1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

AN TOÀN LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẢNG NINH

76 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 583,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phương pháp cụ thể: phương pháp lịch sử được áp dụng trong việc đánh giá quá trình hình thành và phát triển của pháp luật an toàn lao động; phương pháp phân tích được áp dụng để phân t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ NGỌC HẢI

AN TOÀN LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ NGỌC HẢI

AN TOÀN LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẢNG NINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài “An toàn lao động theo pháp luật lao động Việt Nam từ thực tiễn Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu khoa

học độc lập của riêng tôi Các số liệu là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, những kết quả nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác trước đây

Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2019

Tác giả

Đỗ Ngọc Hải

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT LAO ĐÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 6

1.1 Khái quát chung về an toàn lao động 6 1.2 Pháp luật an toàn lao động ở Việt Nam hiện nay 8

Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH 36

2.1 Giới thiệu chung tỉnh Quảng Ninh và các đặc điểm ảnh hưởng đến triển khai và thực hiện pháp luật an toàn lao động 36 2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật ATLĐ tại tỉnh Quảng Ninh 38

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN CỦA TỈNH QUẢNG NINH 55

3.1 Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật ATLĐ 55 3.2 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật an toàn lao động và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật toàn lao động từ thực tiễn Quảng Ninh 59

KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LỆU THAM KHẢO 68

Trang 5

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

AT,VSLĐ : An toàn vệ sinh lao động

AT,VSV : An toàn vệ sinh viên

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Thống kê TNLĐ của Việt Nam từ năm 2014-2018 29Bảng 1.2 Bộ máy thực hiện công tác AT,VSLĐ ở một số địa phương 33Bảng 2.1.Một số hoạt động tuyên truyền ATLĐ của Quảng Ninh từ

2016-2018 43Bảng 2.2 Số liệu công tác huấn luyện ATLĐ của Quảng Ninh từ 2016-

2018 45Bảng 2.3 Số liệu tai nạn lao động trên địa bànQuảng Ninh từ 2014-2018 48

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để góp phần hạn chế và ngăn ngừa nguy cơ gây tai nạn lao động, Việt Nam đã ban hành các Nghị quyết, Luật, Văn bản luật, Thông tư liên tịch, Thông

tư, Tiêu chuẩn, Quy chuẩn về ATLĐ từ năm 1964, các quy định này nằm trong

hệ thống pháp luật lao động và là một chương trong Bộ Luật lao động Đến ngày 25 tháng 6 năm 2015, Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật an toàn vệ sinh lao động số 84/2015/QH13, luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016 Mặc dù vậy vẫn còn nhiều doanh nghiệp, người lao động chưa nhận thức được rõ vai trò của việc đảm bảo an toàn cho người lao động, những yêu cầu của pháp luật về an toàn lao động; bên cạnh đó

hệ thống pháp luật của Việt Nam về công tác ATLĐ tuy đã được chỉnh sửa bổ sung nhiều lần nhưng vẫn chưa hoàn thiện, mức độ điều chỉnh hành vi thấp; công tác quản lý của Nhà nước còn nhiều bất cập, chồng chéo nên chưa phát huy được hết hiệu quả trong ngăn ngừa nguy cơ tai nạn lao động

Quảng Ninh là tỉnh có nhiều ngành kinh tế quan trọng như sản xuất than, điện, đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng, cảng biển, cửa khẩu, du lịch, dịch vụ; trong đó số công nhân làm việc trong các ngành nghề nặng nhọc độc hại

có nguy cơ gây ra TNLĐ cao, chiếm tỷ lệ lớn khoảng 180.000 người Năm

2018, trên địa bàn tỉnh xảy ra 562 vụ TNLĐ làm 567 người bị nạn, trong đó: số

vụ TNLĐ chết người là 17 vụ, số người chết là 17 người; số người bị thương là

557 ngườiảnh hưởng không nhỏ đến sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh [13, tr.20]

Trong thực tiễn thực hiện pháp luật an toàn lao động tại Quảng Ninh, nhiều vấn đề phát sinh chưa được pháp luật an toàn lao động điều chỉnh do đó

tôi lựa chọn đề tài “An toàn lao động theo pháp luật lao động Việt Nam từ thực tiễn Quảng Ninh” để nghiên cứu đề xuất giải quyết vấn đề này

Trang 8

2

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Các đề tài nghiên cứu về công tác ATLĐ chủ yếu trong lĩnh vực quản

lý, lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhằm xây dựng các mô hình quản lý và các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về ATLĐ Từ năm 1990 đến năm 2012 một số tác giả như Nguyễn An Lương, Phùng Huy Dật đã có những nghiên cứu tạo nền tảng cho việc pháp triển các quy định của phápluật ATLĐ như: "Những vấn

đề cơ bản, những quy định chủ yếu của pháp luật, thực trạng và giải pháp về Bảo hộ lao động ở nước ta"; "Vấn đề xây dựng luật lệ, chế độ chính sách về BHLĐ ở Việt Nam" đây là những công trình nghiên cứu mà kết quả được dùng làm cơ sở để xây dựng những quy định pháp luật về an toàn lao động (Bảo hộ lao động) ở nước ta Các nghiên cứu này đưa ra sự cần thiết phải xây dựng luật lệ, chế độ chính sách về BHLĐ ở Việt Nam nhằm đáp ứng các yêu cầu của Tổ chức lao động quốc tế ILO tại Công ước số 155 năm 1981 về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm việc mà Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập ngày 3/10/1994 tại Hà Nội Các nghiên cứu đã góp phần cho

ra đời những quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động với 14 điều (từ điều 95 đến điều 108) trong chương IX, Bộ luật Lao động năm 1994 Quy định các nguyên tắc về an toàn lao động này được sửa đổi bổ sung và hoàn thiện theo Bộ luật lao động năm 2012

- Từ năm 2012, để đáp ứng nhu cầu phát triển, Bộ lao động Thương binh

& Xã hội đã chủ trì cùng một số tác giả nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật AT,VSLĐ của nước ta trong đó có nghiên cứu của Nguyễn An Lương về

"Những vấn đề quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước về AT,VSLĐ và các yêu cầu mới ở trong nước và quốc tế cần được quan tâm nghiên cứu khi xây dựng dự thảo Luật AT,VSLĐ của nước ta"; tài Liệu Hội thảo quốc gia

"Những nội dung cần nghiên cứu để đưa vào dự thảo luật AT,VSLĐ" của Hội AT,VSLĐ Việt Nam, năm 2012 Các nghiên cứu đã chỉ ra 06 bất cập trong

Trang 9

3

qui định về AT, VSLĐ (quy định phân tán, chưa kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển, đối tượng điều chỉnh chưa đầy đủ, chưa thu hút và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội cho công tác ATLĐ, chính sách bảo hiểm tai nạn lao động chưa được đề cập) và đưa ra các giải pháp về tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật (tăng cường đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học về AT,VSLĐ; kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ làm công tác AT,VSLĐ phù hợp; chỉ đạo, hướng dẫn các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trong công tác ATLĐ; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về ATLĐ) Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh sự cần thiết phải có luật chuyên ngành về ATLĐ nói chung và AT,VSLĐ nói riêng Kết quả nghiên cứu đã góp phần để Quốc hội Nước Việt Nam thông qua Luật AT,VSLĐ vào ngày 25 tháng 06 năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016; đây là Luật nằm trong hệ thống pháp luật lao động nói chung và có hiệu lực song hành với các quy định về AT,VSLĐ trong chương IX của Bộ Luật lao động 2012

