1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng toà án từ thực tiễn toà án nhân dân huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc

92 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng từ thực tiễn xét xử ở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc để

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG TOÀ ÁN TỪ THỰC TIỄN TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH

TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

NGUYỄN THỊ HẢI CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 8380107

Người hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn có cơ sở rõ ràng, đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Ngày 17 tháng 9 năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi xin phép được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh - Người đã cho tôi những lời khuyên hữu ích cùng với sự hướng dẫn tận tình để tôi có thể hoàn thành được luận văn thạc sỹ của mình

Xin cảm ơn các thầy, cô giáo dưới mái trường Viện Đại học mở Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức pháp luật quý báu giúp tôi có thể hoàn thành chương trình đào tạo Cao học và hỗ trợ sự nghiệp cho tôi sau này

Hà Nội, ngày 17 tháng 9 năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Hải

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự BLDS : Bộ luật dân sự

HĐTD : Hợp đồng tín dụng TAND : Tòa án nhân dân TCTD : Tổ chức tín dụng KDTM : Kinh doanh thương mại XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG TOÀ ÁN 8

1.1 Những vấn đề chung về tranh chấp kinh doanh thương mại và tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng 8

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại 8

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp hợp đồng tín dụng 9

1.1.3 Các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng 15

1.1.4 Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng 17

1.2 Khái quát pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng toà án 22

1.2.1 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại toà án 22

1.2.2 Vai trò của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại tòa án 25

Tiểu kết chương 1 26

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TOÀ ÁN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC 27

2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Toà án 27

2.1.1 Những nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Toà án 27

2.1.2 Thẩm quyền của Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng 29

2.1.3 Chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng 33

2.1.4 Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng 35

Trang 7

2.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án nhân dân

huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 402.2.1 Tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 412.2.2 Đánh giá về công tác xét xử các vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc và thực tiễn áp dụng pháp luật

về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng 522.2.3 Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường 60

Tiểu kết Chương 2: 62 Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TOÀ ÁN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI TẠI TOÀ

ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC 64

3.1 Định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án 643.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án 663.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng của Tòa án nhân dân cấp huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 76Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nên các giao dịch kinh doanh thương mại trong xã hội diễn ra hàng ngày rất đa dạng, phong phú

Tranh chấp hợp đồng tín dụng là một trong các dạng tranh chấp phổ biến hiện nay được giải quyết chủ yếu tại Tòa án nhân dân các cấp Nhất là kể từ ngày thẩm quyền các vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng tín dụng được giao cho Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gọi chung

là TAND cấp huyện giải quyết Trong thực tiễn, để bảo đảm an toàn về mặt pháp lý, các bên trong giao dịch chọn hình thức giao dịch thông qua hợp đồng, là cơ sở pháp

lý để bảo vệ quyền lợi của các bên khi có tranh chấp Trong thực tiễn, có thể thấy quan hệ kinh doanh có nhiều vấn đề phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro nên rất dễ dẫn đến tranh chấp của các bên trong kinh doanh Khi lợi ích giữa các bên không đạt được, không thể cùng nhau thoả thuận thì thông thường bên bị ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp sẽ làm thủ tục khởi kiện ra Toà án để được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Toà án có vai trò rất quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ gìn trật

tự an toàn xã hội và đặc biệt là góp phần đưa đất nước phát triển đi lên như mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta đề ra Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện nay các hoạt động kinh doanh diễn ra ngày càng nhiều, trên phạm vi rộng, gây khó khăn cho việc giải quyết các loại tranh chấp này ở Tòa án Trước tình hình đó cần phải hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng và nâng cao vai trò của Tòa án trong việc giải quyết loại tranh chấp này

Trong quá trình tiến hành hoạt động thương mại, các bên tham gia (chủ yếu

là các Thương nhân - tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh) khó tránh

Trang 9

2

khỏi những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể Khi có tranh chấp xảy ra, để đảm bảo quyền lợi của mình các bên đều muốn giải quyết tranh chấp nhanh chóng, thuận lợi, có hiệu quả và không ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của mình Do đó, việc nghiên cứu về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Toà án

cả góc độ lý luận và thực tiễn để có một nhận thức toàn diện về cơ chế giải quyết loại tranh chấp này tại Tòa án là rất cần thiết

Tỉnh Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh Miền núi phía Bắc có điều kiện giao thông thuận lợi, là cầu nối giữa thành phố Hà Nội với các tỉnh phía Bắc với sự đầu

tư phát triển khu công nghiệp ngày càng lớn mạnh nên hoạt động kinh doanh thương mại phát triển nhanh, các doanh nghiệp muốn hoạt động phải có nhu cầu lớn

về vốn do đó hoạt động tín dụng ngày càng phát triển, kéo theo đó là các tranh chấp hợp đồng tín dụng diễn ra ngày càng phức tạp Nghiên cứu các quy định pháp luật

về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng từ thực tiễn xét xử ở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc để có cái nhìn tổng thể về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng nơi đây, đồng thời thấy được những hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật cũng như những bất cập của quá trình áp dụng pháp luật ở lĩnh vực này, để từ đó có thể đề ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và đất nước ta nói chung

Từ những lý do trên, tác giả đã chọn: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng Toà án từ thực tiễn Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài cho Luận văn

Thạc sỹ chuyên ngành Luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nghiên cứu ở những góc

độ khác nhau Các công trình nghiên cứu đã góp phần tạo cơ sở lý luận và thực tiễn

Trang 10

tranh chấp thương mại của trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb năm

2012; và một số luận văn như: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng

con đường Toà án từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam của tác giả Đỗ Thị Hương - Học

viện khoa học xã hội năm 2014; Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh

thương mại của Toà án nhân dân theo quy định của BLTTDS năm 2004 của tác giả

Lê Hồng Phước - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012; Pháp luật về giải

quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo thủ tục tố tụng Toà án ở Việt Nam

hiện nay của tác giả Đinh Thị Trang - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm

2013…

Bên cạnh đó phải kể đến một số bài viết trên tạp chí như: Hoàn thiện quy

định thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án của tác

giả Nguyễn Duy Phương, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 1 năm 2015; Những

vướng mắc khi giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án của tác giả

Vũ Gia Trường, Tạp chí Luật sư Việt Nam số 3 năm 2016; Một số lưu ý khi giải

quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định của BLDS năm 2015 của tác

giả Nguyễn Xuân Bình - Lê Thị Xuân, Tạp chí Toà án số 06 năm 2018

Riêng đối với vấn đề pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng cũng đã có một số công trình nghiên cứu như một số

Luận văn thạc sỹ: Thực tiễn giải quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng tại Toà án

nhân dân thành phố Hà Nội của tác giả Hồ Thị Khuyên - Trường Đại học quốc gia

Hà Nội năm 2016; Phát luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín

dụng bằng con đường Tòa án ở Việt Nam” của tác giả Trần Thị Thùy Trang -

Trường Đại học quốc gia Hà Nội năm 2014; Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín

dụng qua thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ của tác giả Trần Anh

