1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy chế pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014

69 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được điều này, nên khi nghiên cứu các quy định về CTCP tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Quy chế pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014” làm đề tài luận v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ có tiêu đề “Quy chế pháp lý về vốn trong

công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014” là công trình nghiên cứu thực sự

của cá nhân tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đoàn Trung Kiên

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bầy trong luận văn có nguồn trích dẫn đầy đủ và trung thực Kết quả nêu trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

TS Đoàn Trung Kiên

Học viên

Hàn Thị Thu Hiền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, đồng nghiệp nơi tôi công tác và cáchọc viên trong lóp Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Sau đại học của nhà trường cùng các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS Đoàn Trung Kiên - người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên thực hiện

Hàn Thị Thu Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 5

1.1 Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần 5

1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần 5

1.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần 6

1.2 Khái niệm và đặc điểm về vốn của công ty cổ phần 11

1.2.1 Khái niệm vốn của công ty cổ phần 11

1.2.2 Đặc điểm về vốn của công ty cổ phần 13

1.3 Cơ cấu vốn của công ty cổ phần 17

1.3.1 Dưới góc độ kinh tế 17

1.3.2 Dưới góc độ pháp lý 18

1.4 Ảnh hưởng của vốn đối với hoạt động của công ty cổ phần 25

1.4.1 Ảnh hưởng của vốn tới cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần 25

1.4.2 Ảnh hưởng của vốn đối với việc phân chia lợi nhuận 28

1.5 Lược sử hình thành và phát triển của chế định về vốn của công ty cổ phần ở Việt Nam 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG PHÁP LÝ VỀ VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦNTHEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 33

VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 33

2.1 Những nội dung pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2014 33

2.1.1 Nguồn hình thành vốn của công ty cổ phần 33

2.1.2 Huy động vốn của công ty cổ phần 39

2.1.3 Chuyển nhượng cổ phần và mua lại cổ phần ở công ty cổ phần 46

2.1.4 Trả cổ tức ở công ty cổ phần 50

2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định các quy định của Luật doanh nghiệp 2014 về vốn của công ty cổ phần 53

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Công ty cổ phần (CTCP) đầu tiên trên thế giới xuất hiện vào khoảng đầu thế

kỷ XVII Sang đến thế kỷ XIX CTCP phát triển ngày càng mạnh mẽ với số lượng

đồ sộ chưa từng có và hiện nay trở thành lựa chọn hàng đầu của các nhà đầu tư khi muốn thành lập doanh nghiệp để kinh doanh Sự phát triển nhanh chóng và mạnh

mẽ của CTCP là một thực tế hiển nhiên bởi đây là loại hình doanh nghiệp ưu việt nhất mà loài người sáng tạo ra Trong những ưu việt đó của CTCP, phải kể đến là

cơ chế về vốn đa dạng, linh hoạt mà pháp luật các nước đều ghi nhận Nhờ cơ chế

về vốn này mà CTCP có khả năng huy động được nguồn vốn lớn từ công chúng để

có thể đầu tư kinh doanh với quy mô lớn, hiện đại Ngoài ra, cũng nhờ cơ chế về vốn này mà CTCP có thể lôi cuốn được nhiều thành viên tham gia vào công ty, từ

đó tạo cho CTCP phải có một cơ cấu tổ chức sáng tạo hơn hẳn các loại hình doanh nghiệp khác và trở thành mô hình công ty đối vốn điển hình Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng cơ chế về vốn là tiền đề cho mọi hoạt động của CTCP, là điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động kinh doanh và có ý nghĩa quyết định tới sự lớn mạnh của một doanh nghiệp, là tiêu chí để xác định vị thế, phạm vi, quy mô cũng như năng lực cạnh tranh của CTCP trên thị trường, đồng thời là nội dung pháp lý quan trọng nhất của pháp luật về CTCP ở mọi quốc gia Nhận thức được điều này, nên

khi nghiên cứu các quy định về CTCP tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Quy chế pháp lý

về vốn trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014” làm đề tài luận văn

thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Để tiếp tục thể chế hóa sâu sắc đường lối đổi mới và các chủ trương chính sách đã được khẳng định tại các kỳ Đại hội và các nghị quyết hội nghị của Trung ương Đảng, các Luật doanh nghiệp (1999, 2005) và hiện nay là Luật doanh nghiệp 2014 đã được ban hành, pháp luật về CTCP, trong đó có các quy định về vốn của CTCP được hoàn thiện một bước quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho sự

phát triển của hình thức doanh nghiệp có nhiều ưu thế vượt trội

Trang 7

Hiện nay, đã có nhiều công trình của các cơ quan, đơn vị, các nhà khoa học, các bài viết, các luận văn, luận án nghiên cứu về CTCP và những vấn đề có liên quan đến vốn của CTCP, điển hình như:

- Đồng Ngọc Ba, Công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường, Luận văn

thạc sĩ, Trường đại học Luật Hà Nội, 2000;

- Hoàng Thị Giang, Cấu trúc vốn và sự chi phối của cấu trúc vốn đối với cơ

cấu tổ chức quản lý của công ty cổ phần, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại

học Luật Hà Nội, 2003;

- Nguyễn Hoàng Hải, Góp ý về cơ chế công bố thông tin và phương pháp

bán cổ phần ra công chúng, Tạp chí tài chính số 5/2005;

- Vũ Văn Ninh, Trả cổ tức bằng cổ phiếu: Những khía cạnh công ty cổ phần

cần quan tâm, Tạp chí Tài chính số 02/2006;

- Nguyễn Phương Anh, Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo

pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012;

- Phạm Thị Huyền, Cơ chế đại diện chủ sở hữu phần vốn Nhà nước trong

Công ty cổ phần, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, 2014;

- Vũ Thị Tuyết Nhung, Những vấn đề pháp lý về huy động, sử dụng vốn và

phân chia lợi nhuận trong Công ty cổ phần, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại

học Luật Hà Nội, 2014…

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của các tác giải nêu trên chỉ đề cập những vấn đề chung nhất có tính lý luận về vốn của CTCP, hoặc chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu một khía cạnh nhỏ về vấn đề vốn của CTCP hoặc nghiên cứu vấn đề này theo Luật doanh nghiệp cũ (2005), chưa có công trình nào đi sâu vào việc nghiên cứu một cách toàn diện về lý luận và thực tiễn về vốn của CTCP tại Việt Nam theo Luật doanh nghiệp năm 2014 hiện nay, để từ đó xây dựng cơ sở

lý luận, đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vốn của CTCP - một loại hình công ty có nhiều đặc tính ưu việt hiện nay ở nước ta

Trang 8

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn có đối tượng nghiên cứu là các văn bản pháp

luật thực định về vốn của CTCP cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về vốn của CTCP ở Việt Nam theo Luật doanh nghiệp 2014

Phạm vi nghiên cứu : Ở nước ta có nhiều loại hình công ty được thành lập và

hoạt động như: Công ty TNHH hai thành viên trở lên, Công ty TNHH một thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh Trong luận văn này tác giả chỉ nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về vốn của CTCP ở Việt Nam theo pháp luật hiện hành,

mà chủ yếu là theo Luật doanh nghiệp 2014

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Bằng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp như phân tích, thống kê, so sánh tổng hợp luận văn sẽ khắc họa những khía cạnh chính trong bức tranh vốn của CTCP tại Việt Nam, qua đó đưa ra giải pháp đã nêu trong mục đích nghiên cứu

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về vốn của CTCP ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về vốn của CTCP ở Việt Nam hiện nay nhằm đảm bảo môi trường pháp lý thuận lợi, an toàn, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của CTCP, phát huy vai trò của CTCP trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Với mục đích như trên, các nhiệm vụ mà luận văn phải giải quyết là:

- Làm rõ được những vấn đề lý luận về vốn của CTCP;

- Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về vốn của CTCP ở Việt Nam;

- Đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về vốn của CTCP ở Việt Nam

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

- Luận văn đã làm rõ được các vấn đề lý luận cơ bản về vốn của CTCP như khái niệm, đặc điểm về vốn của CTCP, cơ cấu vốn của CTCP cũng như ảnh hưởng của vốn đối với hoạt động của CTCP;