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu một số vấn đề chung về an toàn lao động và pháp luật về an toàn lao động trong pháp luật lao động nói chung

và luật AT,VSLĐ nói riêng; đánh giá thực trạng quy định pháp luật Việt Nam, thực tiễn thực hiện pháp luật an toàn lao động tại Quảng Ninh, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về an toàn lao động, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật từ kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nên trên, Luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

Một là, hệ thống hóa các nội dung cơ bản về pháp luật an toàn lao động

ở Việt Nam hiện nay;

Trang 10

4

Hai là, phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện luật an toàn lao động ở

Quảng Ninh, chỉ ra những thành tựu và bất cập, nguyên nhân của những bất cập, tồn tại đó;

Ba là, đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật an toàn lao động;

Bốn là, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật an

toàn lao động từ kinh nghiệm của Quảng Ninh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về an toàn lao động Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực hiện tại Quảng Ninh

- Phạm vi nghiên cứu: Các số liệu về an toàn lao động trong phạm vi tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014-2018 Do hạn chế về điều kiện nghiên cứu, luận văn không nghiên cứu các nội dung về thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về an toàn lao động

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận đề nghiên cứu dựa trên cơ sở các quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về pháp luật AT,VSLĐ

- Phương pháp cụ thể: phương pháp lịch sử được áp dụng trong việc đánh giá quá trình hình thành và phát triển của pháp luật an toàn lao động; phương pháp phân tích được áp dụng để phân tích một số tình huống cụ thể phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật an toàn lao động; phương pháp tổng hợp, so sánh dùng trong việc tổng hợp, so sánh các số liệu thống kê về tai nạn lao động và các hoạt động trong công tác đảm bảo an toàn lao động để làm rõ từng mặt, từng lĩnh vực của đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đề tài góp phần hệ thống lại toàn bộ những quy định về An toàn lao động theo pháp luật lao động Việt Nam, có phân tích đánh giá điểm mới của

Trang 11

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn sẽ gồm các chương sau:

Chương 1: Khái quát chung về an toàn lao động và pháp luật an toàn lao

động ở Việt Nam hiện nay

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật an toàn lao động tại tỉnh

Quảng Ninh

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật an toàn lao động từ thực tiễn của tỉnh

Quảng Ninh

Trang 12

6

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG

VÀ PHÁP LUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT LAO

ĐÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Khái quát chung về an toàn lao động

1.1.1 Khái niệm an toàn lao động

Từ năm 1995, khi Bộ Luật lao động có hiệu lực, tên gọi "An toàn, vệ sinh lao động” chính thức được sử dụng làm tiêu đề của Chương IX trong Bộ luật Lao động; hai thuật ngữ Bảo hộ lao động và An toàn vệ sinh lao động đều phổ biến trong trong văn bản pháp luật với ý nghĩa tương đồng, chưa có các khái niệm độc lập về ATLĐ Ngày 25 tháng 6 năm 2015, Luật An toàn vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 được Quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, tại điều 3, Luật an toàn vệ sinh lao động lần đầu tiên đề cập đến khái niệm an toàn lao động riêng biệt

"An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động"

Bên cạnh khái niệm về an toàn lao động còn có một số khái niệm liên quan có tác dụng làm rõ hoặc chỉ ra các nguyên nhân, nguy cơ gây ra tai nạn lao động, như:

- Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử

vong cho con người trong quá trình lao động

- Sự cố kỹ thuật gây mất an toàn lao động là hư hỏng của máy, thiết bị,

vật tư, chất vượt quá giới hạn an toàn kỹ thuật cho phép, xảy ra trong quá trình lao động và gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho con người, tài sản và môi trường

Trang 13

7

- Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức

năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động

Từ khái niệm về an toàn lao động, khái niệm tai nạn lao động, điều kiện

hưởng chế độ tai nạn lao động "Kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú,

đi vệ sinh; trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc

về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý"[19,tr.31] cho thấy

khái niệm về an toàn lao động chưa thể hiện rõ các nội dung tương ứng với điều kiện chi trả chế độ tai nạn lao động Do đó, theo tác giả nên bổ sung để đảm bảo tính thống nhất trong pháp luật an toàn lao động với khái niệm như

sau"An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động và quá trình thực hiện các công việc liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ được giao"

1.1.2 Đặc điểm của an toàn lao động [16, tr.11]

- Mang tính pháp luật: Tất cả những chế độ, chính sách, quy phạm, tiêu chuẩn của Nhà nước về an toàn lao động đã ban hành đều mang tính pháp luật Pháp luật an toàn lao động được ban hành nhằm bảo vệ người lao động trong sản xuất, nó là cơ sở pháp lý bắt buộc các tập thể cá nhân có tham gia vào hoạt động lao động phải có tránh nhiệm nghiêm chỉnh thực hiện

- Tính khoa học - kỹ thuật: Mọi hoạt động trong công tác an toàn lao động từ điều tra, khảo sát điều kiện lao động, phân tích đánh giá các yếu tố nguy hiểm, độc hại và ảnh hưởng của chúng đến an toàn lao động cho đến việc đề xuất và thực hiện các giải pháp phòng ngừa, xử lý khắc phục đều phải

Trang 14

8

vận dụng các kiến thức lý thuyết và thực tiễn trong các lĩnh vực khoa học - kỹ thuật chuyên ngành hoặc tổng hợp nhiều chuyên ngành, nhiều lĩnh vực như thông gió, chiếu sáng, cơ khí, tâm sinh lý học lao động

- Mang tính xã hội rộng rãi: An toàn lao động liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất Người lao động chính là người vận hành, sử dụng các dụng cụ, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu nên họ có thể phát hiện được những thiếu sót trong công tác an toàn lao động, đóng góp xây dựng các biện pháp ngăn ngừa, đóng góp xây dựng hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy phạm an toàn lao động

1.2 Pháp luật an toàn lao động ở Việt Nam hiện nay

1.2.1 Khái niệm pháp luật an toàn lao động

Pháp luật về an toàn lao động là toàn bộ các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ, xác định trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ của các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, người sử dụng lao động, người lao động, các cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ quan, đơn vị, người quản lý trong lĩnh vực an toàn lao động [16,tr.8] Tác giả có thể khẳng định đây là khái niệm đầy đủ và bao trùm nhất về phát luật an toàn lao động