Trang 11

4

Tuấn - Học viện khoa học xã hội năm 2016; Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp

đồng tín dụng tại Toà án cấp sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam của tác giả Phạm

Như Bình - Trường Đại học Huế năm 2017…

Tuy nhiên, việc nghiên cứu đề tài pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng luôn có tính thời sự, bởi lẽ các qui định pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn

Do đó cần có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng từ thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh ở Vĩnh Phúc và từ đó đưa ra các giải pháp

cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Việt Nam là một đề tài cấp thiết và có tính ứng dụng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung của các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung và tranh chấp Hợp đồng tín dụng nói riêng, liên hệ thực tiễn từ việc xét xử các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Từ đó, phân tích nguyên nhân, đánh giá thực trạng nhằm đề ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại pháp sinh từ hợp đồng tín dụng, nâng cao hiệu quả xét xử tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thứ nhất: Tìm hiểu và phân tích các khái niệm, đặc điểm của pháp luật giải

quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng Làm rõ những vấn đề lý luận của các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng, từ đó rút ra ý nghĩa của việc giải quyết hiệu quả những tranh chấp đó

- Thứ hai: Phân tích các quy định pháp luật của Việt Nam về giải quyết tranh

chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng, đánh giá hiệu quả của

Trang 12

5

những quy định này từ thực tiễn xét xử tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

- Thư ba: Đưa ra giải pháp để xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về

giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật của Việt Nam về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng và thực tiễn giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng trong nước bằng Toà án Luận văn không nghiên cứu pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng theo quy định của Luật quốc tế Liên hệ thực tiễn xét xử từ tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

Về thời gian: Số liệu khảo sát thực tiễn kết quả giải quyết tranh chấp tại Toà

án nhân dân huyện Vĩnh Tường trong thời gian từ năm 2015 đến 6 tháng đầu năm

2018

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng của Chủ

nghĩa Mác - Lênin và trên quan điểm, định hướng của Đảng cũng như các chính

sách của Nhà nước trong việc thực hiện những quy định của pháp luật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

6

Bên cạnh phương pháp luận, tác giả cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh các quy phạm pháp luật, các vụ việc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Toà án

Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng chủ yếu trong chương một Qua việc thu thập các tài liệu, tác giả tiến hành so sánh, tổng hợp các quan điểm, ý kiến khác nhau để hệ thống hoá các vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

Phương pháp phân tích, thống kê được tác giả sử dụng chủ yếu ở chương hai của luận văn để đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

Phương pháp diễn giải, quy nạp được tác giả sử dụng trong chương ba để đưa ra các yêu cầu, phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng, nâng cao hiệu quả xét xử, thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số vụ án trên thực tế phát sinh để phân tích, bình luận dưới góc độ khoa học

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả của luận văn góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về Hợp đồng tín dụng theo những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành trong thời kỳ hội nhập kinh tế đất nước

6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Luận văn làm sáng tỏ một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường Đồng thời Luận văn cũng phân tích các nguyên nhân tranh

Trang 14

7

chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các doanh nghiệp hiện nay và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng tại Tòa án nói chung và Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng

Ngoài ra, Luận văn còn có thể được sử dụng phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học Đặc biệt, Luận văn có thể được coi là một tài liệu đối với những Thẩm phán, cán bộ Toà án nói riêng và ngành tư pháp nói chung đang trực tiếp xét xử và giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng tín dụng bằng Toà án đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ

án nói riêng của Tòa án Trong giai đoạn hiện nay, với mâu thuẫn giữa các bên đối tác diễn ngày càng nhiều trong lĩnh vực tín dụng Việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử sẽ góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ lợi ích của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội và góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh

doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng Toà án

Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp kinh

doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng Toà án ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh

doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Tòa án và nâng cao hiệu quả thực thi tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 15

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại

1.1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại

Tranh chấp kinh doanh thương mại là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới Khái niệm này mới được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nước ta trong mấy năm gần đây cùng với sự nhường bước của khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp đã ăn sâu trong tiềm thức và tư duy pháp lý của người Việt Nam [33, tr 217] Hệ thống pháp luật Việt Nam đã từng tồn tại những khái niệm khác nhau để biểu đạt lĩnh vực tranh chấp này

Hiểu theo nghĩa thông thường, tranh chấp được hiểu là "sự giành nhau một

cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào, là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là bất đồng về quyền lợi giữa hai bên" [14, tr 973]

Dưới góc độ pháp lý: Tranh chấp được hiểu là những xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật

Tại Điều 238 Luật thương mại năm 1997 quy định “Tranh chấp thương mại

là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”

Đến Luật thương mại năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005

định nghĩa “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm

mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” [20, Đ3], nhưng không đưa ra khái niệm về tranh

chấp kinh doanh thương mại Tuy nhiên lại đưa ra các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại

Trang 16

9

Mặc dù không xây dựng được một khái niệm chuẩn mực về tranh chấp kinh doanh thương mại nhưng Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 cũng đã liệt kê các tranh chấp được coi là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

“Tranh chấp kinh doanh, thương mại là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh

doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” [18, Đ30]

Từ những phân tích nêu trên, có thể định nghĩa tranh chấp kinh doanh

thương mại như sau: “Tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn, bất

đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thế phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh thương mạị”

1.1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại

Thứ nhất: Khách thể của quan hệ tranh chấp kinh doanh, thương mại là

những mâu thuẫn (bất đồng) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan

hệ phát sinh từ chính hoạt động kinh doanh thương mại

Thứ hai: Chủ thể trong tranh chấp kinh doanh, thương mại chủ yếu là các

Thương nhân Căn cứ khoản 1 Điều 6 Luật thương mại năm 2005 quy định

“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt

động thương mại một cách độc lập và có đăng ký kinh doanh”

Thứ ba: Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là do các bên

trong tranh chấp tự định đoạt Điều này thể hiện ở việc các bên trong tranh chấp có nhiều hơn một cách để giải quyết tranh chấp như: hòa giải, thương lượng, trọng tài, tòa án Việc chọn phương pháp giải quyết tranh chấp nào là quyền của các bên nhưng vẫn trên cơ sở tôn trọng lợi ích của nhau và lợi ích của Nhà nước

Thứ tư: Tranh chấp kinh doanh thương mại là tranh chấp mang yếu tố vật

chất và có giá trị lớn Các tranh chấp này đều chủ yếu là tranh chấp về những lợi ích vật chất có ảnh hưởng lớn và liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp hợp đồng tín dụng

