1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm qua thực tiễn tại tòa án nhân dân tỉnh vĩnh phúc

103 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 811,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giải quyết vụ án theo thủ tục xét xử sơ thẩm; phân tích, đánh giá thực trạng p

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM

QUA THỰC TIỄN TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

LÊ MINH HOÀNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM QUA THỰC TIỄN TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

LÊ MINH HOÀNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS BÙI NGUYÊN KHÁNH

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tác giả, có sự hỗ trợ từ Giảng viên hướng dẫn là PGS.TS Bùi Nguyên Khánh Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài là trung thực Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác và cũng thể hiện trong phần tài liệu tham khảo Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của Luận văn

Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Minh Hoàng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý nhiệt tình của quý thầy cô tại Viện Đại học Mở Hà Nội

Trước hết, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, quý thầy cô Khoa Luật kinh tế, Khoa Sau đại học Viện Đại học Mở Hà Nội và quý thầy cô tham gia giảng dạy đã tận tình truyền đạt kiến thức, giúp đỡ em trong thời gian học tập Đặc biệt,

em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Bùi Nguyên Khánh đã dành nhiều thời gian, công sức trong giảng dạy và hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là nơi

em công tác đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em thực hiện Luận văn tốt nghiệp

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp cao học Luật K5.3 Viện Đại học

Mở Hà Nội, bạn bè và đồng nghiệp đã hỗ trợ trong quá trình thu thập tài liệu, chia

sẻ những kinh nghiệm hữu ích để thực hiện đề tài

Cuối cùng, em xin bày tỏ lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè là nguồn động viên lớn, tạo điều kiện và hết lòng chăm sóc, khuyến khích em tham gia học tập và nghiên cứu, để em có thể hoàn thành luận văn này

Luận văn là thành quả sự nỗ lực của cá nhân tác giả trong thời gian qua Tuy nhiên, do kiến thức bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý quý báu của quý thầy cô và các bạn để Luận văn này được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Minh Hoàng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1 THỦ TỤC SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI 6

1.1 Khái niệm thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại 6

1.2 Đặc điểm của thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại 10

1.3 Thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện hành 12

1.3.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh thương mại 12

1.3.2 Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại 16

1.3.3 Phiên tòa sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại 24

Kết luận Chương 1 37

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC 39

2.1 Thực tiễn áp dụng thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại ở Việt Nam hiện nay 39

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc 42

2.2.1 Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và đội ngũ cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ảnh hưởng đến giải quyết vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc 42

2.2.2 Kết quả giải quyết vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc 47

2.2.3 Những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại trong việc giải quyết vụ án KDTM tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc 49

Kết luận Chương 2 63

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 64

Trang 6

3.1 Phương hướng hoàn thiện 64 3.1.1 Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 64 3.1.2 Về mô hình tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân 64 3.1.3 Chú trọng cải cách tư pháp ở Việt Nam và việc đảm bảo thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết án kinh doanh thương mại 66 3.2 Giải pháp hoàn thiện 68 3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại 68 3.2.2 Giải pháp thực hiện pháp luật về thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại 76 Kết luận Chương 3 89

KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, thủ tục giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại tại Tòa án thực hiện theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân

sự (BLTTDS) về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự nói chung Trong đó, thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại bao gồm các thủ tục như xem xét điều kiện thụ lý

vụ án, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án và xét xử sơ thẩm vụ án

Những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các quan hệ dân sự nói chung, quan hệ thương mại nói riêng nảy sinh ngày càng đa dạng, theo đó những vụ án kinh doanh, thương mại Tòa án phải thụ lý, giải quyết ngày càng nhiều và phức tạp Riêng tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thì loại vụ

án này Tòa án phải thụ lý giải quyết đang có chiều hướng gia tăng và phức tạp bởi Vĩnh Phúc trước đây là một tỉnh thuần nông với cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn, nhưng những năm gần đây cơ cấu kinh tế dần chuyển sang công nghiệp

và dịch vụ, tốc độ đô thị hóa nhanh, trình độ dân trí không đồng đều Do vậy các vụ

án kinh doanh, thương mại phát sinh với giá trị tài sản tranh chấp rất lớn và ngày càng phức tạp

Ngày 25/11/2015 Quốc hội ban hành Bộ luật tố tụng dân sự mới, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 với nhiều quy định mfgvới về trình tự, thủ tục giải quyết

vụ án dân sự nói chung và trình tự, thủ tục sơ thẩm giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại nói riêng Việc nghiên cứu về trình tự, thủ tục sơ thẩm giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại là rất cần thiết khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 mới được thi hành, việc áp dụng còn nhiều vướng mắc Xuất phát từ những lý do trên,

tác giả đã lựa chọn đề tài “Giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại theo thủ tục

xét xử sơ thẩm qua thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài luận

văn thạc sĩ luật học của mình

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự nói chung và thủ tục sơ thẩm vụ án kinh

trực tiếp làm công tác xét xử của ngành Tòa án quan tâm nghiên cứu Nhiều vấn đề còn vướng mắc khi áp dụng BLTTDS trong thực tiễn giải quyết các vụ án đã được các bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý đề cập, trao đổi như:

pháp khẩn cấp tạm thời” của tác giả Trần Phương Thảo đăng trên tạp chí Tòa án

nhân dân Số 5 - 2018;

tụng dân sự năm 2015 trong giải quyết vụ án dân sự và đề xuất, kiến nghị” của tác

giả Nguyễn Thị Hương đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 5 - 2018;

- Bài nghiên cứu “Hòa giải vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm”

của tác giả Nguyễn Hữu Minh - Phó Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đăng trên tạp chí điện tử Tòa án nhân dân ngày 20 tháng 3 năm 2018;

- Bài nghiên cứu “Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ và hòa giải theo BLTTDS 2015” của tác giả Chu Quang Minh - Tòa án nhân dân

tỉnh Bắc Ninh đăng trên tạp chí điện tử Tòa án nhân dân ngày 19 tháng 3 năm 2018;

- Nguyễn Thị Vân Anh (2010), “Một số kiến nghị liên quan đến quy định về

thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án theo Điều 29 BLTTDS”, Tạp chí Nghề luật (số 3/2010);

- Triệu Thị Quỳnh Hoa (2012), “Thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải

quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án”, Tạp chí Tòa án nhân dân

(số 19/2012);

