- Chức năng phân phối và điều hòa thu nhập Trong từng thời điểm, một sản phẩm hàng hóa với những tính năng ưu việt nhất định thỏa mãn được yêu cầu của người tiêu dùng có
Trang 1i
MỤC LỤC
DANH MỤC B ẢNG v
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh 4
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh 4
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh 5
1.1.3 Chức năng của cạnh tranh 7
1.1.4 Phân loại cạnh tranh 9
1.1.5 Mô hình cạnh tranh của Michael Porter 11
1.1.6 Các chiến lược cạnh tranh 14
1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của DN 15
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của DN 15
1.2.2 Vai trò của năng lực cạnh tranh đối với DN 17
1.2.4 Các yếu tố hình thành năng lực cạnh tranh của DN 19
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN 21
1.2.5.1 Nhân tố môi trường vĩ mô 21
1.2.5.2 Nhân tố môi trường ngành 25
1.2.5.3 Nhân tố môi trường nội bộ DN 28
1.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của DN 30
1.2.6.1 Chỉ tiêu định tính 30
1.2.6.2 Chỉ tiêu định lượng 32
2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần XD và XNK t ổng hợp Hưng Thịnh 36
Trang 2ii
2.1.1 Tên, địa chỉ và quy mô hiện tại của Công ty 36
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 36
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty 37
2.1.3.1 Theo giấy phép kinh doanh 37
2.1.3.2 Lĩnh vực kinh doanh chính 38
2.1.3.3 Nhiệm vụ của Công ty 38
2.1.4 Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty 38
2.1.5 Quy trình bán hàng của nhân viên bán lẻ xăng dầu Công ty cổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh 40
2.1.6 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh 42
2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh 51
2.2.1 Phân tích các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần XD và XNK TH Hưng Thịnh 51
2.2.1.1 Môi trường vĩ mô 51
2.2.1.2 Phân tích môi trường ngành 60
2.2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty xây dựng và xuất nhập khẩu tổng hợp Hưng Thịnh 67
2.2.2.1 Nguồn nhân lực, thu nhập bình quân 67
2.2.2.2 Về tổ chức quản lý 71
2.2.2.3 Cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị 73
2.2.2.4 Về tài chính 75
2.2.2.5 Hoạt động marketing 78
2.2.2.6 Mạng lưới phân phối 79
Trang 3iii
2.2.2.7 Năng lực cạnh tranh c ủa sản phẩm 80
2.2.2.8 Công tác nghiên cứu và phát triển 82
2.2.2.9 Khả năng liên kết và hợp tác c ủa Công ty 83
2.2.2.10 Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng 83
2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của DN 84
2.2.3.1 Chỉ tiêu định tính 84
2.2.3.2 Chỉ tiêu định lượng 86
2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu tổng hợp Hưng Thịnh từ năm 2013 – 2015 89
2.3.1 Kết quả đạt được của Công ty 89
2.3.2 Hạn chế 90
2.3.3 Nguyên nhân hạn chế 91
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu Hưng Thịnh 93
3.1.1 Định hướng phát triển hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty trong giai đoạn 2017- 2022 93
3.1.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu Hưng Thịnh 95
3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu tổng hợp Hưng Thịnh 95
3.2.1 Giải pháp 1 : Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 95
3.2.1.1 Cơ sở của giải pháp 95
3.2.1.2 Mục tiêu và nội dung của giải pháp 96
3.2.1.3 Kết quả mang lại khi thực hiện giải pháp 100
Trang 4iv
3.2.2 Giải pháp 2 : Tăng nguồn vố n cho Công ty 101
3.2.2.1 Cơ sở của giải pháp 101
3.2.2.1 Mục tiêu c ủa giải pháp 103
3.2.2.2 Nội dung c ủa giải pháp 103
3.2.2.4 Kết quả giải pháp 104
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 5v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng tài sản của Công ty cổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh từ năm
2013 – 2015 42
Bảng 2.2 Cơ cấu tài sản tương đối của Hưng Thịnh giai đoạn 2013-2015 43
Bảng 2 3 Tăng giảm và tỉ trọng các tài sản thuộc tài sản ngắn hạn 44
Bảng 2.4 Bảng nguồn vốn của Công ty cổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh từ năm 2013 – 2015 46
Bảng 2.5 Cơ cấu nguồn vốn của Hưng Thịnh 2013-2015 47
Bảng 2.6 Tỷ lệ vốn vay so với VCSH c ủa Công ty từ năm 2013 – 2015 48
Bảng 2.7 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh 2013-2015 49
Bảng 2.8 Lợi nhuận sau thuế Công ty XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh 2013-201551 Bảng 2.9 Một số thông tin c ủa đối thủ cạnh tranh của Công ty 62
Bảng 2.10 Tình hình lao động của Công ty trong 3 năm 2013 – 2015 68
Bảng 2.11 Trình độ của người lao động của Công ty từ năm 2013 – 2015 69
Bảng 2.12 Sự thay đổi nguồn nhân lực của Công ty từ năm 2013 – 2015 70
Bảng 2.13 Thu nhập bình quân một nhân viên trong một tháng của Công ty năm 2015 71
Bảng 2.14 Chi phí quản lý DN trên một đồng doanh thu của Công ty từ 2013 – 2015 72 Bảng 2.15 Khả năng sinh lợi và chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu của Công ty CP XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh từ năm 2013 – 2015 76 Bảng 2.16 Một số chỉ tiêu năng lực tài chính c ủa Hưng Thịnh giai đoạn 2013 – 201577 Bảng 2.17 Chỉ số thanh toán Hưng Thịnh và một số Công ty cùng ngành năm 2015 77
Trang 6vi
Bảng 2.18 Mức giá bán lẻ xăng dầu của Petrolimex năm 2016 82
Bảng 2.19 Bảng đánh giá năng lực cạnh tranh 84
Bảng 2.20 Thị phần của Công ty qua các năm từ 2013 – 2015 86
Bảng 2.21 Các chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của Công ty trong 3 năm 2013-2015 87
Bảng 2.22 Các chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của các Công ty kinh doanh xăng dầu tiêu biểu huyện Quốc Oai năm 2015 89
Bảng 3.1 Chi phí thanh lý hợp đồng lao động của Công ty cổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh 97
Bảng 3.2 Dự kiến chi phí đăng tin tuyển dụng 98
Bảng 3.3 Dự kiến chi phí đào tạo cho nhân viên của Công ty trong một năm 100
Bảng 3.4 Tổng chi phí thực hiện giải pháp 100
Bảng 3.5 Bảng kết quả dự kiến đ ạt được 101
Bảng 3.6 Tỷ lệ vốn vay so với VCSH c ủa Công ty từ năm 2013 – 2015 102
Bảng 3.7 Kế hoạch trả nợ của Công ty 104
Bảng 3.8 Doanh thu dự kiến đạt được khi thực hiện giải pháp 105
Trang 7vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Mô hình cạnh tranh Michael Porter 12
Hình 2.2 Cơ cấu tổ chức Công ty c ổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh 39
Hình 2.3 Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2005- 2015 52
Hình 2.4 Chỉ số lạm phát của Việt Nam từ 2006- 2015 53
Hình 2.5 Biểu đồ thị phần bán lẻ xăng dầu trên địa bàn huyện Quốc Oai năm 2015 61
Trang 8viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CPI : Chỉ số giá tiêu dùng
DN : Doanh nghiệp
GDP : Tốc độ tăng trưởng kinh tế
ROA : Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
ROE : Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROS : Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
TPP : Hiệp hội đối tác xuyên Thái Bình Dương VCSH : Vốn chủ sở hữu
XNK : Xuất nhập khẩu
Trang 91
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế như hiện nay, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn với nền kinh tế khu vực và thế giới Các DN trong nước đang đứng trước những cơ hội rất lớn để phát triển cũng như phải đối mặt với vô số những khó khăn, thách thức
mà quá trình hội nhập mang lại Có thể thấy rằng nhiệm vụ đặt trên vai của các DN vô cùng nặng nề Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, mỗi DN muốn tồn tại và phát triển thì ngoài việc đảm bảo giữ vững phần thị trường đã có, phải luôn tìm cách vươn lên và mở rộng thị trường Muốn vậy DN phải tạo được cho mình một vị thế chắc chắn, ổn định trên thị trường và giành được lợi thế so với đối thủ cạnh tranh Bởi vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng môi trường và các đối thủ cạnh tranh với những giải pháp và biện pháp thực hiện thích hợp là điều kiện cần thiết
để đảm bảo cho DN tồn tại, đứng vững và phát triển trong điểu kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường
Những năm gần đây cùng với sự thay đổi trong cơ chế kinh doanh xăng dầu, Công ty cổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh đã nỗ lực để thích ứng với sự thay đổi của cơ chế thị trường, áp lực cạnh tranh gay gắt và khốc liệt, đối thủ cạnh tranh ngày càng tăng
