Khi giáo viên tạo được không khí học tập tích cực thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên thực hiện các mục đích dạy học khác.. Giáo viên phải làm thế nào cho học sinh thấy được mục
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số:
1 Tên sáng kiến: “Tăng hứng thú học tập của học sinh thông qua việc
mở bài trong dạy học Sinh học 10”.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: chuyên môn giảng dạy môn Sinh học
3 Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1 Tình trạng giải pháp đã biết
Trước đây người ta cho rằng thái độ học tập là những nhân tố bên ngoài của quá trình dạy học nhưng thật ra nó lại là các nhân tố bên trong trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả học tập Người thầy có nhiệm vụ tạo các nhân tố bên trong
để từ đó hình thành ở các em một thái độ học tập đúng đắn mang tính hiệu quả cao trong suốt quá trình lĩnh hội kiến thức mới Hoạt động của thầy, hoạt động của trò, giọng nói, tiếng cười, cử chỉ điệu bộ, nét mặt, những mẫu chuyện vui, những thí nghiệm đơn giản là yếu tố tạo ra thái độ học tập tích cực ở học sinh, giúp cho lớp học có một không khí học tập thoải mái, sinh động và thân thiện Khi giáo viên tạo được không khí học tập tích cực thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên thực hiện các mục đích dạy học khác Giáo viên phải làm thế nào cho học sinh thấy được mục tiêu của bài học, tạo cho các em tâm lý chuẩn bị tìm kiếm cái gì đó mới mẻ về tri thức mà tiết học sẽ mang tới Điều này nói lên vai trò của người thầy trong việc mở đầu bài giảng nhằm tạo không khí học tập tích cực, định hướng nhận thức của học sinh Sự thành công của một tiết dạy còn phụ thuộc rất nhiều vào phần mở đầu và kết thúc bài giảng Chính vì vậy việc
mở bài có vai trò đặc biệt quan trọng, định hướng quá trình học tập của học sinh
Hiện nay, các sách phục vụ trong công tác giảng dạy thậm chí ngay cả đối với người giáo viên thường chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động học tập mà
ít quan tâm đến việc mở đầu bài giảng Hơn nữa, một trong những yếu tố giúp cho sự thành công của tiết học là tạo được môi trường học tập tích cực, sự lôi cuốn, hấp dẫn đến học sinh Khi đó, các em sẽ có một tâm thế sẵn sàng học tập, sẵn sàng hợp tác và tiếp thu kiến thức tốt hơn Tuy nhiên, tùy thuộc vào đối tượng, nội dung và điều kiện cơ sở vật chất sẵn có mà người giáo viên có cách vào bài riêng
Trang 2Vì vậy, việc tạo không khí tâm lý vui vẻ, gây hứng thú trong việc giới thiệu bài mới, chuyển ý một cách phù hợp là cần thiết Đây cũng chính là lý do tôi
chọn đề tài “Tăng hứng thú học tập của học sinh thông qua việc mở bài trong
dạy học Sinh học 10” (Chương trình cơ bản, Phần II: Chương I và Chương IV)
để chia sẻ một ít kinh nghiệm
3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
3.2.1 Mục đích của giải pháp
Vận dụng lí luận, thực tiễn và phương pháp dạy học vào việc mở đầu bài giảng Sinh học 10 giúp giáo viên chủ động, sáng tạo hơn trong giảng dạy, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên dạy Sinh học ở cấp THPT, bổ sung kinh nghiệm trong giảng dạy Vì việc mở đầu bài giảng có vai trò rất quan trọng, vừa tạo yếu tố tâm lý của tiết học vừa giúp giáo viên định hướng nội dung sắp đưa đến người học Từ đó, học sinh tiếp thu kiến thức dễ dàng và nhanh chóng hơn, giúp các em phát triển các năng lực của mình như: năng lực giải quyết vấn
đề thực tiễn, năng lực sáng tạo, năng lực tự học, năng lực hợp tác và năng lực ngôn ngữ, từ góp phần tạo hứng thú cho học sinh yêu thích môn học, thông qua
đó nâng cao hiệu quả giảng dạy
Do thực tế được phân công lớp dạy và điều kiện thời gian, nên phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở giới hạn nghiên cứu một số cách mở bài ở một số bài
cụ thể trong chương trình Sinh học 10 – Chương trình cơ bản
Trong phạm vi đề tài, tôi chỉ đi sâu nghiên cứu một số cách mở bài thường được sử dụng phổ biến hiện nay như:
- Mở đầu bằng một thí nghiệm, trò chơi đơn giản
- Mở đầu bằng một thực tế trong xã hội, ở địa phương, trong sản xuất,
- Mở đầu bằng một câu chuyện có liên quan đến bài học
- Mở đầu bằng khơi gợi trí tò mò
- Mở đầu bằng các câu hỏi có vấn đề, bài tập thảo luận nhóm
3.2.2 Nội dung của giải pháp
* Điểm mới của giải pháp
- Giải pháp này chia sẽ nhiều cách mở bài khác nhau trước khi vào bài mới, thiết nghĩ sẽ tạo được môi trường học tập tích cực, sự lôi cuốn, hấp dẫn đến học sinh Khi đó, các em sẽ có một tâm thế sẵn sàng bài học, sẵn sàng hợp tác và tiếp thu kiến thức tốt hơn
Trang 3- Học sinh sẽ tích lũy thêm nhiều hiểu biết cho bản thân về các vấn đề liên quan thực tế cuộc sống
- Đặc biệt, điểm mới cần lưu ý trong giải pháp này là bản thân đã khai thác tốt những kiến thức chuyên môn, hiện tượng thực tế có liên quan nhằm tạo tâm
lý hết sức gần gũi, thoải mái, đầy phấn khởi mà trên hết là sự tích cực ở học sinh khi bước vào bài học, từ đó dễ dàng đạt được kết quả như mong đợi
* Cách thức thực hiện
Để thực hiện định hướng này, rõ ràng vai trò của người thầy là cực kỳ quan trọng Thầy bước vào lớp với nét mặt vui vẻ, hỏi thăm, trò chuyện vài lời với một vài học sinh, giọng nói tự nhiên, ấm áp, những câu chuyện mở đầu bài giảng của thầy (nhiều khi tưởng như không có liên quan gì đến bài học, đôi khi các em không biết bài giảng bắt đầu từ lúc nào) làm cho bài giảng được bắt đầu một cách tự nhiên, tìm cho lớp học một môi trường học thích hợp,… sẽ quyết định một bài giảng có triển vọng thu được kết quả tốt Thực chất đây là bước chuẩn bị về mặt tâm lý cho học sinh, sao cho các em thấy mình đang ở một không gian mà trong đó mọi người đều đang có cái đích chung là chuẩn bị tìm kiếm một cái gì đó mới mẻ, thú vị, có tác dụng cho bản thân Đó chính là thầy
đã làm cho học sinh nhận thức tích cực về việc học của mình
Giáo viên có thể mở bài bằng nhiều cách như trần thuật, làm thí nghiệm đơn giản, kể một ứng dụng thực tiễn,… hoặc có thể kết hợp các cách lại với nhau miễn sao tạo được sự hứng thú học tập ở học sinh Tuy nhiên, phần mở bài phải đạt được các yêu cầu như: mở bài phải phù hợp với nội dung bài học, không được chiếm nhiều thời gian trong một tiết học (thường khoảng từ 2 đến 3 phút) và không giải thích nhiều những kiến thức liên quan tới nội dung bài Phần