- Vũ Đức Hoàng (2010), “Một số khó khăn khi áp dụng các Biện pháp khẩn

cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án”, Tạp

chí Tòa án nhân dân (số 19/2010);

Trang 10

- Nguyễn Thị Hoài Phương (2010), “Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

trong giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại Tòa án – những vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện BLTTDS”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (số 3/2010);

- Tưởng Thị Lan (2013), “Thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại -

Thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội”, Luận

vă thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

Trong số các công trình nghiên cứu trên, có rất ít các công trình có quy mô lớn nghiên cứu về thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại một cách toàn diện Phần lớn là những bài viết trên tạp chí có dung lượng nhỏ, đi vào phân tích một số ít vấn đề nhỏ trong thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại Tuy xuất hiện một

số công trình nghiên cứu cấp thạc sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học; song nội dung nghiên cứu của các công trình chưa gắn với một địa phương là địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Do vậy, đề tài nghiên cứu của tác giả vẫn có tính mới và cần thiết được thực hiện, vì gắn với việc nghiên cứu về thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại trên một địa phương cụ thể

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận

về giải quyết vụ án theo thủ tục xét xử sơ thẩm; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; và để từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giải quyết vụ án theo thủ tục xét xử sơ thẩm;

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại ở Việt Nam hiện nay;

Trang 11

- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ

án kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;

- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục xét xử

sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục xét

xử sơ thẩm vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc

Trong hệ thống Tòa án trên cả nước hiệ nay, phần lớn các vụ án kinh doanh, thương mại được Tòa án thụ lý và đưa ra xét xử là theo thủ tục thông thường Đối với Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, 100% số vụ án kinh doanh, thương mại được xét xử sơ thẩm theo thủ tục thông thường Với thực tế như vậy, nhằm phân tích các vấn đề được thiết thực và tập trung, đề tài sẽ không đề cập đến thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại theo thủ tục rút gọn, thủ tục giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài, mà phạm vi nghiên cứu đề tài sẽ đi sâu vào khái niệm, đặc điểm và nội dung của thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại theo thủ tục thông thường; Thực trạng pháp luật về thủ tục xét

xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại ở Việt Nam hiện nay và Thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ kinh doanh, thương mại

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp lịch sử, phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn logic và thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn

đề nghiên cứu

Trang 12

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu toàn diện, đầy đủ, có hệ thống về thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung lý luận về thủ tục sơ thẩm giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại, qua đó có cơ sở lý luận để phân tích, đánh giá những bất cập của các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiên hành, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục sơ thẩm giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại

để làm cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực tương ứng

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Giải quyết vụ án kinh doanh, thương

mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm qua thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc” được kết cấu bởi 3 chương, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu

tham khảo

Chương 1: Thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại

Chương 2: Thực tiễn áp dụng thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 13

Chương 1 THỦ TỤC SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại

Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam chưa có điều luật nào quy định cụ thể về khái niệm tranh chấp KDTM cũng như khái niệm về thủ tục sơ thẩm

vụ án KDTM Thuật ngữ KDTM còn được hiểu nhầm lẫn với các thuật ngữ khác như thương mại, kinh tế dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về vụ án KDTM Vì vậy, việc xây dựng hoàn chỉnh khái niệm tranh chấp KDTM cũng như khái niệm thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM là điều cần thiết để làm cơ sở pháp lý cho việc xác định ranh giới thẩm quyền cũng như trình tự thủ tục trong quá trình giải quyết các

vụ án KDTM

Ở góc độ ngôn ngữ phổ thông, "kinh doanh" là tổ chức, sản xuất, buôn bán sao cho sinh lời, "kinh tế" là tổng thể nói chung những quan hệ sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, "thương mại" là thực hiện lưu thông hàng hóa bằng

mua bán [51]

Theo cách hiểu này, nội hàm tranh chấp kinh tế rộng hơn, bao gồm cả tranh chấp kinh doanh, thương mại Có thể bao quát tranh chấp kinh tế gồm các tranh chấp kinh doanh, thương mại: Tranh chấp phát sinh trong các khoản đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia tiếp nhận đầu tư, tranh chấp giữa quốc gia trong việc thực hiện điều ước quốc tế về thương mại song phương và đa phương, tranh chấp giữa các quốc gia với các thiết chế kinh tế quốc tế trong việc thực hiện điều ước quốc tế về thương mại đa phương Kinh tế có sự bao hàm yếu tố quản lý và yếu tố chính trị khác

Ở góc độ pháp lý, hiện nay hầu hết quan điểm lại đồng nhất "tranh chấp kinh

tế" với "tranh chấp KDTM"

Ở Việt Nam, quan niệm về tranh chấp kinh tế có những điểm khác nhau qua

Trang 14

mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nền kinh tế được quản lý bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, với hệ thống chi tiêu, kế hoạch do nhà nước giao Hợp đồng kinh tế thời kỳ này không chỉ là một hình thức pháp lý để triển khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế, mà còn được sử dụng như một công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước Do vậy, việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế là một kỷ luật bắt buộc chứ không hoàn toàn từ lợi ích kinh tế của các bên tham gia hợp đồng Vì vậy, trách nhiệm thực hiện hợp đồng giữa các bên tham gia quan hệ với nhau bị coi nhẹ hơn so với trách nhiệm của các bên đối với cơ quan chủ quản Trách nhiệm phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế nhẹ về yếu tố vật chất mà nặng về tính chất hành chính

Có thể nói trong giai đoạn này, các quan hệ kinh tế vốn khá đơn giản về nội dung và thành phần chủ thể, lại được điều chỉnh bởi kinh tế Nhà nước Vì vậy, các tranh chấp kinh tế phát sinh không nhiều và chủ yếu là các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa với nhau để triển khai kế hoạch kinh doanh đã được Nhà nước phê duyệt từ trước Các tranh chấp kinh tế trong giai đoạn này không thể hiện rõ bản chất của tranh chấp kinh doanh, thương mại, tranh chấp phát sinh do xung đột lợi ích của các bên và việc giải quyết tranh chấp cũng không xuất phát từ quyền lợi thiết thực của các bên mà chủ yếu vì sự ổn định, hài hòa chung cho cả nền kinh tế