1.2.2 Đặc điểm của pháp luật an toàn lao động

- Pháp luật về an toàn lao động có tính chất quyền uy và phục tùng, được quy định theo các bước rất chặt chẽ, đòi hỏi phải thực thi nghiêm chỉnh, vì nếu không tuân thủ hoặc tuân thủ không đến nơi, đến chốn sẽ dẫn đến nguy

cơ tai nạn lao động Nội dung quy phạm an toàn lao động không có sự thỏa thuận hay bình quyền mà chỉ có thuộc tính “bắt buộc” hay nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện Bởi các quy định này liên quan trực tiếp đến sức khỏe, thể lực và sinh mạng con người, liên quan nhiều đến trình tự và thủ tục phức tạp buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt, trong quá trình áp dụng nếu không hậu quả

sẽ khó lường

Trang 15

9

- Pháp luật về ATLĐ chịu sự tác động rất lớn của các văn bản pháp luật của nhiều cơ quan và lĩnh vực khác nhau; vì ở nơi nào có sản xuất, kinh doanh, có lao động thì ở đó có nguy cơ mất ATLĐ cho nên các cơ quan có thẩm quyền phải có các quy định riêng nhằm bảo đảm an toàn lao động cho lĩnh vực đó Cũng do tính đặc thù của ATLĐ mà phạm vi điều chỉnh rất rộng, phủ kín toàn bộ mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cả trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài có sử dụng người lao động; các trang trại, trong nông nghiệp, trong các cơ quan hành chính… miễn là ở đó có hoạt động lao động, làm việc Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về an toàn cũng vì thế rất phong phú bao gồm mọi người lao động có giao kết hay không

có giao kết hợp đồng lao động đang làm việc trong mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội Vì vậy pháp luật về an toàn lao động có tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đòi hỏi, mọi cấp, mọi ngành, mọi cơ quan, tổ chức, hiệp hội, mọi cá nhân có liên quan đều phải thực hiện Pháp luật về an toàn lao động vì thế có vị thế quan trọng trong các chính sách của Nhà nước

- Các quy định về ATLĐ có tính phòng ngừa cao, bởi nếu vi phạm các quy định ấy sẽ dẫn đến mất người, mất của, sự thiệt hại cả vật chất và tinh thần là vô cùng lớn, do vậy các quy định về ATLĐ phải chặt chẽ và phải được đảm bảo thực hiện, không để xảy ra mất an toàn Trong pháp luật về ATLĐ thì tính phòng ngừa có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì sự phòng ngừa càng tốt bao nhiêu, càng chuẩn bị kỹ bao nhiêu thì hiệu quả của ATLĐ càng tốt bấy nhiêu Nguợc lại nếu các biện pháp phòng ngừa không được chuẩn bị kỹ luỡng sẽ gây mất ATLĐ, dẫn đến mất nguời, mất của và sự trả giá là không tính đuợc Do tính phòng ngừa là một trong những đặc điểm riêng có của pháp luật về ATLĐ, nên các quy định về an toàn lao động phải tính đến các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng, tác động đến điều kiện lao động mà trước khi

Trang 16

- Các quy định về an toàn lao động mang tính chất khoa học kĩ thuật rõ nét: Các biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, tác động đến thân thể người lao động trong quá trình làm việc đều dựa trên những cơ sở khoa học- tự nhiên; bao gồm các hoạt động điều tra, kiểm soát điều kiện lao động; phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm đối với người lao động; giải quyết xử lý điều kiện, môi trường lao động; ban hành các tiêu chuẩn kĩ thuật an toàn lao động đối với từng ngành nghề, lĩnh vực; cải tiến trang thiết bị kĩ thuật, công nghệ sản xuất Các quy định về tiêu chuẩn kĩ thuật đối với môi trường làm việc, điều kiện làm việc, máy móc thiết bị là những quy định thể hiện kết quả cuối cùng của việc nghiên cứu các yếu tố khoa học- kĩ thuật, sinh học trong môi trường làm việc và sự ảnh hưởng của

nó đến sức khỏe, tính mạng của người lao động trong môi trường tương ứng

1.2.3 Mục đích, ý nghĩa của pháp luật an toàn lao động

- Mục đích của pháp luật an toàn lao động: Pháp luật an toàn lao động

được xây dựng để mọi người quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh nhằm giảm thiểu tai nạn lao động trong sản xuất, kinh doanh

- Ý nghĩa của của pháp luật an toàn lao động:

Trang 17

11

+ Ý nghĩa chính trị- pháp lý: Pháp luật về ATLĐ thể hiện chủ trương, quan điểm và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với nguồn nhân lực của Quốc gia nói riêng đối với con người nói chung; coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển Một đất nước có tỷ lệ tai nạn lao động thấp, người lao động khoẻ mạnh là một xã hội luôn luôn coi con người là vốn quý nhất, sức lao động, lực lượng lao động luôn luôn được bảo vệ và phát triển Pháp luật an toàn động được thực hiện tốt sẽ góp phần tích cực chăm lo bảo vệ tính mạng và đời sống người lao động, biểu hiện quan điểm quần chúng, quan điểm quý trọng con người của Đảng và Nhà nước, vai trò của con người trong xã hội được tôn trọng Ngược lại, nếu công tác này không được thực hiện tốt, điều kiện lao động của người lao động tiềm ẩn nhiều nguy cơ dễ xảy ra tai nạn lao động nghiêm trọng thì uy tín của chế độ, uy tín của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút

+ Ý nghĩa xã hội: An toàn lao động là chăm lo đến đời sống, hạnh phúc của người lao động Đây vừa là yêu cầu thiết thực của các hoạt động sản xuất kinh doanh; đồng thời là yêu cầu, là nguyện vọng chính đáng của người lao động Pháp luật an toàn lao động cùng với chính sách lao động sẽ đảm bảo cho xã hội trong sáng, lành mạnh, mọi người lao động được sống khoẻ mạnh, làm việc có hiệu quả cao và có vị trí xứng đáng trong xã hội, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ khoa học kỹ thuật Tai nạn lao động không xảy

ra, sức khoẻ, tính mạng của người lao động được đảm bảo thì Nhà nước và xã hội sẽ giảm bớt được những tổn thất trong việc khắc phục hậu quả và tập trung đầu tư cho các công trình phúc lợi xã hội

+ Ý nghĩa kinh tế: Thực hiện tốt pháp luật về ATLĐ sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt Trong sản xuất, nếu người lao động được bảo vệ tốt, điều kiện làm việc đảm bảo, không có nguy cơ bị tai nạn lao động thì sẽ an tâm, phấn khởi sản xuất, sẽ có ngày công, giờ công cao, năng suất lao động cao, chất

Trang 18

12

lượng sản phẩm tốt, luôn luôn hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất và công tác góp phần để đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân người lao động và tập thể lao động được cải thiện

1.2.4 Các nguyên tắc của pháp luật Việt Nam về an toàn lao động

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn lao động là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng các quy định của pháp luật an toàn lao động

Thứ nhất, Nhà nước thống nhất quản lý về an toàn lao động: Trong điều

kiện nền kinh tế thị trường hiện nay ATLĐ đang đặt ra nhiều vấn đề ngày càng bức xúc, đòi hỏi phải có sự quản lý thống nhất của Nhà nước - Tổ chức

có đủ quyền năng và sức mạnh cưỡng chế với bộ máy từ Trung ương đến cơ

sở đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả các hoạt động quản lý an toàn lao động Quản lý Nhà nước về ATLĐ là một tiền đề pháp lý nhằm thiết lập điều kiện vật chất cho việc thực thi pháp luật an toàn lao động trong thực tế

