1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hệ sinh thái san hô trên biển đông bài viết v2

14 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 48,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu có sẵn trong thư viện, tìm hiểu các sách báo, tạp chí và các nghiên cứu vấn đề hệ sinh thái san hô biển, sự hình thành phát tr

Trang 1

Đề tài: NGHIÊN CỨU HỆ SINH THÁI SAN HÔ TRÊN BIỂN ĐÔNG VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện:

Giáo viên hướng dẫn:

Trang 2

PHẦN 1 : MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Biển Đông là một vùng biển có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam nói riêng và các nước giáp Biển Đông nói chung Biển Đông đối với những tài nguyên dồi dào đóng vai trò lớn trong phát triển kinh tế của các quốc gia Trong các tài nguyên mà biển mang lại thì một trong các loại tài nguyên cần được bảo vệ và khai thác một các hiệu quả đó là hệ sinh thái San Hô

Các bãi san hô là lớp bảo vệ vùng biển, cung cấp protein, các chất có thể chế tạo dược phẩm, thuốc men, quan trọng hơn là đóng góp cho ngành du lịch Khoảng 1/3 tất cả các chủng loại sống ở đại dương có liên hệ tới san hô

Những mối đe doạ chính là đánh bắt huỷ diệt (dùng chất độc, thuốc nổ, xung điện), đánh bắt quá mức, ô nhiễm từ đất liền Các rạn san hô bị suy thoái và huỷ diệt kéo theo sự suy giảm đa dạng sinh học cũng như nguồn lợi hải sản do nhiều loài cá không còn bãi đẻ Cũng theo WRI (2013), ước tính Việt Nam có khoảng 1.122 km2 rạn san hô và khoảng 300 loài san hô Tuy nhiên, chỉ 1% rạn san hô có thể được phân loại là ở trong tình trạng tốt Các vấn đề tổng quan bao gồm phân bố rạn san hô, hình thái và cấu trúc, phân vùng đa dạng sinh học, hiện trạng khai thác,

sử dụng và những mối đe dọa đối với hệ sinh thái rạn san hô, hiện trạng bảo tồn thiên nhiên rạn san hô

Với những lợi ích mà san hô mang lại cho con người, hiện trạng các rạn san

hô hiện nay đang đứng rất nhiều vấn đề: khai thác sao cho hợp lý, phát triển nó theo đúng tiềm năng sẵn có, bảo vệ và giữ gìn các rạn san hô Với những lý do trên việc

chọn đề tài “Nghiên cứu hệ sinh thái San hô trên Biển Đông” có ý nghĩa thiết thực,

góp phần nhỏ vào chiến lược bảo vệ và phát triển hợp lý san hô trên biển Đông

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đưa ra được một số kiến nghị giải pháp bảo vệ và phát triển các rạn san

hô trên biển Đông của Việt Nam

2

Trang 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định phương pháp luận nghiên cứu và tổng quan khu vực nghiên cứu

về san hô mà cụ thể ở đây là Biển Đông

- Thu thập, xử lý, phân tích tài liệu, so sánh có lựa chọn để làm rõ hiện trạng khai thác và sử dụng san hô biển Đông hiện nay

- Tìm hiểu một số nguyên nhân tác động đến môi trường sống của rạn san

hô trên Biển Đông, từ đó có cơ sở để đưa ra các giải pháp cho việc khai thác và

sử dụng rạn San hô Biển Đông

1.3 Nội dung nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu có sẵn trong thư viện, tìm hiểu các sách báo, tạp chí và các nghiên cứu vấn đề hệ sinh thái san hô biển, sự hình thành phát triển của rạn san hô biển và các biện pháp khai thác bảo vệ tài nguyên biển hiện nay để tổng hợp các lý luận về hệ sinh thái san hô biển Đông

Thu thập các số liệu về sự ảnh hưởng của việc các hoạt động của con người đến sự phát triển của rạn San Hô biển và tiến hành phân tích,Tìm hiểu thực trạng của rạn San Hô tại khu vực biển đông Việt Nam