Trang 9

- Luận văn đã phân tích và chỉ ra được những nội dung cơ bản về vốn của

CTCP ở Việt Nam;

- Luận văn đã đánh giá được tương đối toàn diện những ưu điểm và hạn chế

của các quy định hiện hành về vốn của CTCP ở Việt Nam;

- Luận văn đã đề xuất được một số kiến nghị có giá trị thực tiễn cao nhằm

hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về vốn của CTCP ở Việt Nam

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

gồm có chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công ty cổ phần và vốn của

công ty cổ phần

Chương 2: Những nội dung pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo

Luật doanh nghiệp 2014 và một số kiến nghị

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN

VÀ VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1 Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần

1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần

Ra đời từ thế kỷ XVII cho đến nay, CTCP là hình thức tổ chức doanh nghiệp phổ biến và có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội

ở mỗi quốc gia CTCP chịu ảnh hưởng sâu sắc của các điều kiện lịch sử, kinh tế

xã hội nên dù ở quốc gia nào trên thế giới thì ngoài những đặc điểm chung vốn

có, CTCP vẫn mang những nét riêng phản ánh điều kiện cụ thể của quốc gia đó, khoa học pháp lý ở mỗi quốc gia có khá nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm CTCP

Ở những nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law), CTCP là loại hình công ty đối vốn, có quy chế pháp lý riêng Ví dụ, theo pháp luật Cộng hòa Pháp, CTCP gọi là công ty vô danh, phải có ít nhất 7 cổ đông, vốn điều lệ của công

ty được chia thành các cổ phần với mệnh giá thống nhất là 100 F.Fr, các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần Công ty có quyền phát hành chứng khoán để huy động vốn theo quy định pháp luật chứng khoán [8, tr47]

Những nước theo hệ thống pháp luật Anh- Mỹ, không phân chia công ty đối vốn thành các loại rõ ràng nên không có quy chế pháp lý riêng cho loại hình CTCP Nhưng ở các nước này vẫn tồn tại những công ty có quy chế pháp lý tương tự như CTCP trong hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa Ví dụ như: ở Anh, công ty đối vốn

có thể được tổ chức dưới hình thức công ty hữu hạn hay công ty TNHH theo cổ phần Trong đó, công ty hữu hạn có cấu trúc vốn linh hoạt, vốn điều lệ được chia thành những cổ phần Các cổ phần đều có thể chuyển nhượng trừ trường hợp điều lệ quy định khác [7, tr48-49]

Trang 11

Ở Việt Nam, cách tiếp cận CTCP cũng giống với pháp luật nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa Tại Điều

110, LDN 2014, không đưa ra định nghĩa cụ thể về CTCP, tuy nhiên điều luật này

đã mô tả chi tiết những dấu hiệu để nhận diện CTCP, cụ thể như sau: “1 Công ty cổ

phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này 2 Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh 3 Công ty cổ phần có quyền phát hành

cổ phần các loại để huy động vốn”

Tóm lại, pháp luật của các quốc gia khác nhau thì khái niệm CTCP được ghi

nhận có những nét khác nhau phản ánh những điều kiện kinh tế, xã hội, truyền thống lịch sử và truyền thống lập pháp của mỗi quốc gia đó Hơn nữa, CTCP là loại hình doanh nghiệp phức tạp cả về cơ cấu tổ chức và về địa vị pháp lý cho nên việc đưa ra một định nghĩa chung nhất, đầy đủ cho CTCP ở mỗi quốc gia là điều không

dễ dàng Tuy nhiên, dù khác nhau đến đâu thì CTCP vẫn thể hiện là loại hình đặc trưng cho công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty một cách hữu hạn trong phạm vi số cổ phần mà họ sở hữu Ngoài ra, CTCP có số lượng cổ đông đông đảo và chế độ chuyển nhượng vốn góp linh hoạt nhất trong tất cả các loại hình công ty

1.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần

So với các loại hình doanh nghiệp khác thì CTCP là loại hình doanh nghiệp có nhiều lợi thế Lợi thế đó xuất phát từ lợi ích và đặc điểm pháp lý mà pháp luật quy định và đươc thể hiện những khía cạnh sau:

Trang 12

- Thứ nhất, đặc điểm về vốn điều lệ của công ty cổ phần

Nguồn vốn đầu tiên tạo thành vốn của CTCP là vốn do các cổ đông sáng lập

và các cổ đông khác đóng góp và được ghi trong Điều lệ công ty tạo thành vốn điều

lệ của CTCP Vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là

cổ phần, giá trị mỗi cổ phần được thể hiện bằng mệnh giá cổ phần Cổ phần được thể hiện dưới hình thức chứng khoán là cổ phiếu, một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần Luật không hạn chế mỗi cổ đông được mua tối đa bao nhiêu phần trăm vốn điều lệ Nhưng các cổ đông có thể thỏa thuận trong điều lệ giới hạn tối đa số cổ phần mà một cổ đông có thể mua nhằm chống việc một

cổ đông nào đó có thể nắm quyền kiểm soát công ty

- Thứ hai, đặc điểm về cổ đông của CTCP

Người mua cổ phần để góp vốn vào CTCP được gọi là cổ đông Như vậy, cổ đông chính là người chủ của công ty, họ có vai trò to lớn trong việc tồn tại và phát triển của công ty CTCP có sự liên kết góp vốn của nhiều cổ đông Pháp luật Việt Nam quy định, CTCP phải có tối thiểu là 3 cổ đông và không hạn chế số lượng tối

đa Cổ đông của CTCP có thể là tổ chức hoặc cá nhân, trừ những trường hợp bị cấm theo quy định tại Điều 18 LDN 2014

Trên thực tế cổ đông của CTCP có thể bao gồm nhiều loại và với những tên gọi khác nhau Cổ đông tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản điều lệ đầu

tiên của CTCP được gọi là cổ đông sáng lập Người mua cổ phần là cá nhân với số

lượng nhỏ, đơn lẻ vì mục đích chờ chênh lệch mệnh giá, chờ may cổ tức hay đơn

giản chỉ để duy trì việc làm được gọi là cổ đông cá nhân Cổ đông là các tổ chức như cơ quan nhà nước, ngân hàng, quỹ bảo hiểm và các tổ chức khác được gọi là cổ

đông thiết chế Người nắm giữ phần vốn đáng kể trong công ty, có thể gom để thao

túng công ty được gọi là cổ đông đa số Người nắm giữ ít cổ phần, không có ảnh hưởng đáng kể trong quản lý và điều hành công ty được gọi là cổ đông thiểu số Các

cơ sở kinh doanh cung cấp nguồn vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu hoặc hệ thống đại

lý, người bán hàng hoặc hệ thống cung cấp tín dụng, hỗ trợ công nghệ có liên quan

Trang 13

mật thiết đến hoạt động kinh doanh của công ty khi họ mua cổ phần của công ty thì

họ có thể được gọi là cổ đông chiến lược Cổ đông có thể là các nhà đầu tư là cá

nhân hoặc tổ chức ở trong nước hoặc ở nước ngoài

Cổ đông là chủ sở hữu công ty nhưng không nhất thiết phải tham gia quản lý công ty, họ thực hiện quyền giám sát thông qua cơ chế uỷ quyền, đại diện như bỏ phiếu tại ĐHĐCĐ, bầu HĐQT, thông qua định hướng phát triển công ty Dưới góc