Thứ hai, Đảm bảo an toàn lao động cho mọi đối tượng tham gia lao

động Khi tiến hành hoạt động sản xuất, người lao động vừa tác động tới môi trường xung quanh vừa chịu các tác động ngược trở lại của môi trường nơi họ lao động Để chạy theo lợi nhuận, người sử dụng lao động có thể giảm thiểu mọi chi phí, bao gồm cả chi phí đảm bảo điều kiện an toàn cho người lao động Nếu không giải quyết thỏa đáng vấn đề an toàn lao động thì nền kinh tế không đảm bảo sự phát triển bền vững Điều kiện lao động không an toàn không chỉ ảnh hưởng tới người lao động trực tiếp mà còn có tác động xấu tới thế hệ tương lai Vì vậy, đảm bảo an toàn là đảm bảo sức khỏe, tính mạng người lao động, duy trì nền sản xuất ổn định và tạo tiền đề góp phần cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Thứ ba, thực hiện an toàn lao động là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên

trong quan hệ lao động: Để các quy định của pháp luật về ATLĐ được thực

Trang 19

Thứ tư, đảm bảo sự tham gia, giám sát của của tổ chức Công Đoàn; Mặt

Trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị trong lĩnh vưc an toàn lao động: Tại điều 9, điều 10 Luật an toàn vệ sinh lao động quy định rõ quyền, trách nhiệm của công đoàn và công đoàn cơ sở trong công tác an toàn lao động; tại điều 11 quy định rõ quyền và nghĩa vụ của Mặt Trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị; đây chính là những điểm mới trong các văn bản pháp luật an toàn lao động qua đó thể hiện trách nhiệm của xã hội đối với công tác an toàn, đồng thời nhấn mạnh việc đảm bảo an toàn lao động không chỉ còn bó hẹp trong lĩnh vực có quan hệ lao động mà còn phải được quan tâm đến trong cả lĩnh vực không có quan hệ lao động như nông nghiệp

Thứ năm, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn trong các Công ước

có liên quan đến an toàn lao động mà Việt Nam đã phê chuẩn: Trong tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia và phê chuẩn rất nhiều Công ước quốc tế và khu vực; trong lĩnh vực an toàn lao động, Công ước 155 năm

1981 về an toàn lao động của ILO được coi như một Công ước toàn diện và đầy đủ nhất về an toàn lao động Theo Công ước này, các Quốc gia thành viên phải có hệ thống chính sách về an toàn lao động trong mọi ngành nghề Việt

Trang 20

14

Nam là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước này; điều này thể hiện quan điểm của Việt Nam trong việc đảm bảo an toàn cho người lao động

1.2.5 Nội dung của pháp luật an toàn lao động

1.2.5.1 Quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đối với

an toàn lao động Pháp luật an toàn lao động quy định về quyền trách nhiệm

của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác đảm bảo an toàn lao động trong đó có những quy định rất rõ ràng, cụ thể: Tạo điều kiện thuận lợi để người sử dụng lao động, người lao động, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn lao động; đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về an toàn lao động; hỗ trợ phòng ngừa tai nạn lao động các ngành, lĩnh vực có nguy cơ cao về tai nạn lao động; hỗ trợ huấn luyện an toàn cho người làm việc không theo hợp đồng lao động làm các công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện Bảo đảm quyền của người lao động được làm việc trong điều kiện an toàn; tuân thủ đầy đủ các biện pháp an toàn trong quá trình lao động

Thứ nhất, quy định quyền và nghĩa vụ về ATLĐ của người lao động

[19,tr.3]

- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn lao động; yêu cầu người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm điều kiện làm việc an toàn; được cung cấp thông tin về an toàn lao động; được thực hiện chế độ bảo hộ lao động; được người sử dụng lao động đóng bảo hiểm tai nạn lao động; được hưởng đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động; được trả phí khám giám định thương tật, bệnh tật do tai nạn lao động; được yêu cầu người sử dụng lao động bố trí công việc phù hợp sau khi điều trị ổn định do bị tai nạn lao động; được từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc mà vẫn được trả lương và không

Trang 21

15

bị coi là vi phạm kỷ luật lao động khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động; được khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện khi quyền lợi bị vi phạm Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có nghĩa vụ chấp hành nội quy, quy trình và biện pháp bảo đảm an toàn lao động tại nơi làm việc; tuân thủ các giao kết về an toàn lao động trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể; sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp; báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ xảy ra sự cố

kỹ thuật gây mất an toàn lao động, tai nạn lao động; chủ động tham gia cấp cứu, khắc phục sự cố, tai nạn lao động theo phương án xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp hoặc khi có lệnh của người sử dụng lao động hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

- Người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động có quyền được làm việc trong điều kiện an toàn lao động; được Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để làm việc trong môi trường an toàn lao động; được tiếp nhận thông tin, tuyên truyền, giáo dục về công tác an toàn lao động; được huấn luyện an toàn lao động khi làm các công việc có yêu cầu nghiêm ngặt; được tham gia và hưởng bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện; được khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật Người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động cũng phải chịu trách nhiệm về an toàn lao động đối với công việc do mình thực hiện; bảo đảm an toàn lao động đối với những người có liên quan trong quá trình lao động; thông báo với chính quyền địa phương để có biện pháp ngăn chặn kịp thời các hành vi gây mất an toàn lao động

- Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; người học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có quyền và nghĩa vụ về an toàn lao động như đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động

Trang 22

+ Người sử dụng lao động có nghĩa vụ xây dựng, tổ chức thực hiện và chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc bảo đảm an toàn lao động tại nơi làm việc; đóng bảo hiểm tai nạn lao động cho người lao động; tổ chức huấn luyện an toàn lao động cho người lao động; trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn lao động; thực hiện việc chăm sóc sức khỏe cho người lao động; thực hiện đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động; không được buộc người lao động tiếp tục khi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động; cử người giám sát, kiểm tra việc thực hiện công tác an toàn lao động; bố trí bộ phận hoặc người làm công tác an toàn lao động; phối hợp với Ban chấp hành công đoàn cơ sở thành lập mạng lưới an toàn vệ sinh viên; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn lao động; thực hiện việc khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động; chấp hành quyết định của thanh tra chuyên ngành về an toàn lao động; lấy ý kiến Ban chấp hành công đoàn cơ sở khi xây dựng kế hoạch, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn lao động

Thứ ba, pháp luật quy định rõ quyền và nghĩa vụ của cơ sở sản xuất kinh

doanh về ATLĐ

(1) Tổ chức bộ phận an toàn lao động:

Trang 23

17

- Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề khai khoáng, sản xuất than cốc, sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế, sản xuất hóa chất, sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim, thi công công trình xây dựng, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất, truyền tải và phân phối điện, người sử dụng lao động phải tổ chức bộ phận an toàn, vệ sinh lao động bảo đảm: dưới 50 người lao động phải

bố trí ít nhất 01 người làm công tác an toàn lao động bán chuyên trách; từ 50 đến dưới 300 người lao động phải bố trí ít nhất 01 người làm công tác an toàn lao động theo chế độ chuyên trách; từ 300 đến dưới 1.000 người lao động, phải

bố trí ít nhất 02 người làm công tác an toàn lao động theo chế độ chuyên trách;

sử dụng trên 1.000 người lao động phải thành lập phòng an toàn lao động hoặc

bố trí ít nhất 03 người làm công tác an toàn lao động theo chế độ chuyên trách Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề khác phải bảo đảm dưới 300 người lao động, bố trí ít nhất 01 người làm công tác an toàn theo chế độ bán chuyên trách; từ 300 đến dưới 1.000 người lao động, bố trí ít nhất 01 người làm công tác an toàn lao động theo chế độ chuyên trách; trên 1.000 người lao động, thành lập phòng an toàn lao động hoặc bố trí