Xuất phát từ thực tiễn đó, em chọn đề tài “Giải pháp nâng cao năng l ực cạnh tranh của Công ty xây dựng và xuất nhập khẩu tổng hợp Hưng Thịnh” để làm khóa luận
tốt nghiệp nhằm đưa ra các định hướng, giải pháp thực hiện giúp Công ty đạt được những mục tiêu dài hạn trong giai đoạn tới
Trang 102
pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh, giúp cho Công ty phát triển ngày càng vững mạnh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, kết quả và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh tại Công ty cổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh Phạm vi không gian nghiên cứu: nghiên cứu trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu tại Công ty cổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh
Phạm vi thời gian nghiên cứu: số liệu trong bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2013-2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập các tài liệu, sách báo chuyên ngành qua thư viện, qua mạng Internet, qua học hỏi các anh chị trong Công ty
Thống kê lại toàn bộ số liệu liên quan đến khóa luận từ phòng kế toán để phân tích và đánh giá chính xác hiệu quả của năng lực cạnh tranh
Tổng hợp lại các phân tích để đưa ra cái nhìn tổng quát nhất, đồng thời đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh
Các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và so sánh, sơ đồ, biểu mẫu…được sử dụng để nghiên cứu
5 Ý nghĩa thực tiễn đóng góp của đề tài
Giúp Công ty có những nhìn nhận chính xác về nội lực của mình, đồng thời biết những điểm yếu và thách thức để thay đổi mình theo hướng tích cực
Đưa ra những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty như : các giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng nguồn vốn cho Công ty, đẩy mạnh công tác marketing
Trang 113
Giúp sinh viên nhận thức và hiểu hơn những kiến thức đã được học trên giảng đường,
và có thể áp dụng những lý thuyết trừu tượng vào một Công ty cụ thể
6 Kết cấu của Khóa luận tốt nghiệp
Kết cấu của Khóa luận gồm 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của DN
Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Công ty XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty XD và XNK tổng hợp Hưng Thịnh
Trang 124
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế hàng hóa, là điều kiện sống còn của mỗi DN, nó ảnh hưởng đến các lĩnh vực, các thành phần kinh tế Thuật ngữ “cạnh tranh” hiện nay được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, quân sự, Qua quá trình phát triển của nền kinh tế, ở các góc độ khác nhau thì có nhiều cách hiểu khác nhau về cạnh tranh:
Theo định nghĩa của kinh tế học: Cạnh tranh là sự giành giật thị trường để tiêu thụ hàng hóa giữa các DN Ở đây, định nghĩa này chỉ mới dừng lại ở việc cạnh tranh trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa
Dưới góc độ mục đích của cạnh tranh, theo Mác – Lênin, Cạnh tranh là sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu hút lợi nhuận siêu ngạch
Theo từ điển Cornu của Pháp, thì cạnh tranh được hiểu là:
Chạy đua trong kinh tế, hành vi của các DN độc lập với nhau và là đối thủ của nhau cung ứng hàng hóa, dịch vụ, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau, với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mất đi một lượng khách hàng thường xuyên
Chạy đua, trên một thị trường mà cấu trúc và sự vận hành đáp ứng các điều kiện của quy luật cung cầu của một bên là các nhà cung cấp với bên kia là những người sử dụng hoặc tiêu dùng hàng hóa hoặc dịch vụ được tự do tiếp cận và các quyết định kinh doanh không phải là hệ quả của áp lực hoặc những ưu đãi do pháp luật mang lại
Theo nhà kinh tế học Michael Porter Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà
Trang 13ra sự nổi trội của chủ thể so với đối thủ Bản chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi thế kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường Đây là quá trình sáng tạo, đổi mới có tính chất toàn diện nhằm phục vụ khách hàng một cách tốt nhất và ứng phó với những thay đổi ngày càng đi lên của thị trường nhiều biến động của nền kinh tế thế giới
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có vai trò quan trọng và được coi là động lực của sự phát triển không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi DN mà cả nền kinh tế nói chung
DN tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh
- Cạnh tranh đòi hỏi DN phải phát triển công tác maketing bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường để xác định được nhu cầu thị trường từ đó ra các quyết định sản xuất kinh doanh để đáp ứng được nhu cầu đó Bên cạnh đó, DN phải nâng cao các hoạt động dịch vụ cũng như tăng cường công tác quảng cáo, khuyến mãi, bảo hành,…
- Cạnh tranh buộc các DN phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn để đáp ứng được nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng Muốn vậy, các DN phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng
Trang 146
cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân… từ đó làm cho DN ngày càng phát triển hơn
Đối với người tiêu dùng
Có cạnh tranh, hàng hóa sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng đẹp, phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng trong xã hội Vì vậy, đối với người tiêu dùng, cạnh tranh có các vai trò sau:
- Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình
- Những lợi ích mà họ thu được từ hàng hóa ngày càng được nâng cao, thỏa mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ các dịch vụ kèm theo được quan tâm nhiều hơn
Đó chính là những lợi ích mà người tiêu dùng có được từ việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các DN
Đối với nền kinh tế
Cạnh tranh được coi như là linh hồn của nền kinh tế, vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau:
- Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xóa bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc
- Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và phát triền nền kinh tế
- Cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho DN vươn ra thị trường nước ngoài Cạnh tranh giúp cho nền kinh tế có nhìn nhận đúng hơn về kinh tế thị trường, rút ra được những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tế thị trường của nước ta
Trang 157
Bên cạnh những tác dụng tích cực, cạnh tranh cũng làm xuất hiện những hiện tượng tiêu cực như làm hàng giả, buôn lậu trốn thuế,… gây nên sự bất ổn trên thị trường, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước và của người tiêu dùng
Cạnh tranh như quy luật tồn tại của bất cứ cá nhân, DN hay bất cứ quốc gia nào khi bắt tay tham gia vào thị trường, chấp nhận cạnh tranh và tìm cách để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Đó chính là DN đang tìm con đường sống cho mình Qua đây, ta
có thể thấy được tầm quan trọng của cạnh tranh, nó là yếu tố đóng góp rất lớn trong việc phát triển kinh tế thị trường
1.1.3 Chức năng của cạnh tranh
Với từng thời kỳ khác nhau của nền kinh tế thì cạnh tranh lại có chức năng thay đổi để phù hợp với từng giai đoạn cụ thể Có thể nhận thấy rằng chức năng quan trọng của cạnh tranh được thể hiện qua các chức năng chính sau:
- Chức năng điều chỉnh cung – cầu hàng hóa trên thị trường
Khi cung của một loại hàng hóa nào đó trên thị trường lớn hơn nhu cầu của người tiêu dùng về loại hàng hóa đó thì khi này dẫn tới sự cạnh tranh giữa các người bán với nhau, điều này làm cho giá cả hàng hóa đó giảm xuống dẫn đến giảm cung Khi cầu của một loại hàng hóa lớn hơn cung hay nói cách khác là cung hàng hóa không đáp ứng được cầu, điều này dẫn đến sự khan hiếm của loại hàng hóa đó khiến cho giá của hàng hóa đó tăng lên, sự tăng lên về giá làm cho cầu giảm Vậy có thể nói rằng, cạnh tranh làm cho cung – cầu hàng hóa luôn được điều chỉnh quanh mức cân bằng
- Chức năng điều tiết việc sử dụng các nhân tố sản xuất
Hầu hết các DN hoạt động đều vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận cho mình do vậy khi đã tham gia vào thị trường thì các DN đều phải cân nhắc quyết định về việc sử dụng các nguồn lực vật chất và nguồn nhân lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh Việc sử dụng các nguồn lực vào sản xuất này sao cho hợp lý nhất làm cho chi phí sản xuất là thấp nhất nhưng đem lại hiệu quả cao nhất Chính từ đặc điểm này mà nguồn lực luôn được vận động, chu chuyển hợp lý về mọi mặt để phát huy hết khả năng vốn có, đem lại năng suất cao nhất