Tìm hiểu cách thức sinh sản, kiếm ăn cấu tạo và quá trình phát triển của rạn biển đông Việt Nam và thực trạng khai thác san hô tại biển Đông

1.4 Phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Phạm vi không gian

Do phạm sự hình thành phát triển của các rạn San Hô diễn ra ở nhiều khía cạnh nên đề tài chỉ phân tích một vài khía cạnh nổi bật nhất cấu tạo, sinh sản phát triển và ảnh hưởng của các tác nhân lên sự phát triển của rạn San Hô biển Đông của Việt Nam

1.4.2 Phạm vi thời gian

Trong giới hạn cho phép, đề tài chỉ nghiên cứu sơ bộ sự hình thành phát triển và các tác nhân tới rạn San Hô biển đông trong giai đoạn 2010 – 2016

Trang 5

PHẦN 2 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Cuối thế kỷ XVIII, rạn san hô trở thành mối quan tâm lớn trên thế giới bởi vì đây chính là nguyên nhân chủ yếu gây ra các vụ đắm tàu Thật đáng ngạc nhiên khi rạn san hô được quan tâm muộn như vậy vì một nửa đường bờ của Đại Tây Dương nằm ở vùng nhiệt đới và 1/3 bờ biển nhiệt đới có san hô phân bố Trong cuốn sách

“Rạn san hô” xuất bản năm 1842, Charles Darwin đã chỉ ra những vùng phân bố chính của rạn san hô trên thế giới Bản đồ này được coi là khá tin cậy trong phạm vi lớn Sau đó James Dana cũng có một công trình lớn vào năm 1872, tuy nhiên tác phẩm đó lại bị Darwin phê phán do quan điểm về sự hình thành các đảo san hô vòng Darwin đã đúng và được nhiều nhà khoa học cùng thời ủng hộ Tuy nhiên, mối quan tâm của giới khoa học về cuộc tranh luận này đã dừng lại với bản đồ phân

bố và lý thuyết hình thái rạn của Darwin Những quan tâm đối với san hô, một cách tách biệt khỏi nghiên cứu về rạn, được thực hiện từ cuối thể kỷ thứ XVIII Mẫu vật san hô đã được thu thập trong nhiều chuyến khảo sát lớn và được định loại trưng bày ở các bảo tàng Châu Âu và Mỹ Trước khi có những tiến bộ về lặn có khí tài, những vùng nghiên cứu chủ yếu giới hạn ở Biển Đỏ, Nhật Bản, Palau, Philippines, Great Barrier Reef, Hawaii, đảo Marshall và vịnh Carribe Tính ra đã có tới 400 công trình về phân loại san hô tạo rạn được xuất bản với 2000 tên gọi đã được đặt

và mô tả trước thời đại lặn có khí tài Rất tiếc là nhiều mô tả thời đó rất sơ sài và tên gọi thì khá lộn xộn Về sau này, với các trang thiết bị hiện đại và qua nhiều chuyến khảo sát lớn, hiểu biết về rạn san hô và san hô tạo rạn đã được cải thiện

Cho đến nay, khoảng 700 loài san hô tạo rạn đã được ghi nhận trên thế giới với tính đa dạng loài khác nhau giữa các vùng biển thế giới Trong đó vùng đa dạng nhất là nhiệt đới Tây Thái Bình Dương Lý thuyết của Darwin cho rằng kiếu cấu trúc đảo san hô vòng “là hình ảnh của một hòn đảo bị chìm ngập” đã được chứng minh bằng các dẫn liệu về khoan sâu Những nghiên cứu về rạn san hô trong thế kỷ hai mươi đã tập trung đánh giá những tác động và hậu quả sinh thái do hoạt động của con người gây nên đối với rạn và tìm kiếm các giải pháp nhằm bảo tồn rạn san

hô cho

Trang 6

thế hệ tương lai.

