1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại ở việt nam

71 98 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua quá trình tìm tòi, nghiên cứu, tác giả thấy rằng việc tập trung nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồng dịch vụ pháp lý được thiết lập trong hoạt động thương mại giữa bên cung cấp dịch vụ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

HÀ ĐỨC NGHIỆP

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả số liệu nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác của các cơ quan chức năng đã công bố Những kết luận khoa học của luận văn là mới và chưa có tác giả công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị khoa Đào tạo Sau Đại học xem xét để tôi có thể được bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn

XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG

DẪN KHOA HỌC

TS Trần Thị Bảo Ánh

NGƯỜI CAM ĐOAN

Hà Đức Nghiệp

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được thực hiện tại Viện đại học Mở Hà Nội Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của các thầy

cô giáo trong trường

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Thị Bảo Ánh đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình

Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong thời gian học vừa qua

Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hà Đức Nghiệp

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI PHÁP LÝ VÀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 7

1.1 Lý luận chung về dịch vụ thương mại pháp lý 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm dịch vụ 7

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm dịch vụ thương mại pháp lý 10

1.1.3 Các loại dịch vụ thương mại pháp lý 13

1.1.4 Quá trình hình thành phát triển dịch vụ thương mại pháp lý ở Việt Nam 16

1.2 Khái quát chung về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại 19

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại 19

1.2.2 Các loại hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại 24

Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 28

2.1 Quy định về chủ thể hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại 28

2.2 Nội dung của hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại 35

2.3 Quyền, nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại 38

2.3.1 Quyền, nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ pháp lý 38

2.3.2 Quyền, nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ pháp lý 44

2.4 Hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu 45

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 49

Trang 6

3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại ở Việt Nam 49 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

về hợp đồng dịch pháp lý trong hoạt động thương mại ở Việt Nam 53

3.2.1 Giải pháp sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý và các quy định pháp luật về hợp đồng dịch

vụ pháp lý 53 3.2.2 Một số giải pháp về hoàn thiện thiết chế nhằm đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý 56

KẾT LUẬN 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Với những thành công trong việc ký kết hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, gia nhập và hoạt động tại các diễn đàn khu vực như ASEAN, AFTA, APEC, ASEM, và đặc biệt là WTO, Việt Nam đang hòa nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Quá trình quốc tế hóa nền kinh tế đã thúc đẩy các hoạt động dịch vụ thương mại phát triển và thay đổi tương thích với những quy định nền tảng chung của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia Dịch vụ pháp lý

là một dịch vụ quan trọng và không thể thiếu khi thiết lập các giao dịch giữa các tổ chức, cá nhân với nhau đặc biệt là trong nền kinh tế mở thì nhu cầu tìm đến các nhà cung cấp dịch vụ pháp lý để hạn chế các rủi ro pháp lý lại càng cần thiết Trong thời

kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, các nhà cung cấp dịch vụ pháp lý càng cung ứng nhiều hơn dịch vụ pháp lý phát sinh từ các giao dịch liên quan tới khách hàng của nhiều quốc gia và các yêu cầu tư vấn liên quan đến hệ thống pháp luật của nhiều bên Vì vậy, các tranh chấp trong kinh doanh, các quan hệ về đầu tư sẽ nhiều hơn, phức tạp hơn, những hoạt động này lúc đó không thể không cần đến sự hỗ trợ, tư vấn pháp luật của các nhà cung cấp dịch vụ pháp lý

Dịch vụ pháp lý theo quan điểm của WTO bao gồm các dịch vụ đại diện và

tư vấn pháp lý trong các lĩnh vực luật pháp khác nhau; Dịch vụ trọng tài và hòa giải; Dịch vụ tranh tụng Khi gia nhập WTO, dịch vụ pháp lý phục vụ cho các giao dịch mang tính thương mại sẽ diễn ra phổ biến ở Việt Nam vì nhu cầu sử dụng dịch vụ của các thương nhân ngày càng nhiều hơn khi họ ý thức được tầm quan trọng của việc sử dụng dịch vụ pháp lý này nhằm hạn chế các rủi ro tiềm ẩn trong các giao dịch thương mại Để thiết lập mối quan hệ giữa bên cung ứng dịch vụ pháp lý và bên sử dụng dịch vụ pháp lý thì các bên phải giao kết các hợp đồng dịch vụ pháp lý với nhau Các hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày càng thể hiện rõ nét tính thương mại

vì bên cung ứng dịch vụ pháp lý được coi là một nghề và phí dịch vụ trở thành thu

Trang 8

nhập thường xuyên của bên cung cấp dịch vụ Tuy nhiên, hiện nay chưa có sự thống nhất quan niệm rõ ràng về khái niệm "dịch vụ pháp lý" và "tính thương mại" của nghề cung cấp các dịch vụ pháp lý; các quy định của pháp luật về dịch vụ pháp lý nói chung và hợp đồng dịch vụ pháp lý còn nhiều quan niệm khác nhau Điều này

sẽ dẫn đến những khó khăn khi Việt Nam đã là thành viên của WTO với những cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ pháp lý

Do đó, tác giả lựa chọn đề tài "Hợp đồng dịch pháp lý trong hoạt động

thương mại ở Việt Nam" với mong muốn có thể nghiên cứu, luận giải và trình bày

ý tưởng của mình xung quanh các tranh luận về dịch vụ pháp lý và hợp đồng dịch

vụ pháp lý trong thương mại

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở phạm vi thương mại dịch vụ nói chung và hợp đồng dịch vụ pháp lý nói riêng đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên WTO Một số luận văn, đề tài, bài viết nghiên cứu tiêu biểu như: Luận văn thạc sỹ Luật

học "Nghiên cứu chế định thương mại dịch vụ của tổ chức thương mại thế giới và

các giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam từ yêu cầu của việc Việt Nam gia nhập WTO" - Nguyễn Văn Cảnh năm 2004; Đề tài nghiên cứu "Cơ sở khoa học của việc xây dựng nội dung giảng dạy pháp luật về thương mại dịch vụ bậc cử nhân ở Trường Đại học Luật Hà Nội" - tập thể giảng viên khoa Pháp luật

Kinh tế Đại học Luật Hà Nội - chủ nhiệm đề tài TS Đồng Ngọc Ba, năm 2007;

Luận văn thạc sĩ Luật học "Hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề luật sư- Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn", Vũ Quỳnh Anh, năm 2006; Luận văn thạc sĩ Luật

học "Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý - những vấn đề lý luận và thực tiễn", Nguyễn Như Chính; Luận văn thạc sỹ Luật học "Những vấn đề lý luận và thực tiễn

về hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp tại Việt Nam" - Nguyễn Thị Đan