Trang 16- Chức năng phân phối và điều hòa thu nhập
Trong từng thời điểm, một sản phẩm hàng hóa với những tính năng ưu việt nhất định thỏa mãn được yêu cầu của người tiêu dùng có thể chiếm được những ưu thế trên thị trường, song vị trí của nó luôn bị đe dọa bởi những sản phẩm khác cùng loại với những tính năng, công dụng… tiến bộ hơn do các đối thủ cạnh tranh ngày đêm tìm kiếm những giải pháp hữu ích để nâng cao sự ganh đua của mình Do có sự cạnh tranh nên các nhà kinh doanh không thể lạm dụng ưu thế của mình Do đó mà cạnh tranh sẽ tác động tích cực tới việc phân phối và điều hòa thu nhập
- Chức năng động lực thúc đẩy đổi mới
Trong cạnh tranh kinh tế điều luôn được khẳng định đó là chiến thắng sẽ thuộc về những
kẻ mạnh và những kẻ yếu tất yếu sẽ bị loại bỏ khỏi thị trường Để có thể tồn tại và phát triển trên thị trường các chủ thể kinh doanh không ngừng phải nâng cao trình độ quản
lý, hiểu biết về công nghệ, tư duy kinh tế, kinh nghiệm trên thương trường… của mình
Do đó, cạnh tranh luôn thôi thúc các chủ thể kinh doanh phải nỗ lực đổi mới để có thể ganh đua được với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường Cạnh tranh không những trở thành một động lực để phát triển cho mỗi cá nhân chủ thể kinh doanh mà còn cho cả nền kinh tế của mỗi quốc gia
Trang 179
1.1.4 Phân loại cạnh tranh
Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường
- Cạnh tranh hoàn hảo
Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có một số lớn DN nhỏ sản xuất và bán ra một loại hàng hoá, dịch vụ giống hệt nhau Thị trường này có rất nhiều người sản xuất và bán hàng hoá giống hệt nhau, không có trở lực gì quan trọng ảnh hưởng đến việc gia nhập vào một thị trường hàng hoá Theo thị trường này mỗi DN chỉ là một phần tử trong tổng thể
vì vậy các quyết định của DN không ảnh hưởng đến thị trường Mặt khác, việc định giá của DN không cách nào khác hơn là phải tự thích ứng với giá cả hiện có trên thị trường Muốn có lãi, DN phải giảm thấp chi phí sản xuất
- Cạnh tranh không hoàn hảo
Cạnh tranh không hoàn hảo là thị trường mà phần lớn các sản phẩm là không đồng nhất Cùng sản phẩm có thể chia làm nhiều thứ loại, nhiều chất lượng,… Sản phẩm tương tự
có thể được bán với nhiều nhãn hiệu khác nhau, mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh hay
uy tín khác nhau Mặc dù, sự khác biệt giữa các sản phẩm không đáng kể, chủ yếu là sự khác biệt mang ý nghĩa quan niệm, tâm lý là chính Người bán có thể có uy tín độc đáo riêng biệt đối với khách hàng do nhiều lý do khác nhau: khách hàng quen, gây được lòng tin,… hay các cách thức quảng cáo làm khách hàng thích mua của nhà cung ứng này hơn của nhà cung ứng khác Người bán có thể thu hút khách hàng bởi nhiều cách: quảng cáo, khuyến mại, phương thức bán hàng, cung cấp dịch vụ, tín dụng, hoặc có nhiều điều khoản ưu đãi,…
- Cạnh tranh độc quyền
Thị trường độc quyền: Là thị trường mà ở đó chỉ có duy nhất một người mua hoặc một người bán Chính sách của thị trường này là định giá cao và sản lượng hàng hoá ít Tuy nhiên điều đó không đồng nghĩa với việc nhà độc quyền định giá bao nhiêu cũng được Tuỳ theo đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm và cơ chế quản lý giá của Nhà nước mà nhà độc quyền định giá cao hay thấp để thu được lợi nhuận tối đa
Trang 1810
Cạnh tranh độc quyền: Trong thị trường cạnh tranh độc quyền, các DN cạnh tranh với nhau bằng việc bán sản phẩm phân biệt, các sản phẩm có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao nhưng không phải là thay thế hoàn hảo Vì những lý do khác nhau (chất lượng, hình dáng, danh tiếng,…) người tiêu dùng coi mặt hàng của DN này khác với của các
DN khác Do đó một số khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm mình thích Nhà sản xuất định giá nhưng không thể tăng giá một cách bất hợp lý, về dài hạn thì không thể trở thành thị trường độc quyền được Cạnh tranh độc quyền sử dụng các hình thức cạnh tranh phi giá như quảng cáo, phân biệt sản phẩm,…
Căn cứ vào các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua
Cạnh tranh giữa người bán và người mua là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua
rẻ bán đắt trên thị trường Người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, ngược lại người mua muốn mua với giá thấp nhất Giá cuối cùng là giá thống nhất giữa người mua và người bán sau một quá trình mặc cả với nhau mà theo đó hoạt động mua bán được thực hiện
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau
Cạnh tranh giữa những người mua với nhau là cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu Khi lượng cung một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó quá thấp so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh giữa những người mua sẽ trở nên quyết liệt Lúc đó giá cả hàng hoá, dịch vụ sẽ tăng vọt nhưng do hàng hoá khan hiếm nên người mua vẫn sẵn sàng trả giá cao cho hàng hoá mình cần
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất, chiếm đa số trên thị trường Thực tế cho thấy khi sản xuất hàng hoá càng phát triển càng
có nhiều người bán dẫn đến cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên nhiều phương diện và nhiều hình thức đa dạng khác nhau Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật một mặt tác động đến các nhà sản xuất, một mặt làm thay đổi nhu cầu của người mua, do đó
nó dần làm biến đổi vị trí của các yếu tố cạnh tranh Giá là yếu tố thứ nhất của cạnh
Trang 19Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế
- Cạnh tranh giữa các ngành
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các DN trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu được lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu tư bỏ ra đầu tư vào ngành khác Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến DN đang kinh doanh trong ngành
có tỷ suất lợi nhuận thấp chuyển sang kinh doanh ở ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Cạnh tranh nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các DN cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó Trong cuộc cạnh tranh này các DN thôn tính lẫn nhau,
DN chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động trên thị trường, DN thu hẹp phạm vi kinh doanh thậm chí phá sản
1.1.5 Mô hình cạnh tranh của Michael Porter
Michael Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện nay, đã cung cấp một khung lý thuyết để phân tích.Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh cũng phải chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh Các nhà chiến lược đang tiềm kiếm ưu thế nổi trội hơn các đối thủ có thể sử dụng
mô hình này nhằm hiểu rõ hơn bối cảnh của ngành kinh doanh mình đang hoạt động
Mô hình này được xem là công cụ hữu dụng và hiệu quả để tìm hiểu nguồn gốc lợi nhuận Quan trọng hơn cả, mô hình này cung cấp các chiến lược cạnh tranh để DN duy trì hay tăng lợi nhuận
Trang 2012
Hình 2.1 Mô hình cạnh tranh Michael Porter Theo Michael Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường một ngành sản xuất bất kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau:
Áp lực của nhà cung ứng
Nhà cung ứng có thể khẳng định quyền lực của họ bằng cách đe dọa tăng giá hay giảm chất lượng sản phẩm/dịch vụ cung ứng Do đó, nhà cung ứng có thể chèn ép lợi nhuận của một ngành khi ngành đó không có khả năng bù đắp chi phí tăng lên trong giá thành sản xuất.Với tất cả các ngành, nhà cung cấp luôn gây các áp lực nhất định nếu họ có quy
mô, sự tập hợp và việc sở hữu các nguồn lực quý hiếm Chính vì thế, những nhà cung cấp sản phẩm đầu vào nhỏ lẻ sẽ có rất ít quyền lực đàm phán đối với các DN mặc dù họ
có số lượng lớn nhưng họ lại thiếu tổ chức
Áp lực từ phía khách hàng
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động
sản xuất kinh doanh của ngành
CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH
NHÀ CUNG ỨNG
CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH TRONG NGÀNH Cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại
KHÁCH HÀNG
SẢN PHẨM THAY THẾ
Nguy cơ của người mới
nhập cuộc Quyền thương lượng
của nhà cung ứng
Quyền thương lượng của người mua Nguy cơ của sản phẩm