1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng

Trang 17

10

Hợp đồng tín dụng là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản đã được quy định trong BLDS 2015 Tuy nhiên, chỉ gọi là HĐTD trong trường hợp bên cho vay

là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng Theo quy định tại điều

463 BLDS năm 2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó

bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu

có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định” Hợp đồng tín dụng về bản chất là hợp

đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền

để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Còn những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá được gọi chung là hợp đồng cấp tín dụng

Có thể hiểu “Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện luật định (bên vay), theo

đó TCTD chuyển giao một số tiền cho bên vay sử dụng vào mục đích và trong một thời hạn được xác định, khi đến hạn, bên vay phải trả cả gốc và lãi được xác định theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận”.[26, tr2]

Như vậy, hợp đồng tín dụng ngân hàng là văn bản phản ánh thỏa thuận trực tiếp của tổ chức tín dụng và khách hàng trong việc xác lập một quan hệ cho vay, xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các bên đó trong việc vay và hoàn trả vốn vay

Với định nghĩa này, có thể thấy ngoài những dấu hiệu chung của hợp đồng, hợp đồng tín dụng còn có một số đặc điểm đặc trưng sau đây để phân biệt với các loại hợp đồng khác trong giao dịch dân sự và thương mại:

Về chủ thể: một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có

đủ điều kiện luật định, với tư cách là bên cho vay Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân thỏa mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định

Về đối tượng: đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là một khoản

vốn được thể hiện dưới hình thức là tiền tệ Về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng

Trang 18

11

tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng

Về tính rủi ro: hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho

quyền lợi của bên cho vay Lý do là vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cũng thường xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa số các loại hợp đồng khác

Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: trong hợp đồng tín dụng, nghĩa vụ

chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay, khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình (bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn cả gốc và lãi…)

1.1.2.2 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng

Có thể hiểu tranh chấp HĐTD là những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên vay (khách hàng) Đó là những tranh chấp về lãi suất, nợ gốc, nợ lãi, việc giải ngân,

xử lý tài sản đảm bảo, thế chấp… [13, tr6]

Vì tranh chấp HĐTD cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nói chung, do đó

có đầy đủ những đặc điểm vốn có của một tranh chấp hợp đồng Tuy nhiên, với bản chất đặc thù của HĐTD, tranh chấp HĐTD mang một số đặc trưng riêng biệt để có thể phân biệt với các loại tranh chấp hợp đồng khác Có thể nhận thấy đặc điểm của tranh chấp hợp đồng tín dụng như sau:

Thứ nhất, giá trị của tranh chấp HĐTD thường có giá trị lớn hoặc thậm chí là

rất lớn Khi kí kết HĐTD thì thường là do bên đi vay có nhu cầu về vốn mà không thể tự mình xoay xở được Nhu cầu đó thường là để bổ sung vốn kinh doanh đối với

tổ chức hoặc vay để phát triển kinh tế đối với cá nhân, hộ gia đình Do đó, số tiền

Trang 19

12

này không phải là nhỏ và dễ dàng vay được từ các tổ chức, cá nhân ngoài xã hội mà không phải là ngân hàng Về phía bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng, bên cạnh vai trò là chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế thì các TCTD còn đóng vai trò là người đi vay của các chủ thể khác để cho vay lại Để đạt được lợi nhuận cao, các TCTD thường kí kết các HĐTD có giá trị lớn dựa vào việc định giá tài sản đảm bảo tại thời điểm cho vay Do bên vay vốn dùng khoản vay này phần lớn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nếu bên vay không tuân thủ các cam kết trong hợp đồng, không trả nợ cho các TCTD sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của TCTD đó Thực tế không hiếm các trường hợp các TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả do “nợ xấu’ Một khi khách hàng vay không thể thanh toán được nợ, tranh chấp xảy ra thì TCTD sẽ là chủ thể bị thiệt hại lớn vì nguồn vốn bị ứ đọng, phải thực hiện các biện pháp khắc phục, mục đích lợi nhuận ban đầu không còn hoặc bị gián đoạn Đặc biệt, nếu tranh chấp HĐTD phải khởi kiện tại Tòa án thì càng gây khó khăn cho TCTD khi muốn thu hồi vốn Bởi khi đã

bị khởi kiện tại Tòa án thì thường là người đi vay không còn có khả năng trả nợ cho TCTD Mặt khác, khi tranh chấp HĐTD xảy ra thì TCTD sẽ mất lòng tin với khách hàng vay vốn, các HĐTD tiếp theo sẽ khó mà thực hiện, kể cả khi bên đi vay chứng minh lại được khả năng tài chính của mình Do đó, có thể nói tranh chấp HĐTD là loại tranh chấp có giá trị thiệt hại lớn, không chỉ ảnh hưởng đến bên cho vay mà còn

cả đối với bên đi vay Thậm chí nếu tranh chấp xảy ra nhiều thì ảnh hưởng đó không chỉ ảnh hưởng đến một TCTD mà có thể ảnh hưởng dây chuyền đến các TCTD khác trong nền kinh tế

Thứ hai, tranh chấp HĐTD được giải quyết dựa trên nguyên tắc tự do thỏa

thuận trong khuôn khổ pháp luật của các bên tham gia tranh chấp Pháp luật Việt Nam tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, cụ thể, Bộ Luật dân sự 2015 ghi nhận:

“cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên và phải được

cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng” HĐTD về bản chất là hợp đồng dân

sự mà quan hệ dân sự là quan hệ mang tính thỏa thuận, tự định đoạt giữa các bên

Do đó, kể cả đối với việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ

Trang 20

13

HĐTD thì các bên cũng có quyền thỏa thuận để đạt được hiệu quả tối ưu nhất trong trường hợp có tranh chấp xảy ra Việc tôn trọng quyền định đoạt này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì quan hệ dân sự giữa các bên mang tính bình đẳng, không phải là mối quan hệ mệnh lệnh - phục tùng như các quan hệ hành chính Nhà nước khác Khi các bên tham gia tranh chấp có thể thỏa thuận được với nhau thì việc giải quyết tranh chấp sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi hơn, đồng thời giảm thiểu được thiệt hại về thời gian, tiền bạc, công sức của các bên Về phía các cơ quan tài phán, thi hành án thì việc thỏa thuận này cũng có ý nghĩa trong việc giảm nhẹ khối lượng, áp lực công việc trong điều kiện các tranh chấp ngày càng xảy ra nhiều và phức tạp như hiện nay