Trong quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam hội nhập cùng nền kinh tế thế giới, với việc nước ta trở thành thành viên thứ 150 của WTO năm 2007, ngày càng xuất hiện nhiều hơn các chủ thể kinh doanh, bên cạnh các Doanh nghiệp Nhà nước

và hợp tác xã, xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các loại hình công ty và hộ kinh doanh cá thể Các quan hệ kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều với hình thức phong phú và tính chất phức tạp Trong điều kiện đó, Nhà nước phải tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, để các quan

hệ kinh tế được xây dựng và thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự do, bình đẳng, cùng

Trang 15

này, kinh doanh đúng pháp luật để đạt lợi nhuận tối đa là mục tiêu của các doanh nghiệp Môi trường đó phát sinh ngày càng nhiều các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế Đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu, mở rộng nội hàm của khái niệm tranh chấp kinh tế

Trong Luật Thương mại năm 2005 (LTM) không đưa ra khái niệm về tranh chấp thương mại, mà đưa ra khái niệm hoạt động thương mại, theo đó hoạt động

thương mại là "hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa,

cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác" (Khoản 1 Điều 3 LTM) Theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động

thương mại cũng đã được mở rộng, bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi Hướng tiếp cận này của LTM cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã được

mở rộng tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp Tại khoản

2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 và tại khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp

năm 2014 đều đưa ra khái niệm: "Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số

hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi"

Theo Điều 30 BLTTDS năm 2015 thì tranh chấp KDTM được hiểu là những tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Theo quy định của BLTTDS có thể hiểu rằng, tranh chấp KDTM thực chất là tranh chấp kinh tế đã được mở rộng nội hàm cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc

tế Nội dung của tranh chấp KDTM được liệt kê tại Điều 30 BLTTDS, thực chất cũng là những tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận của LTM Tuy có nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau và có sự thay đổi trong thuật ngữ pháp lý, nhưng thực tế đều nhìn nhận những xung đột về lợi ích kinh tế trong quan hệ KDTM là tranh chấp KDTM Nhìn chung quan niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp KDTM được thể hiện qua các quy định trong văn bản pháp luật thời gian

Trang 16

xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh liên quan đến lợi ích

kinh tế trong quá trình hoạt động KDTM

Trong lĩnh vực dân sự, khi các tranh chấp dân sự xảy ra, đương sự khởi kiện

và được Tòa án thụ lý giải quyết thì được gọi là vụ án dân sự Theo đó, những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM và lao động, được quy định tại các Điều 26, Điều

28, Điều 30 và Điều 32 BLTTDS do cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện mà được Tòa án thụ lý giải quyết được gọi là vụ án dân sự Trong đó, các tranh chấp

về KDTM được quy định tại Điều 30 BLTTDS được Tòa án thụ lý giải quyết được gọi là vụ án KDTM

BLTTDS bao gồm 517 điều và được cơ cấu thành 10 phần, trong đó bao gồm

cả những quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết vụ án dân

sự Thủ tục giải quyết vụ án dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng được thực hiện theo các quy định từ Điều 186 đến Điều 360 BLTTDS 2015 Còn những vấn

đề chung về thủ tục giải quyết vụ án dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng được quy định tại Phần thứ nhất của BLTTDS (từ Điều 1 đến Điều 185) bao gồm những quy định về nguyên tắc, thẩm quyền của Tòa án nhân dân, cơ quan tiến hành

tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, chứng minh và chứng

cứ, biện pháp khẩn cấp tạm thời, cấp, thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng, thời hạn tố tụng, thời hiệu khởi kiện, án phí Các quy định này quy định về nguyên tắc, trình tự thủ tục giải quyết vụ án KDTM, quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng khi giải quyết vụ án KDTM

Theo Từ điển Tiếng Việt 1997 của Viện Ngôn ngữ học thì “thủ tục là những

việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức”[51, tr 927] Thủ tục bảo đảm việc giải quyết công việc có hiệu

quả Khi giải quyết các công việc đều phải theo thủ tục nhất định Theo quy định của BLTTDS, các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM và lao động đều được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự Do đó, thủ tục giải quyết vụ án KDTM là một

Trang 17

trong những thủ tục của thủ tục tố tụng dân sự (TTDS)

Theo quy định tại Điều 17 BLTTDS, Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử:

sơ thẩm và phúc thẩm Do vậy, các vụ án KDTM cũng có thể được xét xử ở Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm Tuy nhiên, không phải bất kỳ vụ án KDTM nào cũng phải trải qua xét xử ở Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm Tùy vào kết quả việc giải quyết vụ án KDTM ở Tòa án cấp sơ thẩm và tùy thuộc vào việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự mà việc giải quyết vụ án KDTM ở cấp sơ thẩm có thể kết thúc ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm hoặc phiên tòa sơ thẩm

Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội

thì "sơ thẩm là xét xử lần đầu vụ án" [52, tr 225] Thủ tục tố tụng lần đầu giải quyết

vụ án được gọi là thủ tục sơ thẩm

Từ những điều phân tích ở trên, có thể rút ra kết luận: “Thủ tục sơ thẩm vụ án

KDTM là thủ tục TTDS xét xử lần đầu vụ án KDTM, được Tòa án có thẩm quyền áp dụng để giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh liên quan đến lợi ích kinh tế phát sinh trong hoạt động KDTM, bao gồm thủ tục khởi kiện và thụ lý, chuẩn bị xét xử sơ thẩm và xét xử sơ thẩm vụ án KDTM”

1.2 Đặc điểm của thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại

Trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện tại không có quy định riêng về trình tự thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ án KDTM mà Tòa án cấp sơ thẩm sẽ áp dụng các quy định về trình tự thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ án dân sự nói chung để giải quyết các tranh chấp KDTM phát sinh Do đó, thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM cũng mang những đặc điểm chung của thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự như sau:

- Là thủ tục cơ bản của tố tụng dân sự được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định quy định trong BLTTDS bao gồm các việc như khởi kiện và thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử sơ thẩm và phiên tòa sơ thẩm vụ án

Trang 18

- Là thủ tục tố tụng đầu tiên giải quyết tranh chấp của các bên đương sự nên phán quyết của Tòa án trong bản án, quyết định không phải là phán quyết cuối cùng, đương sự vẫn có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát vẫn có quyền kháng nghị bản án, quyết định

Tuy vậy, bên cạnh những đặc điểm chung của thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự, thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM cũng có một số đặc điểm riêng sau:

- Về chủ thể khởi kiện vụ án KDTM, đối với vụ án KDTM chủ thể khởi kiện

chỉ có thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh (trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác) - đó là các cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Ngoài ra, còn một yêu cầu nữa đối với chủ thể khởi kiện vụ án KDTM đó là khi tham gia quan hệ KDTM đòi hỏi các bên chủ thể của quan hệ đó đều có mục đích lợi nhuận

- Về các tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn khởi kiện, đối với vụ án KDTM

do chủ thể khởi kiện chỉ có thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh nên khi nộp đơn khởi kiện, để được Tòa án chấp nhận thụ lý và giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết vụ án KDTM thì người nộp đơn khởi kiện phải nộp kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Điều lệ hoạt động của pháp nhân… để chứng minh

tư cách chủ thể của mình

- Về hình thức đơn khởi kiện, đối với các vụ án KDTM cần lưu ý đến người

đứng tên trong đơn khởi kiện Đương sự trong các tranh chấp KDTM thường là các chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân như Công ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã hay hộ kinh doanh cá thể, do đó, người ký đơn khởi kiện trong trường hợp này là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân cũng có thể

ủy quyền cho người khác ký đơn khởi kiện và tham gia tố tụng tại Tòa án Khi đó, Tòa án cần kiểm tra việc ủy quyền ký đơn khởi kiện và tham gia tố tụng đó có đúng quy định pháp luật hay không Ngoài ra, đương sự là công ty thì đơn khởi kiện phải

có dấu của công ty vào cuối đơn

Trang 19

- Về sự tham gia của Kiểm sát viên, trên thực tế đối với các vụ án KDTM

thường rất phức tạp, để giải quyết đúng vụ án thì Tòa án đều phải tiến hành thu thập chứng cứ nên hầu hết đều có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa và sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa là bắt buộc Nếu vắng mặt Kiểm sát viên thì HĐXX phải hoãn phiên tòa

- Về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án KDTM, do yêu cầu của phát triển sản

xuất, kinh doanh, thời hạn việc giải quyết vụ án KDTM được pháp luật quy định ngắn hơn thời hạn giải quyết các vụ án dân sự, vụ án hôn nhân và gia đình và vụ

án lao động

- Về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT), đối với vụ án KDTM

Tòa án không thể tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT Trong quá trình giải quyết vụ án KDTM nếu đương sự có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT thì Tòa

án mới xem xét có ra quyết định áp dụng BPKCTT hay không

- Về án phí, việc giải quyết vụ án KDTM không có trường hợp nào được miễn

án phí và mức án phí phải nộp trong các vụ án KDTM thường là rất lớn

1.3 Thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện hành

1.3.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh thương mại

1.3.1.1 Khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại

Thủ tục giải quyết vụ án KDTM là thủ tục tố tụng dân sự được áp dụng cho trường hợp xảy ra tranh chấp giữa các bên chủ thể tham gia quan hệ KDTM Mặc

dù quyền khởi kiện vụ án KDTM là quyền của công dân được pháp luật Việt Nam ghi nhận, song theo quy định tại các Điều 186, 187, 192 v.v của BLTTDS, muốn khởi kiện vụ án KDTM phải đáp ứng các điều kiện sau:

Một là, đáp ứng điều kiện về chủ thể khởi kiện vụ án KDTM

Chủ thể khởi kiện trong vụ án KDTM nói riêng và vụ án dân sự nói chung phải có năng lực chủ thể tố tụng dân sự, bao gồm năng lực pháp luật tố tụng dân sự

và năng lực hành vi tố tụng dân sự

Trang 20

Đối với vụ án KDTM, chủ thể khởi kiện chỉ có thể là cá nhân, tổ chức có đăng

ký kinh doanh (trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác) - đó là các cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật

Đương sự trong các tranh chấp KDTM thường là các chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân Vì vậy, cần lưu ý đến người đứng tên trong đơn kiện các vụ án KDTM Người ký đơn khởi kiện trong trường hợp này là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân Riêng đối với công ty hợp danh, các thành viên hợp danh đều

có quyền đại diện theo pháp luật của công ty nhưng Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc là đại diện cho công ty với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn trước Toà án Do đó, Chủ tịch Hội đồng thành viên có quyền kí đơn khởi kiện Đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp là người kí đơn khởi kiện Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân, cũng có thể uỷ quyền cho người khác kí đơn kiện và tham gia tố tụng tại Toà án Ngoài ra, đương sự là công

ty thì đơn kiện phải có dấu của công ty vào cuối đơn Ngoài ra, còn một yêu cầu nữa đối với chủ thể khởi kiện vụ án KDTM đó là khi tham gia quan hệ KDTM đòi hỏi các bên chủ thể của quan hệ đó đều có mục đích lợi nhuận

Hai là, vụ án KDTM được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của

Tòa án

Tòa án chỉ thụ lý vụ án KDTM để giải quyết khi vụ án đúng thẩm quyền xét

xử của mình Do đó, để đơn khởi kiện vụ án KDTM được thụ lý thì yêu cầu đầu tiên pháp luật đặt ra là trong hợp đồng KDTM giữa các bên chủ thể không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài giữa các bên bị vô hiệu Yêu cầu tiếp theo là việc khởi kiện phải đúng thẩm quyền xét xử về dân sự của Tòa án, được thể hiện ở ba

phương diện: Thứ nhất, vụ án KDTM mà chủ thể nộp đơn khởi kiện phải thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại Điều 30 BLTTDS Thứ hai,

vụ án KDTM được khởi kiện phải đúng với cấp Tòa án có thẩm quyền giải quyết

quy định tại Điều 36, Điều 37, Điều 38 BLTTDS Thứ ba, vụ án KDTM được khởi

Trang 21

Nếu Tòa án nhận được đơn khởi kiện là Tòa án do các bên thỏa thuận lựa chọn Tòa

án giải quyết thì ngoài việc gửi đơn khởi kiện còn phải kèm theo văn bản thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết vụ án KDTM giữa các bên

Ba là, việc yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án KDTM phải chưa được giải quyết

bằng một bản án, quyết định của Tòa án; phán quyết của Trọng tài thương mại hay quyết định của cơ quan nhà nước đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật Vì để bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án; phán quyết của Trọng tài thương mại hay quyết định của cơ quan nhà nước thì phải thi hành khi chúng có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy định được khởi kiện lại

Ngoài ra, việc khởi kiện phải được thực hiện bằng đơn khởi kiện gửi cho Tòa

án có thẩm quyền Nội dung đơn khởi kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 189 BLTTDS và mẫu đơn ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) về ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự

1.3.1.2 Thụ lý vụ án kinh doanh thương mại

Thụ lý vụ án KDTM là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện vụ án KDTM của người khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết Cũng như các vụ án dân sự nói chung, theo Điều 191 và Điều 192 BLTTDS, thụ lý vụ án KDTM thuộc trách nhiệm của Tòa án nơi nhận được đơn khởi kiện vụ án KDTM Sau khi nhận được đơn khởi kiện vụ án KDTM của đương sự, Tòa án phải tiến hành các quy trình tố tụng trong thời hạn nhất định bao gồm:

Thứ nhất, Tòa án tiến hành nhận đơn khởi kiện và nghiên cứu trong thời hạn 5

ngày làm việc kể từ khi nhận được đơn để ra một trong các quyết định sau: Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác hoặc trả lại đơn khởi kiện Nếu thấy nội dung đơn khởi kiện không đáp ứng các nội dung cơ bản phải có được quy định tại

Trang 22

họ sửa đổi, bổ sung trong một thời hạn do Tòa án ấn định nhưng không quá một tháng, trong trường hợp đặc biệt Tòa án có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày Sau khi người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định thì Tòa án tiếp tục làm thủ tục thụ lý vụ án Nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện

Thứ hai, Tòa án sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo, nếu

xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết thì Tòa án cần dự tính tiền tạm ứng án phí

và thông báo ngay cho người khởi kiện để họ làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí Về mức đóng án phí sơ thẩm của vụ án KDTM có hai loại: một là, đối với các vụ án KDTM không có giá ngạch mức án phí là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng chẵn); hai

là, đối với các vụ án KDTM có giá ngạch thì có sáu mức án phí theo bảng sau:

án biên lai thu tiền tạm ứng án phí

Thứ ba, khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí,

Trang 23

Tòa án ra quyết định thụ lý vụ án và vào sổ thụ lý vụ án

Quy định về việc thụ lý vụ án có ý nghĩa quan trọng vì nó đặt ra trách nhiệm cho Tòa án phải giải quyết vụ án trong thời hạn luật định Việc thụ lý vụ án còn nhằm bảo vệ kịp thời những quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân

1.3.2 Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại

Chuẩn bị xét xử vụ án KDTM là một giai đoạn độc lập trong thủ tục giải quyết

vụ án KDTM tại Tòa án bao gồm các hoạt động từ sau khi thụ lý như phân công thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; lập hồ sơ vụ án; tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời; ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết

vụ án hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử Có thể thấy, đây là giai đoạn tố tụng rất quan trọng, trong giai đoạn này Tòa án sẽ nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ án để xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đầy đủ nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, thu thập chứng cứ phục vụ cho việc ra một phán quyết, quyết định đúng đắn về vụ án trong phiên tòa sơ thẩm Nhìn chung, giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án KDTM là giai đoạn rất quan trọng, làm tiền

đề, cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo cho việc xét xử và ra các phán quyết của Tòa

án được khách quan, toàn diện và đúng pháp luât

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 203 BLTTDS, thời hạn chuẩn bị xét

xử sơ thẩm vụ án KDTM là 2 (hai) tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thêm 1 (một) tháng [24] Quy định này của pháp luật tố tụng dân sự là không hợp lý bởi lẽ rất nhiều các vụ án KDTM có tính chất phức tạp, số lượng đương sự nhiều, nhiều vụ án không chỉ đơn giản là giải quyết mâu thuẫn giữa các bên đương sự trong quan hệ kinh doanh mà còn phải giải quyết mâu thuẫn về việc

xử lý tài sản thế chấp là các bất động sản, hàng hóa lưu kho Khi đó, các Thẩm phán giải quyết vụ án KDTM cũng phải tiến hành đầy đủ các hoạt động tố tụng như

Trang 24

các vụ án dân sự thông thường khác Vì lẽ đó, việc BLTTDS quy định thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án KDTM ngắn hơn thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án dân sự khác hay các vụ án về hôn nhân và gia đình là hoàn toàn bất hợp lý, khiến cho việc giải quyết các vụ án KDTM trong nhiều trường hợp phải tiến hành gấp gáp, gây áp lực cho các Thẩm phán giải quyết nên dễ dẫn đến nhiều sai sót

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án KDTM, các công việc chuẩn bị xét xử chủ yếu được tiến hành bao gồm:

Thứ nhất, phân công Thẩm phán giải quyết vụ án

Vì Thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng nên trong giai đoạn chuẩn bị xét

xử, sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ

án Việc phân công này là cơ sở để Thẩm phán toàn tâm toàn ý với vụ án đã được giao, đồng thời để Thẩm phán thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 48 BLTTDS, đảm bảo giải quyết vụ án nhanh chóng, khách quan, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 197 BLTTDS thì: “Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công

Thẩm phán giải quyết vụ án bảo đảm nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án Đối với vụ án phức tạp, việc giải quyết

có thể phải kéo dài thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán dự khuyết để bảo đảm xét xử đúng thời hạn theo quy định của Bộ luật này Trong quá trình giải quyết

vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ; trường hợp đang xét xử mà không có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu và Tòa án phải thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp”[24]

Thứ hai, thông báo việc thụ lý vụ án

Sau khi đã tiến hành các công việc thụ lý, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự để họ biết vụ án đã được thụ lý Tòa án cũng phải thông báo cho Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án để VKS thực hiện

Trang 25

chức năng kiểm sát của mình đối với việc giải quyết vụ án của Tòa án

Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS: "Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn,

cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ

án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án

Đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể

từ ngày thụ lý vụ án Nội dung văn bản thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều

hồ sơ vụ án Thủ tục giao nhận chứng cứ tài liệu được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 96 BLTTDS Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án phải sắp xếp theo thứ tự nhất định để thuận tiện cho việc nghiên cứu, sử dụng và phải có danh mục ghi lại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án

Trong tố tụng dân sự, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Tòa án có trách nhiệm xem xét mọi tình tiết của vụ án, căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết yêu cầu của đương sự

Trang 26

Thứ tư, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và

công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Theo Điều 10 BLTTDS quy định: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải

và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS”[24] và khoản 1 Điều 205 BLTTDS quy