và dịch vụ thay thếế
Trang 2113
Khách hàng được phân làm 2 nhóm: khách hàng lẻ và nhà phân phối Cả hai nhóm đều gây áp lực với DN về giá cả đòi giảm giá sản phẩm, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm hay mặc cả để có chất lượng phục vụ tốt hơn và chính họ là người điều khiển cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng
Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn
Theo Michael Porter, đối thủ tiềm ẩn là các DN hiện chưa có mặt trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố:
Sức hấp dẫn của ngành : yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu tỉ suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng DN trong ngành
Những rào cản gia nhập ngành : là những yếu tố làm cho việc gia nhập vào một ngành khó khăn và tốn kém hơn
Áp lực cạnh tranh của nội bộ ngành
Các DN đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh Trong một ngành các yếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh của các đối thủ
Tình trạng ngành: nhu cầu, tốc độ tăng trưởng, số lượng cạnh tranh,…
Trang 2214
Cấu trúc ngành: ngành tập trung hay phân tán Ngành phân tán là ngành có rất nhiều DN cạnh tranh với nhau nhưng không có DN nào có đủ khả năng chi phối các DN còn lại Ngành tập trung là ngành chỉ có một hoặc một vài DN nắm giữ vai trò chi phối
Các rào cản rút lui: giống như các rào cản gia nhập ngành, rào cản rút lui là các yếu tố khiến cho việc rút lui khỏi ngành của DN trở nên khó khăn: rào cản về công nghệ, vốn đầu tư, ràng buộc với người lao động, ràng buộc với chính phủ, các tổ chức liên quan, các ràng buộc chiến lược, kế hoạch
1.1.6 Các chiến lược cạnh tranh
Mỗi DN có thể theo đuổi rất nhiều chiến lược nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh cho phép chúng hoạt động tốt hơn các đối thủ cạnh tranh để đạt được doanh thu cao hơn Chiến lược cạnh tranh cơ bản mà mỗi DN có thể theo đuổi là:
- Chiến lược dẫn đầu về chi phí
Mục đích của DN trong việc theo đuổi sự dẫn đầu về chi phí hoặc chiến lược chi phí thấp là hoạt động tốt hơn các đồi thủ cạnh tranh bằng việc làm mọi thứ để có thể sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ ở chi phí thấp hơn các đối thủ
Chiến lược chi phí thấp giúp DN có mức lợi nhuận cao, bảo vệ DN trước các khách hàng, nhà cung cấp mạnh, tạo ra một hàng rào chống gia nhập cao, giảm sự đe dọa của các sản phẩm thay thế
Để đạt được tổng chi phí thấp, DN có thị phần cao, và có những lợi thế khác như tiếp cận thuận lợi với nguồn nhiên liệu , thiết kế sản phẩm để chế tạo, dòng sản phẩm rộng
để chi nhỏ chi phí, bán được sản phẩm cho các khách hàng lớn Điều đó cũng đòi hỏi việc thiết kế sản phẩm phải thuận tiện cho sản xuất, duy trì sản phẩm có liên quan để trải đều chi phí và phục vụ cho tất cả các nhóm khách hàng cơ bản.Vị trí chi phí khi đã đạt sẽ cho phép làm tăng tỷ lệ lợi nhuận và như vậy có thể tái đầu tư vào những phương tiện mới, máy móc hiện đại để duy trì lợi thế về chi phí
- Chiến lược khác biệt hóa
Trang 2315
Mục đích của chiến lược khác biệt hóa là để đạt được lợi thế cạnh tranh bằng việc tạo ra sản phẩm – hàng hóa hoặc dịch vụ- mà được người tiêu dùng nhận thức là độc đáo nhất theo nhận xét của họ
Sự khác biệt hóa so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh được xây dựng trên thương hiệu, sức mạnh dịch vụ, hệ thống phân phối,… hoặc những điểm mạnh đặc trưng của Công ty Tuy nhiên, chiến lược này không cho phép DN bỏ qua yếu tố chi phí, mặc dù chi phí không phải là mục tiêu chiến lược cơ bản
Khác biệt hóa tạo nên sự tin tưởng của khách hàng vào nhãn hiệu, sẽ dẫn đến khả năng
ít biến động hơn về giá cả, nó làm tăng lợi nhuận vì thế tránh được sự cần thiết phải tạo
ra mức chi phí thấp Ngoài ra, khác bệt hóa dễ dàng giảm bớt quyền lực của người mua
vì họ thiếu những điều kiện để so sánh và sự khác biệt hóa sản phẩm sẽ thuận lợi hơn khi phải đương đầu với sản phẩm thay thế
- Chiến lược trọng tâm hóa
Chiến lược trọng tâm hóa là tập trung vào nhóm người cụ thể, một bộ phận trong các loại hàng hóa hoặc một vùng thị trường nào đó nhằm phục vụ một mục tiêu cụ thể thật tốt Chiến lược trọng tâm hóa có thể giành được lợi thế chi phí thấp hoặc đặc trưng hóa
do thị trường hẹp
1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của DN
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của DN
Năng lực cạnh tranh đã và đang là chủ đề bàn luận của các nước phát triển và đang phát triển vì nó có tầm quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới ngày càng mở cửa và hội nhập Mặc dù, các nhà kinh tế thống nhất với nhau về tầm quan trọng, nhưng lại có rất nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về khái niệm năng lực cạnh tranh
Theo Michael Porter : Năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị tăng cao phù hợp với nhu cầu khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận
Trang 2416
Theo quan điểm của Van Duren, Martin và Westgren thì năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước, các chỉ số đánh giá năng suất lao động, công nghệ, tổng năng suất các yếu tố sản xuất, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng và tính khác biệt của sản phẩm, chi phí đầu vào,
Theo lý thuyết thương mại truyền thống thì năng lực cạnh tranh của DN được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất Hiệu quả của các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh được đánh giá dựa trên mức chi phí thấp Chi phí sản xuất thấp không chỉ là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh mà còn đóng góp tích cực cho nền kinh tế
Năng lực cạnh tranh của DN là thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnh tranh của DN trước hết phải được tạo ra từ thực lực của
DN Đây là các yếu tố nội tại của mỗi DN, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị DN, một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên cùng lĩnh vực, cùng thị trường
Ngoài ra, năng lực cạnh tranh của DN còn được thể hiện ở chiến lược kinh doanh thích hợp và hiệu quả kinh doanh từ khâu nắm bắt thông tin đến khâu tổ chức sản xuất, từ đổi mới công nghệ đến quản lý phục vụ, đổi mới mặt hàng, Năng lực cạnh tranh của DN phải được thể hiện bằng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng sản phẩm và dịch vụ của DN trên thị trường Các DN phải nỗ lực tăng cường năng lực cạnh tranh của chính mình bằng việc thúc đẩy công tác nghiên cứu, nâng cao trình độ nguồn nhân lực, tăng hiệu quả hoạt động tài chính, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện hạ giá thành và giá bán ra của hàng hóa
Từ các quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát như sau : Năng lực cạnh tranh của DN là toàn bộ những khả năng, năng lực mà DN đó có thể duy trì vị trí của nó trên thị trường cạnh tranh một cách lâu dài, tạo lợi thế cho DN so với các đối thủ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của thị trường
Trang 2517
1.2.2 Vai trò của năng lực cạnh tranh đối với DN
Trong nền kinh tế thị trường, năng lực cạnh tranh là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển là yếu tố quyết định để DN có thể vươn tới một vị thế mà tại đó DN có khả năng tác động đến các lực lượng cạnh tranh một cách hiệu quả Khi tốc độ hội nhập càng nhanh, mức cạnh tranh càng gia tăng thì sự quan tâm đến vấn đề năng lực cạnh tranh càng cần thiết Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của DN sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn ngành, góp phần giúp cho nền kinh tế hoạt động một cách hiệu quả hơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn, làm cho đời sống xã hội ngày càng phong phú hơn Do đó, các DN cần phải có các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để có thể tận dụng tối đa các điều kiện mà quá trình hội nhập mang lại để phát triển DN và có đủ sức cạnh tranh với các đối thủ
1.2.3 Các cấp độ năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các cấp độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh của DN, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ
- Năng lực cạnh tranh của quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của tất cả các sản phẩm trên thị trường nội địa và xuất khẩu Có rất nhiều cách hiểu về năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