độ pháp lý, LDN 2014 qui định có ba loại cổ đông là cổ đông sáng lập, cổ đông phổ

thông và cổ đông ưu đãi

Cổ đông sáng lập là những người khai sinh ra công ty trên cơ sở hợp đồng thành lập công ty Hợp đồng thành lập công ty là sự thể hiện năng lực, trách nhiệm của cổ đông sáng lập, đồng thời là cơ sở pháp lý nhằm hạn chế sự ra tăng việc lợi dụng thành lập công ty để chiếm dụng vốn, tài sản của cổ đông khác Theo khoản 1 Điều 119 LDN 2014, công ty cổ phần mới thành lập phải có ít nhất 03 cổ đông sáng lập; công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước hoặc từ công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc được chia, tách, hợp nhất, sáp nhập từ công ty cổ phần khác không nhất thiết phải có cổ đông sáng lập Trường hợp không có cổ đông sáng lập, Điều lệ công ty cổ phần trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có chữ ký của người đại diện theo pháp luật hoặc các cổ đông phổ thông của công ty đó Theo khoản 2 Điều 119 LDN 2014, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp Qui định này nhằm nâng cao trách nhiệm, vị trí, vai trò của các

cổ đông sánh lập trong công ty

Cổ đông phổ thông là những người sở hữu cổ phần phổ thông Cổ đông phổ thông thường chiếm ưu thế về số lượng trong CTCP và cả trong hoạt động quản lý, điều hành công ty, thực hiện các hoạt động liên quan đến quản lý nhân sự và giám sát hoạt động của công ty theo tỷ lệ và mức độ sở hữu trong công ty

Cổ đông ưu đãi là người sở hữu cổ phần ưu đãi Cổ đông ưu đãi bao gồm cổ đông ưu đãi biểu quyết, cổ đông ưu đãi cổ tức, cổ đông ưu đãi hoàn lại và các cổ

Trang 14

đông ưu đãi khác do điều lệ công ty qui định Mức độ đa dạng của các loại cổ đông

ưu đãi về hình thức và đối tượng sở hữu trong CTCP đã góp phần tạo nên tính linh hoạt, mềm dẻo của công ty đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư, huy động tối đa được các nguồn vốn

Tóm lại, CTCT có sự tham gia góp vốn của nhiều cổ đông Chính sự đa dạng trong cơ cấu cổ đông dẫn đến sự phức tạp trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cổ đông Quyền của cổ đông trong CTCP ở Việt Nam hiện nay được quy định tại Điều 114, 115, 116, 117, 118 và 119 LDN 2014

- Thứ ba, đặc điểm về trách nhiệm tài sản của CTCP và của cổ đông

Khi một tổ chức hay cá nhân mua cổ phần của CTCP tức là họ đã chuyển dịch vốn góp đó trở thành tài sản thuộc sở hữu của CTCP CTCP với tư cách là một thương nhân có tư cách pháp nhân nên CTCP phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng toàn bộ tài sản công ty, còn các cổ đông của CTCP với tư cách là những người chủ của công ty thì họ chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Công ty trong phạm vi số vốn mà họ đã góp vào công ty

Đặc điểm nói trên của công ty xác định sự tách bạch về tài sản của cổ đông và của công ty Khi công ty làm ăn có lãi thì họ được chia cổ tức tương ứng với phần vốn đó còn khi công ty làm ăn thua lỗ thì họ cũng chỉ chịu rủi ro trong phạm vi số vốn đã bỏ ra để mua cổ phần

- Thứ tư, đặc điểm về tính tự do chuyển nhượng cổ phần

Pháp luật về công ty của các nước trên thế giới hầu hết đều quy định, cho phép các cổ đông của CTCP được chuyển nhượng một cách dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do công ty phát hành cho người khác Vì phần vốn góp (cổ phần) của các cổ đông được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Cổ phiếu là một loại hàng hóa nên các cổ đông sở hữu cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng Hơn nữa, vì trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn trong phạm vi số cổ phần mà họ sở hữu nên khi

Trang 15

muốn rút vốn khỏi công ty thì họ chỉ việc chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác Việc chuyển nhượng này được thực hiện thông qua hình thức mua bán

cổ phiếu trên thị trường chứng khoán - nơi mà các chủ thể đầu tư vô cùng đa dạng, đông đảo nên việc mua bán này diễn ra khá nhanh chóng và dễ dàng, mang lại cho nền kinh tế sự vận động nhanh chóng của vốn đầu tư mà không phá vỡ tính ổn định

về tài sản của công ty và đem lại ý nghĩa rất lớn cho sự phát triển của nền kinh tế Chính vì lẽ đó mà hình thức CTCP ngày càng chiếm lĩnh vị trí hàng đầu ở các nước

có nền kinh tế thị trường phát triển, đặc biệt là ở Mỹ - nơi mà nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới thì loại hình công ty này phát triển rất cao và dành được sự quan tâm lớn của các nhà kinh doanh cũng như của công chúng đầu tư

Theo pháp luật Việt Nam, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 116 và khoản 3 Điều 119 của LDN 2014, cụ thể là:

+ Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác Tuy nhiên, ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông

+ Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng

ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trong trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó Sau thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ

- Thứ năm, đặc điểm về tư cách pháp nhân của CTCP

Pháp nhân là một khái niệm kinh điển trong khoa học pháp lí cũng như luật

Trang 16

pháp Việc xác lập tư cách pháp nhân cho một doanh nghiệp có liên hệ mật thiết đến khả năng chịu trách nhiệm độc lập về tài sản của doanh nghiệp đó Trên nguyên tắc, những doanh nghiệp có sự tách bạch về tài sản (thực hiện nguyên tắc phân tách tài sản) được gọi là pháp nhân Ngược lại, những doanh nghiệp không thực hiện nguyên tắc tách bạch về tài sản sẽ không có bản chất pháp nhân Như trên đó phân tích, CTCP có sự tách bạch về tài sản của công ty với tài sản của cổ đông Do đó, pháp luật của các nước đều quy định CTCP là một pháp nhân

Theo LDN 2014 của Việt Nam, CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Như vậy, CTCP là một pháp nhân Sau khi ra đời, CTCP có đời sống pháp lý độc lập với những cổ đông đã thành lập và góp vốn vào công ty CTCP được nhân danh chính mình tham gia vào các giao dịch một cách độc lập Nó là nguyên đơn, bị đơn trong các quan hệ tố tụng, được hưởng các quyền và phải gánh chịu trách nhiệm trước các nghĩa vụ phát sinh bằng toàn bộ tài sản của công ty

- Thứ sáu, đặc điểm về khả năng huy động vốn

Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần theo quy định của pháp luật về cổ phần để huy động vốn Theo khoản 3 Điều 110 LDN

2014: “Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn”

Quy định trên đã thể hiện khả năng huy động vốn lớn của CTCP Tuy nhiên, cũng chính vì điều này mà CTCP phải chịu sự ràng buộc của nhiều quy chế pháp lý

để tránh sự mạo hiểm, rủi ro cho công chúng do Công ty gây ra và cũng chính sự ra đời của CTCP đã dẫn tới sự ra đời của thị trường cổ phần

1.2 Khái niệm và đặc điểm về vốn của công ty cổ phần

1.2.1 Khái niệm vốn của công ty cổ phần

Hoạt động kinh doanh nhìn từ góc độ tài chính là quá trình tạo lập và sử dụng vốn, vì vốn là nhân tố cơ bản, là điều kiện vật chất không thế thiếu đối với một doanh nghiệp Các chủ thể trong xã hội khi có ý định thành lập, duy trì hoạt động

Trang 17

hay mở rộng quy mô sản xuất thì họ luôn cân nhắc xem mình cần có bao nhiêu vốn, còn thiếu bao nhiêu, bổ sung bằng cách nào và làm thế nào để sử dụng vốn

hiệu quả nhất

Vốn của doanh nghiệp có thể được hiểu dưới các góc độ khác nhau Dưới góc

độ kinh tế vốn được coi là “toàn bộ giá trị chiếm dụng mà doanh nghiệp dùng để

mua tư liệu sản xuất, trả thù lao cho người lao động trong quá trình sản xuất, kinh doanh” hay vốn là “tổng thể nói chung những tài sản bỏ ra lúc đầu, thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất, kinh doanh, nói chung trong hoạt động sinh lợi” Như vậy, dù được định nghĩa ở góc độ nào thì cũng thể hiện một cách nhất

quán rằng vốn là toàn bộ giá trị mà doanh nghiệp đưa vào hoạt động sản xuất, kinh

doanh thu lợi nhuận [2, tr27-28]