định: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để

các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều

207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn”[24] Như

vậy, hòa giải trong giải quyết vu án KDTM là một thủ tục bắt buộc trừ những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội (Khoản 2 Điều 206 BLTTDS) Nếu vụ án KDTM thuộc trường hợp phải tiến hành hòa giải song đã được Tòa án giải quyết bằng một bản án, quyết định mà không có thủ tục hòa giải thì đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và bản án, quyết định

đó có thể bị hủy

Trước khi tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp ( Điều 208 BLTTDS) Thành phần tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được quy định tại Điều 209 BLTTDS bao gồm: Thẩm phán chủ trì phiên họp; Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp; Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); Người phiên dịch (nếu có) Trình tự tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai

Trang 27

chứng cứ và hòa giải được quy định tại Điều 210 BLTTDS

Việc quy định bắt buộc phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong giải quyết vụ án KDTM tại Tòa án là xuất phát từ nguyên tắc chung được quy định tại Điều 5 BLTTDS về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, trong đó quy định các đương sự có quyền thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên trong quá trình giải quyết vụ án KDTM, trước khi đưa vụ án ra xét xử Toà án phải tiến hành hoà giải để các đương sự tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án

Trong quá trình tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án KDTM, ngoài việc là người đứng ra chủ trì pháp lý, Thẩm phán còn có vai trò như một nhà phân tích tâm lý học am hiểu về tâm lý con người Ngoài việc phân tích những khía cạnh thuận lợi nếu hòa giải thành như: giảm 50% án phí, không phải đưa vụ án ra xét xử sẽ giảm được chi phí và thời gian tham gia tố tụng, duy trì được mối quan hệ đoàn kết, hợp tác kinh doanh, thuận lợi về thi hành án, Thẩm phán cũng cần xoa dịu sự bất đồng giữa các bên đương sự bằng việc

đề cập đến vấn đề tình hình kinh tế trong nước và thế giới gặp nhiều khó khăn, diễn biến bất lợi của thị trường tài chính, thị trường bất động sản, giá cả một số mặt hàng tăng đã tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nên vấn đề thanh toán không đúng cam kết như trong hợp đồng hay việc thực hiện không đúng tiến độ của hợp đồng là việc khó tránh khỏi Từ đó, các bên đương sự hiểu và có sự thông cảm, chia sẻ hơn với nhau nên hòa giải thành và Tòa án không phải đưa vụ án ra xét xử

Việc hòa giải thành có ý nghĩa về nhiều mặt, vì nó không những góp phần bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự đang có tranh chấp, của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tranh chấp mà còn bảo đảm cả lợi ích của Nhà nước và của xã hội Bên cạnh đó, Hòa giải thành có tác dụng làm cho các bên tranh chấp tự nguyện, tự giác thi hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của

họ, tránh việc phải sử dụng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước trong quá trình thi hành án Đồng thời, vụ việc tranh chấp cũng không phải xử đi xử lại nhiều

Trang 28

lần, giảm bớt tốn kém về nhiều mặt của các bên đương sự cũng như của Nhà nước Được coi là hòa giải thành khi các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về toàn

bộ các vấn đề phải giải quyết trong vụ án

Thứ năm, các quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Đối tượng của vụ án mà các đương sự hướng tới trong đa số các vụ án KDTM

là tài sản nên để tránh việc đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc nhằm đảm bảo cho thi hành án dân sự, khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án thường áp dụng các BPKCTT như: Kê biên tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng cho thấy các BPKCTT ít khi được Thẩm phán áp dụng Điều đó cho thấy các quy định về việc áp dụng các BPKCTT trong BLTTDS chưa thực sự mang tính khả thi Ngoài nguyên nhân do các đương sự không yêu cầu, yêu cầu không đúng, không chính xác hoặc không có tài sản bảo đảm thì việc BLTTDS quy định nếu Thẩm phán (HĐXX) áp dụng các BPKCTT sai, gây thiệt hại có thể phải bồi thường thiệt hại nên các Thẩm phán e ngại khi áp dụng

- Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Trong trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về toàn bộ các vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải

ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự (Khoản 1 Điều 212 BLTTDS) [24] Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (Khoản 1 Điều 213 BLTTDS) Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Khoản 2 Điều 213 BLTTDS)[24]

Trang 29

- Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án là việc Tòa án tạm ngừng việc giải quyết vụ án khi có những căn cứ do pháp luật quy định Đặc điểm của quyết định này là cơ quan tiến hành tố tụng chỉ tạm thời cho ngừng việc giải quyết vụ án chứ không phải ngừng hẳn việc giải quyết vụ án Tính chất gián đoạn tạm thời này sẽ được khắc phục, mọi hoạt động tố tụng sẽ được khôi phục khi nguyên nhân của việc tạm đình chỉ không còn nữa Mục đích của việc ra Quyết định này là đảm bảo giải quyết vụ

án không bị vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử

Căn cứ để Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án KDTM theo Điều khoản 1 Điều 214 BLTTDS gồm:

- Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;

- Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;

- Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế;

- Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được

vụ án;

- Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;

- Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của

cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ;

- Theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản;

Trang 30

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 214 BLTTDS, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa

án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp

- Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

Đình chỉ giải quyết vụ án là việc Tòa án quyết định ngừng việc giải quyết vụ

án khi có những căn cứ do pháp luật quy định Đặc điểm của quyết định này là sau khi ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, các hoạt động tố tụng giải quyết vụ án KDTM sẽ ngừng lại

Các căn cứ để Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án KDTM theo Điều 217 BLTTDS gồm:

- Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;

- Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;

- Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;

- Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;

- Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này

Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản

Trang 31

án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;

- Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý;

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật

- Quyết định đưa vụ án ra xét xử:

Vụ án sau khi tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo quy định của pháp luật, nếu các đương sự trong vụ án không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án mà hồ sơ vụ án đã thu thập được đầy đủ tài liệu chứng cứ và vụ án không thuộc trường hợp phải tạm đình chỉ hay đình chỉ giải quyết thì Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Quyết định đưa

vụ án ra xét xử đánh dấu kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử chuyển sang giai đoạn xét xử tại phiên tòa Do đó, việc ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phải trong thời hạn chuẩn bị xét xử Nếu quá thời hạn chuẩn bị xét xử mới ra quyết định đưa vụ án

ra xét xử có nghĩa là đã vi phạm tố tụng Việc ra quyết định đưa vụ án ra xét xử có nghĩa là các chứng cứ đã thu thập đầy đủ và Tòa án đã ấn định được ngày mở phiên tòa giải quyết vụ án KDTM