Thứ ba, tranh chấp HĐTD luôn có sự tham gia của một bên là TCTD và

phần lớn các tranh chấp HĐTD thì nguyên đơn là tổ chức tín dụng cho vay, bị đơn

là bên đi vay Với đặc thù của hoạt động tín dụng là sự cung ứng nguồn vốn đến những tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn trên cơ sở huy động của các tổ chức, cá nhân có thừa nguồn vốn trong xã hội nên TCTD luôn đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ này Sự tham gia của TCTD là một dấu hiệu đặc trưng nhằm phân biệt giữa tranh chấp HĐTD và tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường giữa các tổ chức, cá nhân khác mà không phải là TCTD Đồng thời, về mặt lý thuyết, khi tham gia ký kết HĐTD, các TCTD và khách hàng có địa vị ngang bằng nhau tham gia thỏa thuận Nhưng với tư cách là chủ thể có nguồn vốn dồi dào, việc áp đặt các điều kiện cho vay đối với khách hàng là điều không hiếm xảy ra Hơn nữa, khi tham gia

kí kết hợp đồng thì hợp đồng thường do bên cho vay là các TCTD soạn thảo với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn về mặt pháp lý nhất định Trong khi đó, chủ thể

đi vay là khách hàng thường là các tổ chức, cá nhân, trình độ chuyên môn về mặt pháp lý của họ còn thấp và nhiều khi không được chú trọng đúng mức Và như vậy

là hợp đồng được kí kết với các điều khoản chặt chẽ nhằm bảo đảm cho quyền lợi của TCTD khi bên vay không trả nợ hay trả không đúng nghĩa vụ Do đó, khi tranh chấp xảy ra thì TCTD luôn nắm thế chủ động với các điều khoản được ghi nhận một cách chặt chẽ, rõ ràng trong hợp đồng được sự đồng thuận của cả hai bên Vì vậy,

Trang 21

14

nếu có tranh chấp xảy ra, thường là do bên vay vi phạm hợp đồng, ít khi TCTD lại

vi phạm chính những điều khoản do chính mình soạn thảo Mặt khác, trong mối quan hệ HĐTD, các nghĩa vụ chính của bên đi vay thường phát sinh sau thời điểm giải ngân Trong khi đó, tại thời điểm hoàn tất việc giải ngân cho khách hàng thì TCTD đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình Các nghĩa vụ khác của bên cho vay như bảo mật thông tin, lưu trữ hồ sơ tín dụng, nghĩa vụ thông báo, bảo quản tài sản bảo đảm, giải chấp tài sản đảm bảo là ít quan trọng và là nghĩa vụ phát sinh từ quyền của bên vay Vì lý do đó nên nếu có tranh chấp xảy ra thì thường là do bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, rất hiếm gặp trường hợp bên đi vay khởi kiện TCTD

Thứ tư, đa phần các tranh chấp liên quan đến HĐTD là các tranh chấp liên

quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn, lãi của bên vay cho TCTD, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong HĐTD

Thứ năm, tranh chấp HĐTD thường là tiền đề làm phát sinh và gắn liền với

một quan hệ hợp đồng khác: hợp đồng bảo đảm tiền vay thông qua hình thức cầm

cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba Các TCTD khi tham gia vào HĐTD đều

có mục đích lợi nhuận từ việc cho vay đó vì bản chất của TCTD là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ Để giảm thiểu rủi ro trong trường hợp bên vay không trả được

nợ, thông thường TCTD chỉ đồng ý cho bên đi vay được vay vốn khi họ có cầm cố, thế chấp bằng tài sản hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba Các biện pháp bảo đảm này đóng vai trò là phương pháp dự phòng của TCTD khi rủi ro xảy ra Khi đó, để đảm bảo cho nghĩa vụ được đảm bảo trong HĐTD thì các bên kí kết hợp đồng bảo đảm cho khoản vay Tùy trường hợp, có thể là hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp hay

là dưới hình thức chứng thư bảo lãnh của bên thứ ba Những điều khoản về quyền

và nghĩa vụ trong các hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn là để bảo đảm cho việc vay vốn, xuất phát từ hợp đồng tín dụng đã được kí kết và mục đích cuối cùng

là bảo đảm cho việc trả nợ của bên đi vay

Thứ sáu, tranh chấp HĐTD phát sinh từ sự xung đột về lợi ích giữa các bên

tham gia tranh chấp Vì tranh chấp HĐTD cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nên

Trang 22

15

phải xuất phát từ xung đột lợi ích của các bên trong hợp đồng Mặc dù vậy trong quan hệ dân sự, pháp luật hiện hành quy định một số cơ quan đoàn thể có thể khởi kiện để đảm bảo quyền lợi cho tổ chức, cá nhân khác mà không phải là lợi ích của chính cơ quan, đoàn thể đó Tuy nhiên, đối với tranh chấp phát sinh từ HĐTD thì chỉ có chính các bên hay người đại diện hợp pháp của họ mới có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên đi vay hay TCTD Không có trường hợp nào mà tranh chấp HĐTD phát sinh do tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia HĐTD Như vậy, tranh chấp phát sinh từ HĐTD chỉ phát sinh khi các bên khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ tín dụng, hay nói cách khác, tranh chấp HĐTD thường gắn liền với lợi ích của các bên tranh chấp

1.1.3 Các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng

- Dạng tranh chấp HĐTD phổ biến, chiếm tỷ lệ lớn nhất là dạng tranh chấp

về hành vi vi phạm nghĩa vụ của một hoặc các bên trong hợp đồng Hành vi vi phạm nghĩa vụ này, có thể là hành vi của bên cho vay (các ngân hàng và các TCTD) Sau khi HĐTD có hiệu lực, việc giải ngân khoản tín dụng mà hai bên đã thoả thuận là nghĩa vụ của bên cho vay Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp sau khi ký kết HĐTD với khách hàng, bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân Điều này, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay như: Bên vay không tiến hành kế hoạch kinh doanh như dự kiến, không có vốn đầu tư vào dự án đầu tư, đấu thầu đã được đăng ký Hậu quả là bên cho vay bị tổn thất rất lớn về hiệu quả kinh tế cũng như uy tín, danh dự, thậm chí thương hiệu của bên vay

- Tranh chấp HĐTD còn có thể xuất phát từ việc vi phạm nghĩa vụ trả lãi và thậm chí cả gốc và lãi Trên thực tế, có trường hợp hai bên không thoả thuận rõ ràng

về lãi suất đối với cả thời hạn vay hoặc ban đầu do cần tiền để thực hiện kế hoạch của mình nên khách hàng chấp nhận mức lãi suất đó nhưng sau một thời gian thực hiện hợp đồng phía khách hàng nhận thấy lãi suất đó cao quá nên không đồng ý

Trang 23

ba - người bảo lãnh (gọi là bên bảo lãnh) Với tư cách là một chủ nợ có bảo đảm,

khi đến hạn mà khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì tổ chức tín dụng này được quyền ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản bảo đảm trước các chủ nợ có bảo đảm đăng ký sau hoặc trước những chủ nợ không

có bảo đảm bằng tài sản đó Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện không phải khi nào các bên cũng tuân thủ nghiêm túc những quy định của pháp luật, nên rất dễ phát sinh tranh chấp

- Tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng Tranh chấp này ngày càng đa dạng và phức tạp nhất là trong những trường hợp có yếu tố nước ngoài Điều này gây không ít khó khăn cho cơ quan giải quyết tranh chấp

- Tranh chấp về định giá, xử lý tài sản bảo đảm đối với những HĐTD có bảo đảm bằng tài sản Đối với những hợp đồng cho vay tiêu dùng, việc xác định tài sản

Trang 24

17

bảo đảm thuộc sở hữu của vợ chồng hay tài sản riêng của từng người có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động xử lý tài sản này Có nhiều trường hợp các nhân viên ngân hàng thẩm định không kỹ, kết quả thẩm định không chính xác dẫn đến chấp nhận những tài sản bảo đảm không đúng quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm Đối với những hợp đồng cho vay kinh doanh, liên quan tới xác định tài sản bảo đảm có thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên khách hàng hay không?, tổ chức

đó có đủ tư cách pháp lý theo quy định của pháp luật để tiến hành ký kết hợp đồng không? Trên thực tế, khi HĐTD được ký kết thì phía ngân hàng mới biết bên khách hàng ký không đúng thẩm quyền

- Tranh chấp phát sinh từ HĐTD còn là những tranh chấp về luật áp dụng và

cơ quan giải quyết tranh chấp, trường hợp một trong hai bên là bên nước ngoài khi

ký hợp đồng tín dụng mà các bên không thoả thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng trong hợp đồng tín dụng, thì khi tranh chấp sảy ra, các bên có thể nảy sinh tranh chấp về luật áp dụng cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp HĐTD để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng Do

đó hiện nay đa phần các bên khi ký kết HĐTD đều thoả thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp và luật áp dụng được ghi trong điều khoản của hợp đồng tín dụng

Tại Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường các dạng tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng chủ yếu mang tính phổ biến là hai dạng tranh chấp cụ thể: Dạng tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và dạng tranh chấp về tài sản bảo đảm của bên thứ ba

1.1.4 Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng

Pháp luật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại nói chung và các tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ HĐTD nói riêng như sau: Thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án Theo

đó, khi xảy ra tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ HĐTD, các bên có thể giải quyết tranh chấp thông qua việc trực tiếp thương lượng với nhau, hoặc có thể

Trang 25

- Một là, phương thức thương lượng: Là phương thức được các bên tranh

chấp lựa chọn trước tiên và trong thực tiễn phần lớn các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại được giải quyết bằng phương thức này Thông qua phương thức

này, các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng

phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào [33; tr 223] Thương lượng là phương thức được các bên tiến

hành đầu tiên bởi các ưu điểm của nó như: thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, linh hoạt, ít tốn kém về thời gian và tiền bạc, không ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp, đảm bảo bí mật, uy tín của các bên Nếu thương lượng thành công thì ít gây phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên thậm chí còn được tăng cường về sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau khi kết thúc cuộc thương lượng Tuy vậy, bên cạnh các ưu điểm trên, thương lượng cũng có những nhược điểm như: thương lượng có thành công hay không là phụ thuộc vào các bên có thiện chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp Cũng chính vì phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng không bị ràng buộc bởi bất kỳ các cơ chế pháp lý nào nên kết quả thương lượng cũng không được bảo đảm bởi bất kỳ cơ chế pháp lý nào dẫn đến tính

Trang 26

19

bắt buộc thực hiện không cao Mặt khác, hình thức giải quyết khép kín, không công khai có khi lại nảy sinh những tiêu cực, trái pháp luật Nhà nước khuyến khích áp dụng phương thức tự thương lượng để giải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên Do đó, pháp luật không đưa ra bất cứ quy định nào cho phương thức giải quyết này

- Hai là, phương thức hoà giải: Là việc các bên tiến hành thương lượng giải

quyết tranh chấp với sự hỗ trợ của bên thứ ba là hòa giải viên Kết quả hòa giải phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp và uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng của trung gian hòa giải, quyết định cuối cùng của việc giải quyết tranh chấp không phải của trung gian hòa giải mà hoàn toàn phụ thuộc các bên tranh chấp Hình thức giải quyết này có nhiều ưu điểm: Thủ tục hòa giải được tiến hành nhanh gọn, chi phí thấp, các bên có quyền tự định đoạt, lựa chọn bất kỳ người nào làm trung gian hòa giải cũng như địa điểm tiến hành hòa giải Họ không bị gò bó về mặt thời gian như trong thủ tục tố tụng tại Tòa án Hòa giải mang tính thân thiện nhằm tiếp tục giữ gìn

và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vì lợi ích của cả hai bên Hòa giải là mong muốn của các bên dàn xếp vụ việc sao cho không có bên nào bị thua cuộc, không dẫn đến tình trạng đối đầu, thắng thua như quá trình kiện tụng tại Tòa án

Hình thức giải quyết này đặc biệt hiệu quả khi giải quyết những tranh chấp kinh doanh, thương mại mang tính chất kỹ thuật (xây dựng, tài chính) Vì các bên trong vụ việc tranh chấp hoàn toàn có quyền chủ động trong việc tìm kiếm một hòa giải viên có đủ hiểu biết để tham gia giải quyết tranh chấp Nhưng trong thực tiễn kiện tụng tại Tòa án thì các bên không có quyền lựa chọn cán bộ giải quyết trừ một

số trường hợp phải thay đổi hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật Một điều quan trọng khác mà các nhà kinh doanh cũng rất quan tâm là khi giải quyết bằng con đường này các bên kiểm soát được các tài liệu chứng cứ có liên quan, đảm bảo được những bí mật kinh doanh trong khi giải quyết tại Tòa án thì các yêu cầu này không được đảm bảo do Tòa án thực hiện xét xử theo nguyên tắc công khai

Bên cạnh những ưu điểm trên, giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa giải vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định: Việc hòa giải có được tiến hành

Trang 27

20

hay không phụ thuộc vào sự nhất trí của các bên, hòa giải viên không có quyền đưa

ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp thỏa thuận hòa giải không có tính bắt buộc thi hành như phán quyết của trọng tài hay của tòa án Thủ tục này ít được sử dụng nếu các bên không có sự tin tưởng với nhau

- Ba là, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại: Giải

quyết tranh chấp bằng trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường và ngày càng được các nhà kinh doanh ưa chuộng

Đó là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Hội đồng Trọng tài hoặc Trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành

Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp này là có tính linh hoạt, tạo quyền chủ động cho các bên; tính nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian có thể rút ngắn thủ tục tố tụng trọng tài và đảm bảo bí mật Trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc án, quyết định trọng tài không được công bố công khai, rộng rãi Theo nguyên tắc này họ có thể giữ được bí quyết kinh doanh cũng như danh dự, uy tín của mình Giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài không

bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho mình Phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm, đây là ưu thế vượt trội so với hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải Sau khi trọng tài đưa ra phán quyết thì các bên không có quyền kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức hay Tòa án nào Tuy nhiên phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có những nhược điểm như: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài không mang tính đương nhiên mà trọng tài chỉ có thẩm quyền khi có các bên trao quyền giải quyết tranh chấp thông qua một điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc một thoả thuận đưa tranh chấp ra giải quyết trước trọng tài Đồng thời việc giải quyết tranh chấp của trọng tài đòi hỏi chi phí tốn kém, vụ việc giải quyết càng kéo dài thì phí trọng tài càng cao Hơn nữa, khác với toà án, trọng tài không phải là cơ quan quyền lực Nhà nước nên các phán quyết của trọng tài không

Trang 28

21

đương nhiên được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước như bản

án, quyết định của Tòa án

- Bốn là, phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh

từ hợp đồng tín dụng bằng tòa án: Là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh Nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ Bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp mang tính ràng buộc pháp

lý và được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước [33; tr 269] Các tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng được giải quyết bằng con đường toà án ngày càng chiếm tỷ lệ lớn Thông thường hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Toà án được tiến hành khi mà việc áp dụng các biện pháp thương lượng, hoà giải không đạt hiệu quả trong khi hình thức trọng tài còn khá mới mẻ đối với việc giải quyết tranh chấp ở nước ta hiện nay

Việc đưa tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng

ra xét xử tại tòa án có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm nhất định

Ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng thông qua tòa án là: Vì là hình thức giải quyết tranh chấp mang tính chất quyền lực Nhà nước nên các phán quyết của toà án mang tính ràng buộc về mặt pháp lý Nếu một trong các bên không tuân thủ sẽ bị cưỡng chế thi hành theo quy định pháp luật bằng bộ máy cưỡng chế Nhà nước Do đó quyền lợi của bên bị

vi phạm sẽ được đảm bảo cao nhất Thêm vào đó, nguyên tắc xét xử công khai gây

áp lực để toà án xét xử khách quan, minh bạch và đúng pháp luật, còn có tính răn đe đối với những chủ thể kinh doanh cố tình sai phạm

Tuy nhiên, việc lựa chọn phương thức này cũng có những nhược điểm nhất định vì thủ tục tại tòa án thiếu linh hoạt do đã được pháp luật quy định trước đó Bên cạnh đó, nguyên tắc xét xử công khai của tòa án tuy là nguyên tắc được xem là tiến bộ, mang tính răn đe nhưng đôi khi lại là cản trở đối với doanh nhân khi những

bí mật kinh doanh bị tiết lộ Mặt khác, bản án xét xử xong chưa được thi hành ngay

mà các bên còn có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị nên thời

Trang 29

22

gian giải quyết tranh chấp kéo dài, ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của các bên tranh chấp Chính vì những nhược điểm này mà hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát snh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án được các thương nhân lựa chọn khi các phương thức giải quyết tranh chấp khác không mang lại hiệu quả

1.2 Khái quát pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng toà án

1.2.1 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại toà án

Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Toà án là một lĩnh vực pháp luật bao gồm tổng hợp những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp trong hoạt động giải quyết tranh chấp thuộc lĩnh vực này Như đã trình bày ở trên, vấn đề giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng được quy định chi tiết tại Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015 và có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016 và các văn bản pháp luật có liên

quan như: Luật Thương mại năm 2005; Nghị quyết số 05/2012/NQ - HĐTP của Hội

đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm” của BLTTDS; Nghị quyết số 103/2015/QH13 của Quốc hội về việc thi hành BLTTDS năm 2015;

Nghị quyết số 02/2016 NQ - HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối

Cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13; Nghị

quyết số 04/2016/NQ - HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao

hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH 13

về việc gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử…

Nội dung pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ HĐTD bao gồm: Những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng về

Trang 30

23

giải quyết tranh chấp HĐTD; thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết

tranh chấp HĐTD; trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp HĐTD Cụ thể như sau:

Một là, những nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát

sinh từ HĐTD tại toà án:

Những nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật TTDS là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho các hoạt động tố tụng tại Toà án Nhằm cụ thể hoá Hiến pháp năm

2013 và bảo đảm phù hợp với các quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm

2014, BLTTDS năm 2015 bên cạnh việc kế thừa những nguyên tắc của BLTTDS năm 2004 đã sửa đổi, bổ sung một số nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng dân sự và chia thành hai nhóm nguyên tắc: Nhóm nguyên tắc chính và nhóm nguyên tắc đặc thù của Luật tố tụng dân sự Mỗi nguyên tắc được ghi nhận tại một điều luật riêng biệt được cụ thể hoá tại chương II của BLTTDS năm 2015 Chúng là cơ sở cho hoạt động giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật tố tụng mang tính bắt buộc chung đối với các chủ thể tham gia Dựa vào những nguyên tắc này, Toà án và các cơ quan tiến hành tố tụng được định hướng để tiến hành giải quyết tranh chấp một cách thuận lợi, nhanh chóng hơn, các đương sự được đảm bảo về quyền lợi và nghĩa vụ nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia tố tụng một cách hiệu quả hơn Hơn nữa việc tuân thủ các nguyên tắc trong giai đoạn tố tụng còn có vai trò to lớn trong việc ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết các

Trong pháp luật tố tụng dân sự, thẩm quyền là một trong những quy định quan trọng Nó là cơ sở pháp lý vững chắc để các cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu được bảo vệ quyền khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Bên cạnh

Trang 31

24

đó dựa vào những quy định về thẩm quyền, Toà án xác định được phạm vi quyền hạn của mình trong việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết những vụ việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tránh việc giải quyết không đúng thẩm quyền, đùn đẩy trách nhiệm hay chồng chéo nhiệm vụ khiến cho việc giải quyết tranh chấp khó khăn, thậm chí không mang lại hiệu quả Thẩm quyền của toà án được pháp luật quy định bao gồm bốn loại thẩm quyền: Thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo cấp, thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

Ba là, chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp HĐTD, đó là các cá nhân, tổ

chức tham gia vào quan hệ pháp luật Tố tụng dân sự nói chung bao gồm các nhóm chủ thể: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Việc quy định các chủ thể tham gia, quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể của từng chủ thể trong quá trình giải quyết tranh chấp có ý nghĩa thực tiễn, to lớn trong việc hỗ trợ hiệu quả giải quyết tranh chấp mà trước tiên là giúp các chủ thể nắm rõ được nhiệm vụ và quyền hạn của mình để từ đó thực hiện đúng khuôn khổ pháp luật quy định nhằm tạo điều kiện cho việc giải quyết tranh chấp được thuận lợi, tránh lạm quyền dẫn đến những hiểu biết không mong muốn