ít nhất 2 người chuyên trách (theo khoản 1,2, Điều 36, Nghị định

39/2016/NĐ-CP, ngày 15 tháng 5 năm 2016)

- Người làm công tác an toàn lao động theo chế độ chuyên trách phải đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: Có trình độ đại học thuộc các chuyên ngành khối kỹ thuật và có ít nhất 01 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của cơ sở; có trình độ cao đẳng thuộc các chuyên ngành khối kỹ thuật và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của cơ sở; có trình độ trung cấp thuộc các chuyên ngành khối

kỹ thuật hoặc trực tiếp làm các công việc kỹ thuật và có 05 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của cơ sở Người làm công tác an

Trang 24

- Người làm công tác an toàn lao động hoặc bộ phận an toàn lao động có nhiệm vụ tham mưu, giúp người sử dụng lao động tổ chức thực hiện công tác

an toàn lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, bao gồm các nội dung xây dựng nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn lao động; phòng, chống cháy, nổ; xây dựng, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch an toàn lao động hàng năm; đánh giá rủi ro và xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; quản lý và theo dõi việc khai báo, kiểm định máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt

về an toàn lao động; tổ chức thực hiện hoạt động thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về an toàn lao động; tổ chức tự kiểm tra về an toàn lao động; điều tra tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn lao động theo quy định của pháp luật; chủ trì, phối hợp với bộ phận y tế tổ chức giám sát, kiểm soát yếu tố nguy hiểm; tổng hợp và đề xuất với người sử dụng lao động giải quyết kiến nghị của đoàn thanh tra, đoàn kiểm tra và người lao động về an toàn lao động; phối hợp với Ban chấp hành công đoàn cơ sở hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ của an toàn,

vệ sinh viên; tổ chức thi đua, khen thưởng, xử lý kỷ luật, thống kê, báo cáo công tác an toàn lao động Người làm công tác an toàn lao động, bộ phận an toàn lao động có quyền yêu cầu người phụ trách bộ phận sản xuất ra lệnh đình chỉ công việc hoặc có thể quyết định tạm đình chỉ công việc trong trường hợp khẩn cấp khi phát hiện các nguy cơ xảy ra tai nạn lao động để thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, đồng thời phải báo cáo người sử dụng lao

Trang 25

19

động; đình chỉ hoạt động của máy, thiết bị không bảo đảm an toàn hoặc đã hết hạn sử dụng; được người sử dụng lao động bố trí thời gian tham dự lớp huấn luyện, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ về an toàn lao động [19,tr.42]

(2) Tổ chức bộ phận Y Tế lao động:

- Đối với những cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản, khai khoáng, sản xuất sản phẩm dệt, may, da, giày, sản xuất than cốc, sản xuất hóa chất, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic, tái chế phế liệu, vệ sinh môi trường, sản xuất kim loại, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất vật liệu xây dựng, người sử dụng lao động phải tổ chức bộ phận y tế tại cơ sở bảo đảm: dưới 300 người lao động phải có ít nhất 01 người làm công tác y tế có trình độ trung cấp; từ 300 đến dưới 500 người lao động phải có ít nhất 01 bác sĩ/y sĩ và 01 người làm công tác y tế có trình độ trung cấp; từ 500 đến dưới 1.000 người lao động phải

có ít nhất 01 bác sĩ và mỗi ca làm việc phải có 01 người làm công tác y tế có trình độ trung cấp; từ 1.000 lao động trở lên phải thành lập cơ sở y tế theo hình thức tổ chức phù hợp quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề khác với lĩnh vực, ngành nghề nêu trên thì người sử dụng lao động phải tổ chức bộ phận y tế tại cơ sở đảm bảo: dưới 500 người lao động ít nhất phải có 01 người làm công tác y tế trình độ trung cấp; từ 500 đến dưới 1.000 người lao động ít nhất phải có 01 y sĩ và 01 người làm công tác y tế trình độ trung cấp; trên 1.000 người lao động phải có 01 bác sĩ và 1 người làm công tác y tế khác [7,tr.22]

- Người làm công tác y tế ở cơ sở phải có trình độ chuyên môn y tế bao gồm: bác sĩ, bác sĩ y tế dự phòng, cử nhân điều dưỡng, y sĩ, điều dưỡng trung học, hộ sinh viên và có chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động Người làm công tác y tế, bộ phận y tế có nhiệm vụ tham mưu, giúp người sử

Trang 26

20

dụng lao động và trực tiếp thực hiện việc quản lý sức khỏe của người lao động; cấp cứu tai nạn lao động, tổ chức tập huấn công tác sơ cứu, cấp cứu [7,tr.23] (3) Tổ chức mạng lưới an toàn vệ sinh viên: Mỗi tổ sản xuất trong các cơ

sở sản xuất, kinh doanh phải có ít nhất một an toàn, vệ sinh viên kiêm nhiệm trong giờ làm việc Người sử dụng lao động ra quyết định thành lập và ban hành quy chế hoạt động Hoạt động dưới sự quản lý và hướng dẫn của Ban chấp hành công đoàn cơ sở, trên cơ sở quy chế hoạt động An toàn, vệ sinh viên

có nghĩa vụ đôn đốc, nhắc nhở, giám sát kiến nghị tổ trưởng, đội trưởng, quản đốc và các thành viên trong tổ chấp hành quy định về an toàn lao động An toàn, vệ sinh viên có quyền được cung cấp thông tin về an toàn lao động; được dành một phần thời gian làm việc để thực hiện các nhiệm vụ; được hưởng phụ cấp trách nhiệm; được yêu cầu người lao động trong tổ ngừng làm việc để thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn lao động; được học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp hoạt động [19,tr.45]

(4) Tổ chức Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở:

- Người sử dụng lao động phải thành lập Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động lao động cơ sở trong các trường hợp sau đây: cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các lĩnh vực, ngành nghề khai khoáng, sản xuất than cốc, sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế, sản xuất hóa chất, sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim, thi công công trình xây dựng, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất, truyền tải và phân phối điện và sử dụng từ

300 người lao động trở lên; cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề khác có sử dụng từ 1.000 người lao động trở lên; Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước [7,tr.23]

- Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở có nhiệm vụ và quyền tư vấn, phối hợp với người sử dụng lao động trong việc xây dựng nội quy, quy trình,

kế hoạch và các biện pháp bảo đảm an toàn lao động tại cơ sở sản xuất, kinh

Trang 27

21

doanh; hàng năm, tổ chức đối thoại tại nơi làm việc giữa người lao động, người

sử dụng lao động nhằm chia sẻ thông tin, tăng cường sự hiểu biết và thúc đẩy cải thiện các điều kiện làm việc công bằng, an toàn cho người lao động; nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật an toàn lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh; tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện công tác an toàn lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh; yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện các biện pháp xử lý, khắc phục nếu phát hiện thấy nguy cơ mất an toàn lao động Thành phần của Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở có đại diện người sử dụng lao động làm Chủ tịch Hội đồng; đại diện của Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể người lao động (nơi chưa có tổ chức công đoàn) làm Phó Chủ tịch Hội đồng; người làm công tác an toàn lao động ở

cơ sở sản xuất, kinh doanh là ủy viên thường trực kiêm thư ký Hội đồng; người làm công tác y tế ở cơ sở sản xuất, kinh doanh; các thành viên khác có liên quan [19, tr.46]