Quyết định đưa vụ án ra xét xử có các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 220 BLTTDS Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, VKS cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định Trường hợp VKS tham gia phiên tòa theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 BLTTDS thì Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án

1.3.3 Phiên tòa sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại

1.3.3.1 Những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm

Những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Chương XIV

và một số chương khác của BLTTDS bao gồm các quy định về các vấn đề cơ bản có

ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các thủ tục buộc phải có khi tiến hành phiên tòa

sơ thẩm như: Nguyên tắc tiến hành phiên tòa sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử

Trang 32

(HĐXX), những người tham gia phiên tòa sơ thẩm và hoãn phiên tòa sơ thẩm

- Về nguyên tắc tiến hành phiên tòa sơ thẩm:

Để giải quyết đúng được các vụ án KDTM, việc tiến hành phiên tòa sơ thẩm phải được thực hiện một cách chu đáo, nghiêm túc, phải tuân thủ đầy đủ những nguyên tắc của tố tụng dân sự quy định tại các điều từ Điều 3 đến Điều 25 của BLTTDS Ngoài ra, vì sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa là rất quan trọng cho nên Phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại phiên tòa trong trường hợp phải hoãn phiên tòa (Điều 222 BLTTDS) Từ đó, bảo đảm cho các đương sự tham gia phiên tòa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Ngoài những yêu cầu trên, BLTTDS còn quy định phiên tòa KDTM sơ thẩm phải được tiến hành theo phương thức xét xử trực tiếp, bằng lời nói (Điều 225 BLTTDS) Điều này là cần thiết nhằm giúp cho Tòa án thẩm định và xác minh được đầy đủ, chính xác các tài liệu, chứng cứ của vụ án và đánh giá chứng cứ một cách toàn diện Việc xét xử phải được tiến hành tại phòng xử án

- Về thành phần Hội đồng xét xử:

Theo quy định tại Điều 63 BLTTDS, thành phần HĐXX sơ thẩm vụ án KDTM gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của BLTTDS Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân

Đối với vụ án có đương sự là người chưa thành niên thì phải có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc đang công tác tại Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em

Trong quá trình xét xử, nếu có một thành viên nào của HĐXX vì lý do đặc biệt không thể tham gia xét xử vụ án nữa thì việc thay thế thành viên đó được thực hiện theo quy định tại Điều 226 BLTTDS

- Về những người tham gia phiên tòa sơ thẩm:

Trang 33

Những người tham gia phiên tòa sơ thẩm được quy định từ Điều 227 đến Điều

232 của BLTTDS Theo đó, tất cả những người tham gia tố tụng phải được triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm Đối với VKS, theo quy định tại Điều 21 BLTTDS thì

"Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa

sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành

vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này” Quy định này là

hoàn toàn hợp lý nhằm đảm bảo cho VKS hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình khi kiểm tra, giám sát hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án do hoạt động này có thể sai sót, thiếu minh bạch hoặc vi phạm thủ tục tố tụng mà cơ sở của hành

vi này là một bên đương sự không có khả năng thu thập chứng cứ và yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ

- Về hoãn phiên tòa:

Việc hoãn phiên tòa được quy định tại Điều 233 BLTTDS Phiên tòa sơ thẩm dân sự giải quyết vụ án KDTM có thể bị hoãn khi phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, người làm chứng hoặc do sự vắng mặt của các bên đương sự, những người tham gia

tố tụng khác hoặc các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều

62, khoản 2 Điều 84, Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 230, khoản 2 Điều

231 và Điều 241 của BLTTDS Thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không quá 01 tháng

Việc hoãn phiên tòa do HĐXX quyết định Quyết định hoãn phiên tòa phải được lập thành văn bản Trong quyết định hoãn phiên tòa phải nêu đầy đủ các nội dung theo quy định tại Khoản 2 Điều 233 BLTTDS

Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX ký tên

và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết; đối với người vắng

Trang 34

Quy định này có tác dụng tránh việc hoãn phiên tòa tùy tiện, không đúng các căn cứ

do pháp luật quy định

1.3.3.2 Thủ tục bắt đầu phiên tòa

Thủ tục bắt đầu phiên tòa được quy định từ Điều 239 đến Điều 246 BLTTDS, bao gồm các thủ tục sau:

Thứ nhất, thủ tục khai mạc phiên tòa

Khai mạc phiên tòa là thủ tục bắt buộc phải thực hiện trước khi HĐXX tiến hành xét xử Thủ tục này bao gồm các công việc sau: Khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử; Thư ký phiên tòa báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt; Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự, người tham gia tố tụng khác; Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ của đương sự và của người tham gia tố tụng khác; Chủ toạ phiên tòa giới thiệu họ,

tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; Chủ tọa

phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người

giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai không; Yêu cầu người làm chứng cam kết khai báo đúng sự thật, nếu khai không đúng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên; Yêu cầu người giám định, người phiên dịch cam kết cung cấp kết quả giám định chính xác, phiên dịch đúng nội dung cần phiên dịch

Thứ hai, giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định,

người phiên dịch

Theo quy định tại Điều 240 BLTTDS thì “Trường hợp có người yêu cầu thay

đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do”[24]

Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch

Trang 35

phải được HĐXX thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải lập thành văn bản Trong trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch mà không có người thay thế ngay thì HĐXX ra quyết định hoãn phiên tòa

Thứ ba, xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt

Điều 241 BLTTDS quy định khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án phải hoãn phiên tòa thì chủ toạ phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý

do Quyết định hoãn phiên tòa phải được HĐXX thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng xử án và phải được lập thành văn bản

Thứ tư, bảo đảm tính khách quan của người làm chứng

Người làm chứng biết các tình tiết có liên quan đến vụ án, được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng để làm rõ các tình tiết của vụ án KDTM Những thông tin mà người làm chứng khai báo, cung cấp cho Tòa án rất có giá trị cho Tòa án giải quyết

vụ án Vì vậy, để đảm bảo tính khách quan trong việc tham gia tố tụng của người làm chứng, Điều 242 BLTTDS quy định các biện pháp để đảm bảo tính khách quan trong lời khai của người làm chứng như: không để cho những người làm chứng nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan; trường hợp lời khai của đương sự và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ tọa phiên tòa có thể quyết định cách ly đương sự với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng

Thứ năm, hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu

Pháp luật quy định tại phiên Tòa các đương sự vẫn có quyền thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập Điều 243 BLTTDS quy định chủ toạ phiên tòa hỏi đương sự về các vấn đề sau đây:

Trang 36

- Hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay không;

- Hỏi bị đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố hay không;

- Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thay đổi,

bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập hay không

Tuy nhiên, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự được chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút

Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn

Thứ sáu, công nhận sự thoả thuận của các đương sự

Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng dân sự được Nhà nước khuyến khích Vì vậy, Điều 246 BLTTDS quy định trước khi xét xử vụ án chủ tọa phiên tòa hỏi xem đến thời điểm này các đương

sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án phải được lập thành

Trang 37

1.3.3.3 Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa

Xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, quyết định nhất bởi tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, các đương sự công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Ở phiên tòa, HĐXX không chỉ dựa vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà phải xác định lại chúng đồng thời làm rõ thêm những tình tiết bằng cách nghe ý kiến trình bày của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác, xem xét các tài liệu, vật chứng Chỉ sau khi nghe ý kiến của những người tham gia tố tụng và kiểm tra, đánh giá đầy đủ các chứng cứ tại phiên tòa, HĐXX mới nghị án để ra các quyết định về việc giải quyết vụ án

Tại phiên Tòa có đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của họ và các bên đương

sự trong vụ án cũng không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp thì HĐXX bắt đầu xét xử vụ án bằng việc nghe các bên đương sự trình bày về các yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ tranh chấp HĐXX phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án cũng như tất cả các tài liệu, chứng cứ của vụ án

do các bên đương sự cung cấp, giao nộp Điều 247 BLTTDS quy định về nội dung

và phương thức tranh tụng tại phiên tòa, cụ thể:

- Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân

sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án

- Việc tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa

- Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những ý kiến không có liên quan đến vụ án dân sự

* Về phần trình bày của đương sự

Điều 248 BLTTDS quy định trình tự các bên đương sự hoặc người bảo vệ

Trang 38

quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được trình bày yêu cầu tại phiên tòa

Tại phiên tòa, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cùng song hành tham gia tố tụng, cả hai người đều có quyền bổ sung chứng cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 96 của BLTTDS để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình (Điều 248 BLTTDS) Những quy định này cho thấy chủ trương đổi mới hoạt động tư pháp của Đảng và Nhà nước đã được thể chế hóa Đó là kết quả của việc

mở rộng quyền dân chủ trong hoạt động tư pháp và vai trò của đương sự, của những người tham gia tố tụng khác trong việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án, thực hiện nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

* Về thứ tự và nguyên tắc hỏi tại phiên tòa

Sau khi Hội đồng xét xử nghe xong lời trình bày của các bên đương sự, việc hỏi từng người về từng vấn đề của vụ án được tiến hành ngay Theo quy định tại Điều 249 BLTTDS, các chủ thể có quyền tham gia vào quá trình hỏi tại phiên tòa gồm có: Các thành viên HĐXX, kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác Trình tự hỏi từng người về từng vấn đề của vụ án được tiến hành theo thứ tự Nguyên đơn, người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hỏi trước, tiếp đến bị đơn, người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, sau đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Những người tham gia tố tụng khác; Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân; Kiểm sát viên tham gia phiên tòa Việc đặt câu hỏi được thực hiện theo nguyên tắc câu hỏi đặt ra phải rõ ràng, nghiêm túc, không trùng lắp, không lợi dụng việc hỏi và trả lời để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của những người tham gia tố tụng

Việc hỏi được tiến hành riêng cho từng người, xong người này mới đến người khác (các Điều 250, 251, 252 và 253 BLTTDS) Các câu hỏi đã đặt ra phải liên quan đến vụ án và về những vấn đề đương sự, người bảo vệ của đương sự trình bày chưa rõ Đương sự được hỏi có thể tự trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trả lời thay, sau đó đương sự bổ sung Mục đích của việc hỏi tại

Trang 39

phiên tòa nhằm tìm ra tính chính xác, khách quan, tính hợp pháp của vụ án để từ đó HĐXX ra một phán quyết đúng đắn đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của

các đương sự

Trong quá trình diễn ra việc hỏi tại phiên tòa, vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét như quy định tại Điều 256 BLTTDS Việc xem xét các vật chứng, ảnh có liên quan đến vụ án sẽ giúp cho HĐXX xem xét các chứng cứ một cách đầy đủ, khách quan và cũng là giúp cho các đương sự thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh cùng với việc thực hiện quyền bảo vệ của mình trên cơ sở các chứng cứ được đưa ra trình trước Tòa án Để bảo đảm cho việc xem xét chứng cứ một cách đầy đủ, toàn diện và phán quyết của Tòa án là có căn cứ thì khi cần thiết HĐXX có thể cùng với các đương sự đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể mang đến phiên tòa được Theo yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng nếu thấy cần thiết, HĐXX sẽ cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình ngay tại phiên tòa, trừ trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu của đương sự

Sau khi đã thực hiện đầy đủ các hoạt động nghiệp vụ trong thủ tục hỏi ở phiên Tòa, HĐXX nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ tọa phiên tòa hỏi kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem họ có yêu cầu hỏi vấn đề gì nữa không Trường hợp có người yêu cầu và Tòa án xét thấy yêu cầu đó là có căn

cứ thì chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục cho họ đặt câu hỏi về những vấn đề mà

họ chưa rõ liên quan đến vụ án Nếu không có ai nêu ra vấn đề gì nữa thì chủ tọa phiên Tòa kết thúc việc hỏi

Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền quyết định tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ sau đây:

- Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan

Trang 40

khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng;

- Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng mặt;

- Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa;

- Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định lại;

- Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để họ tự hòa giải;

- Cần phải báo cáo Chánh án Tòa án để đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này

Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa Thời hạn tạm ngừng phiên tòa là không quá 01 tháng, kể từ ngày Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa Hết thời hạn này, nếu lý do để ngừng phiên tòa không còn thì Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên tòa; nếu lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Hội đồng xét xử phải thông báo bằng văn bản cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian tiếp tục phiên tòa

* Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm là hoạt động trung tâm của phiên tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án

Do đó, BLTTDS đã quy định mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ đạo của đương sự trong việc tranh luận tại phiên tòa BLTTDS quy định về hoạt động tranh luận tại phiên tòa tại Điều 260 Điều đó thể hiện tầm quan trọng của hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và xu hướng đổi

Ngày đăng: 24/04/2020, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w