Phượng, năm 2014; Luận án tiến sĩ "Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam", Hoàng

Thị Vịnh, năm 2014

Trang 9

Một số bài viết trong các tạp chí, như bài viết "Tổng quan pháp luật Việt

Nam về thương mại dịch vụ và cam kết mở cửa thị trường dịch vụ khi gia nhập WTO" - TS Bùi Ngọc Cường trong tạp chí Luật học số 06/2007, bài viết "Việt Nam gia nhập WTO và vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam" - TS

Hoàng Phước Hiệp trong tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 01/2007; bài viết "Dịch

vụ pháp lý và nhu cầu trong nền kinh tế thị trường" - TS Nguyễn Văn Tuân trong

tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề pháp luật về Doanh nghiệp 2005; bài

viết "Từng bước xây dựng quan niệm về dịch vụ pháp lý trong hành nghề luật sư

một số vấn đề lý luận và thực tiễn" - TS Phan Trung Hoài trong tạp chí Nhà nước

và Pháp luật số 02/2007

Các bài viết trên đã đề cập tới các vấn đề chung nhất của dịch vụ pháp lý hoặc nghiên cứu ở phạm vi rộng về hợp đồng dịch vụ pháp lý gắn với các nhu cầu giao kết hợp đồng dân sự, hợp đồng trong thương mại Qua quá trình tìm tòi, nghiên cứu, tác giả thấy rằng việc tập trung nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồng dịch vụ pháp lý được thiết lập trong hoạt động thương mại giữa bên cung cấp dịch vụ pháp lý và bên sử dụng dịch vụ pháp lý là các thương nhân một cách có

hệ thống thực sự có ý nghĩa, góp phần hoàn thiện các nghiên cứu khoa học pháp lý phát triển ở Việt Nam

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đánh giá có hệ thống những vấn đề về lý luận và thực tiễn về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm thực hiện những mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm

vụ sau:

- Nghiên cứu những nội dung lý luận cơ bản về thương mại dịch vụ; dịch vụ thương mại pháp lý; hợp đồng dịch vụ pháp lý;

Trang 10

- Phân tích những nội dung pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại;

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại ở Việt Nam

- Xây dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại ở Việt Nam, qua đó nhằm thúc đẩy thương mại dịch vụ pháp

lý phát triển

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về dịch vụ pháp lý thương mại

và hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn không nhằm mục đích phân tích tất cả các vấn đề pháp lý liên quan đến nghề luật, hoạt động nghề nghiệp của luật sư, kỹ năng hành nghề của luật sư; các quy định chung về giao kết hợp đồng được quy định trong Bộ luật dân sự… mà luận văn chỉ phân tích những nội dung quan trọng hợp đồng dịch vụ pháp lý, tính thương mại của hợp đồng dịch vụ pháp lý theo các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam

Đề tài nghiên cứu về: Hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương

mại, vì vậy những hoạt động cung ứng dịch vụ pháp lý của các tổ chức cung ứng

dịch vụ pháp lý phải gắn với cung ứng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại Đồng thời các tổ chức cung ứng dịch vụ pháp lý phải hướng đến mục đích cạnh tranh trên thị trường, có lợi nhuận từ hoạt động cung ứng dịch vụ pháp lý thì những hợp đồng giao kết giữa tổ chức cung ứng dịch vụ pháp lý với khách hàng sẽ là hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại Các hoạt động trợ giúp pháp lý, các hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý không gắn với hoạt động thương mại không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trang 11

Luận văn không nghiên cứu về hợp đồng dịch vụ pháp lý không phát sinh từ hoạt động thương mại như không nghiên cứu về cung ứng dịch vụ pháp lý trong các lĩnh vực hành chính, hình sự, đất đai, hợp đồng lao động giữa cá nhân cung ứng dịch vụ pháp lý với khách hàng

Dịch vụ pháp lý về thừa phát lại mới được thí điểm ở thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy luận văn không tập trung phân tích sâu về các hợp đồng cung ứng dịch

vụ pháp lý trong hoạt động thừa phát lại

Luận văn có đánh giá phân tích các quy định về dịch vụ pháp lý của WTO trong tương quan so sánh với quy định pháp luật về dịch vụ pháp lý ở Việt Nam

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được thực hiện trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp thống kê, so sánh sẽ được sử dụng chủ yếu trong chương 2 để phác họa được tổng thể nội dung pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt

Trang 12

động thương mại và những bất cập của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hợp đồng dịch vụ pháp lý trong tương quan so sánh với các quốc gia khác Từ đó sẽ làm tiền

đề cho việc đưa ra các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch

vụ pháp lý trong hoạt động thương mại tại chương 3 luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

Luận văn dự kiến sẽ có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn như sau:

- Nhận diện tính thương mại của dịch vụ pháp lý và hợp đồng dịch vụ pháp lý;

- Phân tích, chỉ ra những tồn tại của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch

vụ pháp lý trong hoạt động thương mại ở Việt Nam;

- Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại ở Việt Nam dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn mang tính khoa học, khả thi, phù hợp

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về dịch vụ thương mại pháp lý và hợp đồng

dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại

Chương 2 Những nội dung cơ bản về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt

động thương mại ở Việt Nam

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về

hợp đồng dịch pháp lý trong hoạt động thương mại ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI PHÁP LÝ VÀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG

HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

1.1 Lý luận chung về dịch vụ thương mại pháp lý

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm dịch vụ

Ban đầu, một số khái niệm cho rằng dịch vụ là một sản phẩm vô hình, còn hàng hoá là sản phẩm hữu hình Theo C.Mác, "dịch vụ là một hoạt động mang lại lợi ích và lợi ích đó có thể là hữu hình hay vô hình" Điều này phù hợp với hầu hết các loại dịch vụ, tuy nhiên, còn nhiều người nghi vấn là khó có thể giải thích một cách cặn kẽ, thấu đáo nếu chỉ căn cứ vào đặc tính vô hình hay hữu hình của hàng hoá và dịch vụ [5, tr.5]

Theo từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam, dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt Và dựa vào nhu cầu và tuỳ theo sự phân công lao động mà có nhiều loại dịch vụ: Dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh; Dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng; Dịch vụ cá nhân dưới hình thức những dịch vụ gia đình; những dịch vụ tinh thần dựa trên những nghiệp

vụ đòi hỏi khả năng đặc biệt (hoạt động nghiên cứu, môi giới, quảng cáo); những dịch vụ liên quan đến đời sống và sinh hoạt công cộng (sức khoẻ, giáo dục, giải trí); những dịch vụ về chỗ ở, vv [5, tr.7] Như vậy khái niệm dịch vụ theo từ điển Bách khoa toàn thư chỉ mang tính chất liệt kê mà không làm rõ bản chất của dịch vụ đó