- Pháp luật ATLĐ quy định, trường hợp cơ sở sản xuất, kinh doanh không

bố trí được người hoặc không thành lập được bộ phận an toàn lao động và bộ phận y tế lao động thì phải thuê các tổ chức có đủ năng lực theo quy định của pháp luật thực hiện các nhiệm vụ an toàn lao động [19,tr.42]

(5) Lập và thực hiện kế hoạch an toàn lao động: Hàng năm, người sử dụng lao động phải xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch an toàn lao động Đối với các công việc phát sinh trong năm kế hoạch thì phải bổ sung nội dung phù hợp vào kế hoạch an toàn lao động Việc lập kế hoạch an toàn lao động phải được lấy ý kiến Ban chấp hành công đoàn cơ sở và dựa trên đánh giá rủi ro về

an toàn lao động tại nơi làm việc; việc kiểm soát yếu tố nguy hiểm và kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; kết quả thực hiện công tác an toàn lao động năm trước; nhiệm vụ, phương hướng kế hoạch sản xuất, kinh doanh và tình hình lao động

Trang 28

22

của năm kế hoạch; kiến nghị của người lao động, của tổ chức công đoàn và của đoàn thanh tra, đoàn kiểm tra [19,tr.47]

(6) Đánh giá nguy cơ rủi ro về an toàn lao động: Đánh giá nguy cơ rủi ro

về an toàn lao động là việc phân tích, nhận diện nguy cơ và tác hại của yếu tố nguy hiểm tại nơi làm việc nhằm chủ động phòng, ngừa tai nạn lao động và cải thiện điều kiện lao động Người sử dụng lao động phải tổ chức đánh giá và hướng dẫn người lao động tự đánh giá nguy cơ rủi ro về an toàn lao động trước khi làm việc, thường xuyên trong quá trình lao động hoặc khi cần thiết Các ngành, nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, việc đánh giá nguy cơ rủi ro

về an toàn lao động phải được áp dụng bắt buộc và đưa vào trong nội quy, quy trình làm việc [19, tr.47], [1,tr.2]

(7) Kế hoạch ứng cứu khẩn cấp: Căn cứ vào nguy cơ xảy ra tai nạn lao động tại nơi làm việc, người sử dụng lao động phải xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp tại nơi làm việc và phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch ứng cứu khẩn cấp phải có phương án sơ tán người lao động ra khỏi khu vực nguy hiểm; biện pháp sơ cứu, cấp cứu người bị nạn; biện pháp ngăn chặn, khắc phục hậu quả do sự cố gây ra; trang thiết bị phục vụ ứng cứu; lực lượng ứng cứu tại chỗ; phương án phối hợp với các lực lượng bên ngoài cơ sở; phương án diễn tập [19,tr.47]

(8) Tổ chức lực lượng ứng cứu: Nơi làm việc có yếu tố nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức lực lượng ứng cứu chuyên trách hoặc bán chuyên trách và phải tổ chức huấn luyện sơ cứu, cấp cứu cho người lao động Lực lượng ứng cứu phải được trang bị phương tiện kỹ thuật, y tế để bảo đảm ứng cứu, sơ cứu, cấp cứu kịp thời và phải được huấn luyện [19,tr.48]

(9) Tự kiểm tra an toàn lao động: Người sử dụng lao động phải lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc tự kiểm tra định kỳ, đột xuất về an toàn lao

Trang 29

23

động tại cơ sở Nội dung, hình thức và thời hạn tự kiểm tra cụ thể phải bảo đảm hiệu quả, phù hợp với tính chất lao động, nguy cơ tai nạn lao động của cơ sở, bao gồm: Việc thực hiện các quy định về an toàn lao động; hiện trường sản xuất; hồ sơ sổ sách quản lý công tác an toàn lao động; thực hiện các chế đội chính sách về an toàn lao động; trách nhiệm quản lý công tác an toàn lao động

và phong trào quần chúng về an toàn lao động các nội dung khác phù hợp với tình hình thực tế của cơ sở sản xuất, kinh doanh [19,tr.48],[3,tr.2]

Thứ tư, quy định quyền và nghĩa vụ của công đoàn và các tổ chức khác

về ATLĐ

- Công đoàn là tổ chức có nhiều khả năng nhất trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động nói chung, quyền được làm việc trong môi trường an toàn lao động của người lao động nói riêng; vì vậy, việc đề cao và đảm bảo quyền hạn, trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong lĩnh vực an toàn lao động mang tính tất yếu khách quan; ngoài ra tại một số điều còn đề cập đến vai trò của công đoàn trong việc tham gia điều tra tai nạn lao động, quản lý hướng dẫn hoạt động của mạng lưới an toàn vệ sinh viên [19,tr.6]

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các

tổ chức xã hội khác (Hội nông dân, Đoàn thanh niên ) trong phạm vi nhiệm

vụ, quyền hạn của mình có quyền và trách nhiệm trong việc phối hợp với các

cơ quan liên quan tổ chức tuyên truyền, phổ biến, huấn luyện về an toàn lao động; phát triển các dịch vụ an toàn lao động; tham gia ý kiến, giám sát, phản biện xã hội trong việc xây dựng chế độ chính sách, pháp luật an toàn lao động; tham gia cùng với các cơ quan quản lý nhà nước đề xuất giải pháp cải thiện điều kiện lao động, phòng, chống tai nạn lao động, triển khai công tác nghiên cứu khoa học; vận động đoàn viên, hội viên thực hiện công tác bảo đảm an toàn lao động [19,tr.8]

Trang 30

24

- Pháp luật có quy định các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: Che giấu, khai báo hoặc báo cáo sai sự thật về tai nạn lao động; không thực hiện các yêu cầu, biện pháp bảo đảm an toàn lao động; buộc người lao động phải làm việc

có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động; trốn đóng, chậm đóng tiền bảo hiểm tai nạn lao động; chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm tai nạn lao động; gian lận, trục lợi bảo hiểm tai nạn lao động; sử dụng máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động không được kiểm định; gian lận trong các hoạt động kiểm định, huấn luyện an toàn lao động, giám định y khoa; cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng

về an toàn lao động của người lao động, người sử dụng lao động; phân biệt đối xử trong bảo đảm an toàn lao động; sử dụng lao động hoặc làm công việc

có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động khi chưa được huấn luyện an toàn lao động; trả tiền thay cho việc bồi dưỡng bằng hiện vật [19,tr.8]

1.2.5.2.Quy định pháp luật về các biện pháp, phòng, chống các yếu tố nguy hiểm cho người lao động

- Người sử dụng lao động, nhà sản xuất, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình,

cơ quan thông tin đại chúng phải thông tin, tuyên truyền, giáo dục về an toàn lao động, các yếu tố nguy hiểm và các biện pháp bảo đảm an toàn lao động tại nơi làm việc cho người lao độngvà những tập thể cá nhân có liên quan Người

sử dụng lao động phải tổ chức huấn luyện cho người lao động với 6 nhóm đối tượng (người quản lý phụ trách công tác an toàn lao động; người làm công tác

an toàn lao động; người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; người lao động không thuộc các nhóm trên, người làm công tác

y tế; an toàn, vệ sinh viên)