Bốn là, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng

tại Toà án

Trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án về tranh chấp được hiểu là những cách thức được sắp xếp theo một trình tự nhất định mà các chủ thể tham gia phải tuân thủ nhằm đạt được mục đích cuối cùng trong việc giải quyết tranh chấp Pháp luật tố tụng Việt Nam quy định trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại phần II và phần III của BLTTDS năm 2015 bao gồm tất cả các giai đoạn từ khi khởi kiện, thụ lý vụ

án, hoà giải chuẩn bị xét xử, thu thập chứng cứ, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm theo thủ tục thông thường và thủ tục rút gọn, xét lại Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, công nhận và cho thi hành Bản án Việc BLTTDS quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tạo được khung pháp lý chặt chẽ để các chủ thể dễ dàng thực hiện các bước trong quá trình giải quyết tranh chấp, thực hiện đúng

Trang 32

25

nhiệm vụ và quyền hạn của mình Từ đó, tranh chấp được giải quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả

Năm là, vấn đề cưỡng chế thi hành án Thi hành án là một trong những

hoạt động tố tụng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, tính uy nghiêm của Nhà nước Hoạt động thi hành án là hoạt động đưa các Bản án, quyết định của Toà án đã

có hiệu lực ra thi hành trên thực tế Đối với những tranh chấp HĐTD thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án được quy định tại Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015, sau khi Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án dân sự sẽ chủ động tổ chức thi hành án đối với phần Bản án, quyết định về

án phí, lệ phí, khoản thu sung quỹ Nhà nước… theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) khi nhận được Bản

án, quyết định do Toà án chuyển giao; đối với phần thi hành án theo yêu cầu sẽ ra Quyết định và tổ chức thi hành án khi nhận được yêu cầu thi hành án của người được yêu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) Việc cưỡng chế thi hành án có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của đương sự cũng như đảm bảo hiệu lực thi hành của Bản án, quyết định của Toà án Thông qua kết quả thi hành án, công tác xét xử được củng cố, Bản án, quyết định được đảm bảo thi hành trong thực

tế, đồng thời thông qua việc áp dụng các biện pháp thi hành án, nếu có sai sót trong Bản án, quyết định được thi hành, cơ quan thi hành án sẽ có những kiến nghị phù hợp, giúp cho cơ quan ra Bản án, quyết định có thể rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc áp dụng pháp luật, nhằm nâng cao chất lượng bản án, quyết định của Toà án Một mặt nào đó, việc cưỡng chế thi hành cũng góp phần nâng cao ý thức pháp luật đối với các chủ thể trong quan hệ tín dụng

1.2.2 Vai trò của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại tòa án

Pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội Pháp luật còn là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi công dân Việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ HĐTD tại tòa án

Trang 33

26

đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,

cá nhân kinh doanh, giữ gìn an toàn xã hội và đặc biệt là góp phần đưa đất nước phát triển đi lên như mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta đề ra Nhiều các quy định trong các văn bản pháp luật kinh doanh thương mại đã thể hiện khá rõ nhận thức của những nhà hoạch định chính sách và pháp luật về vai trò cũng như giá trị của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại đối với sự phát triển, hội nhập quốc tế của đất nước Những gì nêu trên cho thấy vai trò đặc biệt của tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh tế và từ đó thúc đẩy đảm bảo tự do kinh doanh, môi trường cạnh tranh bình đẳng Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm cũng là nơi tòa án thực hiện việc giáo dục pháp luật Thông qua hoạt động xét xử của tòa án, những người tham dự phiên tòa biết rõ hơn các quy định của pháp luật được tòa án áp dụng giải quyết vụ án, từ đó nâng cao được ý thức pháp luật của mình

Tiểu kết chương 1

Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hoạt động tín dụng tại toà án là một hiện tượng tất yếu khách quan, có thể xảy ra trong bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình thực hiện các nội dung của hợp đồng tín dụng do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Điều quan trọng là làm thế nào có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về nó để đưa ra các biện pháp hạn chế đến mức thấp nhất việc phát sinh tranh chấp trong hợp đồng tín dụng Trong chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề cơ bản về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng, các dạng tranh chấp của Hợp đồng tín dụng và phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng, trong đó phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Toà án là phương thức chủ yếu, quan trọng nhất Từ đó, mới thấy được sự cần thiết trong xây dựng và áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng

Trang 34

27

Chương 2:

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TOÀ ÁN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Để việc giải quyết tranh chấp được hiệu quả, yêu cầu đặt ra là các bên tranh chấp cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết tranh chấp phải biết và hiểu

rõ về những quy định của pháp luật hiện hành Vậy các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng hiện nay được quy định cụ thể như thế nào?

2.1.1 Những nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Toà án

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp là những tư tưởng chỉ đạo mang tính chi phối, định hướng cho mọi hoạt động tố tụng tại Toà án Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015 có quy định 23 nguyên tắc cơ bản (từ Điều 3 đến Điều 25) Trong những nguyên tắc này, có những nguyên tắc của pháp luật tố tụng nói chung được ghi nhận không chỉ trong pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp HĐTD mà còn được ghi nhận trong các văn bản tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan Tư pháp như: nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tố

Trang 35

28

tụng, nguyên tắc Hội thẩm tham gia xét xử; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét

xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể, kịp thời, công bằng, công khai; nguyên tắc đảm bảo chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; nguyên tắc đảm bảo sự vô tư trong tố tụng, nguyên tắc giám đốc việc xét xử, nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án; nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng…Ngoài ra, quá trình giải quyết tranh chấp HĐTD cần phải tuân thủ những nguyên tắc đặc thù như:

- Nguyên tắc đảm bảo quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp [18.Đ.4] Nguyên tắc này thể hiện trong trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức

có các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì họ có quyền khởi kiện vụ tranh chấp tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ: Tòa án đảm bảo và tạo điều kiện cho các chủ thể bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc xem xét thụ lý

và giải quyết theo quy định của pháp luật hoặc hướng dẫn các bên tranh chấp chuyển đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đến Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện, người yêu cầu nếu tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

án khác

- Nguyên tắc đảm bảo quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự [18 Đ5] Đây là một trong những nguyên tắc đặc thù nhất của quá trình giải quyết tranh chấp HĐTD Nguyên tắc này thể hiện ở việc các chủ thể tranh chấp tự do định đoạt các phương tiện, cách thức tố tụng để bảo vệ quyền rút đơn hoặc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của mình hoặc tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp, đồng thời có quyền kháng cáo Bản án, quyết định của Tòa án và yêu cầu Tòa

án giải quyết lại vụ án ở cấp phúc thẩm

- Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền [18 Đ6] Trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự nói chung và tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng, các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ dưới sự hỗ trợ của Tòa án Trong trường hợp chứng cứ

có liên quan đến vụ việc dân sự đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác nắm giữ nên đương sự gặp khó khăn trong việc thu thập thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức có