Theo Asia Development Outlook 2003 là khả năng của một nước để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế Đồng thời, duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nước để tạo ra sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm
và dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong khi kiếm được thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó
Theo diễn đàn kinh tế thế giới 1997 (WEF) thì năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu
là sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô, đó là năng lực của một nền kinh tế đạt được và duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế
Trang 2618
xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ sở xác định các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác Năng lực cạnh tranh quốc gia được đo bằng 8 chỉ tiêu: mức độ mở cửa của nền kinh tế, vai trò của Nhà nước, vai trò của thị trường tài chính, môi trường công nghệ, kết cấu hạ tầng, chất lượng quản trị kinh doanh, hiệu quả và tính linh hoạt của thị trường lao động, môi trường pháp lý
- Môi trường cạnh tranh ngành / DN
Một quốc gia muốn có nền kinh tế phát triển, có năng lực cạnh tranh cao thì quốc gia đó cần phải có nhiều DN có năng lực cạnh tranh cao Năng lực cạnh tranh của DN được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của DN trong môi trường cạnh tranh trong nước và nước ngoài Ngoài ra, còn thông qua một số tiêu chí như: nguồn lực về vốn, công nghệ, con người, quản lý; chất lượng và giá cả sản phẩm; hệ thống phân phối và dịch vụ sau bán hàng của DN; chiến lược kinh doanh của DN Theo mô hình kim cương của Micheal Porter, lợi thế cạnh tranh của một DN, một ngành không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên trong nội bộ DN mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài trong môi trường kinh doanh quốc gia bao gồm: các điều kiện về yếu tố sản xuất, sức cầu về hàng hóa, các ngành phụ trợ, môi trường cạnh tranh và vai trò của Chính phủ
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của ngành hay DN lại thể hiện thông qua năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của nó Đây cũng là cái thể hiện rõ nhất năng lực cạnh tranh của các chủ thể nói chung Theo tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 317 tháng 10 năm 2004 của TS Nguyễn Văn Thanh: Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm được hiểu là khả năng sản phẩm
có được nhằm duy trì được vị thế của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh Năng lực cạnh tranh sản phẩm được nhận biết thông qua lợi thế cạnh tranh của sản phẩm
đó với sản phẩm khác cùng loại
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có thể được đánh giá thông qua: giá sản phẩm, sự vượt trội về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, thương hiệu, so với đối thủ cạnh tranh trên cùng một phân đoạn thị trường vào cùng một thời điểm
Trang 2719
Có thể nói ba cấp độ của năng lực cạnh tranh mặc dù có sự độc lập tương đối nhưng giữa chúng vẫn tồn tại mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là yếu tố cơ bản, cốt lõi tạo nên năng lực cạnh tranh của ngành, và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia Ngược lại, năng lực cạnh tranh của quốc gia
sẽ tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh ngành, và chính năng lực cạnh tranh cạnh tranh của DN khi được nâng cao sẽ tạo nên sức hút, sự hấp dẫn với sản phẩm, dịch vụ của người tiêu dùng từ đó tạo nên năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.2.4 Các yếu tố hình thành năng lực cạnh tranh của DN
Thứ nhất đó là trình độ tổ chức quản lý của DN Tổ chức quản lý tốt trước hết áp dụng phương pháp quản lý hiện đại đã được DN của nhiều nước áp dụng thành công DN cần tìm kiếm và đào tạo cán bộ quản lý có đủ năng lực và sự trung thành để quản lý và điều hành DN Muốn có được đội ngũ cán bộ quản lý tài giỏi, DN cần có các chính sách đãi ngộ hợp lý, các nhà quản lý cấp cao nên tạo điều kiện cho trao quyền chủ động cho đội ngũ cán bộ cấp dưới để họ phát huy khả năng, năng lực sáng tạo, tính tư duy của bản thân Khi đội ngũ nhân viên cảm thấy được đối xử và coi trọng thì họ sẽ phát huy hết khả năng của mình để phục vụ DN DN có đội ngũ cán bộ tổ chức quản lý tốt sẽ giúp cho DN có thể thích nghi và vượt qua được qua những thay đổi của thị trường
Thứ hai, yếu tố nguồn lực của DN bao gồm nguồn nhân lực, nguồn vốn và trình độ khoa học công nghệ Nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng vì nó đảm bảo nguồn sáng tạo của mọi tổ chức Nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, chất lượng cao sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, sản phẩm luôn có mẫu mã đa dạng, chất lượng tốt và công dụng của sản phẩm ngày càng được cải tiến, và từ đó uy tín và thương hiệu của sản phẩm sẽ ngày càng được tăng, DN sẽ được nhiều người tiêu dùng biết đến và lựa chọn sản phẩm của DN để sử dụng, DN sẽ củng cố được vị trí của mình trên thương trường cũng như trong lòng người tiêu dùng
Bên cạnh nguồn nhân lực thì vốn là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của DN Một DN có năng lực cạnh tranh cao là DN có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo được vốn trong những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý, có kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả để phát triển lợi nhuận Một DN có nguồn vốn lớn cũng
Trang 2820
đồng nghĩa với DN sẵn sàng đầu tư khoa học công nghệ hiện đại, đào tạo nâng cao trình độ cán bộ nhân viên góp phần tạo ra nguồn nhân lực chất lượng tốt hơn cho DN Tuy nhiên nếu như DN bị hạn chế về nguồn vốn thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất kinh doanh, gây nhiều khó khăn cho DN như hoạt động sản xuất áp dụng các công nghệ cũ, nhân viên không được đào tạo, lao động chủ yếu bằng chân tay, hạn chế hiện đại hóa hệ thống tổ chức quản lý thì khó có khả năng phát triển để mở rộng thi trường cho DN, Vì vậy, DN cần có kế hoạch huy động vốn phù hợp và phải có chiến lược đa dạng hóa nguồn cung vốn
Một nguồn lực nữa cũng thể hiện năng lực cạnh tranh của DN là trình độ công nghệ Công nghệ là phương pháp bí mật, là công thức giúp DN sản xuất ra sản phẩm Để có năng lực cạnh tranh DN phải được trang bị bằng công nghệ hiện đại Khi công nghệ hiện đại, cải tiến hóa thì sẽ sử dụng ít sức lao động của con người, thời gian sản xuất sản phẩm được rút ngắn, ít gây ô nhiễm, sản phẩm sản xuất có chất lượng tốt hơn, năng suất cao hơn và đặc biệt tiêu hao năng lượng và nguyên liệu thấp, điều này giúp cho DN tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm trong khi chất lượng sản phẩm tăng lên do
đó làm năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng
Yếu tố thứ ba cấu thành năng lực cạnh tranh của DN là năng lực cạnh tranh của sản phẩm Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó bán được nhiều và nhanh chóng trên thị trường so với sản phẩm tương tự cũng có mặt trên thị trường Năng lực cạnh tranh của sản phẩm bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: chất lượng sản phẩm, giá cả, thời gian cung cấp, dịch vụ đi kèm, điều kiện mua bán, danh tiếng và uy tín, Khi lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình, DN cần nhận định đầy đủ các yếu tố cấu thành nên sản phẩm tốt là lợi ích cốt lõi, chính là dịch vụ hay lợi ích căn bản của khách hàng được đảm bảo, nhu cầu của khách hàng được đáp ứng và thỏa mãn Sau đó, DN chuẩn bị sản phẩm hoàn thiện hơn nhằm tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh
Yếu tố thứ tư là khả năng liên kết và hợp tác với DN khác và hội nhập kinh tế Một DN tồn tại trong mối liên hệ nhiều chiều với các đối tượng hữu quan trong môi trường kinh doanh Khi đất nước đang ngày càng phát triển, hội nhập sâu rộng, việc lựa chọn đúng đối tác liên minh và khả năng vận hành liên minh một cách hiệu quả, tận dụng tốt nhất
Trang 2921
những cơ hội để phát triển Nếu DN không thể liên kết với các DN khác thì sẽ bỏ qua nhiều cơ hội kinh doanh và nếu cơ hội đó rơi vào tay đối thủ cạnh tranh thì nó sẽ trở thành nguy cơ đối với DN
