiền lãi quá hạn cho ông Tại Tòa án, hai bên
đã thỏa thuận ngân hàng An Bình sẽ giảm lãi suất, giảm một phần tiền phạt chậm trả cho ông Tuấn và rút đơn khởi kiện với điều kiện ông Tuấn phải thanh toán 500.000.000 đồng tiền nợ gốc làm hai kì ngay sau đó Nhưng sau khi thỏa thuận ông Tuấn không thanh toán được theo yêu cầu của ngân hàng Tại phiên tòa sơ thẩm, ngân hàng An Bình cho rằng ông Tuấn chưa thực hiện đầy đủ việc thanh toán tiền nợ gốc nên ngân hàng vẫn áp dụng lãi suất cũ Ông Tuấn lại cho rằng ông đã