- Người sử dụng lao động phải xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nội quy, quy trình bảo đảm an toàn lao động; phải bảo đảm nơi làm việc an toàn cho người lao động; phải trang cấp đầy đủ cho người lao động; phải tổ

Trang 31

25

chức kiểm tra, đánh giá và có biện pháp loại trừ, giảm thiểu yếu tố nguy hiểm tại nơi làm việc; định kỳ kiểm tra, bảo dưỡng máy, thiết bị, vật tư, chất, nhà xưởng, kho tàng; phải có biển cảnh báo, bảng chỉ dẫn bằng tiếng Việt và ngôn ngữ phổ biến của người lao động về an toàn lao động đối với máy, thiết bị, vật tư và chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, nơi lưu giữ, bảo quản, sử dụng và đặt ở vị trí dễ đọc, dễ thấy; phải xây dựng, ban hành kế hoạch xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp tại nơi làm việc; tổ chức xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp, lực lượng ứng cứu; báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ hoặc khi xảy ra tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất

an toàn lao động tại nơi làm việc vượt ra khỏi khả năng kiểm soát

- Người lao động phải chấp hành quy định về an toàn lao động của người

sử dụng lao động hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tuân thủ pháp luật

và nắm vững kiến thức, kỹ năng về các biện pháp bảo đảm an toàn; sử dụng

và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp; phải tham gia huấn luyện an toàn trước khi sử dụng các máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt; báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi biết tai nạn lao động, sự cố hoặc phát hiện nguy cơ xảy ra sự cố, tai nạn lao động; chủ động tham gia ứng cứu, khắc phục sự cố, tai nạn lao động khi có lệnh của người sử dụng lao động hoặc cơ quan có thẩm quyền

- Để kiểm soát các yếu tố nguy hiểm tại nơi làm việc, người sử dụng lao động phải tổ chức đánh giá đề ra các biện pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn và ít nhất một lần trong một năm phải tổ chức kiểm tra, đánh giá yếu tố nguy hiểm tại nơi sản xuất; phải có phương án xử lý sự cố kỹ thuật gây mất an toàn lao động nghiêm trọng, ứng cứu khẩn cấp và định kỳ tổ chức diễn tập; trang bị phương tiện kỹ thuật, y tế để bảo đảm ứng cứu, sơ cứu kịp thời khi xảy ra sự

cố kỹ thuật gây mất an toàn lao động nghiêm trọng, tai nạn lao động; phải ra lệnh ngừng ngay hoạt động của máy, thiết bị tại nơi làm việc có nguy cơ gây

Trang 32

26

tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn lao động nghiêm trọng; không được buộc người lao động làm việc tại nơi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động Hàng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe cho người lao động; trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động; tổ chức bồi dưỡng bằng hiện vật người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại; lập và quản lý hồ sơ sức khỏe của người lao động

- Các máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động là những thiết bị có nguy cơ gây mất an toàn cao và có thể gây tai nạn lao động cho nhiều người, do đó việc quản lý các thiết bị này phải đòi hỏi người sử dụng, các cơ quan quản lý phải thực hiện nghiêm, đúng mục đích từ việc thiết kế, chế tạo, lắp đặt, sử dụng đều phải tuân thủ theo pháp luật an toàn lao động quy định cụ thể theo "Danh mục các loại máy, thiết bịcó yêu cầu nghiêm ngặt

về an toàn, vệ sinh lao động"

1.2.5.3 Quy định pháp luật về các biện phápxử lý sự cố kỹ thuật gây mất

an toàn và gây tai nạn lao động

- Việc khai báo, thống kê sự cố kỹ thuật gây tai nạn lao động là một trong những cơ sở quan trọng trong việc nắm bắt tần suất tai nạn, các dạng tai nạn, các ngành nghề, những khoảng thời gian hay xẩy ra tai nạn góp phần đề ra các biện pháp xử lý sự cố kỹ thuật gây mất an toàn và gây tai nạn lao động

- Việc điều tra tai nạn lao động sẽ chỉ ra nguyên nhân gây tai nạn, trách nhiệm của những người có liên quan, đề ra các biện pháp xử lý và làm căn cứ giải quyết chế độ cho người lao động Trong pháp luật lao động quy định rõ 3 dạng tai nạn lao động bao gồm: tai nạn chết người, tai nạn nặng, tai nạn nhẹ Người sử dụng lao động có trách nhiệm điều tra tai nạn lao động nhẹ, tai nạn lao động làm 01 người bị thương nặng; trường hợp một người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động bị thương nặng thì Ủy ban nhân dân cấp xã

Trang 33

27

nơi xảy ra tai nạn lao động phải lập biên bản ghi nhận sự việc Đoàn điều tra cấp tỉnh có trách nhiệm điều tra tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động làm bị thương nặng từ hai người lao động trở lên Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Trung ương điều tra các vụ tai nạn lao động có tính chất nghiêm trọng hoặc phức tạp.Thành phần Đoàn điều tra tai nạn lao động bao gồm cơ quan quản lý nhà nước về lao động hoặc cơ quan chuyên môn chủ trì; đại diện Công đoàn cùng cấp; đại diện ngành y tế hay bộ phận y tế và một số thành viên khác có liên quan

- Thời hạn điều tra vụ tai nạn lao động tùy thuộc thẩm quyền điều tra, mức

độ tai nạn và tính chất vụ việc với quy đinh cụ thể từ 04 ngày đến 60 ngày Trường hợp các vụ tai nạn có dấu hiệu tội phạm do cơ quan điều tra tiến hành điều tra nhưng sau đó ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì thời hạn điều tra được tính từ khi Đoàn điều tra tai nạn lao động nhận được đầy đủ tài liệu, đồ vật, phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn [19,tr.22]

- Biên bản điều tra tai nạn lao động phải được công bố công khai tại cuộc họp dưới sự chủ trì của trưởng đoàn điều tra tai nạn lao động và các thành viên tham dự là thành viên của đoàn điều tra, người sử dụng lao động hoặc người đại diện được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản, đại diện tổ chức Công đoàn, người bị nạn hoặc đại diện thân nhân người bị nạn, người biết sự việc, người có liên quan đến vụ tai nạn; trường hợp xảy ra tai nạn lao động chết người còn có đại diện cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp [19,tr.22]

- Người sử dụng lao động phải kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động; thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định; bồi thường, trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động; sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe đối với người lao động bị tai

Trang 34

28

nạn lao động Nếu người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm tai nạn lao động cho người lao động thì ngoài việc phải bồi thường, trợ cấp cho người lao động còn phải trả khoản tiền tương ứng với chế độ bảo hiểm tai nạn lao động [19,tr.27]

- Người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị tai nạn do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động; do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân; do sử dụng ma túy, chất gây nghiện mà pháp luật quy định