Yếu tố thứ năm là uy tín, thương hiệu của DN được hình thành trong cả một quá trình phấn đấu lâu dài, kiên trì theo đuổi mục tiêu và chiến lược đúng đắn Thương hiệu được xây dựng bằng con đường chất lượng: chất lượng của hệ thống quản lý, của từng con người trong DN, chất lượng sản phẩm của DN sản xuất cung cấp cho thị trường Uy tín của DN có thể nhờ thực hiện đúng cam kết hợp đồng với các đối tác, luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kinh tế, đúng luật DN, Với DN, có uy tín và thương hiệu mạnh thì những sản phẩm của họ sẽ luôn được khách hàng tin dùng mà không hề lo lắng hay do dự nào về chất lượng, luôn sẵn sàng mua sản phẩm của DN
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN
1.2.5.1 Nhân tố môi trường vĩ mô
- Yếu tố kinh tế
Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng đến thành công và chiến lược của DN Các nhân tố chủ yếu mà DN thường phân tích là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát
Thực vậy, tốc độ tăng trưởng khác nhau của nền kinh tế trong các giai đoạn thịnh vượng, suy thoái, phục hồi sẽ ảnh hưởng đến chỉ số tiêu dùng Khi nền kinh tế ở giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao sẽ tạo nhiều cơ hội đầu tư mở rộng hoạt động của các DN Ngược lại, khi tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm dẫn đến giảm chi phí tiêu dùng, gây khó khăn, thách thức và gia tăng nguy cơ cho DN, buộc các DN phải cạnh tranh với cường độ cao hơn để có thể duy trì được DN của mình
Lãi suất ngân hàng ảnh hưởng mạnh đến khả năng cạnh tranh của các DN Mọi sự biến động về lãi suất trên thị trường đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, tác động trực tiếp đến lợi nhuận của DN Khi DN vay vốn ngân hàng với lãi suất cao sẽ làm đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm tăng lên làm giá bán sản phẩm Ngoài ra, lãi suất tăng sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn làm
Trang 3022
cho nhu cầu tiêu dùng giảm xuống Vì vậy, mức lãi suất sẽ quyết định mức cầu sản phẩm của các DN Do đó, khả năng cạnh tranh của DN sẽ giảm so với đối thủ, đặc biệt các đối thủ có tiềm lực về vốn
Lạm phát và vấn đề chống lạm phát cũng là một nhân tố quan trọng cần xem xét và phân tích Lạm phát tăng là nguyên nhân làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, gây nên tình trạng bất ổn của thị trường, làm tăng lãi suất ngân hàng dẫn đến biến động về tỷ giá hối đoái Lạm phát thì việc kiểm soát giá cả và tiền công có thể không kiểm soát được Lạm phát tăng lên, dự án đầu tư trở nên mạo hiểm hơn, làm giảm nhiệt tình đầu tư sản xuất
Do vậy, lạm phát là mối đe dọa đối với DN
Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của DN Khi sức mua của đồng tiền trong nước giảm đi, tỷ giá hối đoái tăng lên làm giá nhập khẩu đắt hơn Nếu hàng nhập khẩu để trực tiếp tiêu dùng thì làm tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trực tiếp Nếu hàng nhập khẩu dùng cho sản xuất thì làm tăng chi phí sản xuất và dẫn tới tăng giá thành sản phẩm Kết quả cũng làm tăng chỉ số giá tiêu dùng Vì vậy, lạm phát có thể xảy ra Nhưng khi tỷ giá tăng, các ngành sản xuất hàng xuất khẩu được lợi và phát triển, kéo theo sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước, nhờ vậy thất nghiệp sẽ giảm đi và nền kinh tế tăng trưởng Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm (giá đồng nội tệ tăng lên ), hàng nhập khẩu từ nước ngoài trở nên rẻ hơn Từ đó, lạm phát được kiềm chế, nhưng lại dẫn tới sản xuất thu hẹp và tăng trưởng thấp Tóm lại, tỷ giá hối đoái ảnh hưởng mạnh mẽ
và sâu sắc đến quan hệ kinh tế đối ngoại, tình trạng cán cân thanh toán, tăng trưởng kinh tế, lạm phát và thất nghiệp
Hội nhập kinh tế quốc tế là việc các quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở cửa, tham gia các định chế kinh tế tài chính quốc tế, thực hiện tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đem lại cho DN nhiều cơ hội cũng như thách thức mới Khi nền kinh tế hội nhập sâu rộng hơn tạo cho các DN có cơ hội vươn ra các thị trường nước ngoài, đẩy mạnh được tiêu thụ sản phẩm, nâng cao được doanh số và lợi nhuận do mức thuế suất thấp hoặc có thể bằng không Ngoài ra, nền kinh tế mở cửa
sẽ tạo điều kiện cho các DN nước ngoài vào đầu tư, thu hút được nguồn vốn nước ngoài, các DN có thể tận dụng để liên doanh liên kết, tiếp cận được những công nghệ hiện đại,
Trang 3123
học tập được những cách thức quản lý của đối tác góp phần tạo ra được những sản phẩm
có chất lượng, nâng cao được năng lực hoạt động quản lý của DN góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của DN Bên cạnh những cơ hội mà hội nhập kinh tế mang lại thì cũng có không ít những khó khăn, thách thức như cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn
do ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn, có công nghệ, tài chính mạnh hơn Các
DN chưa nhận thức được đầy đủ về hội nhập, phần lớn các DN còn làm ăn nhỏ lẻ, tầm nhìn mang tính trung và ngắn hạn Điều này khiến cho các DN trong nước sẽ khó có thể cạnh tranh với các DN nước ngoài nếu không thay đổi
- Yếu tố chính trị, pháp luật
Chính trị và pháp luật là cơ sở nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các
DN bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách, hệ thống pháp luật hiện hành, xu hướng ngoại giao,… Chính trị ổn định, sự nhất quán về quan điểm chính sách tạo ra môi trường thuận lợi đối với các hoạt động kinh doanh Một Chính phủ mạnh và sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của xã hội sẽ đem lại lòng tin và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước Hệ thống luật pháp được xây dựng và hoàn thiện sẽ là
cơ sở kinh doanh ổn định cho các DN Các quy định của pháp luật có nội dung rõ ràng, chặt chẽ , thời gian làm thủ tục hành chính nhanh chóng sẽ giúp DN hiểu đúng và làm đúng những gì mà pháp luật quy định như hợp pháp hóa các hoạt động của DN ( kê khai xuất nhập khẩu, nộp thuế,…) cũng như Luật lao động, quy chế tuyển dụng, đề bạt, chế độ hưu chí, trợ cấp thất nghiệp Ngoài ra, pháp luật có những văn bản luật pháp rõ ràng, thủ tục hành chính đơn giản cũng giúp thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài hơn bởi họ không mất quá nhiều thời gian để có thể làm thủ tục để có thể vào thị trường
- Yếu tố văn hóa – xã hội
Trong thời gian chiến lược trung và dài hạn có thể đây là nhân tố thay đổi lớn nhất Những lối sống tự thay đổi nhanh chóng theo hướng du nhập những lối sống mới luôn là cơ hội cho nhiều nhà sản xuất DN cũng phải tính đến thái độ tiêu dùng, sự thay đổi của tháp tuổi, tỉ lệ kết hôn và sinh đẻ, vị trí vai trò của người phụ nữ tại nơi làm việc và gia đình Sự xuất hiện của Hiệp hội tiêu dùng là một cản trở đòi hỏi các DN phải quan tâm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm, mẫu mã phải bảo đảm vì lợi ích người tiêu dùng
Trang 32- Yếu tố khoa học công nghệ
Đây là nhân tố ảnh hưởng lớn, trực tiếp cho chiến lược kinh doanh của các lĩnh vực, ngành cũng như nhiều DN Thực tế trên thế giới đã chứng kiến sự biến đổi công nghệ làm chao đảo, thậm chí mất đi nhiều lĩnh vực, nhưng đồng thời cũng lại xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới, hoặc hoàn thiện hơn Sự thay đổi của công nghệ đương nhiên ảnh hưởng tới chu kỳ sống của một sản phẩm hoặc một dịch vụ Một chu kỳ lý thuyết bao gồm các pha: bắt đầu, phát triển, chín muồi và tàn lụi Thực tế đối với một số DN và cũng là một số sản phẩm sẽ lại có giai đoạn phát triển mới sau giai đoạn tàn lụi Hơn nữa, sự thay đổi công nghệ cũng ảnh hưởng tới các phương pháp sản xuất, nguyên vật liệu cũng như thái độ ứng xử của lao động Từ đó đòi hỏi các nhà chiến lược phải thường xuyên quan tâm tới sự thay đổi cùng những đầu tư cho tiến bộ công nghệ
Công nghệ tạo ra những sản phẩm của DN với năng suất cao hơn, sản phẩm đẹp, chi phí thấp hơn…so với sản xuất thủ công như trước đây DN nắm trong tay những công nghệ hiện đại tiên tiến sẽ giúp tạo ra những sản phẩm có chất lượng hơn, chi phí thấp hơn và những tính năng của sản phẩm ngày càng thỏa mãn được nhu cầu của thị trường hơn Qua đây nâng cao được năng lực cạnh tranh của DN so với các đối thủ cạnh tranh khác
- Yếu tố điều kiện tự nhiên
Các nhà chiến lược khôn ngoan thường có những quan tâm đến môi trường khí hậu và sinh thái Đe dọa của những thay đổi không dự báo được về khí hậu đôi khi đã được các