CTCP là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, các cổ đông không quan tâm đến thân nhân của nhau mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp, việc đưa ra định nghĩa về vốn và các vấn đề về cơ cấu vốn là một nội dung pháp lý có ý nghĩa quan trọng Tuy nhiên, hiện nay trong pháp luật Việt Nam không có khái niệm vốn của CTCP Theo Luật Công ty của Thái Lan, Malayxia, Philippin, Singapore thì vốn của công ty là khoản tiền có thể được đầu tư hoặc thực sự được đầu tư vào một công ty bằng việc mua bán cho các chủ đầu tư những cổ phần thể hiện lợi ích, quyền sở hữu của họ trong công ty [3, tr28] Trong điều luật này, dù chủ

ý ban đầu của nhà làm luật là đưa định nghĩa chung về vốn cho các loại hình công ty nhưng việc vốn của công ty được xác định là cổ phần thì rõ ràng chỉ phù hợp với CTCP Song nhìn một cách toàn diện thì khái niệm này cũng không thể coi là chuẩn mực cho khái niệm vốn nói chung của CTCP, vì nó mới chỉ đề cập tới một khía cạnh của vốn trong CTCP là vốn điều lệ mà không nói tới vốn vay của công ty Còn nếu căn cứ vào khái niệm về vốn của doanh nghiệp nói chung ở trên để đưa ra khái niệm vốn cho CTCP thì chúng ta có thể hiểu vốn của CTCP

là giá trị toàn bộ tài sản của CTCP (được tính bằng tiền) được đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận cho công ty Tuy

Trang 18

nhiên, với cách định nghĩa này thì chỉ cho thấy khía cạnh kinh tế về vốn của CTCP mà chưa thể làm bật nên các nội dung quan trọng của vốn đối với CTCP, cũng như việc nhìn ra được sự khác biệt giữa vốn của CTCP so với vốn của các

loại hình doanh nghiệp khác

1.2.2 Đặc điểm về vốn của công ty cổ phần

Ra đời như một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế tự do cạnh tranh, CTCP có những ưu thế về vốn hơn hẳn các loại hình doanh nghiệp khác Vốn của công ty cổ phần có những đặc điểm sau:

- Thứ nhất, đặc trưng về vốn của CTCP thường thể hiện ở vốn điều lệ

Vốn điều lệ của CTCP thể hiện những nét đặc trưng nhất của CTCP để qua đó

có thể phân biệt với các loại hình doanh nghiệp khác cũng như vốn điều lệ của các loại hình doanh nghiệp đó

Trong CTCP, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, các phần này gọi là cổ phần, hình thức thể hiện của cổ phần là cổ phiếu, giá trị của mỗi cổ phần do công ty quyết định Ý tưởng chia nhỏ vốn điều lệ thành những phần bằng nhau xuất phát từ đòi hỏi mang tính chất công bằng của các chủ tư bản mà một thời kỳ người ta gọi là “nền dân chủ cổ phần” Lịch sử đã chứng minh, sự ra đời của CTCP gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản ở Châu

Âu thế kỷ VIII, IX Bên cạnh nhu cầu phải tập trung những nguồn vốn lớn để bành trướng hơn nữa thế lực kinh doanh của mình thì các chủ tư bản cũng rất quan tâm đến quyền lợi công bằng trong kinh doanh - một trong những nhân tố làm nên xu thế dân chủ thời kỳ đó Việc chia vốn điều lệ thành những phần bằng nhau sẽ tạo ra hệ quả là quyền, nghĩa vụ, hay lợi ích ngang nhau trong mỗi cổ phần cùng loại Do đó, cả những cổ đông vốn chỉ sở hữu một cổ phần thì họ vẫn

có thể tham gia vào việc quyết định những vấn đề quan trọng của công ty Đây là đặc điểm chỉ có ở CTCP và cũng chính nó tạo ra những lợi thế của CTCP so với các loại hình doanh nghiệp khác

Trang 19

Trong khi đó, vốn điều lệ của công ty TNHH hay công ty hợp danh không có kết cấu như vậy Vốn điều lệ của công ty TNHH, của công ty hợp danh là số vốn

do các thành viên góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ của công ty Vốn điều lệ của những loại hình công ty này không nhất thiết phải chia thành các phần bằng nhau và cũng không được thể hiện dưới hình thức chứng khoán là cổ phần mà được thể hiện dưới dạng là tỷ lệ phần trăm vốn góp của từng thành viên Tại thời điểm thành lập công ty, vốn điều lệ của công ty TNHH hay công ty hợp danh là số vốn do các thành viên sáng lập góp hoặc cam kết góp, còn đối với CTCP thì vốn điều lệ không nhất thiết phải do các

cổ đông sáng lập đăng ký mua hết mà còn có thể được chào bán ra bên ngoài cho các tổ chức, cá nhân khác Ngoài ra, vốn điều lệ của CTCP luôn biến động, nhạy cảm với thị trường bởi lẽ việc huy động vốn điều lệ (phát hành cổ phiếu hay trái phiếu) của CTCP còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: năng lực hoạt động,

uy tín và vị thế của công ty trên thị trường… Song bản thân vốn điều lệ của CTCP không phải lúc nào cũng phản ánh đầy đủ năng lực tài chính thực có của CTCP Vào một thời điểm nhất định, vốn điều lệ của CTCP có thể cao hơn (khi công ty họat động không tốt) hoặc thấp hơn (khi công ty hoạt động có lãi) nguồn vốn thực có của công ty Chính điều này, đòi hỏi các nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư vào CTCP phải có sự tìm hiểu rõ ràng về thực trạng tài chính cũng như năng lực hoạt động của công ty để hạn chế rủi ro Bên cạnh đó việc chia vốn điều

lệ thành các cổ phần bằng nhau đã giúp cho việc chuyển nhượng được thực hiện một cách dễ dàng, linh hoạt, tạo tâm lý thoải mái cho các nhà đầu tư khi tham gia vào loại hình công ty này

- Thứ hai, vốn của CTCP chủ yếu là vốn huy động từ bên ngoài

Trong số các loại hình doanh nghiệp, CTCP có cơ chế huy động vốn phong phú, đa dạng nhất Vốn được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: CTCP có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu các loại; vay vốn từ Ngân hàng hay các tổ chức, cá nhân trong xã hội; sử dụng hình thức cho thuê tài chính… Cũng như các chủ thể

Trang 20

kinh doanh khác, CTCP có quyền sử dụng mọi hình thức mà pháp luật không cấm

để tạo lập hay bổ sung nguồn vốn cho hoạt động của mình Theo LDN 2014, doanh

nghiệp tư nhân, công ty hợp danh “không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng

khoán nào” (Khoản 3 Điều 172 và Khoản 2 Điều 183) Khả năng huy động vốn của

công ty TNHH có nhiều thuận lợi hơn nhưng cũng “không được quyền phát hành cổ

phiếu để huy động vốn” (Khoản 3 Điều 47) Nhìn chung các loại hình doanh nghiệp

này nguồn hình thành vốn chủ yếu đều là từ sự đóng góp của các thành viên, nhất là các thành viên sáng lập CTCP khẳng định sự lý tưởng hơn trong cơ chế huy động

vốn vì nó có “quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn” (Khoản 3 Điều

110 LDN 2014) Huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu chính là công

cụ huy động vốn riêng có của CTCP, đem đến ưu thế rất lớn cho CTCP, thu hút được nguồn vốn khá lớn trong dân chúng, và có được nguồn vốn huy động lớn hơn vốn thực có ban đầu

- Thứ ba, cơ cấu vốn ảnh hướng lớn tới tổ chức quản lý của CTCP

Vốn của CTCP là cội nguồn của quyền lực, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, cơ chế quản lý trong CTCP dựa trên sức mạnh kinh tế của các nhóm sở hữu trong công

ty CTCP được phát hành các loại chứng khoán ra thị trường và việc chuyển nhượng vốn được thực hiện một cách tự do, linh hoạt nên số lượng cổ đông trong CTCP thường rất lớn Với quy mô hoạt động lớn như vậy, nên bộ máy tổ chức quản

lý công ty được xây dựng phải thể hiện tính chuyên nghiệp hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác, việc tổ chức quản lý CTCP có sự phân định rõ ràng giữa quyền

sở hữu và quyền quản lý Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) là cơ quan quyền lực nhất của công ty chỉ bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết mà không phải là bao gồm tất cả các thành viên góp vốn vào công ty như Hội đồng thành viên của công ty TNHH hay của công ty hợp danh CTCP còn có Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản lý để quyết định các vấn đề không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông, số lượng thành viên Hội đồng quản trị không ít hơn 3 và không nhất thiết là cổ đông của công ty Trong CTCP, giám đốc có thể là người đại

Trang 21

diện theo pháp luật của công ty và là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng

ngày của công ty lại thường được thuê ở bên ngoài Rõ ràng việc quy định như vậy

cho thấy cơ chế quản lý của CTCP hợp lý, minh bạch, rõ ràng hơn so với các loại hình

doanh nghiệp khác Bản thân mỗi cổ đông có thể không phải là người quản lý công ty,

nhưng thông qua việc góp vốn nắm quyền sở hữu công ty, họ bầu ra bộ máy quản lý sử

dụng vốn của Công ty, nên vốn của công ty có ảnh hưởng lớn đến tổ chức nội

bộ CTCP

- Thứ tư, vốn của CTCP có mối liên hệ mật thiết với thị trường chứng khoán

Sự ra đời và phát triển của CTCP gắn liền với sự ra đời và phát triển của thị

trường chứng khoán, vì trong quá trình hoạt động kinh doanh CTCP được phát hành

các loại chứng khoán ra công chúng để huy động vốn Cổ phiếu của CTCP là hàng

hóa cho thị trường chứng khoán, đây cũng là nguồn vốn cần thiết cho Công ty để

phát triển sản xuất kinh doanh Bản chất của thị trường chứng khoán là rất sôi động

và nhạy cảm nên nếu CTCP làm ăn có lãi (vốn thực có tăng lên) làm cho các nhà

đầu tư yên tâm, giá cổ phiếu gia tăng khiến thị trường chứng khoán phát triển Còn

nếu CTCP làm ăn không hiệu quả (vốn thực có giảm) giá cổ phiếu sụt giảm gây

phản ứng không tốt cho thị trường chứng khoán Để tạo điều kiện cho thị trường

chứng khoán hoạt động, trở thành kênh huy động vốn có hiệu quả nhất, CTCP phải

cung cấp hàng hóa có chất lượng và có nguồn vốn thực sự lành mạnh, do đó vốn

của CTCP có mối liên hệ mật thiết với thị trường chứng khoán

- Thứ năm, cổ phần của các cổ đông trong CTCP có thể tự do chuyển nhượng

Đây là đặc trưng chủ yếu về vốn của CTCP so với các loại hình doanh

nghiệp khác Để tránh thiệt hại có thể có cho công ty do sự thay đổi đột ngột về vốn,

pháp luật không cho phép cổ đông trực tiếp rút phần vốn góp ra khỏi công ty, khi

muốn thu hồi vốn đó cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phần cổ phần cho người

khác (trừ một số trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định) Việc chuyển nhượng

cổ phần trong CTCP được thực hiện tương đối dễ dàng thông qua thị trường chứng

khoán, trên nguyên tắc bình đẳng, công khai Chính sự linh hoạt này đã tạo điều

Trang 22

kiện thuận lợi cho người mua cổ phần và khuyến khích việc đầu tư vào công ty, đem lại ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển nền kinh tế

Tóm lại, vốn trong CTCP là một nguồn vốn mở, các yếu tố trong đó có thể dễ dàng luôn chuyển tạo nên tính linh động, hấp dẫn với nhiều nhà đầu tư Đây chính là

lý do vì sao loại hình doanh nghiệp này trở thành một hình thức tổ chức kinh doanh tiến bộ, có khả năng huy động số lượng vốn nhàn rỗi trong dân chúng, khả năng tích

tụ và tập trung vốn với quy mô lớn và là loại hình doanh nghiệp lớn nhất hiện nay

1.3 Cơ cấu vốn của công ty cổ phần

Cơ cấu vốn của CTCP là một chỉnh thể gồm các bộ phận cấu thành vốn của CTCP và có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, để xác định đúng bản chất cơ cấu vốn của CTCP, xác định vị thế của CTCP trong nền kinh tế, cần xem xét cơ cấu vốn của CTCP từ hai phương diện pháp lý và kinh tế

1.3.1 Dưới góc độ kinh tế

Cơ cấu vốn của CTCP do công ty quyết định phù hợp với tính chất ngành nghề

và lĩnh vực kinh doanh Nhìn dưới góc độ kinh tế, cơ cấu vốn của CTCP bao gồm: vốn cố định và vốn lưu động

- Vốn cố định: là giá trị được tính bằng tiền của tài sản cố định và các khoản

đầu tư dài hạn

+ Tài sản cố định: là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn tham gia

vào nhiều chu kỳ sản xuất, giá trị của nó được chuyển dịch dần từng lần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ sản xuất Tài sản cố định bao gồm: những tư liệu lao động chủ yếu được biểu hiện bằng các hình thái vật chất cụ thể như: nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, các vật kiến trúc và tài sản cố định vô hình (là những tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư, có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh như: chi phí thành lập, nhãn hiệu hàng hóa, giá trị lợi thế thương

mại vv) [2, tr30]

Trang 23

+ Các khoản đầu tư dài hạn: bao gồm các loại chứng khoán dài hạn, vốn góp

liên doanh dài hạn, cho vay vốn dài hạn, cho thuê tài sản cố định theo phương thức thuê tài chính, đầu tư kinh doanh bất động sản…

- Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền (trị giá) của tài sản lưu động Tài sản lưu

động là các đối tượng lao động (như nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm…) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá sản phẩm Tài sản lưu động bao gồm: tiền, các chứng khoán ngắn hạn, tài sản chưa thanh toán, tài sản dự trữ trong sản xuất kinh doanh [2, tr30]

1.3.2 Dưới góc độ pháp lý

Dưới góc độ pháp lý, cơ cấu vốn của CTCP bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay

- Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc sở hữu của công ty được hình thành từ

nguồn đóng góp của các cổ đông và vốn do CTCP tự bổ sung từ lợi nhuận của công ty Đây là nguồn vốn độc lập, tự chủ của doanh nghiệp, phán ánh khả năng tài chính thực sự của CTCP Trong quá trình hoạt động, nguồn vốn chủ sở hữu được bổ sung bằng cách phát hành cổ phiếu Khi hoạt động kinh doanh hiệu quả, công ty còn thu được lợi nhuận Phần lợi nhuận sau thuế được phân chia do Đại hội đồng cổ đông quyết định, còn phần lợi nhuận không chia (lợi nhuận lưu giữ)

để tái đầu tư

Trong nguồn vốn chủ sở hữu thì vốn điều lệ là phần vốn quan trọng nhất Đây

là số vốn do các cổ đông sáng lập và các cổ đông khác góp vào công ty thông qua việc mua cổ phần và được ghi vào điều lệ công ty Bộ phận chủ yếu trong vốn chủ

sở hữu là vốn điều lệ Phần vốn này cho phép các đối tác biết độ tin cậy, năng lực, quy mô của công ty ở mức độ nào để trên cơ sở đó xác định các giao kết, đồng thời thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt tài sản của chủ sở hữu đối với mọi rủi ro của công ty, trách nhiệm đó được giới hạn trong số vốn mà chủ sở hữu góp vào Vốn điều lệ của CTCP được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần CTCP có thể

Trang 24

phát hành nhiều loại cổ phần như cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi (cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi cổ tức…)

+ Cổ phần phổ thông: là cổ phần cơ bản không thể thiếu của CTCP Theo Khoản 1 Điều 113 LDN 2014: “Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông Người

sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông” Pháp luật Việt Nam và các nước

trên thế giới đều quy định CTCP bắt buộc phải có cổ phần phổ thông, vì loại cổ phần này mang lại đầy đủ những lợi ích cũng như trách nhiệm mà một cổ đông cần phải có để trở thành chủ sở hữu công ty Với loại cổ phần này cổ đông có thể tham gia quản lý, điều hành công ty, chia lợi nhuận cũng như chịu rủi ro theo kết quả kinh doanh của công ty Pháp luật Việt Nam quy định cổ đông phổ thông có các quyền và nghĩa vụ cơ bản quy định tại Điều 114, 115 LDN 2014, trong đó mỗi cổ phần phổ thông là một phiếu biểu quyết, cổ đông nào sở hữu càng nhiều cổ phần thì quyền lợi của họ trong công ty càng tăng lên Theo Khoản 2 Điều 114 LDN 2014 thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công

ty có thêm các quyền như: Đề cử người vào HĐQT và Ban kiểm soát (nếu có)… Ngoài ra cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 LDN 2014, được hưởng cổ tức theo kết quả kinh doanh và giá trị cổ phiếu họ nắm giữ

Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó Bình thường thì cổ đông phổ thông chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công

Trang 25

ty trong phạm vi số vốn đã góp, nhưng cũng có trường hợp cổ đông phổ thông phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty dưới mọi hình thức để thực hiện một trong các hành vi như: vi phạm pháp luật, tiến hành kinh doanh

và các giao dịch khác để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác, thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra với công ty

+ Cổ phần ưu đãi: là loại cổ phần không nhất thiết phải có ở CTCP Nếu

CTCP có cổ phần ưu đãi thì cổ phần ưu đãi có thể bao gồm các loại sau:

Cổ phần ưu đãi biểu quyết: là cổ phần có số phiếu biểu nhiều hơn so với cổ

phần phổ thông Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định Cổ đông ưu đãi biểu quyết cũng có quyền biểu quyết mọi vấn đề như cổ đông phổ thông, tuy nhiên do số phiếu biểu quyết trên mỗi cổ phần cao hơn nên cổ đông ưu đãi biểu quyết thường giữ vai trò quan trọng trong việc quyết quyết định các vấn đề của công ty Chính yêu tố gắn liền với quyền lực này mà pháp luật chỉ cho phép hai chủ thể được quyền sở hữu loại cổ phần ưu đãi biểu quyết là tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập Cổ đông ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác (Khoản 3 Điều 116 LDN 2014), do họ là người đưa ra các quyết định quan trọng trong công ty nên phải

có trách nhiệm với công ty và không được quyền chuyển nhượng quyền biểu quyết của mình cho ai Cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ tồn tại trong thời hạn ba năm thì chuyển đổi thành cổ phần phổ thông

Cổ phần ưu đãi cổ tức: là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức

cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm Cổ tức được chia hằng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty Loại cổ phần này có sức hút đông đảo các nhà đầu tư chỉ quan tâm đến lợi nhuận Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức Ngoài ra, loại cổ tức này còn được ưu tiên thanh toán cho các cổ đông sở hữu nó trước cả cổ đông phổ thông

Trang 26

trong trường hợp công ty giải thể hoặc phá sản, sau khi công ty đã thanh toán hết các khoản nợ, cổ phần ưu đãi hoàn lại Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức cũng phải chịu hạn chế như không có quyền tham gia vào quản lý công ty tức không có quyền biểu quyết, dự họp ĐHĐCĐ, đề cử người vào HĐQT và Ban kiểm soát

Cổ phần ưu đãi hoàn lại: là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi

nào theo yêu cầu của của người sở hữu hoặc theo các điều kiện ghi tại cổ phiếu của

cổ phần ưu đãi hoàn lại Chính khả năng rút vốn dễ dàng, linh động khi có nhu cầu

là động lực cơ bản thúc đẩy các nhà đầu tư sở hữu loại cổ phần này Cổ đông sở hữu

cổ phần ưu đãi hoàn lại cũng có các quyền giống như cổ phần phổ thông nhưng không được tham gia vào quản lý công ty tức không có quyền biểu quyết, dự họp ĐHĐCĐ, đề cử người vào HĐQT và Ban kiểm soát

Ngoài các cổ phần ưu đãi trên còn một số cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công

ty quy định Trừ loại cổ phần ưu đãi biểu quyết thì các loại cổ phần còn lại đều do Điều lệ công ty quy định hoặc do ĐHĐCĐ quyết định Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau Cổ phần ưu đãi thì có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của ĐHĐCĐ nhưng không có chiều ngược lại tức cổ phần phổ thông không được chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi

Mỗi loại cổ phần trong CTCP đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Cổ phần phổ thông có ưu điểm là được tự do chuyển nhượng, mua bán trên thị trường, đem lại lợi thế cho công ty trong việc tập trung và huy động vốn lớn nhưng lại tiềm

ẩn rủi ro cao, không nhận được lợi tức nếu công ty thua lỗ Cổ phần ưu đãi biểu quyết thì có số phiếu biểu quyết cao hơn cổ phần phổ thông, nắm quyền quản lý công ty nhưng lại bị hạn chế trong việc chuyển nhượng Cổ phần ưu đãi cổ tức thì đem lại cho người sở hữu cổ phần được nhận số cổ tức cao hơn so với cổ phần phổ thông nhưng lại không có quyền biểu quyết trong công ty Do đó, tùy thuộc vào nhu cầu của từng cổ đông mà họ sẽ có lựa chọn riêng cho mình trong việc sở hữu phần vốn ở CTCP

Trang 27

Nguồn vốn chủ sở hữu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của CTCP, tạo điều kiện thuận lợi cho công ty chủ động hoàn toàn trong sản xuất, có cơ sở để kịp thời đưa ra các quyết sách trong kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu mà không phải tìm kiếm và phụ thuộc vào nguồn vốn tài trợ Nhưng không phải bao giờ nguồn vốn này cũng đáp ứng được nhu cầu trong sản xuất kinh doanh của công ty, lúc đó CTCP phải hướng tới nguồn vốn hiệu quả, có thể đem đến những quyết định đầu tư khôn ngoan trong kinh doanh nhờ sức ép cao

về chi phí sử dụng vốn, sự giám sát, tư vấn của các chuyên gia, các tổ chức (như ngân hàng) Đó chính là vốn vay

- Vốn vay: Vốn vay là nguồn vốn hình thành từ việc đi vay dưới các hình thức

khác nhau: vay ngân hàng, vay của các tổ chức, cá nhân khác hoặc vay bằng cách phát hành trái phiếu để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và phải hoàn trả cả gốc và lãi khi hết thời hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng hoặc ghi nhận trên một giấy tờ có giá trị nào đó

Xác định cơ cấu vốn giúp cho CTCP lựa chọn một tỷ lệ vốn vay trên vốn điều lệ hợp lý vừa để phản ánh thế mạnh tài chính của công ty, vừa tạo niềm tin cho các đối tác của mình Tỷ lệ này do mỗi công ty tự xác định căn cứ vào phạm vi, quy mô kinh doanh, uy tín, năng lực quản lý của công ty trên thị trường Nếu số vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ quá lớn trong tổng số vốn của CTCP thì giúp công ty tự chủ về tài chính và

có năng lực trả nợ tốt Nhưng sẽ khiến cơ cấu thành viên của công ty khá phức tạp, ảnh hưởng đến địa vị cũng như quyền lợi của các cổ đông hiện hữu, lợi nhuận thu được của công ty phải chia nhiều hơn cho các cổ đông Vốn vay chiếm tỷ lệ quá lớn sẽ giải quyết được các hạn chế này nhưng sẽ khiến CTCP dễ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán và mất đi tính tự chủ về tài chính trong kinh doanh Do đó đòi hỏi công ty cần thận trọng khi quyết định việc huy động vốn từ các nguồn khác nhau

Vốn vay thông qua tổ chức tín dụng là một hình thức huy động vốn phổ biến của các doanh nghiệp ở Việt Nam Công ty có thể có được các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, đáp ứng được yêu cầu của các hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 28

Tuy nhiên để được vay vốn, các doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện nhất định nhưng không phải lúc nào CTCP cũng đáp ứng đủ điều kiện về tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn vay Một giải pháp để tài trợ vốn trung hạn và dài hạn cho các doanh nghiệp là sự ra đời của công ty cho thuê tài chính là Có thể hiểu thuê mua tài chính thực chất là công ty tài chính cấp tín dụng bằng tài sản cho các CTCP

có sử dụng dịch vụ này

Hiện nay, các doanh nghiệp thường chỉ quan tâm tới hình thức vay vốn từ ngân hàng mà chưa thực sự để ý tới một công cụ huy động vốn khá hiệu quả là phát hành trái phiếu, đây là hình thức khá hiệu quả bởi số vốn huy động được thường lớn

và thời gian huy động khá dài Theo Khoản 3 Điều 6 Luật chứng khoán 2006 thì

“Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành” Tuy nhiên trái phiếu doanh

nghiệp thì được quy định cụ thể tại Điều 2 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp Trong đó, trái phiếu doanh nghiệp được định nghĩa

như sau: “Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát

hành, xác nhận nghĩa vụ trả gốc, lãi và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh

nghiệp đối với người sở hữu trái phiếu.”

Khác với cổ phiếu là chứng từ xác nhận cổ phần trong công ty, trái phiếu chỉ xác nhận quyền của người sở hữu trái phiếu được trả nợ gốc và lãi suất ấn định trong trái phiếu Người sở hữu trái phiếu sẽ thành chủ nợ của công ty, có quyền đòi thanh toán các khoản nợ song không đương nhiên trở thành cổ đông của công ty, không có quyền tham gia hoạt động của công ty Điểm cơ bản để phân biệt trái phiếu với hình thức vay nợ khác là chúng có khả năng trao đổi Người mua trái phiếu ban đầu có thể bán nó đi chứ không nhất thiết phải giữ lại cho đến thời điểm đáo hạn Có nhiều cách phân loại trái phiếu khác nhau, trong đó có hai cách phân

loại trái phiếu như sau:

+ Thứ nhất: Trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu không chuyển đổi Trái phiếu

chuyển đổi là loại trái phiếu do công ty cổ phần phát hành, có thể chuyển đổi thành

Trang 29

cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp phát hành theo các điều kiện đã được xác định trong phương án phát hành trái phiếu Trái phiếu không chuyển đổi là loại trái phiếu không có khả năng chuyển đối thành cổ phiếu

+ Thứ hai: Trái phiếu bảo đảm và trái phiếu không bảo đảm Trái phiếu có bảo

đảm là loại trái phiếu được bảo đảm thanh toán toàn bộ hoặc một phần gốc, lãi khi đến hạn bằng tài sản của doanh nghiệp phát hành hoặc tài sản của bên thứ ba; hoặc được bảo lãnh thanh toán của tổ chức tài chính, tín dụng có chức năng cung cấp dịch vụ bảo lãnh thanh toán Trái phiếu không có bảo đảm là loại trái phiếu không bảo đảm thanh toán toàn bộ hoặc một phần gốc, lãi khi đến hạn bằng tài sản của doanh nghiệp phát hành hoặc tài sản của bên thứ ba; hoặc được bảo lãnh thanh toán của tổ chức tài chính, tín dụng có chức năng cung cấp dịch vụ bảo lãnh thanh toán Trái phiếu được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử

Tóm lại, vốn vay có ý nghĩa rất lớn đối với CTCP, bảo đảm cung cấp đầy đủ, kịp thời vốn cho sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho CTCP nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Tuy nhiên sử dụng nguồn vốn nó làm công ty phụ thuộc vào nguồn vốn vay, tốn kém về chi phí sử dụng (lãi suất tiền vay) Do đó, khi vay CTCP phải cân nhắc kỹ, nếu không tính toán chính xác, thận trọng, hiệu quả kinh doanh và lợi nhuận của công ty sẽ bị ảnh hưởng bởi lãi suất tiền vay

CTCP phải giải quyết được mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay để phân tích và lựa chọn các nguồn vốn và hình thức huy động vốn Dù huy động vốn dưới hình thức nào cũng phải trả một khoản chi phí bảo đảm những điều kiện nhất định đòi hỏi công ty phải tính toán hiệu quả, cân nhắc lãi suất, thời hạn và điều kiện Nhìn chung, vốn chủ sở hữu của CTCP là tiền đề hết sức quan trọng trong sự phát triển của công ty Nguồn tài trợ từ bên ngoài là cần thiết nhưng không nên trông đợi quá mức vào nguồn vốn đó Điều quan trọng là CTCP phải xây dựng được một kết cấu tối ưu cho các nguồn vốn của mình

Trang 30

1.4 Ảnh hưởng của vốn đối với hoạt động của công ty cổ phần

Tổ chức và hoạt động của CTCP dựa trên nguyên tắc đối vốn, do đó vốn có ảnh hưởng cơ bản đến cơ cấu tổ chức quản lý cũng như đến việc phân chia lợi nhuận của CTCP

1.4.1 Ảnh hưởng của vốn tới cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần

CTCP là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn Khi tham gia vào công ty các cổ đông không quan tâm đến nhân thân của nhau mà họ chỉ quan tâm đến số vốn góp vào công ty Như vậy, trong CTCP vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến tổ chức điều hành công ty Với sư đa dạng trong cơ cấu vốn như đã phân tích tại mục 1.3 nói trên giúp công ty có nguồn vốn lớn, có khả năng huy động nhanh giúp công ty hoạt động tốt

Với tính chất đa sở hữu, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, cơ chế quản lý trong CTCP dựa trên sức mạnh kinh tế của những nhóm cổ đông trong công ty Trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty có sự phân chia quyền lực giữa các bộ phận Sự phân chia quyền lực này như thế nào phụ thuộc vào tỉ lệ vốn góp của các

cổ đông Công ty càng có nhiều cổ đông, tỷ lệ vốn góp của các cổ đông không giống nhau, có người nắm nhiều cổ phần (cổ đông lớn – cổ đông đa số), có người nắm ít cổ phần (cổ đông nhỏ - cô đông thiểu số) thì sự phân chia quyền lực này càng rõ nét Điều này đã tạo nên điểm khác biệt cơ bản về cơ cấu tổ chức quản lý, đồng thời là đặc trưng của CTCP so với các loại hình doanh nghiệp khác CTCP là một loại hình doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức quản lý chặt chẽ nhất, có sự phân quyền rõ ràng nhất và cơ cấu tổ chức quản lý này chịu sự chi phối quyết định của cơ cấu vốn Chính vì vậy, xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý phù hợp với những quy định của pháp luật phù hợp với quy mô sản xuất, lĩnh vực sản xuất… của công ty là một vấn đề quan trọng của CTCP

Theo qui định LDN 2014, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần bao gồm:

- ĐHĐCĐ là cơ quan có quyền cao nhất, đây là nơi thể hiện tập trung vai

Trang 31

trò của tất cả các cổ đông ĐHĐCĐ là nơi tụ họp của tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, không phân biệt cổ đông lớn hay cổ đông nhỏ Cổ đông là những người góp vốn tạo nên công ty, họ có vai to lớn trong sự tồn tại và phát triển của công ty Vai trò này của họ phụ thuộc vào số cổ phần mà họ nắm giữ Cấu trúc vốn tác động đến tổ chức bộ máy CTCP được thể hiện rõ nhất tại ĐHĐCĐ Khi góp vốn vào CTCP các cổ đông sẽ trở thành đồng chủ sở hữu công ty và đương nhiên họ có quyền tham gia ĐHĐCĐ Việc tham gia này phụ thuộc vào số lượng, đặc điểm, tính chất của cổ phần mà cổ đông đó nắm giữ Sự chi phối của cấu trúc vốn thể hiện ở một số vấn đề như thẩm quyền triệu tập ĐHĐCĐ có thể theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất là sáu tháng hay cuộc họp ĐHĐCĐ được tiến hành khi có số cổ đông

dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết Như vậy, đối với việc triệu tập ĐHĐCĐ hay xác định điều kiện hợp lệ của cuộc họp thì số lượng cổ đông không quan trọng mà quan trọng là số lượng cổ đông đại diện cho bao nhiêu phần trăn tổng cổ phần Mặt khác, vấn đề này còn phụ thuộc vào cơ cấu vốn thể hiện ở chỗ cổ đông nắm cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ có ảnh hưởng lớn so với cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi cổ tức Ngoài ra sự chi phối này còn thể hiện ở điều kiện và thể thức để thông qua quyết định của ĐHĐCĐ Quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua tại cuộc họp khi số cổ đông đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại; thay đổi ngành, nghề và lĩnh vực kinh doanh; thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý công ty; dự án đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, hoặc tỷ lệ, giá trị khác nhỏ hơn do Điều

lệ công ty quy định; tổ chức lại, giải thể công ty và các vấn đề khác do Điều lệ công ty quy định thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết chấp nhận Như vậy, rõ ràng cơ chế quyết định các vấn đề của ĐHĐCĐ

bị chi phối bởi cấu trúc vốn

Trang 32

- HĐQT là cơ quan quản lý của CTCP Theo nguyên tắc, hoạt động của CTCP do các cổ đông quyết định nhưng không phải mọi cổ đông đều có đủ khả năng quản lý điều hành và số vốn để điều hành công ty Chính vì vậy, HĐQT được thành lập để lãnh đạo và điều hành công ty HĐQT được hình thành là do cổ đông bầu tại ĐHĐCĐ Theo quy định, ĐHĐCĐ có quyền hạn bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT Số phiếu tham gia bầu không căn cứ vào số lượng cổ đông, mà chỉ căn cứ theo cổ phần có quyền bầu Vì vậy, quyền bỏ phiếu không phải là quyền

tự nhiên của cổ đông mà nó gắn liền với cổ phần mà họ nắm giữ Sự chi phối của cấu trúc vốn của công ty đối với HĐQT còn thể hiện ở cơ chế thực thi quyền lực của HĐQT

- Ban kiểm soát (BKS) của CTCP cũng bị chi phối bởi cấu trúc vốn của công

ty Sự chi phối này được thể hiện trong quá trình thiết lập BKS, cơ chế hoạt động của BKS

Tóm lại, vốn là một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng nhất chi phối tới

cơ cấu tổ chức quản lý CTCP Điều này tạo nên sự khác biệt giữa mô hình quản lý CTCP với mô hình quản lý của nhiều doanh nghiệp khác Đó là một số loại hình doanh nghiệp mà việc tổ chức quản lý không bị chi phối bởi cấu trúc vốn như là như hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh Chẳng hạn, ở mô hình Hợp tác xã, các xã viên trong hợp tác xã không phụ thuộc vào vốn góp ít hay nhiều mà họ đều có quyền và nghĩa vụ bình đẳng nhau và họ đều có một phiếu bầu tại Đại hội xã viên Điều này trái ngược với tổ chức quản lý bộ máy CTCP dựa trên nguyên tắc đặc trưng là nền dân chủ cổ phần Như vậy tổ chức quản lý bộ máy của hợp tác xã không

bị chi phối bởi cơ cấu vốn Đối với doanh nghiệp tư nhân, đây là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ Vì vậy, toàn bộ việc tổ chức quản lý và điều hành hoạt động của doanh nghiệp là do một cá nhân - chủ doanh nghiệp quyết định Còn đối với công

ty hợp danh thì đây là loại hình công ty đối nhân, các thành viên thường có quan hệ mật thiết về nhân thân nên việc quản lý công ty hợp danh chủ yếu là do các thành viên hợp danh thoả thuận Tất cả các thành viên hợp danh đều có quyền quản lý điều

Trang 33

hành công ty, đều là người đại diện theo pháp luật của công ty và nếu điều lệ không qui định khác thì các thành viên có số phiếu biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn (tức là gần tiến đến nguyên tắc dân chủ của hợp tác xã) Và điều đáng lưu ý là quyền quản lý công ty hợp danh không thuộc về các thành viên góp vốn nếu công ty có loại thành viên này Như vậy, cơ cấu vốn không chi phối hoặc không chi phối nhiều đến việc tổ chức và quản lý công ty hợp danh

1.4.2 Ảnh hưởng của vốn đối với việc phân chia lợi nhuận

Lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác được dùng để trả cổ tức Loại cổ phần, số lượng cổ phần mà cổ đông sở hữu chi phối đến thứ tự ưu tiên để được hưởng cổ tức cũng như số cổ tức mà họ nhận được Cổ tức trước tiên được dùng để trả cho các cổ đông ưu tiên, phần còn lại (nếu có) mới thuộc về các cổ đông thường Số cổ tức chia cho mỗi cổ đông căn cứ vào phần vốn góp Do đó, cổ đông nắm giữ lượng cổ phần càng lớn thì sẽ được khoản thu nhập cao tương ứng từ việc trả cổ tức và ngược lại

1.5 Lược sử hình thành và phát triển của chế định về vốn của công ty cổ phần

ở Việt Nam

Ở Việt Nam, pháp luật về CTCP ra đời muộn và phát triển chậm do nhiều nguyên nhân kinh tế, xã hội khác nhau, mặc dù một vài nội dung về CTCP đã được

đề cập trong các đạo luật có từ trước đó Những tiền đề về CTCP lần đầu tiên được

quy định trong “Dân luật thi hành án tại các Tòa Nam án Bắc kỳ” năm 1931 Đạo

luật này chia các công ty (hội buôn) thành hai loại: hội người và hội vốn Trong hội người chia thành hội hợp danh (công ty hợp danh); hội hợp tư (công ty hợp vốn đơn giản); hội đồng lợi (công ty nặc danh) Trong hội hợp vốn chia thành hai loại: hội

vô danh (công ty cổ phần) và hội hợp cổ (công ty hợp vốn đơn giản cổ phần)

Đến năm 1944, chính quyền triều đình Huế ban hành Bộ luật Thương mại trung phần, trong đó cũng có quy định về CTCP (công ty vô danh) nhưng chủ yếu là

mô phỏng theo Bộ luật Thương mại Pháp và các quy định về vốn của CTCP lúc này cũng không cụ thể và thiếu thực tế Từ năm 1954 đến trước năm 1975, đất nước ta

Trang 34

chia cắt thành hai miền, do đó có hai hệ thống pháp luật khác nhau Ở miền Nam, chính quyền Việt Nam cộng hòa tiếp tục duy trì Bộ luật Thương mại Pháp, đến năm

1972 thì ban hành Bộ luật Thương mại Sài Gòn Mặc dù Bộ luật này còn nhiều điều khoản mang tính dập khuôn theo Bộ luật Thương mại Pháp, song trong nội dung của nó đã ít nhiều đưa ra những quy định về CTCP (hội nặc danh) và các quy định

về vốn của CTCP Còn ở miền Bắc, nhà nước ta xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể nên không tồn tại luật công ty cũng như CTCP Từ năm 1975 đến năm 1986, nước ta tiếp tục xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trên phạm vi cả nước, thực hiện chủ trương quốc hữu hóa các xí nghiệp tư bản, nước ngoài, phát triển các xí nghiệp quốc doanh

và thành phần kinh tế tập thể do đó các CTCP thời kỳ này không còn cơ hội tồn tại Năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Với chính sách kinh tế đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các CTCP ra đời Ngày 21/12/1990, Quốc hội khóa VII kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Công ty để điều chỉnh hoạt động của CTCP và công ty TNHH Trong đó, Luật Công ty đã lần đầu quy định vốn cụ thể cho CTCP bằng việc đưa ra hai hình thức phát hành cổ phiếu và trái phiếu, tạo cơ sở pháp lý cho loại hình công ty này hoạt động hiệu quả hơn Tuy nhiên, sau 9 năm kể từ khi có hiệu lực các quy định về vốn của CTCP do luật này đưa ra đã bộc lộ nhiều hạn chế Thể hiện như:

- Thứ nhất: Luật Công ty không có định nghĩa về cổ phiếu, trái phiếu;

chưa đa dạng hóa các loại cổ phần, trái phiếu cho CTCP được lựa chọn phát hành Luật Công ty chỉ quy định cổ phiếu có 2 loại là cổ phiếu có ghi tên và

cổ phiếu không ghi tên

- Thứ hai: Việc chào bán cổ phần của CTCP bắt buộc phải phát hành cổ phiếu

dưới dạng chứng chỉ Do đó, khiến CTCP phải tốn kém nhiều chi phí cho hoạt động phát hành, đồng thời cũng không thuận tiện cho các cổ đông mua nhiều cổ phần của công ty, làm ảnh hưởng nhiều đến cung cầu hàng hóa cho thị trường chứng khoán

Ngày đăng: 24/04/2020, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w