Hiện nay, cứ 4 năm một lần một hội thảo quốc tế về rạn san hô được tổ chức Đây là cơ hội để hàng ngàn nhà nghiên cứu và quản lý trao đổi thông tin và cùng nhau hành động vì sự tồn tại bền vững của rạn san hô và nâng cao lợi ích mà con người được hưởng lợi từ rạn san hô Kết quả của chuyến khảo sát Ramble có thể được coi là công trình nghiên cứu rạn san hô đầu tiên ở vùng Biển Đông trong đó đã nghi nhận 14 giống san hô cứng ở quần đảo Macclesfield và đảo san hô vòng Tigia ( thuộc quần đảo Trường Sa) Ngoài ra có những thông tin không chính thức cho rằng Darwin cũng đã ghé qua các rạn san hô trong Biển Đông trên con đường nghiên cứu học thuyết về sự hình thành các đảo san hô vòng (atoll) [46]

Những nghiên cứu về phân bố rạn san hô thế giới ghi nhận có hàng ngàn rạn san hô, giới hạn phân bố của chúng chỉ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trải từ khoảng 30 độ vĩ tuyến Bắc đến 30 độ vĩ tuyến Nam nơi mà nhiệt độ nước biển hiếm khi xuống dưới 180C Diện tích bao phủ rạn san hô lên đến 6 x 105 km2 [48] Sự khác biệt về hình thái, thành phần sinh học, tính đa dạng và cấu trúc phản ánh đặc trưng địa-sinh học, tuổi, phân vùng địa động vật và điều kiện môi trường Tuy nhiên, chúng không luôn luôn tồn tại như hiện nay mà đã trải qua một lịch sử thay đổi, biến động liên quan chặt chẽ đến những sự kiện lớn về địa chất và khí hậu toàn cầu

2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu rạn san hô ở Việt Nam

Hệ sinh thái biển nói chung và hệ sinh thái San hô nói riêng là một trong những vấn đề đang được quan tâm hàng đầu hiện nay trên toàn thế giới, với nhiều các công trình nghiên cứu vệ sự hình thành phát triển của hệ sinh thái này Việt Nam cũng không là một trường hợp ngoại lệ Với 3260 km đường bờ biển, với nhiều dải san hô đẹp hàng đầu Châu Á thích hợp cho du lịch, cùng nhiều tài nguyên khoáng sản quan trọng đã nói lên vai trò của biển đối với Việt Nam Tuy nhiên, vấn

đề khai thác tài nguyên biển đang trong tình trạng báo động, bởi sự không có kiến thức sâu về các dải san hô nên việc khai thác và bảo vệ còn rất nhiều hạn chế

6

Trang 7

Lịch sử nghiên cứu về hệ sinh thái rạn san hô Việt Nam ghi nhận những kết quả nghiên cứu của Ramble như những công trình nghiên cứu đầu tiên ở vùng Biển Đông Trong đó Smith (1890) [46] đã ghi nhận 14 giống san hô cứng ở quần đảo Macclesfield và đảo san hô vòng Tigia (Trường Sa)

Trước những năm 1954 các chương trình nghiên cứu về san hô ở Biển Đông nước ta phần lớn được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu người Pháp thuộc Viện Hải Dương học Nha Trang Các công trình nghiên cứu sau đó được xuất bản bằng tiếng Pháp, trong đó đáng kể nhất là tập hợp kết quả công trình nghiên cứu của Chevey P [3] và Krempf.A ([12] Những khảo sát tiếp theo của Serene , R [56] ; Dawydoff C.N., (1952) [54] ở nhiều vùng biển ven bờ cũng cho phép nêu lên những nhận định

về thành phần san hô cứng, cấu trúc và phân bố của một số rạn san hô ở vịnh Hạ Long, vịnh Thái Lan, Côn Đảo và ven biển miền Trung

Từ năm 1955 đến năm 1975, nghiên cứu về rạn san hô được tiến hành không nhiều Đáng chú ý nhất là hai công trình nghiên cứu ở vịnh Nha Trang của Trần Ngọc Lợi (1955) [56] mô tả các quần xã sinh vật rạn san hô ở vùng nước nông và tài liệu phân loại san hô mềm của Tixier - Durivault (1970)[45]