DN mà sản xuất, dịch vụ của họ có tính mùa vụ, xem xét một cách cẩn thận Tùy thuộc vào từng ngành sản xuất kinh doanh riêng của DN mà điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng tới DN cũng khác nhau Nhưng nói chung lại với những nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, hay có nhiều thiên tai thì các DN ở đó gặp nhiều khó khăn hơn hoặc là trong
Trang 3325
việc sản xuất hoặc trong việc bán sản phẩm hoặc là cả hai…Vậy có thể thấy rằng tự nhiên cũng ảnh hưởng nhất định tới năng lực cạnh tranh của các DN
- Yếu tố dân số
Dân số cũng là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến các yếu tố khác của môi trường vĩ mô, đặc biệt là yếu tố xã hội và yếu tố kinh tế Những thay đổi trong môi trường dân số sẽ tác động trực tiếp đến sự thay đổi của môi trường kinh tế và xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của DN Những thông tin của môi trường dân số cung cấp những dữ liệu quan trọng cho các nhà quản trị trong hoạch định chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường, chiến lược tiếp thị, phân phối và quảng cáo Những khía cạnh cần quan tâm của môi trường dân số bao gồm : tổng số dân của xã hội, tỷ lệ tăng dân số, kết cấu và xu hướng thay đổi của dân số về tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập,…
1.2.5.2 Nhân tố môi trường ngành
- Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Đây là quy mô cạnh tranh trong số các DN hiện tại của một ngành sản xuất Nếu các đối thủ cạnh tranh càng yếu, DN có cơ hội tăng giá bán và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Ngược lại khi đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá cả là đáng kể, mọi cuộc cạnh tranh về giá cả đều dẫn đến tổn thương Cạnh tranh giữa các DN trong một ngành sản xuất thường bao gồm các nội dung chủ yếu như: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cầu của ngành và các hàng rào lối ra Cụ thể:
Cơ cấu cạnh tranh của ngành vào số liệu và khả năng phân phối sản phẩm của DN trong sản xuất Cơ cấu của ngành thay đổi từ ngành sản xuất phân tán tới ngành sản xuất tập trung Thông thường ngành riêng lẻ bao gồm một số lớn các DN vừa và nhỏ, không có một DN nào trong số đó có vị trí thống trị ngành Trong khi đó một ngành tập trung có sự chi phối bởi một số ít các DN lớn, thậm chí chỉ một DN duy nhất gọi là độc quyền Bản chất và mức độ cạnh tranh đối với các ngành tập trung rất khó phân tích và dự đoán Tình trạng cầu của ngành là một yếu tố quyết định khác về tính mãnh liệt trong cạnh tranh nội bộ ngành Thông thường, cầu tăng làm cho DN có một cơ hội lớn để mở rộng
Trang 34- Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là những đối thủ chưa xuất hiện trên thị trường nhưng có khả năng cạnh tranh với DN trong tương lai.Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các DN hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành Các DN hiện tại cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn gia nhập ngành bởi vì càng nhiều DN có mặt trong một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn, thị trường và lợi nhuận sẽ bị chia sẻ, vị trí của
DN sẽ bị thay đổi DN cần nghiên cứu kỹ về các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẽ giúp cho
DN có thể dự báo được khả năng xâm nhập của những đối thủ này từ đó sẽ tạo nên những hàng rào ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn này gia nhập ngành
- Khách hàng
Khách hàng là một phần không thể thiếu của bất kỳ DN nào Đây là lực lượng tạo ra khả năng của người mua Người mua có thể được xem như là một sự đe dọa cạnh tranh khi buộc DN giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn Khách hàng sẽ tạo áp lực càng lớn khi nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp Trong khi đó, người mua là một số ít và quy mô lớn hay khách hàng mua một khối lượng lớn hoặc có đầy đủ các thông tin về thị trường như nhu cầu, giá cả,… của các nhà cung cấp,cùng với đó là họ có nhiều lựa chọn khác thay thế sản phẩm của DN Điều này buộc DN cần phải tìm ra phương hướng giải quyết bởi nếu họ không kịp thời thay đổi thì đối thủ cạnh tranh của họ sẽ làm điều đó, họ sẽ tung ra thị trường những sản phẩm phù hợp có giá cả rẻ hơn và thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng Đây sẽ là mối đe dọa không hề nhỏ với DN
Trang 3527
Do đó, DN phải thường xuyên nghiên cứu về thị trường, nhu cầu của khách hàng để có những thông tin đầy đủ và chính xác nhất giúp cho việc lên kế hoạch về sản xuất kinh doanh có những định hướng rõ ràng, đem lại hiệu quả cao
- Nhà cung ứng
Nhà cung ứng là những người cung cấp những yếu tố đầu vào cho DN như: nguyên vật liệu sản xuất trực tiếp, trang thiết bị, sức lao động…vậy có thể nói rằng họ là những người quan trọng đối với DN bởi nếu như đầu vào để tạo ra sản phẩm gặp khó khăn thì
DN cũng khó có thể trụ vững được trên thị trường
Đây là lực lượng tạo ra khả năng mặc cả của nhà cung ứng Nhà cung ứng có thể được coi là một áp lực đe dọa khi họ có khả năng tăng giá bên đầu vào hoặc giảm chất lượng của các sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp làm giảm khả năng kiếm lợi nhuận của DN
Áp lực của nhà cung ứng thường cao khi ngành cung ứng chỉ có một số, thậm chí là một nhà cung ứng độc quyền cung ứng, DN mua sản phẩm không phải là khách hàng quan trọng và ưu tiên của nhà cung ứng hoặc loại đầu vào, chẳng hạn vật tư của nhà cung ứng
là quan trọng nhất đối với DN hoặc các nhà cung cấp vật tư có chiến lược liên kết dọc, tức là khép kín sản xuất
Tuy nhiên, nếu như nhà cung ứng đòi tăng giá hay giao hàng muộn sẽ khiến cho DN gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, giá cung ứng cao hơn buộc DN phải tăng giá sản phẩm điều này khiến cho sản phẩm của DN khó cạnh tranh với sản phẩm của đối thủ với những công dụng tương tự nhưng giá lại rẻ hơn, từ đó làm giảm lợi nhuận đạt được của DN Điều này càng khó khăn hơn nếu như nhà cung ứng có ưu thế về chuyên biệt hóa sản phẩm khiến DN khó có thể tìm được nhà cung ứng mới mà vẫn phải phụ thuộc vào họ
Vậy có thể thấy được nhà cung ứng có vai trò rất lớn góp phần tạo nên những sản phẩm
có chất lượng đồng thời cũng tác động không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của DN
- Sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thỏa mãn cùng nhu cầu của người tiêu dùng Đặc điểm cơ bản của nó thường có các ưu thế hơn sản phẩm bị thay thế ở các đặc trưng
Trang 36khác, từ đây làm giảm đi lợi nhuận của DN
Do vậy để nâng cao được sức cạnh tranh của sản phẩm thì DN cần tăng thêm những ưu đãi đối với việc sử dụng sản phẩm của DN tránh để sản phẩm của DN ít có sự khác biệt
so với các sản phẩm khác và sản phẩm thay thế
1.2.5.3 Nhân tố môi trường nội bộ DN
- Nguồn nhân lực
Sự tồn tại và phát triển của một DN phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người Tiềm năng về nguồn nhân lực được thể hiện ở kiến thức, kinh nghiệm có khả năng đáp ứng cao yêu cầu của DN hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao Không chỉ thế, sự nhanh nhẹn, tháo vát, xử lý tình huống kịp thời của nguồn nhân lực sẽ giúp cho DN tận dụng được tối đa lợi thế của mình, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của
DN Vì vậy, DN phải làm cho người lao động cảm thấy thoả mãn, hài lòng, gắn bó với
DN bởi vì thành công của DN trên thương trường phụ thuộc rất lớn vào con người xét về nhiều khía cạnh khác nhau
- Nguồn lực tài chính
Phát huy hiệu quả hoạt động tài chính sẽ giúp DN phát huy được năng lực nội tại của mình DN nào có tiềm lực tài chính tốt, phát huy tốt tiềm lực đó tất yếu sẽ thu được nguồn lợi nhuận cao, làm tăng thêm năng lực cạnh tranh của DN Tài chính của DN được thể hiện qua cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn
Trong cơ chế thị trường hiện nay, đặc biệt khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế thì vấn đề tài chính của DN càng trở nên bức xúc hơn bao giờ hết Với khả năng tài chính dồi dào DN có khả năng trong việc đầu tư đổi mới công nghệ,
Trang 3729
áp dụng các giải pháp kỹ thuật và công nghệ quản lý mới để tạo ra sản phẩm, hàng hóa
và dịch vụ có chất lượng và sức cạnh tranh cao DN có thể tiếp cận được với các nguồn vốn vay của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, sẽ dễ dàng nhập khẩu các nguyên vật liệu trực tiếp từ các đối tác Hơn nữa, tài chính tốt giúp cho DN có thể