Trang 36

vụ cung cấp chứng cứ, chấp hành các quyết định của Tòa án trong thời gian giải quyết vụ án…); Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình và giải quyết tranh chấp trên tinh thần vô tư, khách quan, không thiên vị bên nào

Nguyên tắc hòa giải [18 Đ10] Xuất phát từ bản chất của hoạt động tín dụng

là dựa trên sự tự nguyện, tự do thỏa thuận của các chủ thể nên hòa giải luôn là biện pháp được ưu tiên trong việc giải quyết tranh chấp đồng thời được pháp luật tố tụng nói chung và tố tụng giải quyết tranh chấp HĐTD nói riêng ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản và là thủ tục bắt buộc trong quá trình tố tụng tại Tòa án Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật

2.1.2 Thẩm quyền của Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tranh chấp kinh doanh, thương mại về HĐTD liên quan đến chủ thể riêng biệt

và có nơi cư trú khác nhau nên khá phức tạp Vì thế, BLTTDS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã phân chia thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc, theo cấp Tòa

án, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu nhằm xác định

rõ nhiệm vụ chuyên trách của mỗi Tòa án và sự chủ động cho Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc

2.1.2.1 Thẩm quyền theo vụ việc

Thẩm quyền theo vụ việc là giới hạn khả năng do pháp luật quy định để Tòa

án nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong việc thụ lý và giải quyết

Trang 37

30

các vụ việc dân sự Việc quy định thẩm quyền theo vụ việc, giúp các Tòa án nhân dân phân định được quyền hạn của mình với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước Mặt khác, việc quy định thẩm quyền theo vụ việc, cũng là cơ sở để xác định quyền hạn giữa các Tòa án với nhau trong việc giải quyết tranh chấp Dựa vào những quy định về thẩm quyền theo vụ việc, các đương sự thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Thẩm quyền Tòa án giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Theo quy định tại

Điều 30 BLTTDS năm 2015, “Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết các tranh

chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” [18 Đ30]

Tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ HĐTD thuộc nhóm thứ nhất trong nhóm tranh chấp kinh doanh, thương mại, khi một trong các bên hoặc cả hai bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận trong HĐTD làm ảnh hưởng đến quyền lợi và một bên chủ thể, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án Điều đáng chú ý là tranh chấp phát sinh từ HĐTD thuộc thẩm quyền của Toà án được xếp vào tranh chấp KDTM là tranh chấp phát sinh giữa người cho vay (các tổ chức tín dụng) và người đi vay (các tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh) và hai bên đều có mục đích hướng đến là lợi nhuận Nếu một bên chủ thể là cá nhân, tổ chức không có đăng ký kinh doanh hoặc không có mục đích lợi nhuận thì không phải là tranh chấp kinh doanh thương mại mà sẽ thuộc tranh chấp dân sự

2.1.2.2 Thẩm quyền của Tòa án các cấp

Thẩm quyền Tòa án theo các cấp là giới hạn mà pháp luật quy định để các cấp Tòa án thực hiện chức năng giải quyết vụ việc của mình Hiện nay, thẩm quyền của Tòa án các cấp bao gồm: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân Tối cao, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện [24] Việc quy định thẩm quyền này xuất phát từ mục đích xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án mỗi cấp trong việc

Trang 38

Ngoài thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện như đã trình bày ở trên, từ ngày 01/06/2015 Toà án nhân dân cấp cao bắt đầu đi vào hoạt động

và có thẩm quyền phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân các cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng [18 Đ337], [24 Đ29]

Tòa án nhân dân Tối cao giữ vai trò là cơ quan xét xử cao nhất trong hệ thống

tư pháp với nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng [18 Đ258],[24 Đ29]

Theo tinh thần đổi mới, cải cách tư pháp, kế thừa các quy định pháp luật tố tụng trước đây, Bộ luật tố tụng dân sự mới đã quy định thẩm quyền của Toà án nhân dân các cấp theo hướng mở rộng hơn thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện

Trang 39

32

Việc mở rộng là phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, tạo điều kiện cho việc giải quyết được nhanh chóng các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh từ hợp đồng tín dụng, kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự Mặt khác việc mở rộng thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện còn làm giảm

áp lực công việc cho Toà án nhân dân cấp tỉnh để Toà án nhân dân cấp tỉnh có thể tập trung vào hoạt động xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của mình

2.1.2.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ

Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là giới hạn do pháp luật quy định xác định quyền hạn, chức năng giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án theo đơn vị hành chính dựa vào nơi cư trú của đương sự, người yêu cầu hay nơi có tài sản đang tranh chấp … Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giúp xác định Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết và tạo sự chủ động cho các Tòa án thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Điều 39 BLTTDS năm 2015 quy định Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là cơ quan,

tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp về HĐTD; các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp về HĐTD

Ngoài ra, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cao nhất cho các chủ thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trên cơ sở luật định, pháp luật cho phép nguyên đơn, người yêu cầu có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về HĐTD trong các trường hợp sau:

- Nếu không biết nơi cư trú, trụ sở của bị đơn, có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản để giải quyết;

- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh, tổ chức thì nguyên đơn

có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

- Nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết [18 Đ40]

Trang 40

33

Tuy nhiên, cần lưu ý trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài hợp lệ thì việc giải quyết tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Tòa án Nghĩa là, bên cạnh những trường hợp kể trên, để xác định vụ việc có thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay không, trước hết Tòa án cần phải xem xét cơ quan giải quyết tranh chấp mà các bên thỏa thuận lựa chọn ban đầu hoặc sau khi xảy ra tranh chấp là Tòa án nhân dân hay Trọng tài thương mại Trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài

mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu, hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được [21 Đ6]

2.1.3 Chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

Trong quan hệ tố tụng, chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp HĐTD gồm có hai nhóm chủ thể; chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng Trong đó, chủ thể tiến hành tố tụng gồm các cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân) và người tiến hành tố tụng (Chánh án Tòa án nhân dân, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trưởng viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên); chủ thể tham gia tố tụng gồm các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người đại diện hợp pháp của đương sự Mỗi nhóm chủ thể

có những nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau trong quá trình giải quyết tranh chấp Trong việc giải quyết tranh chấp HĐTD, Tòa án nhân dân sẽ tiến hành xem xét, thụ lý vụ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thực hiện công tác xét xử theo đúng trình tự, thủ tục luật định và ra bản án, quyết định cuối cùng có giá trị pháp lý bắt buộc Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ kiểm tra và giám sát việc tuân theo pháp luật, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật

Trong những người tiến hành tố tụng, mỗi người đều có nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau trong quá trình tiến hành giải quyết tranh chấp Ví dụ: Chánh án Tòa án thực hiện việc tổ chức giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, phân công

Ngày đăng: 24/04/2020, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm