1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về công ty TNHH hai thành viên trở lên, thực tiễn tại tỉnh quảng ninh

86 185 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 668,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1 Đối tượng nghiên cứu: i Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu những vấn đề lý luận về công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành vi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN – THỰC TIỄN TẠI TỈNH QUẢNG NINH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, toàn bộ nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2018

Học viên

Ngô Thị Dung

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Viện Đại học Mở

Hà Nội, BCN Khoa Luật, các thầy, cô giáo Viện Đại học Mở Hà Nội

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn tới thầy TS Nguyễn Quý Trọng – Trưởng Bộ môn Luật Thương mại, Khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành bản luận văn này

Tác giả luận văn

Ngô Thị Dung

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Kết cấu luận văn 6

Chương 1 8

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 8

1.1 Nhận diện công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 8

1.1.1 Khái niệm công ty TNHHHTV trở lên 8

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý cơ bản của công ty TNHHHTV trở lên 9

1.2 Công ty TNHHHTV trở lên – tính ưu việt và những hạn chế 10

1.2.1 Ưu điểm của công ty TNHH hai thành viên trở lên 11

1.2.2 Hạn chế của công ty TNHH hai thành viên trở lên 13

1.3 Công ty TNHHHTV trở lên và CTCP, CTHD dưới góc độ so sánh 14

1.3.1 Điểm giống nhau 14

1.3.2 Những điểm khác nhau cơ bản 15

1.4 Những yếu tố tác động đến sự phát triển của công ty TNHHHTV trở lên 15

1.5 Khái quát pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 19

1.5.1 Sự hình thành, phát triển của pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ở Việt Nam 19

1.5.2 Khái niệm pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên 24

1.5.3 Cơ cấu pháp luật điều chỉnh hoạt động của công ty TNHHHTV trở lên 24

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26

Chương 2 27

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TNHHHTV TRỞ LÊN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH 27

2.1 Các quy định chủ yếu của pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên 27

2.1.1 Thành viên công ty 27

2.1.2 Hệ thống cơ quan tổ chức, quản lý công ty TNHHHTV trở lên 32

2.1.3 Người đại diện theo pháp luật của công ty 36

2.1.4 Quyền và nghĩa vụ của công ty 37

2.1.5 Tổ chức lại, giải thể và phá sản công ty 38

2.1.6 Một số rủi ro pháp lý trong tổ chức, hoạt động của công ty TNHHHTV trở lên 44

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên tại tỉnh Quảng Ninh 46

2.2.1 Những kết quả về tổ chức và hoạt động của công ty TNHHHTV trở lên 46

2.2.2 Một số bất cập, hạn chế về quản trị công ty TNHHHTV trở lên 53

2.2.3 Nguyên nhân của bất cập, hạn chế về công ty TNHHHTV trở lên 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

Chương 3 61

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ 61

CÔNG TY TNHHHTV TRỞ LÊN Ở VIỆT NAM 61

3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên 61

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên phải phù hợp với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước 61

3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên phải xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế nước ta, phù hợp với các quy định của quốc tế 63

Trang 7

3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên phải xuất phát từ những hạn chế, bất cập của thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật

về công ty TNHHHTV trở lên ở Việt Nam 65

3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên phải đặt trên quan điểm hoàn thiện hệ thống pháp luật về doanh nghiệp nói chung 66

3.2 Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên ở Việt Nam 67

3.2.1 Những giải pháp chung 67

3.2.2 Những giải pháp cụ thể 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Công ty trách nhiệm hữu hạn là một loại hình công ty được đánh giá là có nhiều tính ưu việt và được ưa chuộng bởi bản chất pháp lý của nó Việc thừa nhận loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn trong hệ thống pháp luật Việt Nam trải qua những giai đoạn lịch sử khá lâu dài Luật công ty (1990) chỉ quy định loại hình công

ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên (nhiều thành viên) bên cạnh loại hình công ty

cổ phần Sự ghi nhận và bảo đảm quyền con người mà một trong những quyền đó là quyền tự do kinh doanh đòi hỏi việc ra đời của một loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn là một xu thế tất yếu Kế thừa và phát triển Luật doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 tiếp tục quy định công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm: công

yi trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Luật Doanh nghiệp năm 2014 với 213 điều, trong đó quy định về công ty TNHH hai thành viên trở lên (từ Điều 47 đến Điều 72) đã có một số điểm mới về loại công ty này Tuy nhiên, thực tế các quy định của LDN vẫn chưa thực sự khắc phục được những hạn chế, bất cập đối với loại hình công ty này Điều đó thể hiện trên những góc độ sau:

Một là, chưa làm rõ những đối tượng có quyền tham gia thành lâp, quản lý hay

góp vốn vào công ty TNHHHTV trở lên Những quy định hiện nay tại LDN năm

2104 chưa thực sự minh bạch điều đó dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng không thống nhất làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các thành viên trong công ty

Hai là, việc “du nhập” cơ chế đại diện trước pháp luật có thể chưa thực sự phù

hợp với loại hình công ty TNHH và công ty cổ phần ở Việt Nam Theo quy định hiện nay và có thể được xem là một trong những điểm mới của LDN năm 2014 so với LDN năm 2005 Tuy nhiên, cơ chế cho phép công ty TNHH và CTCP có thể có hơn một người đại diện ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của quản trị công ty như: việc phân quyền giữa những người là đại diện công ty, hiệu lực của các giao

Trang 9

dịch khi nhưng người đại diện công ty ký kết hay nguy cơ dẫn đến những hành động lạm quyền của người đại diện,

Ba là, Thực tế hiện nay cho thấy các công ty TNHH hai TV trở lên đều có

những cơ chế quản trị riêng, thiếu tính thống nhất trong tổ chức, quản lý công ty Những quy định về bảo vệ quyền lợi của những thành viên nhỏ, ít vốn trong công ty chưa được đảm bảo bởi những công cụ hữu hiệu Bản chất pháp lý công ty TNHH, đặc biệt là công ty TNHH hai thành viên trở lên mang tính chất gia đình, dòng họ hay bạn bè, sự gia nhập của người ngoài công ty rất hạn chế Do đó, công ty luôn có nguy

cơ sẽ bị thâu tóm bởi các nhà đầu tư lớn trong công ty

Bốn là, mặc dù Luật DN năm 2014 theo hướng trao quyền chủ động cho nhà

đầu tư trên nhiều phương diện, kể cả trong việc tổ chức, quản lý Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ thì có thể nhận thấy rằng: khung khổ pháp lý xây dựng mô hình quản trị nội

bộ công ty thì vẫn mang tính nguyên tắc, thậm chí bắt buộc chứ không phải do ý chí của các thành viên công ty quyết định (điều này sẽ được tác giả phân tích sâu trong luận án) Nói cách khác, quy định mới nhưng vẫn kèm những rào cản pháp lý, hạn chế việc phát huy các “lợi thế” của nhà đầu tư, khó nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty

Năm là, vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp trong

việc bảo vệ quyền lợi cho các công ty chưa thực sự được quan tâm đúng mức Ví dụ, quá trình hoạt động của Hội đồng thành viên hay giám đốc công ty có thể có những hành vi vi phạm đi ngược lại lợi ích của công ty, tổn hại tới quyền lợi của thành viên công ty thì có cần có sự can thiệp của các hiệp hội hay không? Mức độ can thiệp như thế nào? Vì hiện nay theo quy định Bộ luật Hình sự năm 2015, pháp nhân thương mại

có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Ranh giới những hành động của người quản lý nhân danh vì lợi ích công ty hay không phải vì lợi ích công ty nhiều khi khó có thể nhận diện một cách dễ dàng

Với những lý do trên, việc tiếp tục nghiên cứu về công ty nói chung, công ty TNHHHTV trở lên nói riêng theo quy định Luật Doanh nghiệp năm 2014 là vấn đề mang tính cấp thiết và tính thời sự cao trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

Xuất phát từ nhận thức trên, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về công ty trách

nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên – thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài

luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

- “Lý thuyết quản trị một cách khoa học” (Scientific Management) của

Frederich Winslow Taylor (1856-1915) và các cộng sự (Mỹ); Henri Fayol (1922):

"Quản lý công nghiệp và quản lý tổng hợp (Industrial and General Administration";

P Fonet: "Đường xoắn ốc của những phương pháp khoa học và hiệu quả của nó đối với quản lý công nghiệp (Papus of scientirc methods and its effect upon industrial manngement)" Thuyết “Z” và những kỹ thuật quản trị Nhật Bản của

Wilian Gouchi và lý thuyết Kaizen của Massakiimai

- Nghiên cứu về các nguyên tắc QTCT Cuốn “Các nguyên tắc QTCT” (OECD

Principle of Corporate Governance) xuất bản năm 1999, Tổ chức Hợp tác và Phát

triển kinh tế (OECD); Fayol, H (1917) General and Industrial Management Dunod et E Pinat, Laura Empson (2007), Managing the Modern Law Firm: New Challenges, New Perspectives, Oxford university press; (Quản trị công ty luật hiện đại: Những thách thức mới và viễn cảnh mới)

- “Quản lý rủi ro là điều kiện phục vụ khách hàng tốt nhất” là nội dung cơ bản

trong các công trình nghiên cứu của David H Maister (1993), Managing the Professional Service Firm; (Quản trị các Công ti dịch vụ chuyên nghiệp) và Anthoni E Davis, Peter R Jarvis (2007), Risk Management: Survival Tools for Law Firms; (Quản trị rủi ro: Những công cụ/phương pháp sống còn của Công ty luật)

- Các công trình nghiên cứu của Laurie Ioung (2013), Business Development for Law Firms; (Phát triển công ty Luật) và Quin, John P., Bailei, Joseph A., David

E Gaulin (2001), Law firm accounting and financial management, third edition; (Quản trị tài chính và kế toán trong Công ty luật, phiên bản thứ 3)

- Nguyễn Như Phát (đồng tác giả), Luật kinh tế Việt Nam, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2002

Trang 11

- Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo luật kinh tế, Nxb Đai học quốc gia, Hà Nội,

- Nguyễn Quý Trọng, “Thách thức trong quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam – từ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng”, tạp chí Luật học số 02/ 2014

- Ngô Viễn Phú, “Địa vị pháp lý của Tổng giám đốc công ty cổ phần”, Tạp

chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2005

Bên cạnh các công trình khoa học trên nghiên cứu về công ty, về công ty TNHHHTV trở lên còn khá nhiều công trình khác có liên quan Mỗi một công trình nghiên cứu tiếp cận về công ty nói chung, trong đó có Công ty TNHHHTV trở lên

ở các góc độ khác nhau, mức độ khác nhau Đây là những tài liệu để tác giả tham khảo trong quá trình hoàn thành bản luận văn

2.2 Một số nhận xét tình hình nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về công ty, công ty TNHHHTV trở lên của các tác giả được tiếp cận trên một số phương diện sau:

Thứ nhất, công ty TNHHHTV trở lên là một loại hình công ty trong hệ thống

các công ty theo quy định của hệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia Mỗi một loại hình công ty tùy thuộc vào sở hữu, cấu trúc vốn hai phân chia lợi ích mà vấn đề công ty không hoàn toàn đồng nhất với nhau, có cái chung và có cái mang tính đặc thù phù hợp với quản lý và điều hành của công ty

Thứ hai, Công ty TNHHHTV trở lên được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau

từ góc độ kinh tế, chính trị, lịch sử hay góc độ pháp lý Các công trình nghiên cứu

dù đề cập mang tính khái quát hay cụ thể đều khẳng định vai trò quan trọng và mang tính tất yếu của công ty TNHH

Trang 12

Thứ ba, các công trình đã phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về công ty,

công ty TNHHHTV trở lên, như: khái niệm, đặc điểm cũng như các thành tố tác động tới hiệu quả của công ty Đồng thời, từ thực tiễn áp dụng các quy định về công

ty theo hệ thống pháp luật và thông lệ của các quốc gia đúc rút những bài học kinh nghiệm trong quản lý, điều hành công ty

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những tư tưởng khoa học và một số vấn đề lý thuyết từ các công trình khoa học, luận văn tiếp tục tập trung giải quyết những vấn

đề về công ty TNHHHTTV trở lên chưa được các học giả tiếp cận hoặc đã được tiếp cận nhưng ở mức độ chưa sâu, chưa mang tính hệ thống trong các công trình nghiên cứu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về công ty, công ty TNHHHTV trở lên trong mối tương quan và sự khác biệt với một số loại hình công ty khác như CTHD, CTCP theo quy định của pháp luật Việt Nam Luận văn tiếp cận việc áp dụng pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên tại tỉnh Quảng Ninh để tìm ra những điểm còn hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó Trên cơ sở đó, đề xuất yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên ở Việt Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

(i) Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu những vấn đề lý luận về công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên;

(ii) Lịch sử hình thành, phát triển và nội dung của pháp luật hiện hành của Việt Nam về công ty, Công ty TNHHHTV trở lên trong mối tương quan với một số mô hình công ty khác;

(iii) Từ thực trạng pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh, xác định những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó trong quá trình áp dụng pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên tại Việt Nam

Trang 13

- Phân tích khái quát về sự hình thành, phát triển và nội dung cơ bản các quy định về công ty TNHHHTV trở lên;

- Nghiên cứu quy định công ty TNHHHTV trở lên để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt so với một số loại hình công ty khác như CTCP, CTHD nhằm tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên ở Việt Nam

- Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên, tìm ra những điểm còn hạn chế, bất cập và những nguyên nhân của các bất cập, hạn chế đó về công ty TNHHHTV trở lên

Về không gian, Luận văn chỉ nghiên cứu các quy định của pháp luật về công ty (tập trung nghiên cứu công ty TNHHHTV trở lên), Về thời gian, luận văn chủ yếu

tập trung nghiên cứu về công ty TNHHHTV trở lên theo quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1990 (Luật công ty) đến nay (Luật doanh nghiệp năm 2014)

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên nền tảng lý luận là các nguyên tắc và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và nhà nước ta hiện nay về công ty TNHH hai thành viên trở lên Trên cơ sở đó, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, phương pháp luật học so sánh, …trong quá trình giải quyết các nội dung và mục tiêu đã đề ra trong luận văn

6 Kết cấu luận văn

Bố cục của luận văn bao gồm: ngoài phần lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm ba chương:

Trang 14

Chương 1: Những vấn đề lý luận về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên – từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên ở Việt Nam

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH

NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 1.1 Nhận diện công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.1.1 Khái niệm công ty TNHHHTV trở lên

Luật công ty (1990) quy định hai loại hình công ty, bao gồm: công ty TNHH hai thành viên trở lên (nhiều thành viên) và CTCP Luật công ty (1990) không quy định công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Kế thừa và phát triển Luật doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 tiếp tục ba loại hình công ty, bao gồm: công

ty TNHH, CTCP và CTHD Trong đó, công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm: công

ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (CTTNHHHTV trở lên) và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Theo đó, công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50; thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp1

Tiếp cận khái niệm có thể nhận thấy, khái niệm về công ty TNHHHTV trở lên được quy định tại luật Doanh nghiệp vẫn mang tính chất liệt kê về đối tượng là thành viên, trách nhiệm của thành viên, mục đích thành lập công ty Công ty TNHHHTV trở lên chưa có một khái niệm chính thức mang tính toàn diện, hệ thống

và thống nhất Tuy nhiên, các quy định của pháp luật đều xác định công ty TNHHHTV trở lên là doanh nghiệp, mang đầy đủ bản chất pháp lý của doanh nghiệp về tư cách pháp lý, trách nhiệm và các tài sản của doanh nghiệp Những vấn

đề đó đảm bảo cho công ty khai sinh, hoạt động và rút lui khỏi thị trường Đây là những phân khúc quá trình hoạt động của công ty

Trang 16

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý cơ bản của công ty TNHHHTV trở lên

Hệ thống pháp luật Anh-Mỹ và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa đều xác định công ty TNHHHTV trở lên là một loại hình công ty có tính chất đối vốn Chính tính chất này là cơ sở pháp lý, kinh tế quan trọng tạo ra sự khác biệt với loại hình công ty có tính chất đối nhân Công ty TNHH theo quy định của pháp luật Việt Nam gồm công ty TNHH một thành viên (chủ sở hữu là một tổ chức hoặc một cá nhân) và công ty TNHHHTV trở lên Ngoài những điểm tương đồng thì giữa hai loại công ty TNHH này có những điểm khác biệt về chủ sở hữu, về tài sản, chế độ

và quyền sở hữu tài sản, về cơ cấu tổ chức quản lý,

Công ty TNHHHTV trở lên có những dấu hiệu pháp lý cơ bản sau:

Thứ nhất, công ty TNHHHTV trở lên là một pháp nhân Việc tách bạch tài sản

giữa tài sản chủ hữu và tài sản công ty là vấn đề cốt lõi để xác định tổ chức kinh tế

có tư cách pháp nhân hay không Chính vì vậy, khi tham gia thành lập công ty thì một trong những việc mà các chủ sở hữu phải thực hiện đó là chuyển đổi sở hữu tài sản từ sở hữu của nhà đầu tư sang sở hữu công ty Thực tế cho thấy, doanh nghiệp

có tư cách pháp nhân hay không rất ít nhà đầu tư quan tâm Họ chỉ quan tâm khi doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản bởi tòa án có thẩm quyền, khi đó sẽ áp dụng các trách nhiệm thanh toán hay nghĩa vụ tài chính (trách nhiệm vô hạn hay trách nhiệm hữu hạn) Công ty TNHHHTV trở lên là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Tài sản của công ty được tách bạch với tài sản của các thành viên công ty và chủ sở hữu công ty Đây cũng chính

là đặc điểm cơ bản của loại hình công ty đối nhân trên thế giới trên hai phương diện chủ yếu là tư cách pháp lý và trách nhiệm

Thứ hai, thành viên công ty TNHHHTV trở lên là cá nhân, tổ chức sở hữu một

phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty Thành viên của công ty bao gồm là nhà đầu

tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài Số lượng thành viên của công ty TNHHHTV trở lên tối thiểu là hai thành viên và không vượt quá năm mươi thành viên

Trang 17

Thứ ba, công ty chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ tài chính và các khoản nợ

của công ty bằng tài sản của công ty (trách nhiệm hữu hạn) Thời điểm chịu trách nhiệm của công ty về lý thuyết là thời điểm công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Tuy nhiên, thực tế thì trách nhiệm đó được áp dụng khi công

ty bị tòa án tuyên bố bị phá sản Các thành viên sở công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (trừ trường hợp khác theo quy định của pháp luật) Đối với công ty TNHHHTV trở lên, các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên Điều này cho thấy trong công ty TNHHHTV trở lên

có sự tách bạch tài sản giữa tài sản công ty và tài sản của các thành viên công ty Nguyên tắc phân tách tài sản được áp dụng trong mọi quan hệ tài sản, nợ nần và trách nhiệm pháp lý của công ty trong quá trình hoạt động (vốn cam kết hoặc số vốn

đã góp vào công ty)

Thứ tư, công tyTNHHHTV trở lên không được phát hành cổ phiếu Việc phát

hành cổ phiếu là một trong những hành vi nhằm tạo lập vốn ban đầu cũng như trong quá trình hoạt động của công ty Công ty TNHHHTV trở lên không được phát hành

cổ phần cho thấy sự gia nhập của người ngoài vào công ty bị hạn chế hơn so với công ty cổ phần Tuy nhiên, công ty TNHHHTV trở lên được phát hành trái phiếu

để huy động vốn khi đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật và theo điều lệ công ty

1.2 Công ty TNHHHTV trở lên – tính ưu việt và những hạn chế

Hoạt động của các công ty TNHHHTV trở lên đang khẳng định ưu điểm của loại hình doanh nghiệp này nhưng đồng thời cũng bộc lộ những tồn tại, hạn chế Liệu loại hình công ty này có phù hợp với nền kinh tế thị trường ở nước ta hay không? Cần thiết phải có sự tìm hiểu, nghiên cứu về công ty TNHHHTV trở lên, để

từ đó xác định hướng phát triển và cách thức vận hành phù hợp hơn với môi trường thương mại hiện nay

Trang 18

1.2.1 Ưu điểm của công ty TNHH hai thành viên trở lên

Khác với đa số các loại hình công ty, công ty TNHHHTV trở lên hoàn toàn là sản phẩm của quá trình lập pháp Công ty TNHHHTV trở lên được xây dựng với sự

kế thừa từ các ưu điểm kết hợp của công ty cổ phần và công ty hợp danh

Loại hình công tyTNHHHTV trở lên được du nhập vào Việt Nam và được quy định chính thức kể từ Luật Công ty năm 1990 Tuy nhiên, từ Luật Công ty năm

1990 đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, pháp luật vẫn không có định nghĩa cụ thể

về công ty TNHH hai thành viên trở lên Luật doanh nghiệp chỉ nêu ra các đặc điểm của loại hình công ty này Công ty TNHH hai thành viên trở lên thể hiện rõ các ưu điểm, cụ thể:

Thứ nhất, hạn chế rủi ro tài chính cho các thành viên

Tính chịu trách nhiệm hữu hạn thường được hiểu đó là nghĩa vụ của cổ đông hai của thành viên sẽ phải trả các khoản nợ của công ty, được giới hạn chỉ trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty Bên cạnh đó, TNHH còn được hiểu là tính có giới hạn về khả năng trả nợ của các doanh nghiệp Giới kinh doanh khá ưa thích về chế độ TNHH, bởi đây là bảo đảm an toàn các rủi ro tài chính cho họ Công ty TNHHHTV trở lên là công ty có tính chất “đối vốn” Tên gọi của công ty này thể hiện rất rõ điều đó khi cụm từ “TNHH” vốn là đặc trưng rất cơ bản của loại hình công ty đối vốn Nhờ vào tính chịu TNHH nên công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi khối tài sản của công ty Còn đối với các thành viên của công ty, thì chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn mà thành viên đã góp vào công ty Cơ chế TNHH tách bạch rõ ràng tài sản góp vào công ty với tài sản dân

sự của thành viên Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động, nếu xảy ra những rủi ro thì sự gánh chịu rủi ro đó được thực hiện theo tỷ lệ mức độ góp vốn của thành viên vào công ty Điều này nó khác với loại doanh nghiệp một chủ sở hữu như DNTN hay công ty TNHH một thành viên

Trang 19

Thứ hai, về sự đồng thuận của các thành viên

Công ty TNHHHTV có số lượng thành viên không nhiều (từ hai đến năm mươi thành viên) Thực tế cho thấy ít có công ty TNHHHTV trở lên có số lượng tối

đa năm mươi thành viên mà thường chỉ hai hoặc ba thành viên Bên cạnh đó, việc chuyển nhượng phần vốn của thành viên bị hạn chế và giữa các thành viên thường

có mối quan hệ thân thiết… Thông thường, giữa các thành viên của công ty đã có mối quan hệ gần gũi, tin cậy Bản thân các thành viên luôn giữ vai trò rất quan trọng trong việc thành lập công ty này Hay nói cách khác, công ty tồn tại dựa trên sự quen biết và tin tưởng giữa các thành viên Mối quan hệ cá nhân giữa họ là nền tảng cho công ty Chính từ sự hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên nên công

ty TNHHHTV trở lên thường có sự đồng thuận, gắn bó chặt chẽ với nhau Khi quyết định các vấn đề của công ty sẽ dễ dàng có được sự ủng hộ, đồng tình và sự cố gắng thực hiện từ các thành viên khác Điều đó thể hiện công ty TNHHHTV trở lên loại hình công ty mang tính gia đình hay dòng họ

Thứ ba, việc tổ chức, quản lý và điều hành công ty khá đơn giản, hiệu quả

Do số lượng thành viên khá ít nên công ty TNHH hai thành viên trở lên có cơ cấu tổ chức, quản lý điều hành khá đơn giản Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty bao gồm: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Ban Kiểm soát hoặc Kiểm sát viên Do cơ cấu tổ chức tương đối gọn nhẹ

so với CTCP nên đây cũng là một trong những yếu tố đảm bảo tổ chức, quản lý và điều hành của công ty TNHH hai thành viên trở lên hiệu quả Do đó, các quyết định trong hoạt động kinh doanh của công ty được thực hiện nhanh chóng, linh hoạt và kịp thời

Thứ tư, là loại hình công ty lý tưởng để kinh doanh trong phạm vi nhỏ hoặc vừa

Công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại công ty tiếp nhận những ưu điểm của cả hai hình thức công ty đối vốn và công ty đối nhân Nếu so với công ty cổ phần thì công ty TNHH hai thành viên trở lên có bộ máy quản lý điều hành đơn giản, gọn nhẹ Công ty TNHH hai thành viên trở lên thì tính phân chia quyền lực trong công ty theo cơ chế phân quyền minh bạch hơn (tỷ lệ vốn góp thành viên) so

Trang 20

với công ty hợp danh (tỷ lệ góp vốn hoặc thỏa thuận) Có thể thấy rằng, công ty TNHH hai thành viên trở lên là một loại hình công ty có quy mô tổ chức tương đối nhỏ hoặc vừa và lại có sự bảo đảm an toàn cao về mặt tài sản cho các thành viên

Mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên khá thích hợp với các thương nhân có

tư tưởng kinh doanh chỉ với quy mô nhỏ hoặc vừa, đòi hỏi sự tin tưởng, quen biết giữa các thành viên

1.2.2 Hạn chế của công ty TNHH hai thành viên trở lên

Bên cạnh những ưu điểm trên, công ty TNHH hai thành viên trở lên còn tồn tại khá nhiều hạn chế

Thứ nhất, tính an toàn về mặt pháp lý khá thấp do các thành viên được hưởng

cơ chế chịu TNHH về mặt tài sản

Với tính chất chịu TNHH về tài sản, các thành viên chỉ có nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi giới hạn số vốn góp Vì vậy, trên thực tiễn kinh doanh, nhiều cá nhân, tổ chức khi làm ăn với công ty TNHH hai thành viên trở lên đều tỏ ra khá e

dè, thận trọng Bởi nếu các thành viên lợi dụng công ty để kinh doanh với mục đích gian trá thì điều đó có thể mang lại rủi ro rất lớn cho khách hàng và các chủ nợ Khi

đó, tính chịu TNHH đã trở thành bức tường che chắn cho các thành viên trước yêu cầu đòi nợ của các bạn hàng làm ăn với công ty này Điều này cho thấy, thực tế nhiều công ty TNHHHTV trở lên trở thành “tấm bình phong” để một số thành viên thực hiện hạn chế rủi ro Vì vậy, cần thiết các chủ thể, các ngân hàng và cả người dân, khi thỏa thuận với công ty TNHHHTV trở lên trong các giao dịch cần sự đảm bảo, đặc biệt là sự đảm bảo về tài chính

Thứ hai, số lượng thành viên của công ty luôn bị giới hạn

Ở nhiều quốc gia, đối với công ty TNHHHTV trở lên, pháp luật thường giới hạn số lượng thành viên, như: theo pháp luật của Cộng hòa Liên bang Nga, số thành viên tối đa của công ty TNHH không quá 50 người; ở Cộng hòa Nam Phi là không quá 30 người và ở Mỹ quy định tùy theo tiểu bang Tại Việt Nam, công ty TNHHHTV trở lên có ít nhất 02 thành viên và tối đa không được vượt quá 50 thành viên Vấn đề là tại sao lại phải giới hạn số lượng tối đa của công ty TNHHHTV trở

Trang 21

lên? Việc giới hạn số lượng đó có hạn chế quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư hay không? Quy định này không có sức thuyết phục về mặt lý thuyết Với quy định

về số lượng tối đa thành viên có lẽ sẽ làm hạn chế khả năng mở rộng và phát triển với quy mô, thị trường của của công ty

Thứ ba, việc chuyển nhượng phần vốn góp và cơ chế thay đổi thành viên khá khó khăn

Một hạn chế lớn của công ty TNHHHTV trở lên là việc chuyển nhượng phần vốn góp của các thành viên thường khó khăn Sở dĩ như vậy là vì chính bản thân các thành viên giữ vai trò rất quan trọng trong việc thành lập công ty Về nguyên tắc, thành viên có nhu cầu chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng vốn cho người không phải là thành viên trong trường hợp đã chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại và chỉ khi các thành viên còn lại này của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán Điều đó cho thấy việc chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHHHTV trở lên bị hạn chế bởi những điều kiện nhất định Vì vậy, công ty TNHHHTV trở lên hạn chế sự gia nhập của người ngoài vào công ty

Thứ tư, khó khăn trong việc huy động vốn

Công ty TNHH hai thành viên trở lên không được phép phát hành các cổ phiếu để huy động vốn Tuy nhiên, công ty có thể huy động vốn qua hình thức phát hành trái phiếu khi đáp ứng các điều kiện của luật định Việc điều chỉnh hoạt động phát hành trái phiếu được quy được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau Bên cạnh đó, với số lượng thành viên bị hạn chế cũng dẫn đến việc huy động vốn của công ty gặp nhiều khó khăn trên thực tế

1.3 Công ty TNHHHTV trở lên và CTCP, CTHD dưới góc độ so sánh

Công ty TNHHHTV trở lên và CTCP, CTHD có những điểm giống và khác biệt trên một số phương diện, cụ thể:

1.3.1 Điểm giống nhau

- Công ty TNHHHTV trở lên và CTCP, CTHD là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân kể từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhân đăng kí doanh nghiệp

Trang 22

- Công ty TNHHHTV trở lên, CTCP , CTHD chịu trách nhiệm về các khoản

nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty bằng toàn bộ tài sản của công ty (TNHH)

- Thành lập theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật

1.3.2 Những điểm khác nhau cơ bản

Tiêu chí Công ty TNHHHTV trở lên Công ty cổ phần, công ty hợp

cổ đông, thành viên tối đa đối với CTCP và CTHD

Vốn điều lệ của

công ty

Tài sản công ty không thể hiện dưới hình thức cổ phần Tài sản CTCP được thể hiện dưới hình thức cổ phần Chuyển chượng

vốn góp

Thành viên được chuyển nhượng vốn góp nhưng bị hạn chế hơn

Cổ động trong CTCP được tự do chuyển nhượng cổ phần

Huy động vốn Không được phát hành cổ

phiếu

CTCP được phép phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn; CTHD thì không được phát hành cổ phiếu, trái phiếu

Cơ cấu tổ chức,

quản lý Cơ cấu tổ chức, quản lý gồm: - Hội đồng thành viên

– Chủ tịch Hội đồng thành viên

– Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

– Ban kiểm soát (bắt buộc nếu

có từ 11 thành viên trở lên)

Có 2 mô hình mà các công ty cổ phần có quyền chọn:

Mô hình 1: Đại hội đồng cổ

đông; Hội đồng quản trị; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; Ban kiểm soát (trường hợp có dưới

11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số

cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát)

Mô hình 2: Đại hội đồng cổ

đông; Hội đồng quản trị; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị

1.4 Những yếu tố tác động đến sự phát triển của công ty TNHHHTV trở lên

Thứ nhất, Bản điều lệ công ty Trong các văn kiện cấu thành công ty thì Bản

điều lệ đóng vai trò rất quan trọng khi công ty hoạt động Bản điều lệ được coi như

là “linh hồn” của công ty Nó được hình thành trên nền tảng của sự đồng thuận hay

Trang 23

cam kết của các thành viên Thực tế cho thấy, do hệ thống pháp luật chưa thực sự minh bạch, rõ ràng vì vậy các vấn đề về tổ chức, điều hành, quyền và nghĩa vụ của các thành viên càng cần thiết trong Bản điều lệ công ty Bản điều lệ công ty được coi là một trong những “cốt lõi” làm nên sự thành công của công ty Bản điều lệ, về mặt nguyên tắc không được trái với các quy định của pháp luật nhưng điều đó cũng không hoàn toàn đồng nghĩa với việc Bản điều lệ của công ty chỉ là một bản sao chép nguyên xi những điều luật Bản điều lệ công ty được xác lập trên cơ sở cam kết, thỏa thuận của các thành viên công ty Bởi vậy, các quy định của điều lệ công

ty có tính chất bắt buộc thi hành với công ty và các thành viên của nó Điều lệ công

ty không chỉ điều chỉnh các quan hệ đối nội giữa các thành viên trong công ty với nhau, thành viên công ty với chính công ty mà còn điều chỉnh mối quan hệ đối ngoại của công ty với những người liên quan Do đó, một Bản điều lệ tốt cũng là nhân tố khẳng định trình độ quản lý, khả năng phát triển công ty

Thứ hai, cơ chế phân chia quyền lực trong công ty TNHHHTV trở lên Cơ chế

phân chia quyền lực trong công ty TNHH tùy thuộc vào từng loại hình công ty Cơ cấu tổ chức, điều hành, cơ chế quản lý công ty TNHHHTV dựa trên nền tảng mà ở

đó chịu sự chi phối của những yếu tố khác nhau Trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản

lý trong công ty có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các thành viên Sự phân chia quyền lực này chủ yếu phụ thuộc vào tỷ lệ vốn của thành viên trong công ty Đây là một điểm khác biệt với việc phân chia quyền lực trong các công ty khác, nhất là công ty hợp danh Đối với mô hình CTHD thì quyền đại diện cho công ty thuộc về tất cả các thành viên hợp danh Các thành viên hợp danh (TVHD) thống nhất lựa chọn người đại diện cho công ty trong số các TVHD công ty Như vậy, việc thiết lập quyền bình đẳng giữa các TVHD đã được ghi nhận mà không phụ thuộc vào tỷ lệ chiếm hữu vốn trong công ty nhiều hay ít Đối với công ty TNHHHTV trở lên có thể có hơn một người đại diện theo pháp luật Cơ sở để minh

chứng người đại diện cho công ty được ghi nhận bằng các cơ sở pháp lý: (i) ghi nhận tại hợp đồng thành lập công ty, (ii) ghi nhận trong Điều lệ công ty và (iii) ghi nhận trong Giấy chứng nhân đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHHHTV trở lên

Trang 24

được điều chỉnh bằng các thiết chế pháp luật chung đối với doanh nghiệp, đồng thời

nó được điều chỉnh bởi các thiết chế pháp luật chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực ngành nghề, phong tục, tập quán, quy ước Điều đó không chỉ tạo nên sự khác biệt trong việc phân chia quyền lực trong công ty TNHHHTV so với các loại hình công

ty khác mà nó còn góp phần thể hiện tính chuyên nghiệp và bền vững trong tổ chức, quản lý công ty Điều đó thể hiện có sự khác biệt giữa công ty TNHHHTV trở lên

và công ty TNHHMTV Công ty TNHHHTV trở lên theo cơ chế phân quyền, ngược lại trong công ty TNHH một thành viên thì cơ chế quyền lực gắn liền và phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu công ty Chủ sở hữu công ty có thể là một tổ chức hoặc một cá nhân Chủ sở hữu công ty là tổ chức có các quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty về: Điều lệ công ty, về chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty; Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm người quản lý công ty [22] Đối với công ty do một

cá nhân là chủ hữu thì về cơ bản các vấn đề liên quan đến sự tồn tại, phát triển của công ty cũng phụ thuộc vào quyền của chủ công ty như: Quyết định nội dung Điều

lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; Quyết định đầu tư, kinh doanh và quản trị nội bộ công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác; Quyết định tăng vốn điều lệ, chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác [22]

Ba là, Cơ cấu thành viên của công tyTNHHHTV trở lên Thành viên công ty đồng chủ sở hữu công ty, có thể là tổ chức hoặc cá nhân Việc phân loại thành viên

công ty căn cứ theo những tiêu chí khác nhau như: nguồn vốn đầu tư, tư cách pháp

lý hai mức độ và tỷ lệ chiếm giữ vốn góp trong công ty Mỗi loại thành viên có quyền và nghĩa vụ khác nhau đối với số vốn mà họ góp vào công ty khi thành lập, tồn tại và phát triển của công ty Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên thì tính chất đồng chủ sở hữu trong công ty tạo nên “xương sống” quyết định việc chia

sẻ quyền lực trong công ty cũng như tạo ra các dòng “huyết mạch” nuôi sống và làm bền vững hoạt động công ty Về điểm này công ty TNHHHTV trở lên khác với công ty hợp danh Công ty hợp danh, ngoài thành viên hợp danh (đồng chủ sở hữu

Trang 25

công ty) thì CTHD có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh của công ty chỉ gồm các cá nhân (ít nhất là hai cá nhân) Đối với công ty TNHH một thành viên

là loại công ty một chủ sở hữu do đó các quyết định phụ thuộc vào chủ sở hữu Chủ

sở hữu thực hiện quyền lực trong tổ chức, điều hành có thể trực tiếp hoặc thông qua

cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm những người quản lý công ty từ chủ sở hữu [22] Công ty TNHHHTV trở lên việc tổ chức, quản lý thông qua cơ quan đại diện, như HĐTV công ty

Bốn là, trình độ, năng lực lãnh đạo, đạo đức kinh doanh và trách nhiệm của người quản lý công ty Trình đô, năng lực của người quản lý góp phần rất lớn trong

tổ chức, điều hành công ty Sự hướng tới chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa trong lãnh đạo công ty là hết sức cần thiết Tuy nhiên, hướng tới một nền thương mại công bằng không chỉ trong một quốc gia, khu vực mà nó còn mang tính toàn cầu thì yêu cầu đòi hỏi từ những người quản lý công ty nói chung, công ty TNHHHTV trở lên nói riêng không chỉ trình độ, năng lực, sự cẩn trọng, trung thành, mẫn cán mà còn ở đạo đức kinh doanh của họ đối với cộng đồng, xã hội và mang tính nhân văn

Năm là, minh bạch hóa thông tin công ty

Thông tin luôn đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh vì nó quyết định đến quá trình phát triển của mỗi doanh nghiệp Một điều có thể nhận thấy rằng: các thông tin trung thực cũng chính là tấm gương phản chiếu tình hình kinh doanh của công ty, là động lực để các công ty hoàn thiện chế độ quản trị, phát triển thương hiệu và nâng cao hiệu quả

Để chuyển hóa việc tiếp cận thông tin thành cơ hội kinh doanh, bản thân những nhà quản lý công ty cần tăng cường hơn nữa sự gắn kết lẫn nhau và với các nhân viên công ty Đối với người quản lý công ty cần công khai, minh bạch, bình đẳng, chứ không cung cấp theo kiểu ban phát hay xin cho, thiên vị, các nhân viên công ty cũng cần phải chủ động, mạnh dạn tiếp cận thông tin thực hiện theo các quyền của mình theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty Việc minh bạch hóa thông tin trong công ty TNHHHTV trở lên là một vấn đề quan trọng đảm bảo sự

Trang 26

phát triển bền vững công ty, đảm bảo sự công bằng, hạn chế tối đa những hành vi vi phạm ảnh hưởng tới lợi ích của công ty, thành viên và các chủ thể khác Những thuận lợi và khó khăn trong tiếp cận thông tin luôn song hành Vì vậy, thực tế cho thấy trong công ty TNHHHTV trở lên thì sự bất tương xứng trong minh bạch hóa thông tin là một vấn đề dễ xảy ra Do đó, đòi hỏi các nhà quản lý cần định vị thông tin cho ai, cần thông tin gì, thông tin như thế nào, với ai?… thì mới mong phát huy hiệu quả được Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, nếu không ý thức

và chú trọng đến việc tiếp cận cũng như xử lý thông tin thì hoạt động công ty khó

mà thành công được

Hiện nay, do việc công khai các thông tin về hoạt động của doanh nghiệp chưa được thực hiện rộng rãi nên nhiều công ty vẫn có tâm lý e ngại khi công khai các hoạt động của mình Tuy nhiên, xét về những giá trị lâu dài thì việc công khai thông tin đối với hoạt động của công ty không chỉ đem lại lợi ích cho thành viên công ty

mà còn đem lại lợi ích thiết thực cho chính công ty Khi thông tin về doanh nghiệp được công khai, sẽ có những đối tác chủ động tìm đến công ty để hợp tác đầu tư, thay vì công ty phải tự loay hoay tìm kiếm các đối tác phù hợp với mình mỗi khi thực hiện một ý tưởng, định hướng kinh doanh mới Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện nay, các công ty trong đó có công ty TNHHHTV trở lên muốn cùng nhau phát triển thì cần phải nâng cao khả năng liên doanh, liên kết để tạo ra sức mạnh tổng hợp Vì thế, việc minh bạch hóa thông tin sẽ tạo ra lợi thế, tạo tiền đề để các công ty phát huy và tận dụng được năng lực, kinh nghiệm của nhau nhằm hiện thực hóa các cơ hội kinh doanh “nằm ngoài tầm với” của từng loại hình doanh nghiệp riêng lẻ

1.5 Khái quát pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.5.1 Sự hình thành, phát triển của pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ở Việt Nam

Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 21/12/1990 thông qua hai văn bản pháp luật về doanh nghiệp gồm: Luật Doanh nghiệp tư nhân và luật Công

Trang 27

ty Luật Công ty năm 1990 quy định hai loại hình công ty gồm: công ty TNHH và CTCP Về cơ bản cả hai loại hình công ty đều thực hiện chia nhau quản trị “cùng

góp vốn” trong công ty Theo Điều 2 Luật Công ty năm 1990, thì “Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, gọi chung là công ty, là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty”

Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực xảy ra năm 1997 gây không ít tác động xấu đến kinh tế nước ta Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm, vốn đầu tư trong nước khó huy động, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm Trong bối cảnh đó, việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực trong nước để phát triển được đặt lên hàng đầu và được coi là yếu tố quyết định, nguồn lực bên ngoài là yếu tố quan trọng Vì vậy, vào thời kỳ đó có hàng loạt thay đổi về chính sách và pháp luật theo hướng thực sự tạo điều kiện thuận lợi và an toàn hơn cho người bỏ vốn ra kinh doanh Tại

kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật Doanh nghiệp vào ngài 12/6/1999 thay thế cho Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và Luật Công ty năm 1990 Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định tách công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (do một tổ chức làm chủ sở hữu) và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (do tổ chức, các cá nhân làm chủ sở hữu); quy định thêm loại hình mới là công ty hợp danh Khoản 1, Điều 26 LDN

(1999), công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: “thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm

vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp; thành viên có thể là tổ chức, cá nhân;

số lượng thành viên không vượt quá năm mươi” Về góp vốn, thành viên phải góp

vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết Sau khi thành viên góp đủ vốn như đã cam kết, số vốn góp đó trở thành tài sản của công ty Trường hợp có thành viên không góp đầi đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết, thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty và thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp vốn đủ và đúng hạn theo cam kết Luật Doanh

Trang 28

nghiệp năm 1999 quy định thành viên công ty có quyền: định đoạt các khoản lợi nhuận mình được chia; có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp; được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản; được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ; được quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết

Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã thay đổi tư duy, tạo ra đột phá về chính sách, khuyến khích thành lập doanh nghiệp do tư nhân trong nước góp vốn: quyền bỏ vốn thành lập doanh nghiệp để kinh doanh đã thực sự là quyền của người dân; việc thành lập doanh nghiệp không còn phải xin phép mà chỉ cần đăng ký là đủ Người kinh doanh nhìn chung đã được quyền kinh doanh tất cả các ngành, nghề mà pháp luật không cấm, thay vì chỉ được kinh doanh những gì mà cơ quan nhà nước cho phép như trước đây [8, tr.55]

Vào giai đoạn 2005-2006, áp lực và yêu cầu gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO ngày càng gia tăng Việc Việt Nam gia nhập WTO cũng ngài càng trở nên bức thiết Một khuôn khổ pháp lý thống nhất về đầu tư và thương mại, bình đẳng, không phân biệt đối xử và phù hợp với các nguyên tắc thương mại quốc tế là điều kiện không thể thiếu để nước ta có thể gia nhập WTO Vì vậi, hàng loạt luật có liên quan được rà soát, ban hành mới hoặc bổ sung, sửa đổi Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời trong hoàn cảnh đó (có hiệu lực từ ngày 01/07/2006) và thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 cùng các quy định về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000; Đồng thời, ngày 29/11/2005 Quốc hội khoá XI,

kỳ họp thứ 8 cũng thông qua Luật Đầu tư năm 2005

Như vậy, từ tháng 07/2006, đã có Luật Doanh nghiệp duy nhất áp dụng thống nhất đối với tất cả các doanh nghiệp,không phân biệt tính chất sở hữu; người trong nước và người nước ngoài có quyền tự chủ lựa chọn bất kỳ loại hình nào trong bốn

Trang 29

loại hình doanh nghiệp do Luật quy định (gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần) Cũng từ thời điểm ngày 01/7/2016, xét về mặt pháp lý, khái niệm doanh nghiệp cùng bản chất và thuộc tính của các loại hình doanh nghiệp đã được quy định, đuợc hiểu và áp dụng thống nhất

Cụ thể: doanh nghiệp được xác định là “tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, công ty trách nhiệm hữu hạn

hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: “Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; thành viên chịu trách nhiệm

về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp” công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; công ty không được quyền phát hành cổ phần Tài sản góp vốn vào công ty có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết

kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty Trách nhiệm của các thành viên giới hạn trong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty; phần vốn góp chuyển nhượng được nhưng phải tuân theo quy trình và điều kiện chuyển nhượng nêu trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 Công ty

là một pháp nhân độc lập có tài sản riêng tách biệt với tài sản của các thành viên Ngài 26/11/2014, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới (còn được gọi là Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014) thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2005 Hai luật mới này có hiệu lực thi hành kể từ 01/7/2015 Luật Doanh nghiệp năm

2014 về cơ bản hướng tới việc giảm thiểu thủ tục hành chính khi doanh nghiệp thành lập và hoạt động, nâng cao quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, hoàn thiện cơ cấu quản lý doanh nghiệp, bảo vệ quyền của thành viên và cổ đông Luật Doanh nghiệp năm 2014 chủ yếu điều chỉnh việc thành lập, tổ chức quản lý, hoạt động, tổ chức lại, giải thể của từng loại hình doanh nghiệp

Trang 30

Thực tế cho thấy Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có những tác động tích cực trong tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng; thúc đẩy huy động vốn, phát triển và mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp; góp phần duy trì tăng trưởng và giải quyết các vấn đề xã hội Tuy nhiên, đánh giá thực hiện Luật doanh nghiệp (2014) trong 2 năm qua cho thấy Luật doanh nghiệp bộc lộ những khiếm khuyết, gây ra khó khăn, vướng mắc, hạn chế việc hoàn thiện

và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh nói chung và phát triển doanh nghiệp nói riêng Điều đó đã làm cho sự gia nhập thị trường, khởi sự kinh doanh

và rút khỏi thị trường ở nước ta trở nên phức tạp và tốn kém hơn mức cần thiết, hạn chế quyền tự do kinh doanh của người dân và doanh nghiệp, không còn phù hợp với Hiến pháp năm 2013 Những khiếm khuyết đó cũng đã làm cho hoạt động của doanh nghiệp nói chung, trong đó có công ty TNHHHTV trở nên kém linh hoạt, tăng thêm chi phí tuân thủ và làm chậm quá trình ra quyết định của doanh nghiệp,v.v… Thực tế nói trên đã và đang làm cho môi trường kinh doanh ở nước

ta luôn bị đánh giá ở mức không cao trong các bảng xếp hạng về năng lực cạnh tranh và môi trường kinh doanh Vì vậy, việc bổ sung, sửa đổi nhằm khắc phục các khiếm khuyết trong nội dung các quy định có liên quan của Luật doanh nghiệp

2005 là nhu cầu thực tiễn cần thiết; đồng thời, góp phần triển khai Hiến pháp

2013, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 30/1/2008 về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Kết luận 50-KL/TW ngày 29/10/2012 về sắp xếp, đổi mới

và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước và Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế Chính vì vậy, việc xây dựng và ban hành Luật doanh nghiệp (2014) là một đòi hỏi tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, đặc biệt là trong giai đoạn Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Bên cạnh các doanh nghiệp như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp xã hội, Luật doanh nghiệp (2014) quy định về ba loại hình công ty truyền thống bao gồm: công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh Luật doanh nghiệp

Trang 31

(2014) đã ghi nhận những điểm mới so với Luật doanh nghiệp (2005), trong đó có vấn đề quản trị công ty phù hợp với mô hình quản trị công ty quốc tế hiện nay Luật Doanh nghiệp năm 2014 với 213 điều, trong đó quy định về công ty TNHH bao gồm hai loại hình công ty: công ty TNHH hai thành viên trở lên (từ Điều 47 đến Điều 72) và công ty TNHH một thành viên (từ Điều 73 đến Điều 87)

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được đánh giá là loại hình công ty có nhiều tính ưu việt và được ưa chuộng bởi bản chất pháp lý của nó Việc thừa nhận loại hình công ty TNHHHTV trở lên trong hệ thống pháp luật Việt Nam trải qua những giai đoạn lịch sử khá lâu dài với những sự thay đổi từ tư duy đến việc xâi dựng các thiết chế pháp luật về loại hình công ty này

1.5.2 Khái niệm pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên

Pháp luật về doanh nghiệp là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về tổ chức hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có công ty TNHHHTV trở lên Các quan hệ xã hội về tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát sinh trực tiếp từ quá trình tạo lập, duy trì, biến đổi

và chấm dứt tư cách pháp lý của doanh nghiệp (thành lập và đăng ký kinh doanh, tổ chức quản lý nội bộ của doanh nghiệp, tạo lập cơ cấu vốn, tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp, ) Trong đó, pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống pháp luật về doanh nghiệp

Pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên là các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của công ty

1.5.3 Cơ cấu pháp luật điều chỉnh hoạt động của công ty TNHHHTV trở lên

Cơ cấu pháp luật điều chỉnh hoạt động của công ty TNHHHTV trở lên tập trung

ở các phương diện sau:

- Quy định các nguyên tắc tổ chức, quản lý công ty Nguyên tắc tổ chức, quản lý công ty là những tư tưởng pháp lý chủ đạo, có tính bắt buộc chung, thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước trong việc xác định hệ thống các cơ quan trong tổ chức, quản lý công ti được quy định trong pháp luật về doanh nghiệp Theo

Trang 32

đó, mỗi công ty TNHHHTV trở lên có phương thức, cách thức tổ chức, quản lý khác nhau Đối với công ty TNHHHTV trở lên, hệ thống các cơ quan trong công ty được xây dựng trên cơ sở tính chất chủ sở hữu công ty hai các thành viên công ty Nguyên tắc tổ chức, quản lý đảm bảo một cách tốt nhất việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu hai thành viên trong vấn đề hướng tới lợi ích của toàn công ty;

- Các quy định người quản lý công ty, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người quản lý trong công ty Pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên quy định về các

mô hình tổ chức, quản lý công ty; điều kiện, tiêu chuẩn hai sự tiếp nhận, thay đổi thành viên cũng như chấm dứt tư cách thành viên công ty Mỗi loại thành viên có tư cách pháp lý trong quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ được quy định tại Điều lệ công ty và theo quy định của pháp luật;

- Các quy định về thành viện công ty TNHHHTV trở lên Thành viên của công

ty được điều chỉnh bởi các quy định cảu pháp luật về điều kiện trở thành thành viên, mất tư cách thành viên, quyền và nghĩa vụ của thành viên…

- Các quy định về điều kiện, phạm vi, hình thức lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công ty

- Các quy định về rủi ro và kiểm soát các rủi ro Các rủi ro luôn xảy ra đối với quá trình công ty gia nhập, hoạt động hoặc rút luy khỏi thị trường của công ty Những rủi ro đó có thể là rủi ro về nhân lực, vật lực,…trong đó, rủi ro pháp lý là một rủi ro quan trọng và cần phải được kiểm soát chặt chẽ

- Các quy định về nhận diện và kiểm soát các giao dịch có giá trị lớn phát sinh

tư lợi Việc nhận diện và kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi là một vấn đề mang tính “sống còn” của công ty Bởi loại giao dịch nài có sự tác động mạnh

mẽ đến tư tưởng và hành động của những người có thẩm quyền làm phương hại đến lợi ích của công ty, của thành viên công ty và các khách hàng

- Các quy định về chuyển đổi, giải thể hay phá sản công ty TNHHHTV trở lên Trong quá trình hoạt động, để đảm bảo hiệu quả cũng như góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh hoặc rút lui khỏi thị trường công ty có thể có sự lựa chọn phù hợp, tuân thủ theo các quy định của pháp luật

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Công ty nói chung và công ty TNHHHTV trở lên nói riêng có một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Một mô hình công ty hiệu quả cần được tạo bởi những thành tố tác động và được thiết kế trên cơ sở hệ thống các cơ quan và sự giám sát nhằm hướng tới và vì mục tiêu phát triển của công ty và của các thành viên Khuôn khổ hoạt động của công ty chịu sự tác động của môi trường pháp lý, quản lý và tổ chức và gắn liền với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, tập quán của quốc gia, vùng miền Bên cạnh đó, các yếu tố như đạo đức kinh doanh, các lợi ích môi trường và xã hội của cộng đồng cũng có thể ảnh hưởng tới danh tiếng và sự thành công lâu dài của công ty Chính vì vậi việc nhận diện công ty TNHHHTV trở lên, những ưu điểm và hạn chế của công ty cũng như những yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu

về một mô hình công ty TNHHHTV trở lên minh bạch

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu các lý thuyết về công ty đã góp phần tạo dựng một nền tảng cơ sở lý luận để tiếp tục tiếp cận về công ty TNHHHTV trở lên trong giai đoạn mới Đồng thời, việc nghiên cứu quyền tự do kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế, lịch sử hình thành và nội dung cơ bản của pháp luật về công ty nói chung, công tyTNHHHTV trở lên nói riêng nhằm định hướng cho việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên trong đời sống của công ty

Pháp luật về công ty nói chung, công ty TNHHHTV nói riêng có lịch sử hình thành và phát triển Mỗi một giai đoạn, một thời kỳ các quy định về công ty TNHHHTV trở lên có sự thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn Với những nội dung cụ thể, pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên đã xây dựng một khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của công ty TNHHHTV trở lên đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ và hiệu quả

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TNHHHTV TRỞ LÊN VÀ

THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH 2.1 Các quy định chủ yếu của pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên

Hiện nay, cơ cấu của pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH hai thành viên trở lên gồm rất nhiều phương diện Tuy nhiên, trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ luật học, tác giả tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh công ty TNHHHTV trở lên

2.1.1 Thành viên công ty

2.1.1.1 Khái quát về thành viên công ty

Thành viên là những người chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu công ty Thành viên công ty là một trong những “cốt lõi” hình thành nên công ty cũng như quá trình hoạt động của công ty Thành viên công ty có thể là cá nhân hoặc pháp nhân đáp ứng đầi đủ các quy định của pháp luật và điều lệ công ty Thành viên công ty TNHHHTV trở lên có thể là nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài Đối với công ty TNHHHTV trở lên thì số lượng thành viên tối thiểu là 02 thành viên, số lượng tối đa không vượt quá năm mươi thành viên Công ty TNHHMTV thì chủ sở hữu công ty là một tổ chức hoặc một cá nhân Đây là một điểm khác biệt với công

ty cổ phần về số lượng thành viên (số lượng tối thiểu trong công ty cổ phần là ba, luật không quy định số lượng tối đa cổ đông)

Thành viên công ty TNHHHTV trở lên có thể thay đổi thông qua các con đường khác nhau, như chuyển nhượng phần vốn góp, thừa kế hoặc tước bỏ tư cách thành viên,

2.1.1.2 Hình thành, chấm dứt tư cách thành viên công ty TNHHHTV trở lên

* Hình thành tư cách thành viên công ty

Việc quy định hình thành tư cách thành viên công ty có ý nghĩa quan trọng

Nó xác lập tư cách pháp lý của thành viên Kể từ thời điểm là thành viên công ty, thành viên thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty Việc hình thành tư cách thành viên công ty thể hiện và

Trang 35

bảo đảm quyền tự do kinh doanh của thành viên công ty Cá nhân, tổ chức có quyền thành lập, quản lý, góp vốn vào công ty TNHHHTV trở lên trừ một số trường hợp

bị cấm theo quy định của pháp luật

Thông thường, tư cách thành viên công ty được hình thành bằng các con đường sau:

- Góp vốn vào công ty Đây là con đường chủ yếu nhất để trở thành thành viên công ty Một người sẽ có tư cách thành viên công ty khi đã góp vốn vào thành lập công ty Cách thức góp vốn của thành viên phụ thuộc vào loại hình công ty Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, một người góp vốn vào công ty khi thành lập hoặc trong quá trình công ty hoạt động đều có thể trở thành viên công ty Tuy nhiên, đối với công ty TNHHMTV thì việc góp vốn khi thành lập sẽ trở thành chủ sở hữu công ty; ngược lại góp thêm vốn của chủ sở hữu công ty chỉ tăng làm tăng vốn điều

lệ công ty mà không làm thay đổi chủ sở hữu công ty

- Nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên Trong quá trình hoạt động của công ty thành viên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp cho thành viên khác hoặc chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty Việc chuyển nhượng được thực hiện thông qua các hợp đồng chuyển nhượng trên cơ sở thỏa thuận về giá chuyển nhượng

- Hưởng di sản thừa kế là phần vốn góp của thành viên là một trong những con đường trở thành thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế Để đảm bảo quyền, lợi ích của người hưởng

di sản thừa kế, quyền sở hữu tài sản của chủ thể Sự bền vững của công ty trong hoạt động kinh doanh thì người hưởng di sản có thể trở thành thành viên công ty

được áp dụng với các trường hợp sau: (i) Thành viên công ty là cá nhân chết thì người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc của thành viên đó sẽ trở thành thành viên công ty; (ii) khi một thành viên bị Tòa án có thẩm quyền tuyên bố là mất tích thì người quản lý tài sản của thành viên đó trong công ty sẽ trở thành thành viên công ty

Trang 36

- Tặng cho tài sản là phần vốn góp Thành viên, chủ sở hữu công ty có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác Người được tặng cho tài sản là phần vốn góp của thành viên thì sẽ trở thành viên của công ty tùy thuộc vào mối quan hệ huyết thống (trực hệ ba đời) hoặc sự chấp thuận của Hội đồng thành viên công ty

- Trả nợ từ tài sản vốn góp của thành viên công ty Người nhận trả nợ từ tài sản vốn góp của thành viên có thể trở thành thành viên nếu họ muốn trở thành thành viên và được Hội đồng thành viên công ty đồng ý

* Mất tư cách thành viên công ty

Mất tư cách thành viên công ty là một hành vi pháp lý chấm dứt sự tồn tại của một cá nhân hai tổ chức trong công ty Kể từ thời điểm chấm dứt tư cách thành viên công ty thì thành viên công ty không được tham gia vào tổ chức quản lý công ty Chấm dứt tư cách thành viên công ty trong các trường hợp sau:

- Thành viên tự nguyện chấm dứt tư cách thành viên;

- Thành viên chuyển nhượng toàn bộ phần vốn cho người khác;

- Thành viên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là mất tích

- Thành viên tặng cho phần vốn góp của mình cho người khác hoặc dùng tài sản là vốn góp để trả nợ cho người khác

Ngoài các trường hợp trên, thực tế cho thấy việc mất tư cách thành viên công ty

có thể được quy định bởi các điều kiện trong Điều lệ công ty như khai trừ thành viên, thu hồi tư cách thành viên khi thành viên vi phạm pháp luật hoặc hành động trái với Điều lệ công ty làm phương hại đến lợi ích của công ty và các thành viên khác

2.1.1.3 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của thành viên công ty TNHHHTV trở lên

Quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty được xác định khi thành viên đó được ghi nhận trong sổ thành viên công ty Cơ sở pháp lý của việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của thành viên đó là các quy định của pháp luật và Điều lệ công

ty Các quy định về quyền và nghĩa vụ thành viên phụ thuộc vào loại hình công ty

Quyền của thành viên công ty

Trang 37

Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, ngoài những quy định chung thì thành viên công ty có các quyền cơ bản sau:

Thứ nhất, Quyền lợi kinh tế Quyền lợi kinh tế của thành viên bao gồm:

- Quyền định đoạt phần vốn góp Thành viên công ty có quyền định đoạt phần vốn góp của mình bằng việc chuyển nhượng phần vốn góp, tặng cho phần vốn góp hoặc thanh toán các khoản nợ cho người khác từ phần vốn góp

- Quyền ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ

- Quyền được chia lợi nhuận Quyền được chia lợi nhuận là quyền quan trọng của thành viên công ty Việc phân chia lợi nhuận được áp dụng theo tỷ lệ vốn cam kết hoặc vốn đã góp vào công ty tuân thủ theo pháp luật và Điều lệ công ty sau khi công ty đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính

- Quyền được chia các giá trị tài sản còn lại của công ty sau khi thanh lý công

ty Công ty khi giải thể, phá sản, sau khi đã thanh toán mọi khoản nợ, phần tài sản còn lại của công ty sẽ được chia cho các thành viên theo tỷ lệ phần vốn góp của thành viên vào công ty

Thứ hai, Quyền trong tổ chức, quản lý công ty Đây là một quyền rất quan

trọng của thành viên công ty Thành viên có quyền được tham gia trong việc tổ chức, quản lý và điều hành công ty Cơ quan có quyền quyết quyết định các vấn đề quan trọng trong công ty là Hội đồng thành viên Thành viên công ty có quyền tham

dự, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên Việc bỏ phiếu quyết định các vấn đề hoạt động của công ty phụ thuộc vào tỷ lệ tương ứng phần vốn góp của thành viên công ty

Thứ ba, Quyền khởi kiện đối với người quản lý công ty Thành viên có thể tự

mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với các chức danh quản lý công ty như Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và cán bộ quản lý khác khi có hành vi vi phạm về nghĩa vụ trung thành, cẩn trọng hoặc không thực hiện đúng và đầy đủ hoặc thực hiện trái với quy định của pháp luật hoặc Điều lệ công ty về các quyền và nghĩa vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời nghị quyết của Hội đồng thành viên

Trang 38

Thứ tư, Quyền được thông tin và kiểm soát công ty Đây là một quyền cơ bản

của thành viên Việc quy định và bảo đảm thực hiện quyền thông tin giúp cho thành viên được biết các thông tin về tổ chức, quản lý của công ty nhất là thông tin về tài chính thông qua bản báo cáo của công ty Trên cơ sở đó, thành viên có thể thực hiện quyền kiểm soát của mình đối với hoạt động của công ty, đặc biệt là kiểm soát các giao dịch lớn có nguy cơ phát sinh tư lợi từ những người quản lý công ty

Ngoài các quyền cơ bản trên, thành viên, nhóm thành viên sở hữu từ 10% số vốn điều lệ trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định còn có thêm các quyền, như : a) yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền; b) Kiểm tra, xem xét, tra cứu sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hằng năm; c) Kiểm tra, xem xét, tra cứu và sao chụp sổ đăng ký thành viên, biên bản họp và nghị quyết của Hội đồng thành viên và các hồ sơ khác của công ty; d) yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết của Hội đồng thành viên trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngài kết thúc họp Hội đồng thành viên, nếu trình tự, thủ tục, điều kiện cuộc họp hoặc nội dung nghị quyết đó không thực hiện đúng hoặc không phù hợp với quy định của Luật này và Điều lệ công ty Trong trường hợp công ty có một thành viên sở hữu trên 90% vốn điều lệ và Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác nhỏ hơn tại khoản 8, Đ.50 Luật Doanh nghiệp, nhóm thành viên còn lại đương nhiên sẽ được thực hiện các quyền trên Thành viên công ty được thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty

Nghĩa vụ của thành viên công ty

Quyền của thành viên đi đôi với nghĩa vụ của thành viên Thành viên công ty không chỉ được thụ hưởng những lợi ích từ hoạt động công ty mà phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình Tùy thuộc vào tư cách pháp lý của thành viên là người quản lý công ty hay là thành viên thường thì các quy định về quyền và nghĩa

vụ của thành viên khác nhau Việc thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của thành viên theo tinh thần “thượng tôn pháp luật” đảm bảo cho sự phát triển bền vững của công ty

Trang 39

Thành viên công ty thực hiện các nghĩa vụ chủ yếu sau:

- Nghĩa vụ góp vốn thành lập công ty;

- Nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các quy định trong điều lệ công ty;

- Nghĩa vụ về trách nhiệm tài sản đối với hoạt động của công ty

Bên cạnh đó, đối với những người quản lý công ty còn có các nghĩa vụ khác như: trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trung thành, cẩn trọng và mẫn cán đối với công ty

2.1.2 Hệ thống cơ quan tổ chức, quản lý công ty TNHHHTV trở lên

Hệ thống cơ quan tổ chức, quản lý công ty TNHHHTV trở lên phản ánh sự phân chia quyền lực trong công ty Quyền lực là phương tiện để tác động lên suy nghĩ và hành động của người khác Quyền lực trong tổ chức là mức độ độc lập trong hoạt động dành cho một người để tạo ra khả năng sử dựng những quyết đoán của họ thông qua việc trao cho họ quyền ra các quyết định hay đưa ra các chỉ thị Quyền lực nên tập trung hay phân tán trong một tổ chức? Tập trung hay phân tán ở mức nào? Phân quyền là xu hướng phân tán các quyền ra quyết định trong một tổ chức Trong mỗi doanh nghiệp đều có một sự phân quyền nào đó Nhưng cũng không thể

có sự phân quyền tuyệt đối vì nếu những người quản lý phải giao phó hết quyền lực của mình thì cương vị quản lý của họ sẽ mất đi, vị trí của họ phải loại bỏ, và như vậy cũng lại không có cơ cấu tổ chức Ngược lại cũng có thể có sự tập trung quyền hạn vào một người trong tổ chức

Mức độ phân quyền trong công ty được thể hiện trên một số phương diện như:

số lượng các quyết định được đề ra ở các cấp tổ chức thấp hơn càng nhiều; các quyết định được đề ra ở các cấp càng thấp trong tổ chức và có những ảnh hưởng quan trọng; càng có nhiều chức năng chịu tác động bởi các quyết định được đưa ra

ở các cấp thấp hơn trong tổ chức; sự phân quyền càng lớn nếu các quyết định của cấp dưới không cần phải tham khảo ý kiến của cấp trên Khi phải xin ý kiến ít người khi ra quyết định ở cấp bậc quản lí càng thấp thì sự phân quyền càng lớn

Trang 40

Đối với công ty TNHH thì quyền lực công ty có thể được tổ chức dạng phân quyền (công ty TNHH hai thành viên trở lên) hay tập quyền (công ty TNHH một thành viên)

Cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty TNHH hai thành viên trở lên bao gồm: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc) và Ban Kiểm soát hoặc Kiểm soát viên Cơ cấu tổ chức, quản lý công ty TNHH có điểm tương đồng và sự khác biệt với mô hình tổ chức, quản lý công ty cổ phần (mô hình có Ban Kiểm soát hoặc mô hình có Ban Kiểm toán nội bộ)

lệ thuộc vào số thành viên và tỷ lệ sở hữu vốn Việc quy định về tính hợp lệ của cuộc họp Hội đồng thành viên theo số lượng thành viên và tỷ lệ % vốn đại diện nhằm đảm bảo tăng cường quyền chủ động cho công ty

Ngày đăng: 24/04/2020, 21:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w