mở bài thường có cấu trúc gồm 3 phần: Dẫn dắt vào nội dung mở bài – Nội dung mở bài (câu chuyện hoặc thí nghiệm) – Câu chuyển để vào bài mới Những vấn đề, câu hỏi đặt ra ở phần đầu bài phải được giải quyết trong tiết học nếu không giải quyết thì cũng có nghĩa là mở bài không đạt yêu cầu Mở bài hay là một cách để gây hứng thú học tập tích cực Tuy nhiên, nếu chỉ có nội dung thì chưa đủ Cử chỉ, nét mặt, điệu bộ, giọng nói và tác phong của người giáo viên cũng không kém phần quan trọng Do đó, giáo viên khi lên lớp phải với một tâm trạng thực sự thoải mái thì mới đạt được hiệu quả giảng dạy và học tập
Để thực hiện được giải pháp, giáo viên cần chuẩn bị:
- Thứ nhất, nghiên cứu lý thuyết để hệ thống những nội dung chính và
những vấn đề cần lưu ý khi nghiên cứu cách mở bài hợp lý Giáo viên có thể sử
Trang 4dụng: sách giáo khoa Sinh học 10, sách giáo viên, sách chuẩn kiến thức kỹ năng, sách thiết kế bài giảng, tài liệu về dạy học tích cực, lý luận dạy học, tài liệu về thế giới sinh vật, ứng dụng hoạt động của sinh vật vào thực tiễn, các tài liệu tham khảo có liên quan, Bên cạnh đó giáo viên cần chuẩn bị trước một số dụng
cụ cần cho việc mở bài: máy vi tính, máy chiếu (projector), tranh ảnh (ảnh vẽ và ảnh chụp), giấy A4, dụng cụ thí nghiệm, hóa chất làm thí nghiệm (nếu có),
- Thứ hai, giáo viên xây dưng nội dung tương ứng với một số cách vào bài
nhằm tạo không khí học tập tích cực
- Thứ ba, thực nghiệm ở từng lớp dạy với nhiều cách mở bài khác nhau, có
đối chiếu với lớp không áp dụng để đánh giá hiệu quả của đề tài
Khi xây dựng và lựa chọn cách thức mở bài ở từng bài học cần chú ý những điểm sau: việc mở đầu phải phù hợp với nội dung; ngắn gọn, bổ ích và phù hợp với từng đối tượng học sinh, không phi sư phạm; cần sử dụng mở đầu bằng nhiều cách, không đơn điệu, nhàm chán
* Ví dụ minh họa: Bài 5 PRÔTÊIN và Bài 18 CHU KỲ TẾ BÀO VÀ
QUÁ TRÌNH NGUYÊN PHÂN – Phần II SINH HỌC TẾ BÀO (Chương
trình Sinh học 10, Ban cơ bản)
Trước hết, ta cần hệ thống những nội dung chính và những vấn đề cần lưu
ý khi nghiên cứu cách mở bài hợp lý.
CHƯƠNG I THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TẾ BÀO
Nội dung chính của chương:
- Các chất có trong tế bào bao gồm các yếu tố hóa học, nước, cacbohiđrat, lipit, prôtêin, axit nuclêic
- Vai trò của các chất đối với tế bào
Bài 5 PRÔTÊIN
1 Nội dung chính của bài:
- Các bậc cấu trúc của prôtêin
- Prôtêin là đại phân tử hữu cơ có cấu tạo gồm các đơn phân là axit amin
- Cấu trúc của prôtêin qui định chức năng của nó nên khi cấu trúc không gian của nó bị phá vỡ thì prôtêin bị mất chức năng
- Prôtêin là đại phân tử có cấu trúc và chức năng đa dạng nhất
- Prôtêin có các chức năng như: cấu trúc, xúc tác, bảo vệ, vận chuyển, thụ thể, dự trữ axit amin,…
2 Vào bài:
2.1 Cách 1:
Trang 5 Thời gian: 3 phút
Phương pháp: làm thí nghiệm đơn giản
- Dùng 2 cốc 1 cốc chứa sữa, 1 cốc chứa nước cam
- Đố các em đây là gì?
- Hỏi: Trong sữa có gì?
- Trả lời: Đường, prôtêin,…
- Hỏi: Trong nước cam có gì?