Từ năm 1975 đến năm 1990 là thời kỳ có nhiều chương trình nghiên cứu lớn, tiêu biểu là các chương trình hợp tác với Liên Xô Những nghiên cứu cơ bản về rạn san hô được quan tâm trong các công trình khoa học biển của Nhà nước và nhất là trong các chuyến khảo sát liên hợp Việt Xô Các công trình xuất bản trong thời kỳ này đã cung cấp những dẫn liệu cơ bản về phân bố, quần xã sinh vật rạn, thành phần loài san hô tạo rạn và hiện trạng của nhiều rạn san hô ở vùng biển ven bờ miền Trung và quần đảo Trường Sa Những kết quả đáng chú ý của giai đoạn này được xuất bản vào những năm sau đó, bao gồm các công trình của Latypov [5,6,7,8]; Nguyễn Huy Yết [26, 27, 28, 29,30, 31, 34]; Võ Sĩ Tuấn [17, 18, 19], [20]

Các nghiên cứu về san hô thực hiện sau năm 1990 chủ yếu tập trung vào những vấn đề liên quan đến tiềm năng đa dạng sinh học, hiện trạng khai thác sử dụng và cơ sở khoa học cho việc thành lập các khu bảo tồn biển Trong đó, những báo cáo điều tra của các đội khảo sát Quỹ bảo vệ động vật hoang dã Quốc tế

Trang 8

(WWF) và Viện Hải Dương học là cơ sở ban đầu để đề xuất hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam Song song với vấn đề bảo tồn thiên nhiên, việc tổng kết và nghiên cứu cũng cho phép giải quyết một số vấn đề cơ bản như địa động vật, phân vùng đa dạng sinh học dựa trên đặc tính khu hệ san hô tạo rạn [9] Từ năm 2000 đến nay, Viện Hải dương học Nha Trang phối hợp với một số tổ chức Quốc tế khác tiến hành các chương trình nghiên cứu cơ bản về hệ sinh thái rạn san hô, nhưng tiêu biểu là 2 nghiên cứu tổng thể đa dạng sinh học làm cơ sở khoa học cho việc phân vùng và thiết lập khu bảo tồn biển ở vịnh Nha Trang (Khánh Hòa) và Cù Lao Chàm (Quảng Nam) Từ kết quả khảo sát đó, 2 khu bảo tồn biển đầu tiên ở Việt Nam đã được thiết lập vào các năm 2001 và 2003 Đối với rạn san hô miền Bắc, từ năm 2003-2004 Viện Nghiên cứu Hải sản phối hợp với Viện Tài nguyên Môi trường Biển Hải Phòng đã thực hiện chương trình nghiên cứu đa dạng sinh học tại 2 đảo Cát Bà và

Cô Tô làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng khu bảo tồn biển Gần đây 2 chương trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản do Đỗ Văn Khương làm chủ nhiệm :

- Năm 2006-2008 Đề tài“Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi”

- Năm 2007-2009 Đề tài KC09 ”Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội các khu bảo tồn biển trọng điểm phục vụ cho xây dựng và quản lý”

Nội dung nghiên cứu bao gồm các kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học biển, kết hợp với các nghiên cứu đánh giá kinh tế xã hội tại mỗi khu vực là những tư liệu có giá trị cao trong định hướng thiết lập mạng lưới khu bảo tồn biển Việt Nam trong thời gian tới

8

Trang 9

4 ĐỊA ĐIỂM THỜI GIAN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.1 Địa điểm nghiên cứu

Biển đông của Việt Nam

4.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành trong tháng 1 năm 2017 4.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là hệ sinh thái san hô của biển đông trong thời gian vừa qua (2010 - 2016)

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Phương pháp thu thập số liệu

Các nguồn tài liệu nghiên cứu, những thông tin dựa được tác giả thu thập từ các nguồn như sách, tạp chí, báo chuyên ngành, các website chuyên ngành về môi trường biển giúp cho việc phân tích được cặn kẽ hơn

