LỜI CAM ĐOANTôi cam đoan rằng luận án “Tác động của tiếp xúc đa thị trường lên cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam” là bài nghiên cứu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
HỒ THỊ NGỌC TUYỀN
TÁC ĐỘNG CỦA TIẾP XÚC ĐA THỊ TRƯỜNG LÊN CẠNH TRANH, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
HỒ THỊ NGỌC TUYỀN
TÁC ĐỘNG CỦA TIẾP XÚC ĐA THỊ TRƯỜNG LÊN CẠNH TRANH, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 9.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Chí Đức
TS Đào Lê Kiều Oanh
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận án “Tác động của tiếp xúc đa thị trường lên cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi dưới sự hướng dẫn của Ts Nguyễn Chí Đức
và Ts Đào Lê Kiều Oanh
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trongnghiên cứu này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng 4 năm 2020
Người cam đoan
Hồ Thị Ngọc Tuyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi trân trọng gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô của trường Đại họcNgân hàng đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong thời gian học tập tại đây.Tôi trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ts Nguyễn Chí Đức và Ts Đào Lê Kiều Oanh đãgiúp tôi tiếp cận hướng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và hướng dẫn tôi hoànthành luận án này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Khoa Sau Đại Học, chị Vũ Thị Thu Hà – Quản lýlớp NCS19 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu của tôi
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi trongquá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận án
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng 04 năm 2020
Hồ Thị Ngọc Tuyền
Trang 5TÓM TẮT
Luận án được thực hiện nhằm mục tiêu phân tích tác động của tiếp xúc đa thịtrường lên cạnh tranh, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàngthương mại Việt Nam cùng với các yếu tố có liên quan đến các ngân hàng thươngmại Nghiên cứu được tiến hành trong giai đoạn từ 2008 – 2017 với phương phápđịnh lượng gồm các bước phân tích như sau:
(i) Đo lường tác động của tiếp xúc đa thị trường và các yếu tố liên quan tác độngđến cạnh tranh của các ngân hàng thương mại thông qua chỉ số LERNER.(ii) Đánh giá và đo lường mức độ tác động của tiếp xúc đa thị trường đến rủi ro tíndụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua chỉ số NPL, MMC1(iii) Đo lường tác động tiếp xúc đa thị trường đến hiệu quả hoạt động của các ngânhàng thương mại Việt Nam, thông qua chỉ số tiếp xúc đa thị trường MMC1,MMC2 đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại được đo lườngbằng lợi nhuận điều chỉnh rủi ro (RAROA)
(iv) Áp dụng phương pháp GMM cho dữ liệu bảng không cân bằng, phân tích tácđộng của tiếp xúc đa thị trường, cạnh tranh và rủi ro tín dụng, đến hiệu quảhoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Kết quả nghiên cứu cho thấy tiếp xúc đa thị trường có tác động đến cạnh tranh,rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam;Thông qua MMC1 và MMC2 cho thấy sự hiện diện ngày càng tăng của các ngânhàng ở các khu vực khác nhau đã gây ra sự sụt giảm chung về thị phần và hiệu quảhoạt động của ngân hàng
Trang 6MỤC LỤC
MỤC LỤC vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT x
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH x
DANH MỤC BẢNG, HÌNH xi
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Câu hỏi nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Quy trình nghiên cứu 6
8 Kết cấu nghiên cứu 8
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG, CẠNH TRANH, TIẾP XÚC ĐA THỊ TRƯỜNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9
2.1 Các khái niệm về rủi ro, rủi ro tín dụng, cạnh tranh và hiệu quả hoạt động 9
2.1.1 Rủi ro và Rủi ro tín dụng 9
2.1.2 Cạnh tranh và tiếp xúc đa thị trường 10
2.1.2.1 Cạnh tranh 10
2.1.2.2 Tiếp xúc đa thị trường 11
2.1.3 Hiệu quả và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại 12
2.1.3.1 Hiệu quả 12
2.1.3.2 Hiệu quả hoạt động của các NHTM 13
2.1.3.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại14 2.2 Các lý thuyết có liên quan đến cạnh tranh, rủi ro và hiệu quả hoạt động 14
2.2.1 Giả thuyết Cấu trúc- Thực hiện - Hiệu quả (SCP) 14
2.2.1.1 Khái niệm 14
2.2.1.2 Tác động 15
Trang 72.2.2 Giả thuyết cuộc sống yên tĩnh (Quiet Life -QL) 16
2.2.2.1 Khái niệm 16
2.2.2.2 Tác động 16
2.2.3 Giả thuyết nhượng bộ lẫn nhau 17
2.2.3.1 Khái niệm 17
2.2.3.2 Tác động 17
2.2.4 Lý thuyết về tác động của cạnh tranh đến rủi ro của các NHTM 18
2.2.4.1 Khái niệm 18
2.2.4.2 Tác động 18
2.2.5 Lý thuyết về đa dạng hóa 19
2.2.5.1 Khái niệm 19
2.2.5.2 Tác động 19
2.2.6 Lý thuyết Lý thuyết quá lớn để sụp đổ “Too-big-to-fail” 20
2.2.6.1 Khái niệm 20
2.2.6.2 Tác động 21
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh, RRTD và hiệu quả hoạt động của NHTM22 2.3.1 Nhân tố chủ quan 22
2.3.2 Nhân tố khách quan 26
2.4 Các nghiên cứu có liên quan về tác động của RRTD, TXĐTT đến HQHĐ của các NHTM 28
2.4.1 Các nghiên cứu liên quan đến rủi ro tín dụng 29
2.4.1.1 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của quy mô đến rủi ro tín dụng ngân hàng 29
2.4.1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của đa dạng hóa đến rủi ro ngân hàng 30
2.4.1.3 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của tập trung doanh thu đến rủi ro ngân hàng33 2.4.1.4 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của vốn ngân hàng đến rủi ro ngân hàng 34
2.4.2 Các nghiên cứu về cạnh tranh và tiếp xúc đa thị trường 35
2.4.3 Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động, cạnh tranh và rủi ro 40
2.5 Các phương pháp đo lường cạnh tranh, tiếp xúc đa thị trường, RRTD và HQHĐ56 2.5.1 Phương pháp đo lường cạnh tranh 56
2.5.2 Phương pháp đo lường tiếp xúc đa thị trường 58
2.5.3 Phương pháp đo lường rủi ro tín dụng 60
2.5.4 Phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động 62
Trang 82.6 Khoảng trống nghiên cứu 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 70
3.1 Mô hình đo lường TXĐTT, cạnh tranh, RRTD và HQHĐ của các NHTM 70
3.1.1 Nghiên cứu của Delis (2002) 70
3.1.2 Mô hình nghiên cứu của Coccorese và Pellecchia (2009) 71
3.1.3 Nghiên cứu của Coccorese và Pellecchia (2013) 72
3.1.4 Nghiên cứu của Degl’Innocenti và cộng sự (2014) 74
3.1.6 Mô hình của Bana Abuzayed và ctg (2018) 77
3.2 Lựa chọn mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu (MH1) 78
3.2.1 Mô hình nghiên cứu đối với mục tiêu nghiên cứu 1 78
3.2.1.1 Mô hình nghiên cứu 78
3.2.1.2 Xác định biến số trong nghiên cứu 79
3.2.2 Mô hình nghiên cứu đối với mục tiêu nghiên cứu 2 (MH2) 82
3.3.2.1 Mô hình nghiên cứu 82
3.2.1.1 Xác định các biến số trong nghiên cứu 82
3.2.3 Mô hình nghiên cứu đối với mục tiêu nghiên cứu 3 (MH3) 86
3.2.2.1 Mô hình nghiên cứu 86
3.2.2.2 Xác định các biến số trong nghiên cứu 86
3.2.4 So sánh với các mô hình nghiên cứu trước 92
3.3 Phương pháp nghiên cứu 93
3.3.1 Dữ liệu nghiên cứu 93
3.3.2 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu 93
3.3.3 Xử lý dữ liệu nghiên cứu 93
3.3.4 Phương pháp ước lượng hồi quy 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 96
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 97
4.1 Kết quả thống kê mô tả 97
4.2 Kết quả đo lường TXĐTT tác động đến cạnh tranh (MH1) 106
4.2.1 Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến 106
4.2.2 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy MH1 107
Trang 94.3 Kết quả đo lường TXĐTT tác động đến RRTD (MH2) 110
4.3.1 Kiểm tra đa cộng tuyến mô hình 110
4.3.2 Kết quả ước lượng mô hình MH2 110
4.4 Kết quả đo lường tác động TXĐTT đến HQHĐ (MH3) 113
4.4.1 Kết quả phân tích tương quan và kiểm tra đa cộng tuyến 113
4.4.2 Kết quả ước lượng mô hình MH3 114
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 118
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ 119
5.1 Kết luận 119
5.2 Một số hàm ý chính sách 121
5.2.1 Đối với nhà quản trị ngân hàng 121
5.2.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về ngân hàng 127
5.3 Giới hạn và hướng nghiên cứu tiếp theo 129
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 130 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
HQHĐ Hiệu quả hoạt động
RRTD Rủi ro tín dụng
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTM VN Ngân hàng thương mại Việt Nam
TXĐTT Tiếp xúc đa thị trường
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
CHỮ VIẾT
TẮT BẰNG TIẾNG VIỆT TÊN ĐẦY ĐỦ BẰNG TIẾNG ANH TÊN ĐẦY ĐỦ
CAR Hệ số an toàn vốn Capital adequacy ratio
CDO Nợ thế chấp Colateralized Debt ObligationGCC Các Tiểu vương quốc Ả Rập