- Để giảm áp lực chi phí cho doanh nghiệp, pháp luật an toàn lao động quy định việc xây dựng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, đây

là quỹ thành phần của Quỹ bảo hiểm xã hội; mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động và do người sử dụng lao động đóng; mức hưởng trợ cấp, mức hỗ trợ cho người bị tai nạn lao động được tính trên cơ sở mức suy giảm khả năng lao động, mức đóng và thời gian đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động [19,tr.29]

- Người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi bị tai nạn lao động giảm khả năng lao động từ 5% trở lên tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh; ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động; trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý; người lao động bị tai nạn lao động mà

bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp tiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn; người lao

Trang 35

29

động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì hàng tháng còn được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương cơ sở.Thân nhân người lao động được hưởng trợ cấp một lần bằng ba mươi sáu lần mức lương cơ sở tại tháng người lao động bị chết và được hưởng chế độ tử tuất Người lao động sau khi điều trị

ổn định thương tật do tai nạn lao động, trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ

05 ngày đến 10 ngày cho một lần bị tai nạn lao động Trường hợp người sử dụng lao động sắp xếp công việc mới thuộc quyền quản lý thì được hỗ trợ học phí chuyển đồi nghề nghiệp [19, tr.31-37]

Bảng 1.1 Thống kê TNLĐ của Việt Nam từ năm 2014-2018

Số vụ

có người chết

Số người chết

Số người

bị thương nặng

Chi phí (tỷ đồng)

Thiệt hại tài sản (tỷ đồng)

Số ngày nghỉ

Trang 36

30

ngày nghỉ của người lao động và chi phí thiệt hại do TNLĐ là rất lớn, đây mới chỉ là số liệu theo từng năm báo cáo; trong khi đó hệ lụy cho người lao động, gia đình người lao động và toàn xã hội với mỗi vụ tai nạn lao động kéo dài đến hết phần đời còn lại của các nạn nhân bị tai nạn Qua đó cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của việc thực hiện pháp luật an toàn lao động trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia

1.2.5.4 Quy định pháp luật về bảo đảm an toàn lao động đối với một số lao động đặc thù Trong quan hệ lao động thường phát sinh một số loại quan

hệ có tính đặc thù với các đối tượng đặc thù như lao động cao tuổi, lao động

nữ, lao động chưa thành niên, lao động là người tàn tật, thuê mướn lại lao động sự phức tạp của các quan hệ lao động này cũng là một trong những nguy

cơ xảy ra tai nạn lao động Chính vì vậy, pháp luật lao động quy định riêng cho một số nhóm đối tượng đặc thù nhằm hạn chế nguy cơ tai nạn lao động và quy định rõ trách nhiệm cho các bên liên quan khi để xảy ra tai nạn lao động Một

số quy định về an toàn lao động đối với lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật thực hiện theo quy định của Luật chuyên ngành

- Đối với doanh nghiệp cho thuê lại lao động, pháp luật an toàn lao động quy định trách nhiệm thỏa thuận với bên thuê lại lao động trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp về an toàn lao động của người lao động; phối hợp và kiểm tra bên thuê lại lao động thực hiện việc bảo đảm an toàn cho người lao động thuê lại Trường hợp bên thuê lại lao động không thực hiện đầy đủ các cam kết về bảo đảm an toàn lao động trong hợp đồng cho thuê lại lao động đã

ký kết, doanh nghiệp cho thuê lại lao động phải chịu trách nhiệm trong việc bảo đảm đầy đủ quyền lợi của người lao động thuê lại Bên thuê lại lao động có trách nhiệm, thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng thuê lại lao động; không được phân biệt đối xử về an toàn lao động đối với người lao động thuê lại so với người lao động của mình; khi xảy ra tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật

Trang 37

31

gây mất an toàn lao động đối với người lao động thuê lại, phải kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho nạn nhân, đồng thời thông báo ngay với doanh nghiệp cho thuê lao động và thực hiện khai báo, điều tra theo quy định tại; tổ chức huấn luyện an toàn lao động cho người lao động thuê; phối hợp với doanh nghiệp cho thuê lại lao động trong việc điều tra tai nạn lao động; lưu giữ các hồ sơ về an toàn lao động có liên quan đến người lao động thuê lại [19,tr.39], [7,tr.18]

- Tại nơi làm việc có nhiều người lao động thuộc nhiều người sử dụng lao động cùng làm việc thì chủ dự án hoặc chủ đầu tư phải tổ chức để những người

sử dụng lao động cùng lập văn bản xác định rõ trách nhiệm của từng người trong việc bảo đảm an toàn lao động cho người lao động và cử người để phối hợp kiểm tra an toàn lao động [19,tr.40]

- An toàn đối với lao động là người giúp việc gia đình: Người sử dụng lao động có trách nhiệm hướng dẫn cách sử dụng máy, thiết bị, đồ dùng, các biện pháp phòng, chống cháy, nổ trong gia đình có liên quan đến công việc của lao động là người giúp việc gia đình; thực hiện các chế độ có liên quan đến bảo đảm an toàn của lao động là người giúp việc gia đình Lao động là người giúp việc gia đình có trách nhiệm chấp hành đúng hướng dẫn sử dụng máy, thiết bị,

đồ dùng và phòng, chống cháy, nổ [19,tr.40]

- Người lao động khi thỏa thuận bằng văn bản với người sử dụng lao động

về việc giao công việc làm tại nhà trên cơ sở căn cứ vào việc người lao động bảo đảm được yêu cầu về an toàn lao động đối với công việc được giao tại nhà Người sử dụng lao động có trách nhiệm kiểm tra việc bảo đảm an toàn lao động đối với nơi làm việc của người lao động nhận công việc về làm tại nhà; thực hiện các cam kết trong thỏa thuận với người lao động nhận công việc về làm tại nhà; báo cáo tai nạn lao động xảy ra khi làm việc tại nhà của người lao động cùng với báo cáo chung về tai nạn lao động; giải quyết chế độ khi người lao động làm việc tại nhà bị tai nạn lao động [19,tr.41]

Trang 38

32

- Cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề chịu trách nhiệm bảo đảm các điều kiện

về an toàn lao động cho học sinh, sinh viên, người học nghề trong thời gian thực hành, học nghề như đối với người lao động; người sử dụng lao động chịu trách nhiệm thực hiện các quy định về an toàn lao động đối với người học nghề, tập nghề, thử việc như đối với người lao động, kể cả trường hợp bị tai nạn lao động Học sinh, sinh viên, người học nghề trong thời gian thực hành, học nghề, tập nghề phải tuân thủ các quy định về an toàn lao động của cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề [19,tr.41]

1.2.5.5 Quy định pháp luật về quản lý Nhà nước đối với công tác an toàn lao động

- Về phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn lao động cụ thể: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an toàn lao động; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn lao động; các Bộ, Cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm

vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về an toàn lao động; Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về an toàn lao động

- Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng, trình

cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và

tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách, kế hoạch về an toàn lao động, chương trình Quốc gia về an toàn lao động; lập hồ sơ Quốc gia về an toàn lao động; ban hành danh mục các loại máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt

về an toàn lao động; chủ trì thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động huấn luyện an toàn lao động và hoạt động kiểm định các loại máy, thiết

bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; xây dựng hoặc tham gia

ý kiến theo thẩm quyền các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động; theo dõi, tổng hợp, cung cấp thông tin về an toàn lao động; thống kê

Ngày đăng: 25/04/2020, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w