Ngoài ra còn có quan điểm khác về dịch vụ, theo đó: Dịch vụ là hoạt động của con người, được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được [14, tr.4] Khái niệm về dịch vụ theo cách này có thể nhận diện một số đặc điểm của dịch vụ như tính chất vô hình, không cầm nắm được

Trang 14

Một số tổ chức quốc tế như Liên Hiệp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế cho đến nay vẫn chưa đưa ra được cách hiểu nhất quán về khái niệm dịch vụ Ví dụ như Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) cũng không nêu lên một khái niệm cụ thể về dịch vụ Theo Điều I, khoản 3b của GATS viết rằng: "Dịch vụ" bao gồm bất kỳ dịch vụ nào trong bất kỳ lĩnh vực nào, ngoại trừ dịch vụ được cung cấp trong thi hành thẩm quyền của Chính phủ Sau đó khoản 3c cho biết "Dịch vụ được cung cấp trong thi hành thẩm quyền của Chính phủ" là bất cứ dịch vụ nào được cung cấp không trên cơ sở thương mại, cũng như không trên cơ sở cạnh tranh với một hoặc nhiều người cung cấp dịch vụ Như vậy, từ quy định của GATS ta chỉ biết được phạm vi dịch vụ điều chỉnh bởi hiệp định này chứ không hề có được một khái niệm thực sự về dịch vụ, và quan niệm về dịch vụ trong hiệp định GATS là các dịch vụ mang tính thương mại [5, tr.6]

Dù chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ nhưng qua các cách hiểu khác nhau về dịch vụ, có thể nhận diện một số đặc điểm cơ bản của dịch vụ:

Thứ nhất, dịch vụ có tính chất vô hình

Dịch vụ là sản phẩm không cầm được, không thể nhìn thấy Vì vậy, trong quan hệ cung ứng sử dụng dịch vụ không chuyển giao quyền sở hữu dịch vụ mà chỉ chuyển sử dụng dịch vụ cho người tiêu dùng dịch vụ, trừ một số trường hợp

cụ thể mà kết quả của việc cung ứng dịch vụ có thể kết tinh thành các sản phẩm hữu hình [7, tr.31]

Thứ hai, dịch vụ có tính không đồng nhất và khó xác định chất lượng

Đối tượng của quan hệ cung ứng dịch vụ là công việc cụ thể, đây là đặc điểm khác với quan hệ mua bán hàng hóa với đối tượng mua bán là hàng hóa hữu hình Chất lượng của hàng hóa được quy định theo các tiêu chuẩn chất lượng của ngành, của quốc gia; các quy chuẩn kỹ thuật nhất định Nghĩa là chất lượng hàng hóa được tiêu chuẩn hóa

Trang 15

Khác với hàng hóa, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ không tiêu chuẩn hóa được Đánh giá chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào sự hài lòng của người sử dụng, tiêu dùng dịch vụ Có thể cùng một hoạt động cung ứng dịch vụ của một chủ thể cung ứng dịch vụ nhưng đánh giá chất lượng dịch vụ từ phía khách hàng có thể khác nhau tùy theo cảm nhận chủ quan của mỗi khách hàng

Thứ ba, dịch vụ có tính không thể tách rời Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời và dịch vụ không lưu trữ được

Tính không thể tách rời của dịch vụ được hiểu là việc cung ứng dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra cùng thời điểm và khi ngừng quá trình cung ứng dịch vụ thì cũng có nghĩa là việc tiêu dùng dịch vụ đó cũng chấm dứt

Vì sản phẩm dịch vụ là hàng hóa vô hình nên không thể lưu kho, lưu bãi, không thể tích trữ được Khi tính toán sản lượng của nền kinh tế, Ban phân tích kinh

tế Bộ Thương mại Hoa Kỳ cũng đã nêu "các ngành dịch vụ là những ngành mà sản phẩm của nó không thể được lưu trữ và được tiêu dùng tại thời điểm và nơi diễn ra hoạt động mua bán" [5, tr.8]

Thứ tư, mục đích của bên cung ứng dịch vụ có thể là nhằm mục đích hưởng thù lao hoặc vì mục tiêu xã hội

Có một số dịch vụ mà chủ thể cung ứng dịch vụ nhằm giải quyết các nhiệm

vụ xã hội Ví dụ như hoạt động trợ giúp pháp lý cho một số đối tượng theo quy định tại Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp

lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật Người được trợ giúp pháp lý có thể là người có công với cách mạng; Người thuộc hộ nghèo; Trẻ em; Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn… Những hoạt động cung ứng dịch vụ pháp

lý không hưởng thù lao không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn và hoạt động cung ứng dịch vụ pháp lý trong trường hợp này không mang tính thương mại

Trang 16

Những hoạt động cung ứng dịch vụ để hưởng thù lao được xếp vào hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại dù chủ thể cung ứng dịch vụ là tổ chức do Nhà nước thành lập ra hay các tổ chức cung ứng dịch vụ của thành phần kinh tế tư nhân

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm dịch vụ thương mại pháp lý

* Khái niệm dịch vụ thương mại pháp lý

Tương tự như khái niệm về dịch vụ, hiện nay cũng chưa có quy định thống nhất về dịch vụ pháp lý và dịch vụ thương mại pháp lý

Theo quan điểm của tác giả Hoàng Thị Vịnh về dịch vụ pháp lý, theo đó: Dịch vụ pháp lý là loại hình dịch vụ gắn liền với pháp luật do Nhà nước hoặc các

tổ chức hành nghề luật sư cung ứng dịch vụ pháp lý thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu về tính pháp lý của tổ chức, cá nhân [16] Một tác giả khác cùng cho rằng: Dịch vụ pháp lý là loại hình dịch vụ gắn liền với pháp luật do Nhà nước hoặc các

tổ chức hành nghề cung ứng dịch vụ thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu về pháp lý của tổ chức, cá nhân [10] Các định nghĩa về dịch vụ pháp lý trên đều chưa làm

rõ tính thương mại của dịch vụ pháp lý Vì vậy, nội hàm của dịch vụ pháp lý có thể có tính thương mại (hưởng thù lao từ việc cung ứng dịch vụ) hoặc không có tính thương mại (không hưởng thù lao khi cung ứng dịch vụ như trường hợp trợ giúp pháp lý miễn phí)