thống nhất Gulf Cooperation CouncilGMM Phương pháp ước lượng
moment tổng quát General Method of MomentsOECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế Organization for Economic Co-operation and Development
QL Giả thuyết cuộc sống yên tĩnh Quiet Life
NEIO Tổ chức công nghiệp thực
nghiệm mới The New Empirical IndustrialOrganisationNIM Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Net interest margin
SCP Mô hình cấu trúc truyền thống Structure –
Conduct-Performance
Trang 11DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu về liên quan giữa cạnh tranh, rủi ro và HQHĐ 46
Bảng 3.1: Bảng tóm tắt tính toán các biến số nghiên cứu tại mô hình MH1 75
Bảng 3.2: Bảng tóm tắt tính toán các biến số nghiên cứu tại mô hình MH2 78
Bảng 3.3: Bảng tóm tắt tính toán các biến số nghiên cứu tại mô hình MH3 81
Bảng 4.1: Bảng thống kê mô tả các biến trong nghiên cứu 87
Bảng 4.2: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến MH1 96
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy của mô hình MH1 96
Bảng 4.4: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến MH2 99
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy của mô hình MH2 99
Bảng 4.6: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến mô hình MH3-A (sử dụng MMC1) 102
Bảng 4.7: Kết quả kiểm tra tự đa cộng tuyến mô hình MH3-A (sử dụng MMC2) 102 Bảng 4.8: Kết quả hồi qui mô hình MH3-A (sử dụng MMC1) 103
Bảng 4.9: Kết quả hồi qui mô hình MH3-A (sử dụng MMC2) 103
Bảng 4.10: Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu của MH3 104
Hình 4.1: RAROA của các NHTMVN 88
Hình 4.2 Tỷ lệ nợ xấu/Tổng cho vay của các NHTMVN 89
Trang 12CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Sự gia tăng của toàn cầu hóa cùng với nhu cầu về vốn ngày càng tăng thúc đẩy
sự cạnh tranh của ngành ngân hàng ngày càng khốc liệt Do đó đã khiến hầu hết cácngân hàng phải nỗ lực để tăng lợi nhuận, điều này đã tạo thêm bất ổn tài chính tronghoạt động kinh tế toàn cầu, đồng nghĩa với các ngân hàng phải đối phó với các điềukiện vất vả trong nỗ lực tăng lợi nhuận, mở rộng mạng lưới và cơ sở khách hàng của
họ để tồn tại, và đây cũng là lĩnh vực thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiêncứu bởi vì tầm quan trọng và tính thời sự của lĩnh vực nghiên cứu này
Thứ nhất, tác động của cạnh tranh ngân hàng đối với rủi ro về tài chính luôn
là vấn đề tranh luận cả về mặt học thuật và chính sách, đặc biệt là vấn đề rủi ro tíndụng Bởi lẽ, RRTD luôn có khả năng xảy ra, nó có tác động tiêu cực không chỉ trựctiếp lên chính ngân hàng đó mà còn ảnh hưởng lây lan nhanh chóng lên cả thị trườngvốn và thị trường tiền tệ (Nhung và ctg, 2017) Nghiêm trọng hơn, nếu một ngânhàng sụp đổ sẽ dẫn đến tác động dây chuyền làm cho hệ thống ngân hàng sụp đổ, gâybất ổn đến quốc gia, nhất là trong giai đoạn hiện nay
Sự quan tâm về các vấn đề RRTD ngày càng tăng sau khi khủng hoảng tài chínhtoàn cầu với phạm vi lan tỏa nhanh chóng cùng với những tổn thất lớn Ước tính tổnthất ở Trung Quốc năm 1999 tương đương 47.4% GDP, hay tổn thất của khủnghoảng tài chính ở Indonesia năm 1997 tương đương 50-55% GDP1 Và sự phá sảnnăm 2008 của Lehman Brothers - ngân hàng đầu tư thành lập năm 1844 - là mộttrong năm định chế tài chính cho vay lớn nhất nước Mỹ Tất cả những diễn biến nàyxuất phát từ một công cụ tài chính phái sinh với tên gọi CDO (Colateralized DebtObligation) - nợ thế chấp Từ công cụ này, "bong bóng" bất động sản và các khoảnvay dưới chuẩn đã bùng nổ, không thể kiểm soát chỉ trong bốn năm, từ 2002 - 2006.Đây có thể xem là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu “đắt đỏ” với 10.000 tỷ USD bịcuốn trôi, 30 triệu người mất việc, 50 triệu người quay lại chuẩn dưới nghèo là cái
1Chương 7 “Các thị trường tài chính mới nổi “, Giáo trình Giảng dạy kinh tế Fulbright
Trang 13giá phải trả cho cuộc khủng hoảng 20082 Qua thực tế cho thấy, việc kiểm soát vàngăn ngừa rủi ro nhất là RRTD chính là yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triểnbền vững của các NHTM.
Thứ hai, việc đẩy mạnh mở rộng hợp tác kinh tế, hội nhập với thế giới đã tạo ra
nhiều cơ hội nhưng cũng tồn tại nhiều thách thức, và HQHĐ trở thành một tiêu chíquan trọng để đánh giá sự phát triển nền tài chính của Việt Nam trong điều kiện hiệnnay Việc duy trì HQHĐ của ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc duytrì sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính và điều đó đã thu hút nhiều nghiên cứu
về vấn đề này cũng như nghiên cứu các yếu tố gây ra hiện tượng này (Beaver vàctg.,, 2012; Cumming và ctg.,, 2012; Gao và Zhang, 2015; Buchner và ctg.,, 2016;Hui và ctg.,, 2016) Theo lý thuyết cạnh tranh kinh tế, cạnh tranh góp phần làm giảmlợi nhuận thị trường trong dài hạn (Berger và ctg.,, 2000; Goddard và ctg.,, 2011).Nói cách khác, cạnh tranh có thể làm giảm tất cả lợi nhuận quá mức bằng cách thuhút những ngân hàng mới tham gia bằng cách cải thiện hoặc rời khỏi thị trường ngânhàng Do đó, cạnh tranh có thể trực tiếp làm giảm HQHĐ Tuy nhiên, các nghiên cứu
kế toán đã cho thấy việc duy trì HQHĐ là kết quả của quản lý thu nhập (Pope vàWang, 2005; Chen, 2010; Dechow và ctg.,, 2010; Skinner và Soltes, 2011; Healy vàctg.,, 2014) Một số nghiên cứu đã cố gắng dung hòa sự khác biệt giữa các lý thuyếtnhằm giải thích động lực chính của duy trì HQHĐ của các ngân hàng Cụ thể, nhưmột cơ chế quản lý có hiệu quả, cạnh tranh có thể làm giảm chi phí quản lý thông quađánh giá sai việc tăng chi phí (Graham và ctg.,, 2005; Dechow, Ge và Schrand, 2010;Buchner, Mohamed và Schwienbacher, 2016; Jiang và ctg.,, 2016; Burks và ctg.,,2018) Do đó, HQHĐ là kết quả của việc quản lý thu nhập giảm do cạnh tranh giatăng
Thứ ba, có thể nói có nhiều nghiên cứu đánh giá các yếu tố tác động đến rủi
ro ngân hàng, chẳng hạn: Williams (2016) và Lee và Hsieh (2013) nghiên cứu cácyếu tố ảnh hưởng đến rủi ro của các ngân hàng ở phạm vi Châu Á (trong mẫu nghiêncứu không có Việt Nam); Williams (2016) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến biếnđộng thu nhập của các ngân hàng Indonesia; Haq và Heaney (2012) nghiên cứu các
2 canh-bao-143927.html
Trang 14http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-quoc-te/nhan-dinh-du-bao/cuoc-khung-hoang-kinh-te-toan-cau-va-nhung-yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro ngân hàng cho các nước trong khu vực Châu Âu(Degl’Innocenti (2014), Hauswald và Marquez (2006), Boyd và De Nicolo (2005),Martinez-Miera và Repullo (2010) và Hakenes và Schnabel (2011)) Nghiên cứu củaClaessens và Laeven (2003) cho thấy tác động tích cực của TXĐTT đối với việcnâng cao hiệu quả, chất lượng dịch vụ, đổi mới và cạnh tranh quốc tế Chính vìnhững tác động tích cực của TXĐTT đã thuyết phục chính phủ của nhiều nước pháttriển và đang phát triển đưa ra những cải cách trong lĩnh vực tài chính nhằm thúc đẩycạnh tranh nhiều hơn.
Hiện nay, nghiên cứu về các nhân tố tác động đến rủi ro và RRTD của cácNHTM tại Việt Nam không ít, tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung vào khíacạnh ảnh hưởng của RRTD đến HQHĐ hoặc thu nhập ngoài lãi của ngân hàng (Cành
và Vinh, 2015; Hoàng và Huân, 2016), hoặc một số đề tài nghiên cứu về cạnh tranhnhư các nghiên cứu của Trung (2010), Vinh (2015), Vinh và Tiên (2017) Gần đây cónghiên cứu của Tuyền (2018) nghiên cứu về tác động của cạnh tranh tới sự ổn địnhtài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam Có thể thấy hiện nay tại Việt Nam,chưa có nhiều nghiên cứu về cạnh tranh đặc biệt là TXĐTT đến cạnh tranh, RRTDcủa NHTM Việt Nam được thực hiện
Còn các nghiên cứu về HQHĐ ngân hàng cũng đã được thực hiện, tuy nhiên cácnghiên cứu này chỉ tập trung vào khía cạnh ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đếncạnh tranh hoặc hiệu quả hoạt động của ngân hàng, không phải nghiên cứu về tiếpxúc đa thị trường, cụ thể là các nghiên cứu của Vinh (2015), Vinh và Mai (2015),Hậu và Quỳnh (2016), Hiền và Hạt (2016), Hoàng và Huân (2016), Hoa và Oanh(2018)
Bối cảnh nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài về cạnh tranh, RRTD và HQHĐ
đã đặt ra hai vấn đề cần xem xét:
+ Một là, kết quả nghiên cứu chưa đồng nhất sẽ nảy sinh nhiều tranh luận khácnhau, và tồn tại những hạn chế hay khoảng trống nghiên cứu mà các tác giả trướcchưa xem xét tới
+ Hai là, ở trong nước các nghiên cứu về TXĐTT chưa nhiều, cụ thể là cácnghiên cứu TXĐTT đến cạnh tranh, RRTD và HQHĐ nên chưa thể hình thành được
cơ sở tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách để có định hướng xây dựng phát
Trang 15triển ngành ngân hàng trong nước phát triển ổn định và bền vững theo thực tế hiệnnay là các ngân hàng cùng cạnh tranh với nhau trong cùng một địa bàn.
Do đó, việc nghiên cứu tác động của TXĐTT lên cạnh tranh, RRTD và HQHĐcủa các NHTM cùng các yếu tố có liên quan tác động đến HQHĐ của ngân hàng làvấn đề hết sức quan trọng và cần thiết với các NHTMVN trong giai đoạn hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là: Nghiên cứu tác động của TXĐTT lên cạnhtranh, RRTD và HQHĐ của các NHTM Việt Nam
Trong đó, các mục tiêu cụ thể của luận án là như sau:
Thứ nhất, luận án đo lường mức độ tác động của TXĐTT đến cạnh tranh của cácNHTM Việt Nam
Thứ hai, luận án đo lường mức độ tác động của TXĐTT đến RRTD của cácNHTM Việt Nam
Thứ ba, đo lường tác động TXĐTT đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam
Thứ tư, đề xuất các giải pháp, kiến nghị cho nhà quản trị ngân hàng và nhà hoạchđịnh chính sách trong việc nâng cao HQHĐ của các NHTM, tạo sự ổn định cho hoạtđộng của các ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh và rủi ro ngày càng gia tăng hiệnnay của các NHTM VN
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để làm rõ những mục tiêu nghiên cứu đặt ra ở trên, nghiên cứu sẽ tập trung trả lờicác câu hỏi sau:
Thứ nhất: Mức độ tác động và chiều hướng tác động của TXĐTT đến cạnh tranhcủa các NHTM như thế nào?
Thứ hai: Mức độ tác động và chiều hướng tác động của TXĐTT và các yếu tốliên quan tác động đến RRTD của các NHTM ra sao?
Thứ ba: Yếu tố TXĐTT và các yếu tố nào có tác động đến HQHĐ của các NHTMViệt Nam? Chiều hướng và mức độ tác động của TXĐTT và các yếu tố liên quan tácđộng đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam như thế nào?
Thứ tư: Các giải pháp nhằm góp phần nâng cao sự ổn định cho hoạt động của cácNHTM trong bối cảnh TXĐTT, cạnh tranh và rủi ro ngày càng gia tăng hiện nay củacác NHTM VN?
Trang 164 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu tác động của TXĐTT lên cạnh tranh, RRTD, HQHĐ cùng một sốcác yếu tố kiểm soát khác như Qui mô ngân hàng (SIZE), Vốn CSH/Tổng Tài sản(CAP), Tổng cho vay/Tổng tài sản (TLTA), Tổng tiền gửi/tổng tài sản (DEPOTA);Thu nhập ngoài lãi/tổng thu nhập (DIV), Tổng chi phí hoạt động/Tổng tài sản (OETA)đến HQHĐ của các NHTM VN
Phạm vi nghiên cứu:
Gồm các NHTM trong giai đoạn 2008-2017 tại Việt Nam Nghiên cứu loại trừcác ngân hàng có cơ chế riêng, đặc thù như ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam,ngân hàng hợp tác xã, các quỹ tín dụng, các ngân hàng có 100% vốn nước ngoài vàcác ngân hàng liên doanh
Dữ liệu nghiên cứu:
Dữ liệu trong nghiên cứu được thu thập thông qua các BCTC và báo cáo thườngniên của các NHTM, World Bank (dữ liệu vĩ mô) và đối chiếu với Thomson Reuters
để kiểm tra độ chính xác của các dữ liệu
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu địnhlượng Luận án này sử dụng phương pháp ước lượng GMM đối với cả 3 mục tiêunghiên cứu, việc sử dụng ước lượng GMM được coi là ước lượng ưu việt để xử lýhiện tượng tự tương quan của các biến
Từ việc tổng hợp cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa các yếu tố cạnh tranh, rủi ro
và HQHĐ ngân hàng nghiên cứu tiến hành phân tích các số liệu thống kê của cácNHTMVN về RRTD, mức cạnh tranh, HQHĐ của các ngân hàng Việc sử dụng phântích này cho phép phát hiện và nhận dạng các tác động của RRTD, cạnh tranh đặcbiệt là TXĐTT tác động đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam
Nghiên cứu thực nghiệm thực hiện các phân tích thống kê mô tả, đánh giá vàphân tích ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình với ứng dụng Stata12.0 để xử lý số liệu
Trang 176 Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu về tác động của TXĐTT lên cạnh tranh, RRTD và HQHĐ của cácNHTMVN trong bối cảnh các NHTMVN cùng hoạt động trên cùng một địa bàn (tiếpxúc đa thị trường) rất có giá trị về mặt lý thuyết và thực tiễn Cụ thể luận án đã đạtđược những kết quả và có những đóng góp mới như sau:
Về mặt khoa học, nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm mối quan hệ vềTXĐTT trong lĩnh vực ngân hàng mà hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu
về vấn đề này, ít nhất là tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng chocác nghiên cứu sau này không những ở phần cập nhật cơ sở lý thuyết mà còn có thể
so sánh kết quả thu được Bên cạnh đó, đây là một nghiên cứu với mục đích kiểmnghiệm lại các kết quả nghiên cứu trước đây, đồng thời từ những tồn tại mà mở racác hướng tiếp theo cho các nghiên cứu sau này Theo khảo sát của NCS, rất ít cácnghiên cứu về TXĐTT ở các nước đang phát triển, chỉ có nghiên cứu của Coccorese
và Pechellia, (2009, 2013) và Degl’Innocenti và cộng sự (2014) là nghiên cứu ở cácnước phát triển
Về khía cạnh thực tiễn, đây sẽ là cơ sở tham khảo nghiêm túc hỗ trợ các nhàquản lý các NHTM đưa ra những quyết định linh động, hợp lý theo tình hình biếnđộng của thị trường trong quá trình cạnh tranh gay gắt hiện nay Hơn nữa, TXĐTT làkhía cạnh mới của cạnh tranh, giúp bổ sung thêm hiểu biết về việc các ngân hàng cónhiều chi nhánh và có tiếp xúc với nhau thì cạnh tranh trong ngân hàng tăng haygiảm, hiệu quả và rủi ro tín dụng tăng hay giảm, đặc biệt là trong thời buổi hội nhập.Hoạt động của ngân hàng bao trùm lên toàn bộ tất cả các hoạt động kinh tế xã hộigắn liền với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế, vì vậy ngân hàng là công cụ điềutiết hữu hiệu cho nền kinh tế cũng như một số lĩnh vực phi kinh tế ngân hàng, gópphần điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hệ thống NHTM của các cấp quản lý Do
đó, các kết quả của nghiên cứu này cũng sẽ gợi ý các chính sách về vấn đề nổi bậthiện nay là TXĐTT tại các NHTM VN
7 Quy trình nghiên cứu
Trang 18Sơ đồ: Quy trình thực hiện nghiên cứu của
luận án
TÁC ĐỘNG CỦA TIẾP XÚC ĐA THỊ TRƯỜNG LÊN CẠNH TRANH, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Mục tiêu 1: Đo lường mức độ tác động của TXĐTT đến cạnh tranh của các NHTM Việt Nam
Mục tiêu 2: Đo lường mức độ tác động của TXĐTT đến RRTD của các NHTM Việt Nam
Mục tiêu 3: Đo lường tác động TXĐTT đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam
Mục tiêu 4: Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cho nhà quản trị ngân hàng, nhà hoạch định chính sách trong việc nâng cao HQHĐ của NHTM
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
- Giả thuyết cấu trúc-thực hiện-hiệu quả (SCP); Giả thuyết cuộc sống yên tĩnh (QL); Lý thuyết về đa dạng hóa; Lý thuyết quá lớn để sụp đổ; Giả thuyết “nhượng bộ lẫn nhau” (mutual forbearance); Lý thuyết về tác động của cạnh tranh đến rủi ro của các NHTM
- Các khái niệm (tiếp xúc đa thị trường, cạnh tranh, rủi ro tín dụng, hiệu quả hoạt động)
- Lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến TXĐTT, cạnh tranh, và RRTD tác động đến HQHĐ
NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
- Tổng hợp các nghiên cứu và cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa TXĐTT, cạnh tranh, RRTD và các yếu tố liên quan tác
động đến HQHĐ của các NHTM
- Phân tích các số liệu thống kê về TXĐTT, cạnh tranh, RRTD, HQHĐ của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2017.