7.2 Phương pháp phân tích và xử lí số liệu

Từ các số liệu sau khi đã được tác giả sàng lọc các thông tin cần thiết để phục vụ cho nghiên cứu thống kê tác giả sự dụng phương pháp phân tích, lập bảng biểu so sánh ngang các số liệu qua các thời kỳ, để đưa ra những nhận định, đánh giá chính xác về thực trạng sự phát triển của rạn San Hô biển hiện nay

8 DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

8.1 Tổng quan về San Hô

8.1.1 Khái niệm San Hô

San hô là các động vật biển thuộc ngành ruột khoang, lớp san hô

(Anthozoa),dài từ 2 milimet cho đến vài centimet, tồn tại dưới dạng các thể polip

nhỏ giống hải quỳ, thường sống thành các quần thể gồm nhiều cá thể giống hệt

Trang 10

nhau Các cá thể này tiết ra cacbonnat canxi để tạo bộ xương cứng, xây nên các rạn san hô tại các vùng biển nhiệt đới

San hô sống trong biển nông, ở độ sâu khoảng 30m, có thể sinh sống ở những vùng biển lạnh nhưng sinh trưởng nhanh ở những vùng nước biển ấm có dòng nước chảy nhanh, nhiệt độ cao và trong sạch

8.1.2 Phân loại và cách kiếm ăn

Đồng Hới

Nha Trang

Đà Nẵng

Quảng Ninh

Vũng Tàu

Tổng

8.1.3 Cấu tạo san hô

Tuy một đầu san hô trông như một cơ thể sống, nhưng nó thực ra là đầu của nhiều cá thể giống nhau hoàn toàn về di truyền, đó là các polip Các polip là các sinh vật đa bào với nguồn thức ăn là nhiều loại sinh vật nhỏ hơn, từ sinh vật phù du tới các loài cá nhỏ

Polip thường có đường kính một vài milimet, cấu tạo bởi một lớp biểu mô bên ngoài và một lớp mô bên trong giống như sứa được gọi là ngoại chất Polip có hình dạng đối xứng trục với các xúc tu mọc quanh một cái miệng ở giữa - cửa duy nhất tới xoang vị (hay dạ dày), cả thức ăn và bã thải đều đi qua cái miệng này

8.1.4 Đặc điểm sinh sản

a Hữu tính

San hô chủ yếu sinh sản hữu tính, với 25% san hô phụ thuộctảo (san hô đá)

10

Trang 11

tạo thành các quần thể đơn tính trong khi phần còn lại là lưỡng tính Khoảng 75% san hô phụ thuộc tảo "phát tán con giống" bằng cách phóng các giao tử (trứng và tinh trùng) vào trong nước để phát tán các quần thể san hô ra xa Các giao tử kết hợp với nhau khi thụ tinh để hình thành một ấu trùng rất nhỏ gọi là planula, thường có mầu hồng và hình ôvan; một quần thể san hô cỡ trung bình mỗi năm có thể tạo vài nghìn ấu trùng này để vượt qua xác suất rất nhỏ của việc ấu trùng tạo được một quần thể mới

b Vô tính

Tại các đầu san hô, các polip giống hệt nhau về di truyền sinh sản vô tính để phát triển quần thể Điều này được thực hiện bằng nảy mầm hay mọc chồi (khi một polip mới mọc ra từ một polip trưởng thành), hoặc phân chia (thành 2 polip lớn bằng polip ban đầu), cả hai được minh họa trong hình về

Orbicella annularis.

T

T

2

5

2016

1 Hữu Tính

2 Vô

Tính

8.1.5 Thực trạng khai thác san hô tại Biển Đông

a Từ hoạt động khai thác đánh bắt hải sản

Mối đe dọa lớn nhất đối với rạn san hô là hoạt động đánh cá không bền vững Các hoạt động đánh bắt cá quá mức làm thay đổi kích cỡ, số lượng cá, và thành phần loài trong quần xã rạn san hô Điều này đã làm cho hệ sinh thái san

hô mất cân bằng, tạo điều kiện cho các sinh vật khác như tảo biển phát triển

Ngày đăng: 24/04/2020, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w