- Trả lời: Đường, vitamin C,…
- Vitamin C là một loại axit đó các em Nó là axit ascorbic
- Hãy đoán xem điều gì sẽ xảy ra khi ta trộn hai thứ này lại với nhau?
- HS trả lời: Xuất hiện lợn cợn màu trắng
- Để biết được có xuất hiện lợn cợn màu trắng hay không thì các em chú ý thí nghiệm khi Thầy cho cam vào trong cốc sữa
- Vậy kết tủa màu trắng đó là gì? Tại sao mà có?
Chúng ta thấy là trong sữa có prôtêin, tại sao khi cho sữa vào môi trường
có chứa axit lại bị kết tủa? Để giải thích được điều đó thì chúng ta vào bài mới Bài 5 PRÔTÊIN (Giáo trình Sinh hoá - Nguyễn Minh Chơn, 2000)
2.2 Cách 2:
Thời gian: 3 phút
Phương pháp: Nêu một ví dụ trong thực tiễn cuộc sống hằng ngày
- Hỏi: Đố các em trong tròng trắng trứng gà có chứa gì?
- Trả lời: Prôtêin
- Vậy có em nào đã từng làm thí nghiệm này chưa: Tách lấy tròng trắng trứng ra và cho một tí muối vào Điều gì sẽ xảy ra?
- Tròng trắng trứng sẽ bị tan ra, không còn ở dạng quánh nữa
- Em nào có thể giải thích hiện tượng trên?
- Chính là do tròng trắng trứng có thể tan trong dung dịch muối Thí nghiệm này rất đơn giản Em nào chưa từng làm thí nghiệm này thì về có thể tự làm ở nhà Biết đâu các em lại phát hiện thêm nhiều điều mới hơn!
- Hỏi tiếp: Vậy em nào có thể giải thích tiếp tại sao khi luộc trứng, tròng trắng trứng chuyển từ thể quánh sang thể đặc?
- HS trả lời: Prôtêin có thay đổi cấu trúc khi gặp nhiệt độ cao
Trang 6Chuyển ý: Vậy Prôtêin có cấu trúc như thế nào mà lại có những đặc tính như thế? Chúng ta vào bài mới Bài 5 PRÔTÊIN (Giáo trình Sinh hoá - Nguyễn Minh Chơn, 2000)
2.3 Cách 3:
Thời gian: 3 phút
Phương pháp: Nêu một ứng dụng thực tiễn
Vận dụng phần “Em có biết” để mở bài
- Ít có ai có thể tưởng tượng nổi các tơ nhện mỏng manh lại có thể bền hơn sắt thép Nếu bện các tơ nhện lại thành sợi có đường kính cỡ ống nhựa mềm dùng để tưới cây thì có thể dùng nó để kéo cùng một lúc hai chiếc máy bay Boing 737 Thật không thể tin được phải không các em!