sử dụng các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, giảm thiểu rủi ro trong quá trình thâm nhập thị trường,…
- Yếu tố sản xuất
Đối với mỗi DN, tình hình máy móc thiết bị và công nghệ là yếu tố quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của mỗi DN và tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, đến giá thành và giá bán sản phẩm Một DN với hệ thống máy móc thiết bị và công nghệ tiên tiến cộng với khả năng quản lý tốt sẽ tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của DN Ngược lại, DN có hệ thống máy móc cũ với công nghệ lạc hậu sẽ làm năng xuất giảm, tốn thời gian và công sức, tăng chi phí không cần thiết làm giá sản phẩm tăng do đó làm giảm năng lực cạnh tranh của
DN
- Trình độ quản lý DN
DN có những nhà quản trị trình độ chuyên môn cao, biết cách giao tiếp, linh hoạt trong ứng xử, đưa ra những chiến lược tốt có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng phát triển của DN, là những người cầm láicho DN Trong nền kinh tế thị trường nhiều biến động như hiện nay thì các quyết định của đội ngũ quản lý luôn mang tính chất chủ động và đóng vai trò then chốt, trực tiếp vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của DN Đội ngũ quản lý tài giỏi luôn đưa ra các định hướng, chiến lược đúng đắn, đạt được độ chính xác cao cũng như công tác tổ chức hợp lý sẽ thúc đẩy DN phát triển, còn nếu đội ngũ tổ chức yếu kém thì sẽ là rào cản rất lớn đối với con đường tiến lên của DN Một đội ngũ được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, có trình độ, kinh nghiệm và có khả năng đưa DN ngày càng đi lên thì đội ngũ lao động sẽ trung thành hơn với DN, làm việc tận tụy hơn, quan tâm đến DN hơn Nó sẽ là tiền đề cho việc nâng cao năng suất, giảm chi phí cũng như chất lượng sản phẩm từ đó sẽ ngày một nâng cao năng lực cạnh tranh của
DN
Trang 3830
- Hoạt động marketing
DN có hoạt động marketing tốt hay không là thể hiện ở việc nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng và thị trường Một DN có năng lực về marketing nghĩa là họ có khả năng nắm bắt được người tiêu dùng đang mong muốn điều gì, họ mong chờ sự cải tiến gì ở sản phẩm, dịch vụ của DN hay những nhu cầu mới phát sinh của họ là gì…để DN
từ đó sẽ cải thiện sản phẩm, dịch vụ hay tạo ra những sản phẩm mới để đáp ứng được những nhu cầu đó, không những vậy mà DN còn có thể áp dụng những chiến lược quảng cáo, khuyến mại để hình ảnh sản phẩm của họ sẽ luôn được người tiêu dùng biết và nhớ đến Một khi DN khiến người tiêu dùng cảm thấy hài lòng thì điều đó đồng nghĩa với sản phẩm, dịch vụ của họ sẽ có chỗ đứng trong lòng người tiêu dùng và trên thị trường, DN sẽ nâng cao được năng lực cạnh tranh nhờ luôn nắm bắt được tâm lý của khách hàng Và ngược lại, năng lực cạnh tranh kém sẽ khiến DN khó có thể đứng vững trên thị trường
- Công tác nghiên cứu và phát triển
Đây là yếu tố vô cùng quan trọng đối với DN bởi nhờ công tác nghiên cứu và phát triển mà DN tránh được sự tụt hậu về sản phẩm và công nghệ Có thể nói rằng, công tác nghiên cứu và phát triển giúp cho DN cải tiến được kỹ thuật, mẫu mã và chất lượng sản phẩm từ đây nâng cao được năng lực cạnh tranh của DN Hiện nay, với tốc độ phát triển của khoa học công nghệ rất nhanh nếu không có quá trình nghiên cứu sẽ khiến cho công nghệ sản xuất trở nên lạc hậu, năng suất thấp, sản phẩm của DN cũng có mẫu mã không
đa dạng và kém chất lượng Điều này ảnh hưởng rất lớn tới năng lực cạnh tranh của DN Nếu như DN làm tốt công tác nghiên cứu và phát triển sẽ giúp ích rất nhiều cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của DN nhất là trong thời đại hiện nay
1.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của DN
1.2.6.1 Chỉ tiêu định tính
- Uy tín và thương hiệu của DN
Thương hiệu và uy tín sản phẩm chính là sự tổng hợp các thuộc tính của sản phẩm như chất lượng sản phẩm, lợi ích, mẫu mã và dịch vụ của sản phẩm
Trang 3931
Uy tín là yếu tố tác động tới tâm lý người tiêu dùng và đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng Uy tín của DN sẽ tạo lòng tin cho khách hàng, nhà cung cấp và cho các đối tác kinh doanh và DN sẽ có nhiều thuận lợi và được ưu đãi trong quan hệ với bạn hàng Uy tín của DN là tài sản vô hình của DN Khi giá trị nguồn tài sản này cao sẽ giúp
DN tăng khả năng thâm nhập vào thị trường trong và ngoài nước, khối lượng tiêu thụ sản phẩm lớn và doanh thu tăng, khả năng thâm nhập vào thị trường trong và ngoài nước, khối lượng tiêu thụ sản phẩm lớn và doanh thu tăng, năng lực cạnh tranh của DN được nâng cao
Còn đối với thương hiệu thì nó có vai trò cực kỳ to lớn đối với sản phẩm và DN Thương hiệu là hình ảnh uy tín sản phẩm và của DN Thương hiệu không những là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm của DN này với sản phẩm của DN khác, mà nó còn là tài sản rất có giá trị của DN, là uy tín và thể hiện niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm Ngày nay, thương hiệu của hàng hóa đã trở thành yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả kinh doanh của DN trong điều kiện kinh tế hiện đại và người tiêu dùng sẵn sàng mua sản phẩm hàng hóa với số lượng cao hơn, thậm chí trả giá cao hơn Không những thế, với DN thì việc giá sản xuất trung bình của một sản phẩm, giá thành sản phẩm bán ra thị trường so với các đối thủ cạnh tranh cũng rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
Do vậy, DN cần phải đẩy mạnh việc xây dựng thương hiệu, nâng cao được vị thế cũng như uy tín của DN đối với các đối tác và khách hàng Từ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường
- Chất lượng dịch vụ
Trong quá trình sản xuất kinh doanh từ đầu vào cho đến đầu ra đều có các dịch vụ kèm theo Đối với DN sản xuất thì đầu vào trong quá trình sản xuất là rất quan trọng, bao gồm dịch vụ về công nghệ, kỹ thuật, dịch vụ thiết kế mẫu mã, dịch vụ quản lý… Chất lượng các dịch vụ này tốt sẽ là điều kiện tốt cho sản xuất sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật Muốn đảm bảo về chất lượng thì một mặt phải thường xuyên chú ý tới tất cả các khâu trong quá trình sản xuất, mặt khác, chất lượng hàng hoá không những được đảm bảo trước khi bán mà còn phải được đảm bảo ngay cả sau khi
Trang 4032
bán hàng bằng các dịch vụ bảo hành nhằm tạo ra sự nổi bật, ưu thế riêng và phong cách riêng so với các đối thủ khác nhằm thu hút khách hàng Chỉ tiêu chất lượng sản phẩm dựa trên các yếu tố cơ bản như: chất lượng cao, giá cả hợp lý, mẫu mã hợp thời, đáp ứng nhu cầu khách hàng, dịch vụ đi kèm,…
Khi sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá cung ứng ngày càng nhiều thì nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao Họ không chỉ đòi hỏi hàng tốt, giá rẻ mà họ còn đòi hỏi chất lượng phục vụ tốt Các dịch vụ trong và sau khi bán ra là một đòi hỏi tất yếu Giả sử bán sản phẩm của DN giống như đối thủ cạnh tranh, nếu DN có chất lượng dịch vụ trong và sau bán tốt thì DN sẽ có khả năng cạnh tranh cao Vì khi mua hàng của
DN, họ sẽ tiết kiệm được chi phí cho việc mua hàng và tiêu dùng hàng hoá
- Công nghệ của DN
Đây là chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng lực hiện có của DN Nó phản ánh được DN hiện tại mạnh hay yếu Những thay đổi nhanh chóng của tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm cho các cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, khốc liệt hơn và trong công cuộc chạy đua này ai biết nắm bắt thời cơ và đi trước thì người đó sẽ thắng Một DN với công nghệ hiện đại tiên tiến sẽ tạo ra được khả năng cạnh tranh cao hơn những DN với công nghệ kém hiện đại hơn Bởi lẽ, công nghệ có hiện đại thì mới có khả năng tạo ra được những sản phẩm có chất lượng tốt nhất với chi phí nhỏ nhất, giúp DN có thể cung ứng
ra thị trường những sản phẩm tốt nhất với mức giá rẻ cho người tiêu dùng, thỏa mãn được những mong đợi của khách hàng Đây là điều mà các DN có công nghệ không hiện đại khó có thể làm được
Vậy nên, chỉ tiêu về công nghệ rất quan trọng, DN nên chú trọng trong vấn đề nghiên cứu và phát triển để có thể cải tiến được kỹ thuật, công nghệ để DN có thể tạo ra được sản phẩm có chất lượng cao hơn với giá thành rẻ hơn Công nghệ hiện đại hơn thì năng lực cạnh tranh của DN cũng được nâng lên
1.2.6.2 Chỉ tiêu định lượng
- Thị phần của DN