Với quan niệm về dịch vụ thương mại pháp lý, trong luận văn "Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý - những vấn đề lý luận và thực tiễn", tác giả luận văn cho rằng: "Dịch vụ thương mại pháp lý là loại hình dịch vụ liên quan tới lĩnh vực pháp luật mà công việc của bên cung ứng dịch vụ thực hiện cho khách hàng để hưởng lợi nhuận có liên quan chặt chẽ với các vấn đề pháp luật, quyền và nghĩa vụ theo pháp luật mà bên sử dụng dịch vụ quan tâm" [5, tr.15] Định nghĩa về dịch vụ thương mại pháp lý nêu trên đã thể hiện tính thương mại của bên cung ứng dịch vụ pháp lý khi cung ứng dịch vụ pháp lý cho khách hàng để hưởng thù lao

Trang 17

Như vậy, khi đề cập đến dịch vụ thương mại pháp lý là muốn nhấn mạnh đến việc thương mại hóa các ngành dịch vụ pháp lý và có thể nhận diện những đặc điểm của dịch vụ thương mại pháp lý như:

Thứ nhất, dịch vụ thương mại pháp lý là một loại hình dịch vụ nên dịch vụ

thương mại pháp lý có đầy đủ đặc điểm của dịch vụ như sản phẩm của dịch vụ thương mại pháp lý là vô hình; Không tiêu chuẩn hóa dịch vụ pháp lý được; Quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ pháp lý diễn ra đồng thời Quan hệ cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý cũng giống như quan hệ cung ứng dịch vụ pháp lý khác đều được thiết lập thông qua hợp đồng cung ứng dịch vụ

Thứ hai, dịch vụ thương mại pháp lý có những đặc điểm riêng như:

(i) Dịch vụ pháp lý là dịch vụ gắn liền pháp luật Bên cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý phải là những chủ thể có quyền cung ứng dịch vụ pháp lý

Dịch vụ thương mại pháp lý có tính gắn liền pháp luật và người thực hiện cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý phải có trình độ chuyên môn và kỹ năng hành nghề luật

Bên cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý là các cá nhân, các tổ chức hành nghề dịch vụ pháp lý hợp pháp cung ứng Bên cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý chủ yếu là luật sư Cần lưu ý là dịch vụ thương mại pháp lý có nội hàm rộng hơn dịch vụ pháp lý của luật sư Dịch vụ thương mại pháp lý là loại hình dịch vụ có liên quan đến lĩnh vực pháp luật mà bên cung ứng dịch vụ thực hiện cho khách hàng bằng một hoạt động cụ thể có liên quan đến pháp luật nhằm mục đích kiếm lời [8, tr.13] Ngoài ra còn có các chủ thể cung cấp dịch vụ thương mại pháp lý khác như Văn phòng công chứng; Trung tâm trọng tài thương mại và Hội đồng trọng tài vụ việc; Văn phòng thừa phát lại…

(ii) Lĩnh vực cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý là các công việc có liên quan đến hoạt động thương mại theo yêu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của khách

Trang 18

hàng Hoạt động thương mại theo là những hoạt động chủ yếu của thương nhân và phát sinh trong lĩnh vực mua bán hàng hóa; dịch vụ trung gian thương mại; đầu tư; xúc tiến thương mại và các hoạt động thương mại khác nhằm mục đích sinh lợi Ví

dụ các yêu cầu về tư vấn pháp luật để giao kết hợp đồng thương mại; soạn thảo Điều lệ doanh nghiệp; Yêu cầu về đại diện cho doanh nghiệp trước cơ quan tố tụng

về các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại Như vậy, phạm vi cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý có nội hàm hẹp hơn so với cung ứng dịch vụ pháp lý nói chung có thể bao gồm cả việc cung ứng dịch vụ về hôn nhân gia đình, lao động, hình sự, hành chính…

(iii) Về mục đích của chủ thể cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý là cung ứng dịch vụ để hưởng thù lao

Khoản 9 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: Cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý là hoạt động thương mại theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận

Cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý là việc thực hiện toàn bộ các công việc có liên quan đến pháp luật do các tổ chức hành nghề cung ứng dịch vụ pháp lý thực hiện cho khách hàng để nhận thù lao Thù lao, chi phí cung ứng dịch vụ pháp

lý khác nhau tùy theo giá cung ứng dịch vụ pháp lý do bên cung ứng quy định Mức giá cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý có thể biến động theo các yếu tố ảnh hưởng đến giá dịch vụ trên thị trường

Khác với mục đích của chủ thể cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý thì những chủ thể cung ứng dịch vụ pháp lý công nhằm thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước hoặc đáp ứng các mục đích nhân đạo trợ giúp pháp lý Ví dụ: Theo Điều

1 Nghị định số 77/2008/NĐ- CP ngày 16/07/2008 về tư vấn pháp luật quy định về

Trang 19

tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị

xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật

1.1.3 Các loại dịch vụ thương mại pháp lý

* Các loại dịch vụ thương mại pháp lý theo quan điểm của quốc tế

Cách phân loại dịch vụ pháp lý của WTO theo hướng liệt kê và các dịch vụ thương mại pháp lý được hiểu là các dịch vụ mà chủ thể cung ứng dịch vụ được hưởng thù lao; lĩnh vực cung ứng dịch vụ bao gồm cả những dịch vụ liên quan đến hoạt động thương mại và các giao dịch dân sự, các lĩnh vực thuộc pháp luật hình sự, pháp luật hành chính Tính thương mại của dịch vụ pháp lý không giới hạn ở phạm

vi lĩnh vực cung ứng dịch vụ mà thể hiện ở tính chất "thương mại" công việc cung ứng dịch vụ, có nghĩa là bên cung ứng dịch vụ pháp lý được hưởng thù lao khi cung ứng dịch vụ pháp lý Các dịch vụ pháp lý cụ thể theo phân loại của WTO bao gồm:

- Danh mục các ngành dịch vụ của WTO theo tài liệu MTN.GNS/W/120 ngày 10/07/1991 dựa vào hệ thống phân loại sản phẩm trung ương tạm thời của LHQ và ngành dịch vụ pháp lý có mã số 861 Quy định của CPC prov 861 [36] về ngành dịch vụ pháp lý của Liên Hiệp Quốc bao gồm:

861 Dịch vụ pháp lý

8611 Dịch vụ tư vấn và đại diện pháp lý trong các lĩnh vực luật pháp khác nhau

86111 Dịch vụ tư vấn và đại diện pháp lý liên quan tới luật hình sự

86119 Dịch vụ tư vấn và đại diện trong thủ tục tư pháp liên quan tới các lĩnh vực luật pháp khác

8612 86120 Dịch vụ tư vấn và đại diện trong các thủ tục tư pháp của các cơ quan, hội đồng, ban mang tính tòa án