- Như ta đã biết tơ nhện được cấu tạo từ prôtêin Vấn đề đặt ra ở đây là tơ tằm, tóc cũng được cấu tạo bằng prôtêin nhưng tại sao nó lại không rắn chắc, bền dẻo như tơ nhện? Vậy sự khác nhau đó là do đâu? Bài 5 PRÔTÊIN sẽ giúp chúng ta giải đáp thắc mắc trên (Em có biết, Sách giáo khoa Sinh học 10)
3 Thảo luận:
Trong sách giáo viên sinh học 10 mở bài cũng rất hấp dẫn: Cho học sinh thảo luận các câu hỏi như tại sao thịt gà khác thịt bò? Tại sao sinh vật ăn thịt phải ăn sinh vật khác? Với cách mở bài này, giáo viên có thể cuốn hút học sinh vào nội dung hấp dẫn của bài nhưng ngắn gọn và ít tốn thời gian Việc mở đầu bằng thí nghiệm đơn giản hoặc nêu một hiện tượng gần gũi trong cuộc sống là hấp dẫn hơn cả Chẳng hạn khi làm thí nghiệm nước cam sữa, thực ra thí nghiệm này các em đã từng làm nhưng không biết cách giải thích hiện tượng thậm chí là chưa từng thắc mắc tại sao nó lại như vậy Sau khi đã biết cách giải thích thì lúc
đó chắc chắn các em sẽ rất thích và có thể đem hiện tượng này đố người khác Điều này giúp các em khắc sâu kiến thức hơn Vì học sinh đã học sơ bộ về cấu trúc và chức năng của prôtêin ở trung học cơ sở nên tiến trình bài học không nhất thiết phải theo trình tự sách giáo khoa Có thể cho học sinh trao đổi đưa ra các chức năng của các loại prôtêin và đưa ra một số ví dụ minh hoạ Ngoài ra
giáo viên cũng có thể mở bài bằng mục “Em có biết” Đây là kiến thức mới và
gây ngạc nhiên đến học sinh “Tơ nhện mà có thể kéo cùng một lúc hai chiếc máy bay Boing 737” Sau đó giáo viên lại tạo thêm tình huống có vấn đề bắt buộc học sinh phải suy nghĩ: Tơ tằm, tóc cũng là prôtêin nhưng tại sao lại không
Trang 7có được đặc tính trên?” Chính câu hỏi có vấn đề này đã đòi hỏi học sinh phải suy luận và tìm tòi
Bài 18 CHU KÌ TẾ BÀO VÀ QUÁ TRÌNH NGUYÊN PHÂN
1 Nôi dung cơ bản:
Chu kì tế bào gồm kì trung gian và quá trìng nguyên phân Nguyên phân là hình thức phân chia tế bào ở sinh vật nhân thực, trong đó vật chất di truyền được phân bố đồng đều cho các tế bào con Nguyên phân giúp các cơ thể sinh vật nhân thực thực hiện các chức năng sinh sản, sinh trưởng và tái sinh các mô và các bộ phận bị tổn thương Nguyên phân và toàn bộ chu kì tế bào được cơ thể kiểm soát và điều khiển một cách chặt chẽ giúp cơ thể sinh vật sinh trưởng và phát triển bình thường
2 Vào bài:
2.1 Cách 1:
Thời gian: 2 phút
Phương pháp: mở bài bằng một thực tế trong xã hội, ở địa phương
Này nhé, em đang cắt giấy làm thủ công hoặc giúp mẹ thái rau Nếu sơ ý để dao hay kéo làm đứt tay Hoặc giả em đang đùa nghịch thì bị vấp ngã, xây xước tay chân và cả chảy máu Khi ấy các em sẽ làm gì nào? Chắc hẳn là những khi
đó em nào cũng biết tìm cồn để sát trùng và lấy bông hoặc vải sạch buộc vết thương lại để cầm máu Và thế là xong, vài ngày sau vết thương lại “đâm da non” và lành Chuyện nghe rất bình thường phải không các em? Chỉ có mỗi đứt tay, sau vài ngày, đâu lại vào đấy Có gì đáng nói ở đây cơ chứ? Thế mà có cái đáng nói đấy: tại sao gọi là “đâm da non”? Em hiểu thế nào về hiện tượng “đâm
da non”? Những tế bào trong cơ thể chúng ta đã thực hiện chức năng gì để được
có quá trình “đâm da non”? Con người, động vật có sự “đâm da non” còn đối với thực vật thì sao, chúng có “đâm da non” hay không? Để hiểu được tại sao lại có hiện tượng “đâm da non” chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu bài 18 CHU KÌ
TẾ BÀO VÀ QUÁ TRÌNH NGUYÊN PHÂN
2.2 Cách 2:
Thời gian: 2 phút
Phương pháp: Sử dụng mục Em có biết để mở bài
Chắc hẳn là trong lớp chúng ta có rất nhiều em thích xem phim “Tây Du Kí” đúng không? Vậy các em còn nhớ có đoạn phim Tôn Ngộ Không đánh không lại
kẻ thù (vì yêu quái quá đông đúc) thì Tôn Ngộ Không nhổ một nắm lông của
Trang 8mình hà hơi vào và biến thành một đàn khỉ hoàn toàn giống mình Câu chuyện tưởng tượng về Tôn Ngộ Không nhổ một nắm lông hà hơi biến thành đàn khỉ lại trở thành ý tưởng để nuôi cấy tế bào thực vật Các nhà khoa học có thể nuôi cấy một tế bào tách từ một cây để phát triển thành một cơ thể giống như cây đó Vậy
cơ chế của quá trình này như thế nào? Tại sao từ một Tôn Ngộ Không ban đầu lại biến ra được nhiều Tôn Ngộ Không như vậy mà chỉ từ những sợi lông? Vì sao một tế bào được tách từ một cây lại phát triển thành một cơ thể giống như cây đó?