- Khoảng trống trong nghiên cứu về tác động của TXĐTT, cạnh tranh, RRTD và các yếu tố liên quan tác động đến HQHĐ
của các NHTM
NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
- Đề suất mô hình nghiên cứu
- Thu thập dữ liệu, bổ sung và hoàn chỉnh dữ liệu với phần mềm xử lý số liệu Stata 12.0
- Sử dụng mô hình hồi quy GMM với dữ liệu bảng không cân bằng
- Thảo luận kết quả nghiên cứu -
Kết luận và các khuyến nghị Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trang 198 Kết cấu nghiên cứu
Ngoài phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 5chương:
Chương 1: Mở đầu Chương này nêu lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu,
đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các lý thuyết liên quan đến TXĐTT, cạnh tranh,
RRTD và các yếu tố vi mô thuộc nội tại ngân hàng Nội dungchương nêu lên tổng quan về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứutrước tập trung vào TXĐTT, cạnh tranh, RRTD và HQHĐ của cácNHTM Trong chương này cũng trình bày các yếu tố ảnh hưởngđến RRTD, cạnh tranh và HQHĐ của các NHTM
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày các giả thuyết
và phương pháp nghiên cứu áp dụng trong luận án, mô tả cách xácđịnh và đo lường TXĐTT, cạnh tranh, RRTD và HQHĐ cùng cácyếu tố liên quan Trong chương này, tác giả cũng trình bày chi tiết
mô hình nghiên cứu và giải thích các biến trong mô hình và dữ liệunghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này đưa ra các kết quả
nghiên cứu đồng thời đưa ra các nhận xét trong quá trình phân tích
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương này nêu lên các kết luận rút ra
từ quá trình phân tích đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với cácđối tượng liên quan dựa trên các kết luận đã nêu Chương 5 cũngnêu lên những hạn chế của đề tài trong quá trình nghiên cứu và đềxuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 20CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG, CẠNH TRANH, TIẾP XÚC ĐA THỊ TRƯỜNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Mục tiêu chính của chương nhằm trình bày các khái niệm về rủi ro và RRTD, cạnh tranh và TXĐTT, HQHĐ; Các lý thuyết nền như giả thuyết quyền lực thị trường, cấu trúc thực hiện- hiệu quả (SCP), giải thuyết nhượng bộ lẫn nhau làm cơ sở để biện luận chiều hướng tác động của RRTD, TXĐTT và các yếu tố liên quan tác động đến HQHĐ của các NHTM Trong chương này cũng trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến HQHĐ và lược khảo các nghiên cứu trước
có liên quan, đây cũng là cơ sở để đưa ra khoảng trống nghiên cứu của đề tài.
2.1 Các khái niệm về rủi ro, rủi ro tín dụng, cạnh tranh và hiệu quả hoạt động
2.1.1 Rủi ro và Rủi ro tín dụng
Theo Kiều (2012) thì rủi ro là một sự không chắc chắn (uncertainty) haymột tình trạng bất ổn Đặc điểm cơ bản của một ngân hàng là theo đuổi nhữnglợi ích có thể chấp nhận được và rủi ro đo được
Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thì các tiêu chuẩn kiểm soátrủi ro của Basel được áp dụng cho bất kỳ ngân hàng nào hoạt động trên phạm viquốc tế, bằng cách tăng cường quản lý rủi ro trong ba lĩnh vực rủi ro chính:RRTD, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động Mục tiêu chính của khuôn khổ này
là củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế sau một loạt sự suy giảm trong hoạtđộng tài chính và khả năng kiểm soát rủi ro tín dụng của các ngân hàng lớngiữa những năm 1970 và 1980 Cho đến nay sau Basel I (1988), Basel II và III
đã được ban hành và áp dụng trong nhiều nước phát triển Theo quy định trongBasel II, một tổ chức tài chính được gọi là đủ vốn khi hệ số đủ vốn (CapitalAdequacy Ratio – CAR) đạt tối thiểu 4% đối với vốn cấp 1 và 8% đối với vốncấp 2
RRTD xảy ra khi khách hàng không thể hoàn trả khoản vay của họ Theo
Ủy ban Basel (2004) thì RRTD là các sự kiện bất ngờ dẫn đến tổn thất về giá trịtài sản, khấu trừ lợi nhuận so với lợi nhuận kỳ vọng hoặc tạo ra các khoản chi
Trang 21phí bổ sung để hoàn thành một giao dịch cụ thể RRTD xảy ra khi các bênkhông thể trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn được ghi trong hợp đồng.
Nếu tổn thất là hậu quả của hệ điều hành nội bộ kém hiệu quả hoặc lỗi,chúng sẽ được gọi là rủi ro hoạt động Mặt khác, rủi ro thị trường được tạo ra từcác yếu tố bên ngoài làm giảm giá trị tài sản của ngân hàng và tạo ra thiệt hại(Hull, 2010)
Theo Koch và MacDonald (2014) thì "Bất cứ khi nào ngân hàng có đượcthu nhập từ tài sản, thì giả định rủi ro mà người mượn sẽ vỡ nợ, nghĩa là khôngtrả nợ gốc và lãi một cách kịp thời"
Theo Murphy (2008) RRTD không chỉ giới hạn trong các sản phẩm chovay mà còn có trong các sản phẩm tín dụng khác, như thư tín dụng và bảo lãnh,nếu khách hàng đó không thực hiện những gì mà họ cam kết trong hợp đồngkinh doanh, dịch vụ đầu tư hoặc tài sản tài chính mà ngân hàng cho mượn nhưđất đai, tài sản và thiết bị
Như vậy, trong nghiên cứu này, RRTD được hiểu là các khoản lỗ có thểxảy ra với các ngân hàng đến từ những người vay không trả được nợ Trongnhững năm gần đây, các NHTM của Việt Nam đã thực hiện nhiều khảo sát thực
tế đối với các khách hàng đi vay để tăng cường quản lý RRTD nhằm ngăn ngừarủi ro này trong tình hình có rất nhiều sự cạnh tranh đến từ các ngân hàng khácnhau cùng hoạt động trong một khu vực Do đó, luận án này nghiên cứu tácđộng của TXĐTT đến RRTD và HQHĐ của các NHTMVN trong mối quan hệvới các yếu tố nội tại của các ngân hàng
2.1.2 Cạnh tranh và tiếp xúc đa thị trường
2.1.2.1 Cạnh tranh
Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiềulĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao Cónhiều định nghĩa về cạnh tranh, trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sựganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằmgiành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùnghàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy
ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt,người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được
Trang 22hàng rẻ hơn; giữa người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất
và tiêu thụ
Theo Porter (1980) thì cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất củacạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuậntrung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bìnhquân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quảgiá cả có thể giảm đi
Theo Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa (TBCN) là sự ganh đua, sự đấutranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trongsản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Nghiên cứusâu về nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa,Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợinhuận bình quân giữa các ngành
Như vậy, cạnh tranh là việc giành lấy thị phần của các ngân hàng nhằmbán được nhiều sản phẩm và dịch vụ, cũng như chi phối được thị trường nhằmgiành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất
2.1.2.2 Tiếp xúc đa thị trường
TXĐTT xảy ra khi hai hoặc nhiều doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhautại cùng một thời điểm và trong các thị trường khác nhau (sản phẩm hoặc địađiểm) Khi các doanh nghiệp này tiếp xúc nhiều lần và ở nhiều nơi, cuộcTXĐTT này có thể dẫn tới một hiện tượng đặc biệt gọi là "nhượng bộ lẫn nhau".Các doanh nghiệp phải đối mặt với TXĐTT khi họ cạnh tranh với nhau cùngmột lúc ở một số thị trường khác nhau Người đầu tiên đưa ra ý tưởng làEdwards (1955), ý tưởng là khi một nhóm lớn cạnh tranh với nhau, họ có khảnăng gặp nhau ở một số thị trường đáng kể và việc tiếp xúc nhiều lần có thểlàm giảm cạnh tranh của họ
Nghiên cứu của Bernheim và Whinston (1990) đã chứng minh rằngTXĐTT khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện các thỏa thuận ngầm vớinhau, mặt khác bản thân các doanh nghiệp cũng cải thiện tình hình hoạt độngcủa mình để duy trì kết quả chung Một trong những kết quả nghiên cứu là cácliên hệ đa thị trường có sự gia tăng giữa các doanh nghiệp nếu có sự bất cânxứng giữa các thị trường mà các doanh nghiệp này tương tác với nhau Tuy
Trang 23nhiên, Spagnolo (1999) cho thấy các liên kết đa thị trường luôn có thể tạo điềukiện cho sự thông đồng, bất kể có hay không sự bất cân xứng giữa các thịtrường Kết quả này phụ thuộc vào sự không hoàn hảo của thị trường khiến chomục tiêu các các công ty không đạt được.