8613 86130 Dịch vụ chứng nhận và chứng từ pháp lý

Trang 20

8619 86190 Các dịch vụ thông tin và tư vấn pháp lý khác

Ở CPC prov 861 không quy định gì về một lĩnh vực quan trọng của dịch vụ pháp lý đó là dịch vụ trọng tài và hòa giải Dịch vụ trọng tài hòa giải lại được liệt kê thuộc vào các dịch vụ liên quan tới tư vấn quản lý CPC prov 866

866 8660 Các dịch vụ liên quan tới tư vấn quản lý

86602 Dịch vụ trọng tài và hòa giải

Việc phân loại dịch vụ (thương mại) pháp lý theo CPC prov còn một số thiếu sót Trong dịch vụ chứng nhận và chứng từ pháp lý (86130) đã không quy định về một hoạt động, đó là đăng ký và bảo vệ bằng sáng chế, quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ

- Hệ thống phân loại sản phẩm trung ương CPC của Liên Hiệp Quốc đã được sửa đổi 3 lần kể từ phiên bản tạm thời năm 1991 Phiên bản mới nhất hiện nay được đưa ra vào tháng 12/2008 - CPC 2.0, giữ lại phần lớn các yếu tố nhưng có thay đổi

về mã của dịch vụ pháp lý và việc giải thích đơn giản hơn

CPC 2.0

8211 82110 Dịch vụ tư vấn và đại diện liên quan tới luật hình sự

8212 82120 Dịch vụ tư vấn và đại diện liên quan tới lĩnh vực luật khác Phân loại này bao gồm: Dịch vụ tư vấn, đại diện và các dịch vụ pháp lý khác liên quan về thủ tục tư pháp và các thủ tục mang tính tư pháp khác về luật dân sự, luật hành chính, luật hiến pháp, luật quốc tế, luật về quân sự và các lĩnh vực luật khác hình sự

8213 82130 Dịch vụ chứng nhận và chứng từ pháp lý

Phân loại này bao gồm:

- Soạn thảo và chứng thực các chứng từ và các dịch vụ liên quan đến bằng sáng chế, quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ

Trang 21

- Soạn thảo và chứng thực các chứng từ và các dịch vụ liên quan đến chứng từ pháp lý như di chúc, hợp đồng hôn nhân, hợp đồng thương mại, điều lệ doanh nghiệp…

8219 Dịch vụ pháp lý khác

82191 Dịch vụ trọng tài và hòa giải

Phân loại này bao gồm: Dịch vụ trọng tài hoặc trung gian hòa giải nhằm giải quyết các tranh chấp giữa người lao động và người quản lý, giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc giữa các cá nhân Phân loại này không bao gồm: Dịch vụ đại diện cho một trong các bên tranh chấp, được phân loại vào mục 82120

và hòa giải như là một phân loại của dịch vụ pháp lý, không liên quan tới các dịch

vụ tư vấn quản lý như CPC prov

* Ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại chưa có định nghĩa về dịch vụ thương mại pháp lý Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả phân loại dịch

vụ thương mại pháp lý theo tính chất chủ thể và lĩnh vực cung ứng dịch vụ pháp lý liên quan đến hoạt động thương mại của bên tiêu dùng dịch vụ pháp lý

Một là: Căn cứ theo tiêu chí chủ thể bên cung ứng dịch vụ thương mại pháp

lý sẽ có các loại dịch vụ thương mại pháp lý sau:

- Dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư;

Trang 22

- Dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề công chứng;

- Dịch vụ pháp lý của tổ chức thừa phát lại;

- Dịch vụ pháp lý của trọng tài thương mại;

- Dịch vụ pháp lý của các tổ chức cung ứng dịch vụ pháp lý khác có hoạt động cạnh tranh và lợi nhuận

Hai là: Căn cứ theo tiêu chí nội dung dịch vụ thương mại pháp lý sẽ có các

loại dịch vụ thương mại pháp lý sau:

- Dịch vụ trọng tài, hòa giải ngoài Tòa án

1.1.4 Quá trình hình thành phát triển dịch vụ thương mại pháp lý ở Việt Nam

Ở Việt Nam cũng giống như các nước có nền kinh tế chuyển đổi khác, những quốc gia này phản đối quan điểm thương mại hóa các ngành dịch vụ Các dịch vụ như y tế, giáo dục, pháp luật và thậm chí cả dịch vụ tài chính, ngân hàng được coi là một bộ phận trong chiến lược phát triển quốc gia và chỉ được xem xét dưới góc độ

an ninh quốc gia với mục tiêu là để duy trì cơ sở hạ tầng cho các hoạt động kinh tế- thương mại khác Với cách quan niệm này, Chính phủ thường đứng ra tự mình đảm nhận vai trò chủ yếu trong việc cung cấp dịch vụ và do đó, dịch vụ được cung cấp dưới dạng phi thương mại [5, tr.11] Các loại dịch vụ thương mại pháp lý cơ bản ở Việt Nam bao gồm:

* Dịch vụ pháp lý của luật sư: Đó là dịch vụ pháp lý mang tính thương mại

vì tổ chức cung ứng dịch vụ pháp lý được hưởng thù lao khi cung ứng dịch vụ pháp

Trang 23

lý cho khách hàng Cơ sở pháp lý ghi nhận hoạt động cung ứng dịch vụ pháp lý của luật sư hiện nay ở Việt Nam là Luật Luật sư năm 2006, Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật Luật sư năm 2012 Luật sư bằng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức ứng xử nghề nghiệp luật sư sẽ thực hiện các hoạt động tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác

để bảo vệ công lý, quyền lợi hợp pháp cho khách hàng

* Dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề công chứng

Luật Công chứng năm 2006 là văn bản pháp lý đầu tiên và được tiếp tục kế thừa tại Luật Công chứng năm 2014 về việc ghi nhận công chứng là một dịch vụ và

có thể do văn phòng công chứng tư cung cấp cho khách hàng

Dịch vụ công chứng là hoạt động của chủ thể cung ứng dịch vụ pháp lý nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch hợp đồng; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và

sự ổn định kinh tế- xã hội

* Dịch vụ pháp lý của văn phòng thừa phát lại

Đáp ứng công cuộc cải cách tư pháp, chế định thừa phát lại đã được triển khai thí điểm trong thực tiễn nhằm hiện thực hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Một trong những phương hướng cải cách cải cách tư pháp là nghiên cứu chế định thừa phát lại (thừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo Tiếp theo ngày 14/11/2008, Nghị quyết 24/2008/QH12

về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự đã triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định

và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương Cụ thể hóa Nghị quyết 24/2008/QH12, Chính phủ đã ban hành Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 thực hiện thí điểm tổ chức và hoạt động thừa phát