Vì chúng ta đều biết, muốn trồng cây thì phải có hạt, hạt nảy mầm mới lớn dần thành cây đúng không? Để hiểu rõ vấn đề này chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu Bài 18: CHU KÌ TẾ BÀO VÀ QUÁ TRÌNH NGUYÊN PHÂN
2.3 Cách 3:
Thời gian: 3 phút
Phương pháp: Tạo tình huống để học sinh thảo luận
Giáo viên chuẩn bị sẵn vài bộ sợi chỉ hoặc sợi nilon Mỗi bộ gồm 20 sợi, trong đó cứ 4 sợi có chiều dài bằng nhau nhưng có hai màu khác nhau (ví dụ 4 sợi cùng chiều dài trong đó có 2 sợi màu trắng còn 2 sợi màu đỏ) Như vậy, 20 sợi sẽ bao gồm 5 nhóm bộ 4 sợi dây có chiều dài khác nhau Tốt nhất, các nhóm
bộ 4 hơn kém nhau 1 cm và chiều dài của sợi dây ngắn nhất là 20 cm
Giáo viên gọi vài học sinh lên trước lớp và bịt mắt lại (đứng sát ngay bàn đầu tiên và sử dụng bàn để chia sợi dây), mỗi học sinh được nhận một bộ đồ chơi gồm 20 sợi dây được mô tả ở trên Học sinh được giao nhiệm vụ chia số sợi dây thành 2 phần đều nhau theo kiểu cứ 4 sợi dây có cùng chiều dài thì phải được chia thành 2 phần, mỗi phần có 2 sợi khác màu (ví dụ, 4 sợi dây cùng chiều dài trong đó có 2 sợi màu trắng và 2 sợi màu đỏ phải được chia thành 2 phần, mỗi phần có 1 sợi màu trắng và 1 sợi màu đỏ) Giáo viên bấm đồng hồ tính thời gian cho mỗi người
Trong trò chơi nói trên, học sinh sẽ nhanh chóng rút ra kết luận là có thể chia đều số sợi dây theo kích thước nhưng không thể chia đều số sợi dây theo màu sắc được (khi bị bịt mắt) Nếu có chia được chẳng qua cũng rất tình cờ mà thôi và vì với số lượng sợi dây là 5 bộ 4 nên khả năng chia đều thành 2 nhóm sợi theo màu sắc lẫn kích thước gần như không thể thực hiện được Giáo viên đặt câu hỏi: Có cách nào để cải tiến luật chơi trong trò chơi nói trên, để có thểchia đều số sợi dây trên theo cùng độ dài và màu sắc và thành 2 phần giống nhau như
2 bản photocopy Thực ra, để thực hiện theo yêu cầu trên là rất khó khăn Chúng
Trang 9ta không làm được, thế nhưng tế bào lại làm được đấy! Từ 1 tế bào ban đầu phân thành 2 tế bào giống nhau như 2 bản photocopy Bài 18 CHU KÌ TẾ BÀO VÀ QUÁ TRÌNH NGUYÊN PHÂN sẽ giúp ta tìm hiểu rõ hơn (Sách giáo viên – NXB giáo dục)
3 Thảo luận:
Cách mở bài bằng chơi trò chơi sẽ kích thích học sinh tham gia tích cực vào bài học hơn, vì như vậy học sinh sẽ thấy thật vui, thật thú vị nên các em sẽ nhiệt tình tham gia Khi các em đang hào hứng tham gia trò chơi, nhưng khi phát sinh vấn đề trong trò chơi mà học sinh không giải quyết được, ví dụ như khi không thể chia được số sợi dây ra làm hai cùng kích thước và màu sắc, sẽ kích thích các em suy nghĩ để cải tiến luật chơi mới để có thể chia đều số sợi dây thành 2 phần giống nhau như hai bản photo Các em sẽ rơi vào tình huống có vấn đề nhưng không thể giải quyết được trong thời gian ngắn vì vậy có thể kích thích các em hứng thú vào bài học hơn