Matsushima (2001) cung cấp một hỗ trợ lý thuyết khác cho khả năng thôngđồng ngầm giữa các công ty khi có TXĐTT, mở rộng phân tích đến trường hợp
mà người chơi không thể theo dõi hoàn hảo các hành động của đối thủ của họ.Trước thông tin không hoàn hảo, Thomas và Willig (2006) chứng minh rằngTXĐTT cũng tạo điều kiện cho sự thông đồng, nhưng nó có thể dẫn đến mứcchi trả thấp hơn
Ngoài ra còn có một số đóng góp về mặt lý thuyết ủng hộ giả thuyết rằngTXĐTT làm tăng sự cạnh tranh Trong khi thảo luận về các ngân hàng,Solomon (1970) khẳng định rằng sự kết nối giữa các thị trường có thể tăngcường tương tác cạnh tranh nếu sự cạnh tranh giữa các ngân hàng diễn ra gaygắt ở các thị trường địa phương riêng lẻ trong một khu vực nhất định Mester(1992) sử dụng mô hình báo hiệu đồng thời để chỉ ra rằng trong TXĐTT hữuhạn có thể có tác động cạnh tranh ủng hộ nếu số lượng là biến số chiến lược.Nhiều nghiên cứu cũng đã cố gắng phân tích thực nghiệm mối quan hệ giữaTXĐTT và cạnh tranh Tuy nhiên, kết quả của họ không cung cấp bằng chứng
rõ ràng ủng hộ giả thuyết chống cạnh tranh hoặc ủng hộ cạnh tranh
Như vậy, trong luận án này TXĐTT được hiểu là số ngân hàng trung bình
mà một ngân hàng gặp ở một thị trường (Coccorese và Pellecchia, 2009)
2.1.3 Hiệu quả và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại
2.1.3.1 Hiệu quả
Có nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả Theo Hollingsworth và Parkin(1998) đã định nghĩa hiệu quả là việc phân bổ các nguồn tài nguyên có hạn đểtối đa hóa mục đích Theo Førsund và Hjalmarsson (1974) thì cho rằng hiệu quả
là thước đo dùng để so sánh hiệu suất tốt nhất hoặc hiệu suất kỳ vọng với hiệusuất thực tế
Theo Afonso và Aubyn (2009), hiệu quả về cơ bản là sự so sánh giữa đầuvào được sử dụng trong một số hoạt động và kết quả được tạo ra
Trang 24Theo Berger và Humphrey (1997) thì việc đo lường hiệu quả là hết sứcquan trọng, bởi vì thông tin thu được từ kết quả đo lường hiệu quả có thể được
sử dụng để: (i) xem xét tính đúng đắn của chính sách chính phủ bằng cách đánhgiá tác động của việc thay đổi các quy định, hoạt động sáp nhập hoặc cấu trúcthị trường đến hiệu quả; (ii) giải quyết các vấn đề nghiên cứu, xếp hạng cáccông ty trong cùng một ngành; hoặc (iii) cải thiện năng lực quản lý nhằm đạtđược mức hiệu quả cao nhất
Theo Fried và ctg., (2008) cho thấy có hai động lực chính khi đo lường hiệuquả là: (i) để khám phá các giả thuyết liên quan đến sự khác biệt giữa các mức
độ hiệu quả; và (ii) để cung cấp các chỉ số đánh giá các đơn vị sản xuất khôngchỉ ở khía cạnh tài chính mà còn về sản xuất
Theo Coelli và ctg., (2005) thì một đơn vị kinh tế hoạt động hiệu quả hơn
so với một đơn vị kinh tế khác nếu nó có thể cung cấp sản phẩm nhiều hơn màkhông cần sử dụng nhiều nguồn lực hơn đơn vị khác
Như vậy, hiệu quả biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được
và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng nàycàng lớn thì hiệu quả càng cao Hiệu quả trong kinh tế được xem xét là mức độthành công mà các đơn vị sản xuất hay ngân hàng đạt được trong việc phân bổcác nguồn lực đầu vào để có thể tối ưu hóa sản lượng đầu ra, phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định
2.1.3.2 Hiệu quả hoạt động của các NHTM
Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động là một trong những vấn đề quan trọng
và phổ biến trong phân tích tài chính vì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệpliên quan đến lợi ích của các cổ đông, nhà quản lý, chủ nợ và các đối tượngkhác có quyền lợi gắn với doanh nghiệp Tùy thuộc các mục tiêu nghiên cứukhác nhau mà HQHĐ sẽ được xem xét dưới những khía cạnh khác nhau
Theo Berger và Mester (1997) thì HQHĐ của các NHTM thể hiện ở mốiquan hệ giữa doanh thu và chi phí sử dụng các nguồn lực hay chính là khả năngbiến các nguồn lực đầu vào thành các đầu ra tốt nhất trong hoạt động kinhdoanh Một doanh nghiệp hoặc ngân hàng được coi là hoạt động hiệu quả nếu
nó đạt đến mức tối đa về kết quả đầu ra trong điều kiện sử dụng tối ưu các yếu
tố đầu vào cho trước
Trang 25Như vậy, HQHĐ của ngân hàng là sự phản ánh việc các ngân hàng sửdụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu, thể hiện mối tương quan giữa đầu ra
và đầu vào để đạt được hiệu quả đặt ra, đồng thời giảm thiểu chi phí để tăngkhả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác
2.1.3.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
Hiện nay có rất nhiều phương pháp để đo lường HQHĐ của doanhnghiệp Nghiên cứu của Hult và ctg., (2008) cho thấy có ba tiêu chí đo lườnghiệu quả hoạt động được sử dụng là hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh doanhhoặc hiệu quả tổng hợp
Hiệu quả tài chính trong ngân hàng bao gồm: tỷ suất lợi nhuận sau thuếtrên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE),chỉ số lợi nhuận điều chỉnh rủi ro RAROA và RAROE Ngoài các chỉ tiêu trên,HQHĐ của ngân hàng còn được thể hiện qua các chỉ tiêu Tỷ lệ thu nhập ngoàilãi cận biên (NIM) Tỷ lệ này đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoàilãi (chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ) và các chi phí ngoài lãi mà NHphải chịu (tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, chi phí cho các hoạtđộng phi tín dụng …)
Hiệu quả kinh doanh được đo lường bởi thị phần, tần suất giới thiệu sảnphẩm mới và sáng chế, chất lượng hàng hoá - dịch vụ, năng suất lao động, mức
độ hài lòng và duy trì lực lượng lao động
Hiệu quả tổng hợp thường bao gồm uy tín, khả năng tồn tại, mức độ đạtđược mục tiêu so sánh với đối thủ cạnh tranh
2.2 Các lý thuyết có liên quan đến cạnh tranh, rủi ro và hiệu quả hoạt động
2.2.1 Giả thuyết Cấu trúc- Thực hiện - Hiệu quả (SCP)
2.2.1.1 Khái niệm
Giả thuyết về quyền lực thị trường truyền thống khẳng định rằng thịphần của ngân hàng tăng lên là một biểu hiện cho quyền lực trên thị trường Thịphần cao hơn và thị trường tập trung cao (ít đối thủ cạnh tranh) tạo điều kiệncho các ngân hàng định giá các sản phẩm và dịch vụ của họ cao hơn, trong khi
Trang 26đặt ra lãi suất gửi tiền thấp hơn Việc gia tăng giá trên mức giá mang tính cạnhtranh sẽ dẫn đến lợi nhuận cao hơn cho các ngân hàng.
2.2.1.2 Tác động
Giả thuyết SCP giả định rằng cấu trúc thị trường tác động đến việc điềuchỉnh hành vi của các ngân hàng theo hướng có lợi Theo đó, nếu thị trường tậptrung quá mức thì điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo sẽ cho phép một sốngân hàng có thể thông đồng với nhau để tăng cường sức mạnh trên thị trường
Các ngân hàng này có thể kiếm được lợi nhuận độc quyền từ việc áp đặtlãi suất huy động thấp hơn và lãi suất cho vay cao hơn (Gilbert, 1984; Berger vàHannan, 1998)
Đối với những thị trường có mức cạnh tranh cao hơn, có rất ít sự lựachọn có sẵn cho các ngân hàng trong khi những ràng buộc lại có rất nhiều Cácngân hàng này có thể tạo ra phúc lợi xã hội tối đa và lâu dài (do ấn định mứcgiá thấp, chất lượng cải thiện để cạnh tranh) nhưng lợi nhuận mà họ kiếm đượcchỉ có thể trang trải chi phí vốn Mặt khác, các ngân hàng hoạt động trong mộtmôi trường cạnh tranh thấp hơn sẽ có nhiều lựa chọn hơn và các ngân hàngcũng ít đối mặt với những ràng buộc hơn
Lý thuyết SCP rất quan trọng trong bối cảnh các nước đang phát triển, cụthể là các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Theo Khan và ctg., (2018)thì Hiệp hội các quốc gia Châu Á (ASEAN) cho thấy những thay đổi cấu trúcđang diễn ra trong ngành ngân hàng Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính 1997-
1998 và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, các chính sách được đưa rabao gồm các biện pháp M&A, hội nhập tài chính quốc tế, tư nhân hóa, bãi bỏquy định và cải cách tài chính được thực hiện bởi các cơ quan quản lý để đảmbảo sự ổn định của lĩnh vực ngân hàng được khẳng định qua các nghiên cứu củaYokoi-Arai và Kawana (2007), Oliver và ctg., (2006), Khan và ctg., (2016).Theo Khan, Ahmad và Chan (2018) thì các biện pháp có chủ ý như vậy đã đưangành ngân hàng ASEAN vào một cấu trúc thị trường tập trung hơn Quyền lựachọn và những ràng buộc đối với một ngân hàng được xác định bởi cấu trúc thịtrường mà ngân hàng đó đang hoạt động Cấu trúc thị trường sẽ xác định hành
vi và HQHĐ lâu dài của các ngân hàng
Trang 27Trong nghiên cứu này, do giả thuyết SCP giả định rằng cấu trúc thịtrường tác động đến việc điều chỉnh hành vi của các ngân hàng theo hướng cólợi, vì thế sẽ tác động đến cạnh tranh của các NHTM, cụ thể là về chi phí hoạtđộng, vốn chủ sở hữu cũng như tổng tài sản của ngân hàng, các chiến lược huyđộng vốn (tiền gửi) và cấp tín dụng (cho vay và các khoản nợ xấu) cũng nhưcác dịch vụ đem lại thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi.
2.2.2 Giả thuyết cuộc sống yên tĩnh (Quiet Life -QL)
2.2.2.1 Khái niệm
Giả thuyết cuộc sống yên tĩnh lập luận rằng sức mạnh thị trường càngcao thì nỗ lực quản lý để tối đa hóa HQHĐ càng thấp Sức mạnh thị trường cóthể giúp che giấu bớt những dấu hiệu để các chủ sở hữu không thể phát hiện sựtồn tại của các hành vi thiếu năng lực quản lý hoặc phi hiệu quả Giả thuyết nàytrái ngược với mô hình SCP được phát triển bởi Hicks (1935) và nó có thể dẫnđến lợi nhuận thấp hơn do các yếu tố không liên quan đến hiệu quả
2.2.2.2 Tác động
Các tác giả ủng hộ giả thuyết này lập luận rằng, khi sức mạnh càng tậptrung vào một số ít các ngân hàng thì họ càng có khả năng đưa ra mức giá vượt
xa chi phí cận biên để gia tăng lợi nhuận Tuy nhiên, hành động này về lâu dài
sẽ khiến lượng khách hàng suy giảm và hạn chế hiệu quả Ngoài ra, để có thểtạo ra và duy trì sức mạnh trên thị trường, các nhà quản lý ngân hàng có thể sẽtiêu tốn khá nhiều nguồn lực, điều này sẽ làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận
Do đó, tồn tại mối tương quan nghịch giữa sức mạnh thị trường và hiệu quả(Maudos và de Guevara, 2007), tức là sức mạnh thị trường càng thấp hay cạnhtranh càng cao thì các NH càng hiệu quả Berger & Hannan (1998) và Ajide vàAjileye (2015) đều cho thấy các ngân hàng ở các thị trường tập trung hơn cóhiệu quả chi phí thấp hơn so với các ngân hàng khác Berger và Hannan (1998)
đề xuất các lý do giải thích như sau:
Thứ nhất, nếu các ngân hàng cạnh tranh trong một thị trường tập trung caohơn có thể đặt giá cao hơn chi phí biên, các nhà quản lý không phải nỗ lực làmviệc để giữ chi phí trong tầm kiểm soát
Trang 28Thứ hai, quyền lực thị trường có thể cho phép các nhà quản lý theo đuổicác mục tiêu khác ngoài việc tối đa hoá lợi nhuận hoặc tối đa hóa giá trị doanhnghiệp.
Thứ ba, trong trường hợp không cạnh tranh, các nhà quản lý nếu dànhnguồn lực để giành và duy trì thị trường sẽ làm tăng chi phí và làm giảm hiệuquả một cách không cần thiết
Thứ tư, nếu các ngân hàng hưởng lợi từ quyền lực thị trường, các nhàquản lý kém có thể tồn tại mà không cần gắng làm việc hiệu quả hơn
Trong nghiên cứu này, theo giả thuyết cuộc sống yên tĩnh thì có tồn tạimối tương quan nghịch giữa sức mạnh thị trường và hiệu quả (Maudos và deGuevara, 2007), nghĩa là để có thể tạo ra và duy trì sức mạnh trên thị trường,các nhà quản lý ngân hàng có thể sẽ tiêu tốn khá nhiều nguồn lực, điều này sẽlàm tăng chi phí và giảm lợi nhuận khi sức mạnh thị trường càng tăng (hay tăngkhả năng cạnh tranh)
2.2.3 Giả thuyết nhượng bộ lẫn nhau
2.2.3.1 Khái niệm
Theo lý thuyết về độc quyền (oligopoly theory), các công ty hoạt động đa thịtrường sẽ không cạnh tranh mạnh mẽ với các đối thủ của mình tại một thịtrường nhất định nếu họ sợ bị trả đũa tại tất cả các thị trường còn lại (Edwards,1955; Sorenson, 2007) Điều này là do nếu số lượng thị trường mà các doanhnghiệp cạnh tranh nhau càng nhiều, thì có thể xảy ra hành động trả đũa trên cácthị trường, điều này sẽ gây ra những tổn thất đáng kể Trong tình huống nhưvậy, mức độ cạnh tranh trên tổng thể sẽ giảm để tránh tổn thất quá lớn trên toàn
bộ thị trường
2.2.3.2 Tác động
Bernheim và Whinston (1990) đã cho thấy, khi xảy ra TXĐTT, cácdoanh nghiệp sẽ có các thỏa thuận ngầm với nhau và duy trì sự hợp tác thay vìcạnh tranh nếu có bất cân xứng giữa các thị trường mà các công ty tương táchoặc giữa các công ty trong và trên nhiều thị trường Như vậy, theo lý thuyếtnày thì việc các ngân hàng có TXĐTT với các đối thủ làm giảm mức độ cạnhtranh của các ngân hàng như là một chiến lược, nhằm giảm khả năng tấn côngcủa đối thủ trên nhiều thị trường mà các ngân hàng tương tác với nhau
Trang 29Ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng việc TXĐTT với đối thủ có vaitrò làm tăng cạnh tranh Solomon (1970) cho rằng nếu ngân hàng đã cạnh tranhgay gắt ở những thị trường nhất định trong một khu vực nào đó, số mối liên kết
đa thị trường trong cùng khu vực càng cao có thể dẫn đến tăng mức cạnh tranh,
và làm giảm lợi nhuận ngân hàng
Như vậy, trong nghiên cứu này tiếp cận lý thuyết giả thuyết nhượng bộlẫn nhau theo Solomon (1970) và lý thuyết này sẽ tác động đến TXĐTT và sẽlàm giảm HQHĐ của ngân hàng
2.2.4 Lý thuyết về tác động của cạnh tranh đến rủi ro của các NHTM
2.2.4.1 Khái niệm
Giả thuyết này cho rằng cạnh tranh quá mức giữa các ngân hàng có thể
đe doạ đến khả năng trả nợ của các tổ chức cụ thể và cản trở sự ổn định củatoàn bộ hệ thống ngân hàng (Keeley, 1990) Những chính sách rủi ro này cũnglàm tăng khả năng các ngân hàng gặp tỷ lệ nợ xấu cao hơn, dẫn tới khả năngphá sản ngân hàng cao hơn Ngược lại, cạnh tranh thấp nên khuyến khích cácngân hàng bảo vệ giá trị thương hiệu cao hơn bằng cách theo đuổi những chiếnlược an toàn hơn góp phần ổn định cho toàn bộ hệ thống ngân hàng
2.2.4.2 Tác động
Cạnh tranh giữa các ngân hàng phát sinh từ việc tự do hóa hệ thống ngânhàng sẽ làm giảm giá trị của vốn điều lệ ngân hàng bằng cách giảm lợi ích từ vịthế độc quyền, và khuyến khích ngân hàng chọn lựa những chính sách rủi rohơn nhằm duy trì lợi nhuận trước đó (Keeley, 1990) Như vậy, việc cạnh tranhthấp đã khuyến khích các ngân hàng theo đuổi những chiến lược an toàn hơnnhằm hạn chế rủi ro
Tuy nhiên, Boyd và De Nicoló (2005) lại cho thấy sự cạnh tranh giữacác ngân hàng ít hơn tạo điều kiện thuận lợi cho việc định lãi suất cho vay kinhdoanh cao hơn, dẫn tới tăng nguy cơ tín dụng của người vay do các vấn đề vềđạo đức Việc tăng rủi ro vỡ nợ của các doanh nghiệp đi vay có thể dẫn đến tỷ
lệ nợ xấu cao và tăng khả năng mất ổn định của ngân hàng Trên thực tế, Boyd
và ctg., (2009) cũng cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ cùngchiều giữa tập trung thị trường ngân hàng và rủi ro ngân hàng
Trang 30Trong nghiên cứu này, lý thuyết này tác động đến rủi ro của các NHTM,
và cạnh tranh cụ thể là gia tăng số ngân hàng trên cùng một địa bàn (TXĐTT)
sẽ làm gia tăng RRTD của các NHTM
2.2.5 Lý thuyết về đa dạng hóa
2.2.5.1 Khái niệm
Đa dạng hóa có thể được hiểu rằng việc một công ty mở rộng phạm visản phẩm hoặc lĩnh vực hoạt động vì mục đích gia tăng hiệu quả kinh doanhqua việc gia tăng tỷ suất sinh lợi hoặc giảm thiểu rủi ro hoặc cả hai TheoMercieca và ctg., (2007) thì đa dạng hóa trong lĩnh vực ngân hàng gồm 3 khíacạnh là: (i) Đa dạng các sản phẩm tài chính và dịch vụ; (ii) đa dạng về địa lý;(iii) và sự kết hợp giữa đa dạng hóa về địa lý và kinh doanh Những năm gầnđây, thu nhập ngân hàng được xem xét bao gồm thu nhập từ các hoạt độngtruyền thống (cho vay) và các khoản thu nhập ngoài lãi đến từ việc các ngânhàng đa dạng hóa dịch vụ và các danh mục đầu tư Điều này phần lớn đến từ sựhội nhập kinh tế quốc tế của ngành ngân hàng bao gồm những thay đổi về quiđịnh lĩnh vực hoạt động của ngân hàng, sự gia tăng cạnh tranh giữa các ngânhàng và những thay đổi môi trường cạnh tranh trong hệ thống tài chính ngânhàng của cả trong và ngoài khu vực
2.2.5.2 Tác động
Tác động của đa dạng hóa đến rủi ro ngân hàng được thảo luận dựa trênhai quan điểm lý luận khác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng đa dạng hóa sảnphẩm có thể giúp ngân hàng giảm nguy cơ phá sản do ngân hàng đã phân bổnguồn lực cho các sản phẩm khác nhau (Haugen, 2001) Nghiên cứu của Klein
và Saidenberg (2000) chỉ ra rằng đa dạng hóa thu nhập làm giảm tổng rủi ro củangân hàng, ý tưởng đơn giản để giải thích là bởi các hoạt động tạo ra thu nhậpngoài lãi được coi là không tương quan hoặc ít nhất là tương quan không hoànhảo với những sản phẩm tạo ra thu nhập lãi Do vậy, Klein và Saidenberg (2000)khuyến khích các ý tưởng và chính sách đa dạng hóa sản phẩm để giúp ổn địnhlợi nhuận ngân hàng Ngoài ra, Diamond (1984) cũng cho thấy những lợi íchcủa việc đa dạng hóa là làm giảm chi phí giám sát, góp phần ổn định lợi nhuậnngân hàng Tóm lại, các nghiên cứu này ủng hộ cho quan điểm đa dạng hóa sảnphẩm làm giảm rủi ro ngân hàng
Trang 31Quan điểm thứ hai cho rằng ngân hàng nên tập trung phát triển tốt ở mộtloại hình sản phẩm, dịch vụ là chính sách tốt hơn so với việc đa dạng hóa sảnphẩm dịch vụ Hoạt động dựa trên một loại hình sản phẩm dịch vụ sẽ giúp chongân hàng khai thác được thế mạnh hiện có và tận dụng được các kinh nghiệm
đã có trong các nghiên cứu của DeYoung và Roland (2001), Laeven và Levine(2009) Theo DeYoung và Roland (2001), một vài lý do giải thích cho việc đadạng làm gia tăng biến động lợi nhuận của ngân hàng như: (i) Ngân hàng có thểđối mặt với xu hướng mất đi khách hàng bởi những dịch vụ có tính phí vì khi
đó mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng không còn đơn thuần là mốiquan hệ dựa trên khoản vay Mặc dù, thu nhập từ dịch vụ truyền thống cho vaycủa ngân hàng thường là bền vững theo thời gian; (ii) Việc mở rộng hoạt động
ở những sản phẩm dịch vụ mới đòi hỏi ngân hàng phải đầu tư vốn cho các tàisản cố định, công nghệ và nguồn nhân lực Do vậy, nguồn vốn tập trung vàodịch vụ cho vay truyền thống bị hạn chế dẫn đến các bất ổn lợi nhuận; (iii) Hoạtđộng kinh doanh các dịch vụ có tính phí của ngân hàng đôi khi đòi hỏi phải cần
sử dụng nguồn vốn điều lệ hoặc có thể không, tuy nhiên điều này cũng đòi hỏingân hàng gia tăng tỷ lệ sử dụng đòn bẩy tài chính Đây chính là nguyên nhândẫn đến biến động về lợi nhuân Nhìn chung, hàm ý của quan điểm thứ hai nàycho rằng đa dạng hóa là nguyên nhân làm gia tăng rủi ro ngân hàng
Như vậy, theo lý thuyết đa dạng hóa được áp dụng trong nghiên cứu nàythì việc các ngân hàng gia tăng thu nhập từ thu nhập từ lãi sẽ làm tăng RRTDtrong trường hợp cạnh tranh tăng, đồng nghĩa với việc các ngân hàng cũng sẽtăng thu nhập ngoài lãi từ việc bán chéo các các sản phẩm dịch vụ và cũng làmgia tăng HQHĐ
2.2.6 Lý thuyết Lý thuyết quá lớn để sụp đổ “Too-big-to-fail”
2.2.6.1 Khái niệm
Lý thuyết quá lớn để sụp đổ “Too-big-to-fail” đề cập đến mối quan hệgiữa quy mô ngân hàng và rủi ro ngân hàng Trước tiên, thuật ngữ “Too-big-to-fail” (quá lớn để sụp đổ) là thuật ngữ quốc tế, được nhắc đến bởi Nghị sĩStewart McKinney (1984) trong một phiên điều trần của Nghị viện Mỹ khi thảoluận về sự cứu trợ của Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang đối với Ngânhàng Continental Illinois để tránh sự sụp đổ Lý thuyết quá lớn để sụp đổ cho
Trang 32rằng các ngân hàng hay định chế tài chính có quy mô lớn, hoạt động rộng vàliên kết với nhiều thành phần kinh tế khác, có tầm ảnh hưởng rất lớn đến nềnkinh tế của một quốc gia nên trước nguy cơ phá sản của họ sẽ là thảm họa cho
cả nền kinh tế, do đó cần được hỗ trợ bởi Chính phủ khi họ phải đối mặt vớikhó khăn
2.2.6.2 Tác động
Những người ủng hộ lý thuyết này tin rằng tầm quan trọng của một sốđịnh chế có nghĩa là họ nên trở thành người nhận các chính sách mang lại lợiích về kinh tế và tài chính từ chính phủ hoặc ngân hàng trung ương Một số cácbiện pháp hỗ trợ của Chính phủ như hỗ trợ vốn, trả nợ, sáp nhập hoặc chính nhànước sẽ mua lại tập đoàn đó nhằm bảo đảm hoạt động của tập đoàn được duy trìmột cách bình thường Viện dẫn cho điều này là tập đoàn bảo hiểm AIG của
Mỹ đã được chính phủ ra tay cứu giúp hay như tập đoàn sản xuất xe hơi hàngđầu của Mỹ là General Motor (GM) cũng đã được nhà nước hỗ trợ vốn saukhủng hoảng tài chính 2008 Một trong những vấn đề phát sinh là rủi ro đạođức, theo đó một công ty hưởng lợi từ các chính sách bảo hộ luôn tìm kiếm lợinhuận từ đó, và khi có các nguy cơ cao trở lại, họ có thể sẽ lại tận dụng nhữngrủi ro để nhận được các chính sách ưu đãi Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel
2008, Paul Krugman cho rằng các tổ chức kinh tế quy mô như các ngân hànghay các doanh nghiệp khác đều có quản trị rủi ro, do đó, miễn là họ cũng cóquy định tương ứng với sức mạnh kinh tế của họ, thì “Quá lớn để sụp đổ” là cơchế có thể được chấp nhận Hệ thống kinh tế toàn cầu cần phải đối mặt với việccác nền kinh tế chủ đạo là không thể sụp đổ
Tóm lại, sự bảo hộ của Chính phủ đối với các ngân hàng và định chế tàichính quy mô lớn có thể làm gia tăng hành vi chấp nhận rủi ro của họ (Mishkin,1999)
Do vậy, theo lý thuyết quá lớn để sụp đổ thì đối với các NHTM có tàisản lớn thì sẽ có hoạt động rộng và liên kết với nhiều thành phần kinh tế khác,
có tầm ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của một quốc gia nên một khi có rủi
ro thì sẽ được Chính phủ hỗ trợ để đảm bảo NHTM này không sụp đổ Vì thế,trong nghiên cứu này lý thuyết quá lớn để sụp đổ được thể hiện là khi tài sảncủa ngân hàng càng lớn sẽ làm tăng lợi thế cạnh tranh giữa các ngân hàng (thể
Trang 33hiện được uy thế vốn lớn thì sẽ có nhiều lợi thế về lãi suất huy động cũng nhưcấp tín dụng), sẽ làm gia tăng HQHĐ, làm giảm RRTD Ngoài ra, lý thuyết nàycũng tác động đến tỷ lệ sở hữu nhà nước trong các ngân hàng, các NHTM có tỷ
lệ sở hữu nhà nước càng lớn thì sẽ có nhiều ưu đãi hơn so với các ngân hàngkhác trong cạnh tranh, điều này làm gia tăng HQHĐ trong các ngân hàng này
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh, RRTD và hiệu quả hoạt động của NHTM
Có thể nói, trong quá trình hoạt động của các ngân hàng, thì các yếu tốtác động đến cạnh tranh, RRTD và HQHĐ thông thường có tác động qua lại vàcộng hưởng với nhau Nhìn chung, các nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh,RRTD và HQHĐ được chia thành hai nhóm, nhóm các nhân tố chủ quan vànhóm các nhân tố khách quan
xu hướng tăng trong quá trình hoạt động, có thể sử dụng với kỳ hạn dài màkhông phải hoàn trả Do đó, vốn chủ sở hữu còn quyết định quy mô hoạt độngvới vai trò đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng Ngoài ra, quy môvốn còn là căn cứ để xác định các giới hạn hoạt động như giới hạn huy độngvốn, giới hạn cho vay, giới hạn đầu tư vào tài sản cố định… Đồng thời, vốn chủ
sở hữu sẽ tạo uy tín và duy trì niềm tin của công chúng đối với ngân hàng Mộtngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn sẽ có khả năng cao hơn trong việc mở rộngquy mô hoạt động, đảm bảo bù đắp được những thiệt hại phát sinh khi xảy rarủi ro, phát huy được lợi thế kinh tế nhờ quy mô và tăng khả năng cạnh tranh,
do đó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của NHTM Nhìn chung, cácngân hàng có quy mô lớn hơn có thể tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô
Trang 34và đa dạng hóa hoạt động, do đó làm tăng hiệu quả (Perera và ctg.,, 2007; Elsas
và ctg.,, 2010) Tuy nhiên, các ngân hàng “quá lớn để sụp đổ” thường có tâm lý
ỷ lại từ sự hỗ trợ ngầm của chính phủ nên có thể hoạt động bất chấp rủi ro.Đồng thời, các ngân hàng lớn thường phải đối mặt với vấn đề quản lý kém hiệuquả và rủi ro đạo đức, từ đó gây ra sự phi hiệu quả (Perera và ctg.,, 2013;Ahamed, 2017) Mối quan hệ tiêu cực giữa quy mô và hiệu quả ngân hàng đượctìm thấy ở Mỹ (Allen và Rai, 1996), châu Âu (Grigorian và Manole, 2002;Maudos và de Guevara, 2007), Trung Quốc (Kumbhakar và Wang, 2007;Berger và ctg.,, 2009) hay Việt Nam (Hoàng và Huân, 2016; Vinh và Tiên,2017) Bên cạnh đó, một số nghiên cứu không phát hiện ra bất kỳ tác động nàocủa quy mô đến hiệu quả ngân hàng (Vennet, 2002; Weill, 2004)