Trang 24

lại tại thành phố Hồ Chí Minh Theo Nghị định 61/2009/NĐ- CP: Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan Công việc Thừa phát lại được làm là thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc Cơ quan thi hành án dân sự; Lập vi bằng theo yêu cầu của

cá nhân, cơ quan, tổ chức; Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự; Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự Thừa phát lại không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án

* Dịch vụ pháp lý của trọng tài thương mại

Trước năm 1994, trọng tài thương mại là các cơ quan nhà nước thuộc bộ mày nhà nước Trọng tài với tính chất phi chính phủ của nước ta được ra đời theo Nghị định số 116/CP ngày 05/9/1994 với hình thức là các Trung tâm Trọng tài kinh tế Trọng tài kinh tế đã thay đổi về chất từ một cơ quan nhà nước thuộc bộ máy hành pháp thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp, Trọng tài đã tồn tại dưới dạng các

tổ chức xã hội nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại Tuy nhiên, khi thực hiện pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 trên thực tiễn đã bộc

lộ những bất cập Ngày 17/06/2010 Quốc hội đã thông qua Luật Trọng tài thương mại 2010 thay thế cho Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 Theo quy định tại Điều 3, Điều 34 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được thu phí từ việc cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài

* Dịch vụ pháp lý do một số tổ chức cung ứng dịch vụ pháp lý khác cung ứng

có hưởng thù lao

- Dịch vụ hoạt động tư vấn pháp luật của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật theo Nghị định số 77/2008/NĐ- CP ngày 16/07/2008

Trang 25

về tư vấn pháp luật Phạm vi hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật được thực hiện tư vấn pháp luật; được cử luật sư làm việc theo hợp đồng cho Trung tâm tham gia tố tụng để bào chữa, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật đối với vụ việc mà Trung tâm thực hiện

tư vấn pháp luật; được thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý

Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức chủ quản Ngoài hoạt động tư vấn pháp luật miễn phí cho các đối tượng quy định tại Điều 10 của Nghị định này, Trung tâm tư vấn pháp luật được thu thù lao đối với cá nhân, tổ chức khác có yêu cầu tư vấn pháp luật để bù đắp chi phí cho hoạt động của Trung tâm

- Dịch vụ hòa giải thương mai của các tổ chức hòa giải thương mại hoạt động theo Nghị định số 22/2017/NĐ-C ngày 24/2/2017 về hòa giải thương mại Tổ chức hòa giải thương mại bao gồm: Trung tâm hòa giải thương mại được thành lập và hoạt động theo quy định tại Nghị định này; Trung tâm trọng tài được thành lập và hoạt động theo pháp luật về trọng tài thương mại thực hiện hoạt động hòa giải thương mại Hòa giải thương mại là việc hòa giải tranh chấp giữa các bên phát sinh

từ hoạt động thương mại; Tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại

1.2 Khái quát chung về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại

*Khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại

Quan hệ cung ứng dịch vụ được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý Pháp luật hiện hành ở Việt Nam chưa có quy định về hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý nói chung và hợp động

Trang 26

dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại nói riêng Dưới góc độ nghiên cứu khoa học pháp lý, một số công trình khoa học đã xây dựng khái niệm về hợp đồng dịch vụ pháp lý/hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề luật sư, cụ thể:

Hợp đồng dịch vụ pháp lý là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ pháp lý cho bên thuê dịch vụ để nhận thù lao, còn bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận [16, tr.37]

Hoặc hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề luật sư là một loại hợp đồng thuộc ngành dịch vụ nghề nghiệp theo đó bên luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho bên thuê luật sư, còn bên thuê luật sư phải trả tiền thù lao theo thỏa thuận [2, tr.18]

Bên cạnh khái niệm về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề luật sư, tác giả Hoàng Thị Vịnh đã xây dựng khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý Theo đó hợp đồng dịch vụ pháp lý là sự thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ cung ứng dịch vụ pháp lý, theo đó bên cung ứng cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ pháp lý cho bên thuê dịch vụ để hưởng thù lao [6, tr.204]

Theo quan điểm của tác giả luận văn này, hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp

lý trong hoạt động thương mại trước hết phải có bản chất của hợp đồng cung ứng dịch vụ (dịch vụ pháp lý) Theo Điều 385 và Điều 513 Bộ luật dân sự năm 2015: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó bên cung ứng dịch vụ được thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ Đồng thời, với tính chất thương mại hướng đến việc hưởng thù lao của bên cung ứng dịch vụ pháp lý và lĩnh vực cung ứng nên hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại sẽ có phạm vi cung ứng dịch vụ liên quan đến các hoạt động thương mại cho các khách hàng chủ yếu là thương nhân Từ bản chất khoa học đó, có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại như sau:

Trang 27

"Hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại là sự thỏa thuận giữa bên cung ứng dịch vụ pháp lý và bên sử dụng dich vụ pháp lý theo đó bên cung ứng dịch vụ pháp lý thực hiện công việc cung ứng các dịch vụ pháp lý về hoạt động thương mại cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ"

* Đặc điểm của hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại

Hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại có đặc điểm là:

- Hợp đồng ưng thuận, song vụ, có đền bù Hợp đồng mang tính ưng thuận vì các chủ thể hợp đồng được thỏa thuận xác lập nội dung quyền và nghĩa vụ của các bên Tính song vụ của hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý thể hiện ở đặc điểm quyền của chủ thể này tương ứng với nghĩa vụ thực hiện công việc của chủ thể kia Hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý có tính đền bù vì khi cung ứng dịch vụ pháp lý, bên cung ứng dịch vụ sẽ được trả một khoản tiền tương ứng với hoạt động lao động cung ứng dịch vụ

Hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại có những đặc điểm cụ thể cơ bản sau:

Thứ nhất, bên cung ứng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại phải

đáp ứng các điều kiện cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý theo quy định của pháp luật; bên sử dụng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại chủ yếu là thương nhân

* Bên cung ứng ứng dịch vụ thương mại pháp lý phải đáp ứng các điều kiện

về cung ứng dịch vụ pháp lý

(i) Các tổ chức hành nghề cung ứng dịch vụ pháp lý được thành lập hợp pháp; Đã đăng ký hoạt động được cấp Giấy phép hoạt động và hoạt động đúng lĩnh vực đã đăng ký hoạt động Khi đăng ký hoạt động cung ứng dịch vụ pháp lý thì chủ thể cung ứng dịch vụ pháp lý không được đăng ký kinh doanh ngành nghề khác

Trang 28

(ii) Người trực tiếp cung ứng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại là các cá nhân trực tiếp cung ứng dịch vụ pháp lý cho các tổ chức cung ứng dịch vụ pháp lý Các cá nhân này phải làm việc trong tổ chức hành nghề cung ứng dịch

vụ pháp lý đã được thành lập hợp pháp Người trực tiếp cung ứng dịch vụ pháp

lý phải đáp ứng các điều kiện về chuyên môn, nghề nghiệp và các quy tắc đạo đức nghề nghiệp và các điều kiện khác đề hành nghề tương ứng với từng dịch vụ pháp lý cụ thể

Cần lưu ý là người cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý phải cung ứng dịch

vụ pháp lý trong phạm vi hoạt động thương mại cho một tổ chức cung ứng dịch vụ pháp lý hợp pháp Các hợp đồng giữa tổ chức cung ứng dịch vụ với khách hàng có bản chất là hợp đồng dịch vụ có hưởng thù lao Vì vậy, trường hợp các cá nhân được đào tạo về luật, có kiến thức và bằng cấp trong ngành luật tham gia tư vấn pháp luật cho khách hàng với tư cách là cá nhân có hưởng thù lao hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư không được coi là chủ thể cung ứng dịch

vụ pháp lý trong phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Bên sử dụng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại là các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng một hoặc nhiều dịch vụ pháp lý của bên cung ứng dịch vụ pháp lý Tuy nhiên, thường thì bên sử dụng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại là những chủ thể có hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên cần thiết sử dụng dịch vụ pháp lý để phục vụ nghề nghiệp của mình Chủ thể có hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên trên thị trường chủ yếu là thương nhân theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 Ngoài chủ thể sử dụng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại, có thể có các chủ thể khác không phải là thương nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý nhưng số lượng chủ thể này chiếm số lượng ít

Đặc điểm về bên sử dụng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại chủ yếu là thương nhân là điểm khác nhau giữa hợp đồng dịch vụ pháp lý nói chung và

Trang 29

hợp đồng dịch vụ pháp lý phát sinh trong hoạt động thương mại nói riêng Đối với các hợp đồng dịch vụ pháp lý thì bên sử dụng dịch vụ có thể là thương nhân, có thể

là cá nhân, tổ chức phi thương mại có nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý để tư vấn các thắc mắc, giải quyết tranh chấp về hôn nhân gia đình, lao động, thừa kế, đất đai, hành chính, hình sự…Nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại gắn liền với chủ thể là các thương nhân nhằm tư vấn giải đáp về hoạt động thương mại như: các vấn đề về hợp đồng thương mại; các vấn đề tranh chấp trong tổ chức quản lý nội bộ doanh nghiệp; tư vấn thành lập doanh nghiệp; tư vấn về đầu tư; đại diện cho doanh nghiệp trong và ngoài tố tụng giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại

Thứ hai, đối tượng của hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương

mại là các công việc cung ứng dịch vụ pháp lý gắn với hoạt động thương mại

Hợp đồng dịch vụ pháp lý là một loại hợp đồng dịch vụ, vì vậy đối tượng của hợp đồng dịch vụ pháp lý là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội Các công việc đó là: Tư vấn pháp luật về thương mại, doanh nghiệp, đầu tư; Đại diện ngoài tố tụng trong giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng với đối tác; Hòa giải và tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thương nhân khi xảy ra tranh chấp; Công chứng các giấy tờ phục vụ cho các giao dịch thương mại của thương nhân…

Với đặc điểm bên sử dụng dịch vụ pháp lý chủ yếu là thương nhân và đặc điểm về đối tượng của hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại là các công việc cung ứng dịch vụ pháp lý gắn với hoạt động thương mại đã cho thấy hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại là một loại hợp đồng dịch vụ pháp lý nói chung Hay nói cách khác, hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại có nội hàm hẹp hơn so với hợp đồng dịch vụ pháp lý

Thứ ba, hình thức của hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý cần được xác lập

bằng hình thức văn bản

Trang 30

Khoản 1, 2 Điều 26 Luật Luật sư năm 2006 quy định: Luật sư thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý trừ trường hợp luật sư tham gia

tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và luật sư hành nghề với tư cách

cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức Hợp đồng dịch vụ pháp lý phải được làm thành văn bản

Pháp luật hiện hành chưa có quy định về hình thức các hợp đồng dịch vụ pháp lý như dịch vụ công chứng, thừa phát lại và dịch vụ tư vấn pháp luật qua Trung tâm tư vấn pháp luật có hưởng thù lao

Hình thức của hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý có thể bằng các hình thức khác nhau như thỏa thuận bằng lời nói, qua hình thức văn bản hoặc bằng việc xác lập hành vi cụ thể Tuy nhiên, các lĩnh vực trong dịch vụ pháp lý tương đối phức tạp… nên giữa bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ nên xác lập hợp đồng dịch cung ứng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại bằng văn bản

1.2.2 Các loại hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại

Căn cứ vào nội dung công việc thực hiện trong hợp đồng dịch pháp lý trong hoạt động thương mại có thể chia hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại thành các loại hợp đồng cơ bản sau:

* Hợp đồng tư vấn pháp luật: Hợp đồng tư vấn pháp luật được hiểu là sự thỏa thuận về các hoạt động tư vấn pháp luật được ký kết giữa bên cung ứng dịch

vụ pháp lý với bên có nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý

Theo từ điển Gerard Corme – Vocabulaire, Juridique, thuật ngữ tư vấn được hiểu là “việc một người được yêu cầu tư vấn phát biểu ý kiến, cho một lời khuyên về một vấn đề nhất định, giúp cho người yêu cầu tư vấn có các yếu tố để quyết định”

Theo từ điển Luật học (1997), Nhà xuất bản từ điển Bách khoa, tư vấn pháp luật được hiểu với hai nghĩa:

Trang 31

- Người có chuyên môn về pháp luật và được hỏi ý kiến để tham khảo khi giải quyết, quyết định công việc

- Việc tham gia ý kiến theo góc độ pháp luật với tư cách là cộng tác viên hoặc là làm dịch vụ

Là loại hợp đồng dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ pháp lý sẽ cung cấp thông tin pháp lý để tư vấn, dự liệu, đánh giá, phân tích hoặc đưa ra hướng giải quyết các yêu cầu của khách hàng phát sinh trong hoạt động thương mại Tư vấn pháp luật nhằm giúp khách hàng phòng tránh rủi ro và giải quyết các vấn đề đang vướng mắc về kiến thức pháp lý Hợp đồng tư vấn pháp luật có thể là hợp đồng tư vấn thường xuyên hoặc hợp đồng tư vấn theo vụ việc Tư vấn pháp luật trong hoạt động thương mại là hoạt động tư vấn chủ yếu đến đối tượng khách hàng

là thương nhân

Từ những quan điểm trên và thực tiễn, tư vấn pháp luật được hiểu là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn cá nhân, tổ chức xử sự đúng pháp luật; cung cấp, trợ giúp các dịch vụ pháp lý, nhờ đó các cá nhân, tổ chức thực hiện và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tư vấn pháp luật không dựa vào vốn, tài sản mà dựa vào kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề của chủ thể cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý Đây là hoạt động rất chú ý đến vai trò cá nhân và uy tín nghề nghiệp, là hoạt động mang tính chất lao động trí óc, không phải chỉ là việc phổ biến hoặc truyền tải nội dung thông tin của các văn bản pháp luật Tư vấn pháp luật có tính chất dự liệu những vấn đề pháp lý có thể xảy ra, những hậu quả pháp lý khi thực hiện công việc nào đó, luật sư cung cấp thông tin pháp luật giúp các cá nhân, tổ chức phòng tránh rủi ro, giải quyết các vấn đề

* Hợp đồng đại diện cho khách hàng trong hoạt động thương mại là sự thỏa thuận giữa bên cung ứng dịch vụ pháp lý với khách hành, theo đó bên cung ứng dịch vụ pháp lý sẽ đại diện cho khách hàng trong hoạt động tố tụng và đại diện ngoài tố tụng phát sinh/liên quan tới các giao dịch thương mại

Trang 32

Thực chất đại diện cho khách hàng là quan hệ ủy quyền trên cơ sở hình thức hợp đồng ủy quyền Hợp đồng ủy quyền giữa bên cung ứng dịch vụ pháp lý và khách hàng, theo đó khách hàng ủy quyền cho bên cung ứng dịch vụ pháp lý nhân danh khách hàng, thay mặt khách hàng để xác lập, thực hiện các giao dịch phát sinh trong hoạt động thương mại nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho khách hàng Hợp đồng dịch vụ pháp lý cũng là loại hình thức ủy quyền mà bên cung cấp dich vụ pháp

lý có thể còn đảm nhiệm cả nghĩa vụ thay mặt khách hàng để tham gia tố tụng dân

sự [11, tr.339], trong đó việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại của khách hàng theo trình tự tố tụng tại Tòa án

Hợp đồng đại diện cho khách hàng trong tố tụng là việc bên cung ứng dịch

vụ pháp lý như luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật Phạm vi luận văn chỉ nghiên cứu về những hợp đồng đại diện cho khách hàng trong các quan hệ tố tụng liên quan đến hoạt động thương mại

* Hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý xác nhận giá trị pháp lý của các văn bản, giấy tờ có liên quan đến hoạt động thương mại như chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (gọi là bản dịch)

Lưu ý: Đối với dịch vụ trọng tài thương mại, các bên phải có thỏa thuận trọng tài dưới dạng một điều khoản trong hợp đồng hoặc thỏa thuận trong một văn bản riêng về việc sử dụng dịch vụ trọng tài thương mại Khi cung ứng dịch vụ hòa giải, trung tâm hòa giải và khách hàng có thỏa thuận hòa giải Thỏa thuận hòa giải

Trang 33

có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản hòa giải trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng Thỏa thuận hòa giải được xác lập bằng văn bản Các thỏa thuận này được xác lập giữa các chủ thẻ tranh chấp với nhau chứ không phải là thỏa thuận dưới dạng là hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý giữa khách hàng với Trọng tài, Trung tâm hòa giải Vì vậy, luận văn không phân loại về hình thức các thỏa thuận lựa chọn dịch vụ trọng tài thương mại, dịch vụ hòa giải là hợp đồng dịch

vụ pháp lý trong hoạt động thương mại

Trang 34

Chương 2

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

2.1 Quy định về chủ thể hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại

Chủ thể hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại là tổ chức

cung ứng dịch vụ pháp lý và bên sử dụng dịch vụ pháp lý

* Điều kiện chủ thể cung ứng dịch vụ pháp lý trong hoạt động thương mại của phải đáp ứng các điều kiện hành nghề cung ứng dịch vụ pháp lý theo quy định của pháp luật và được cấp Giấy đăng ký hoạt động

Các chủ thể cung ứng dịch vụ pháp lý trong giới hạn nghiên cứu của luận văn này là các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức hành nghề công chứng, Trung tâm

tư vấn pháp luật và phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh dịch vụ pháp lý Cụ thể như sau:

Một là: Điều kiện cung ứng dịch vụ pháp lý đối với chủ thể cung ứng dịch vụ

pháp lý là các tổ chức hành nghề luật sư

Hình thức tổ chức hành nghề luật sư có thể là văn phòng luật sư (theo mô hình doanh nghiệp tư nhân) hoặc công ty luật (công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn) Luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư phải làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư Tổ chức hành nghề luật sư đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư mà Trưởng văn phòng luật sư hoặc Giám đốc công ty luật là thành viên Công ty luật do luật

sư ở các đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập thì đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có trụ sở của công ty, Sở Tư pháp sẽ cấp Giấy

Trang 35

đăng ký hoạt động cho tổ chức hành nghề luật sư Như vậy, điều kiện chủ thể cung ứng dịch vụ pháp lý của luật sư phải đáp ứng các điều kiện để được hành nghề pháp lý và thời điểm tổ chức luật sư được hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động và chỉ được hoạt động đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong Giấy đăng ký hoạt động

Sau khi ký hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý với khách hàng, tổ chức hành nghề luật sư sẽ phân công luật sư của tổ chức mình trực tiếp thực hiện cung ứng các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng và phù hợp với lĩnh vực hành nghề ghitrong Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức mình

Luật sư cung ứng dịch vụ pháp lý cho khách hàng phải đáp ứng các điều kiện

về chuyên môn, điều kiện nghề, đạo đức để hành nghề cung ứng dịch vụ pháp lý Điều 10 Luật Luật sư năm 2006: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư

- Điều kiện cần, yêu cầu về chuyên môn Tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật, qua đào tạo nghề luật sư, tập sự hành nghề luật sư và được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư

+ Người có bằng cử nhân luật là người có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật

+ Được đào tạo nghề luật sư: Khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012 trừ một số người được miễn đào tạo nghề luât sư

Người có bằng cử nhân luật được tham dự khóa đào tạo nghề luật sư tại cơ

sở đào tạo nghề luật sư Thời gian đào tạo nghề luật sư là mười hai tháng Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề luật sư được cơ sở đào tạo nghề luật sư cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư

Ngày đăng: 24/04/2020, 21:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w