3.3 Khả năng áp dụng của giải pháp
Tôi nghĩ đây là một đề tài hấp dẫn và thiết thực nhằm góp phần cải thiện chất lượng dạy học, nhưng do chưa có nhiều thời gian nghiên cứu và ứng dụng, đôi điều đúc kết được trên đây chỉ là kinh nghiệm bước đầu, xem đây là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu xây dựng và sử dụng trong thời gian tới vì thế tôi hy vọng đề tài này được tiếp tục nghiên cứu ở nội dung sách giáo khoa lớp 11 và 12 (cả cơ bản và nâng cao) Nếu được vận dụng vào thực tế dạy học ở cả 3 khối lớp, chắc chắn đây sẽ là biện pháp tích cực nhằm phát triển khả năng tư duy ở học sinh, thực hiện tốt tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, khắc phục tâm lý nặng nề
ở học sinh đối với môn Sinh học
3.4 Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp
Qua thực tế giảng dạy ở khối 10, giải pháp này đã mang lại kết quả đáng khích lệ: theo thống kê các lớp tôi dạy, có hơn 92% các em rất thích thú, bị lôi cuốn vào bài học ngay từ đầu Điều này ngày càng giúp các em có thêm tiến bộ
về nhận thức và kĩ năng vận dụng để dễ dàng giải quyết những tình huống thực
tế mà các em trãi nghiệm Từ đó, các em chủ động, sáng tạo và tích cực hơn trong việc học môn Sinh học và ngày càng thêm yêu thích bộ môn này
Trang 10Kết quả thu được khi nhận xét về ích lợi của việc tạo không khí tâm lý học tập tích cực thông qua việc mở đầu bài giảng bằng thực nghiệm, thực tiễn đã cho thấy:
Lớp Sĩ số Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
10A1 45 8 17.78 20 44.44 13 28.89 4 08.89
10A2 45 7 15.56 22 48.89 11 24.44 5 11.11
Tổng 90 15 16.67 42 46.67 24 26.67 9 10.00
Lớp Sĩ số Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
10A1 45 11 24.44 22 48.89 12 26.67 0 0
10A2 45 10 22.22 24 53.33 9 20.00 2 04.44
Tổng 90 21 23.33 46 51.11 21 23.33 2 02.22
3.5 Tài liệu kèm theo gồm: phụ lục một số cách mở bài đã được áp dụng
(Bài 3 Các nguyên tố hoá học và nước; Bài 4 Cacbohiđrat và lipit; Bài 6 Axit nuclêic và Bài 19 Giảm phân – PHẦN II SINH HỌC TẾ BÀO, Chương trình Sinh học 10, Ban cơ bản).
Qua việc trình bày nội dung chuyên đề trên, tôi thật sự muốn chia sẻ với quý anh chị đồng nghiệp cùng các em học sinh một vài kinh nghiệm mà bản thân đã góp nhặt trong quá trình giảng dạy Rất mong nhận được sự trao đổi, góp
ý cho chuyên đề từ các anh chị đồng nghiệp và các em học sinh Hy vọng sáng kiến kinh nghiệm này sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Sinh học ở trường THPT
Bến Tre, ngày 14 tháng 3 năm 2018.