Quy mô cho vay: một trong những hoạt động quan trọng, mang lạinguồn thu nhập lớn cho các ngân hàng là cho vay Quy mô cho vay của cácngân hàng thường được phản ánh thông qua tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tàisản Chỉ số này cho biết tỷ trọng của các khoản cho vay ròng trong quy mô tàisản của các NHTM Tan và Leby Lau, (2016) cho rằng, nếu ngân hàng cho vaycàng nhiều thì sẽ thu lãi càng nhiều, từ đó có thể làm gia tăng lợi nhuận Nhiềunghiên cứu cho thấy tỷ lệ này có mối liên hệ tích cực với HQHĐ của các ngânhàng (Chirwa, 2003; Tan và Leby Lau, 2016)) Tuy nhiên, một kết quả tráingược hoàn toàn được phát hiện bởi (Bourke, 1989) khi nghiên cứu ngành ngânhàng tại châu Âu cho thấy tỷ lệ này cao hơn sẽ có khả năng sinh lời thấp hơnbởi vì khối lượng cho vay cao hơn sẽ dẫn đến sự suy giảm khả năng sinh lợinếu ngân hàng không có một hệ thống quản lý RRTD tốt Ngoài ra, Goddard vàctg.,, (2014), Tan và ctg.,, (2017) còn cho thấy tỷ trọng cho vay càng cao phảnánh khả năng các ngân hàng sẽ hạn chế trong việc tài trợ ngân quỹ để đảm bảothanh khoản ngân hàng
Ngoài ra, năng lực cạnh tranh còn được thể hiện qua chất lượng tài sản
có của ngân hàng Để đảm bảo an toàn hoạt động, các NHTM phải cân đối giữagiá trị của tài sản có có thanh khoản cao với giá trị tài sản nợ để tránh mất khảnăng thanh toán dẫn đến nguy cơ phá sản Tuy nhiên những tài sản có thanhkhoản cao thường mang lại lợi nhuận thấp, do đó nếu một ngân hàng quá chútrọng đến dự trữ thanh khoản sẽ làm giảm khả năng sinh lời, ngược lại nếu chấp
Trang 35nhận rủi ro cao, thanh khoản thấp để đầu tư vào các tài sản có tỷ suất sinh lợicao sẽ dễ khiến ngân hàng mất khả năng thanh toán Tất cả những điều này ảnhhưởng đến cạnh tranh, RRTD và trực tiếp đến kết quả hoạt động của ngân hàng.Ngoài ra, loại hình sở hữu của các ngân hàng cũng có tác động đến cạnh tranh,RRTD và HQHĐ của các ngân hàng Các nghiên cứu thường được đề cập đếnhai khía cạnh chính: sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước Tuy nhiên, các bằngchứng thực nghiệm khá mơ hồ khi so sánh hiệu quả của các ngân hàng quốcdoanh và ngân hàng tư nhân Theo Shirley và Walsh (2000), các ngân hàngquốc doanh có hiệu quả tương đối thấp hơn có thể do phải chịu nhiều quy địnhràng buộc hơn, áp lực cạnh tranh ít hơn và khả năng quản trị yếu hơn Boone(2008) phát hiện rằng các ngân hàng tư nhân hoạt động hiệu quả hơn các ngânhàng quốc doanh về cả hiệu quả chi phí và hiệu quả lợi nhuận Kết quả nàycũng được tìm thấy ở các nghiên cứu Fries và Taci (2005), Fu và Heffernan(2009), Berger, Hasan và Zhou (2009) Tuy nhiên, Perera và ctg., (2007) lại chothấy các ngân hàng quốc doanh hoạt động hiệu quả hơn các ngân hàng tư nhân.Kết quả này cũng được tìm thấy ở các nghiên cứu của Ariff và Luc (2008),Chortareas và ctg., (2012), Wanke và Barros (2014).
Đa dạng hóa thu nhập: khi ngân hàng thực hiện nhiều hoạt động ngânhàng phi tín dụng thì thu nhập ngoài lãi sẽ tăng lên trong khi tỷ lệ thu nhập lãithuần giảm xuống trong cơ cấu thu nhập Kết quả là đa dạng hóa thu nhập làmcho HQHĐ của ngân hàng dưới góc độ sinh lời bị thay đổi (Dwumfour, 2017).Các lý thuyết về trung gian tài chính hàm ý rằng việc gia tăng lợi nhuận theoquy mô của các ngân hàng có liên quan đến đa dạng hóa nguồn thu nhập Cácngân hàng nếu cung cấp nhiều loại sản phẩm và dịch vụ hơn thì sẽ tạo ra nhiềunhu cầu hơn và sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn (Vinh và Tiên, 2017) Baele
và ctg., (2007) cho rằng các ngân hàng thông qua việc cung cấp nhiều sản phẩm
và dịch vụ có thể thu thập được nhiều thông tin hơn nên tạo điều kiện để bánchéo sản phẩm và phát triển các hoạt động khác hơn Những thông tin nội bộthu được từ khách hàng cho phép các ngân hàng triển khai các hoạt động dịch
vụ hiệu quả hơn (Vennet, 2002) Bên cạnh việc chia sẻ thông tin, ngân hàngcũng có thể chia sẻ các yếu tố đầu vào như lao động và công nghệ cùng lúc chonhiều hoạt động khác nhau nên được hưởng lợi ích về quy mô bằng cách hạ
Trang 36thấp chi phí hoạt động và tận dụng các chi phí cố định trong ngân hàng (Stiroh,
ngân hàng có thể nâng cao lợi nhuận từ những nỗ lực đa dạng hóa nguồn thunhập của họ (Stiroh và Rumble, 2006) Đặc biệt, DeYoung và Roland (2001) đãphân tích nguy cơ mất khách hàng khi các ngân hàng tăng cường các hoạt độngtạo thu nhập phi lãi hơn so với cho vay Mặc dù ít có sự nhạy cảm với lãi suất
và suy thoái kinh tế, thu nhập từ các hoạt động phi lãi vẫn có thể kém ổn định
vì chi phí chuyển đổi không cao trong khi khách hàng có xu hướng trung thànhđối với các sản phẩm cho vay hơn vì chi phí chuyển đổi thường rất tốn kém cho
cả ngân hàng và khách hàng Do đó, các ngân hàng chỉ cần tập trung phát triểnhoạt động cho vay là có thể ổn định được thu nhập
2.3.1.2 Năng lực quản trị điều hành
Công tác quản trị, điều hành đóng vai trò quan trọng trong việc địnhhướng hoạt động kinh doanh ngân hàng theo đúng chiến lược đã đặt ra, cũngnhư tầm nhìn chiến lược trong cạnh tranh đối với các ngân hàng khác và giatăng HQHĐ Năng lực quản trị điều hành thể hiện ở trình độ của ban quản trị vàkhả năng của họ trong việc chỉ đạo, thực hiện thành công những kế hoạch kinhdoanh của ngân hàng, cũng như khả năng ứng phó tốt trước những diễn biếncủa thị trường Bên cạnh đó, một bộ máy quản trị được đánh giá là có năng lựccao khi họ có thể sử dụng những yếu tố đầu vào một cách tiết kiệm nhất để tạo
ra nhiều yếu tố đầu ra nhất Một ngân hàng được điều hành bởi những nhà quảntrị giỏi sẽ giảm thiểu được chi phí nhưng vẫn có thể mang lại lợi nhuận cao,tăng khả năng cạnh tranh và đảm bảo hoạt động an toàn Cụ thể:
Năng lực quản lý chi phí: được đo bằng tỷ lệ chi phí hoạt động (bao gồm
cả chi phí lãi và chi phí ngoài lãi) trên tổng doanh thu được tạo ra Tỷ lệ nàycàng nhỏ chứng tỏ các ngân hàng quản lý chi phí càng hiệu quả Quan điểm nàyđược ủng hộ bởi Athanasoglou và ctg., (2008), Liu và ctg., (2013), Tan, Floros
và Anchor (2017) và Olimov và ctg., (2017) Tuy nhiên, Molyneux và Thornton(1992) lại tìm thấy một tác động tích cực của chi phí hoạt động đến lợi nhuậntrong ở các ngân hàng tại châu Âu, và được giải thích bởi phần lớn chi phí hoạtđộng có nguồn gốc từ việc trả lương và tiền công cho nhân viên, trong khi mứclương và tiền công cao hơn sẽ góp phần cải thiện đáng kể năng suất lao động
Trang 37của nhân viên, nếu lợi nhuận của ngân hàng được tạo ra lớn hơn nhiều so vớitiền lương trả cho nhân viên thì đồng nghĩa với việc ngân hàng đó hoạt độnghiệu quả dựa trên lý thuyết tiền lương hiệu quả Tác động tích cực của chi phíhoạt động đến HQHĐ ngân hàng cũng được Naceur (2003) ủng hộ đối vớingành ngân hàng Tunisia.
Ngoài ra, năng lực quản lý chi phí còn chịu chi phối bởi nhân tố conngười và cơ sở hạ tầng bao gồm các trụ sở, máy móc, trang thiết bị, hệ thốngcông nghệ thông tin trong việc phục vụ cho quá trình hoạt động của ngân hàng.Thứ nhất, yếu tố con người cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc quyếtđịnh HQHĐ của NHTM Nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn giỏi, đạo đứcnghề nghiệp tốt sẽ giúp ngân hàng thu hút được những khách hàng trung thành,giảm thiểu rủi ro trong quá trình kinh doanh, tăng khả năng thực hiện thànhcông các mục tiêu, chiến lược, kế hoạch kinh doanh cũng như có khả năng ứngphó tốt với biến động thị trường, nâng cao lợi thế cạnh tranh, đảm bảo an toàn,lành mạnh và hiệu quả trong hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, khi nguồn nhânlực chất lượng cao khan hiếm, các ngân hàng buộc phải tăng chi phí để tìmkiếm nguồn nhân lực phù hợp hoặc giữ lại những lao động có thâm niên kinhnghiệm, do đó làm chi phí hoạt động tăng lên nhưng chất lượng, năng suất hoạtđộng có thể không tăng tương ứng, chính vì vậy ảnh hưởng tiêu cực đến hiệuquả hoạt động của ngân hàng Thứ hai, là cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng đầy đủ,hiện đại sẽ tạo điều kiện thuận lợi để ngân hàng phát triển ổn định Việc ứngdụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại sẽ giúp ngân hàng tiết kiệmđược thời gian và chi phí, tạo cảm giác thoải mái, an tâm và tin tưởng chokhách hàng khi giao dịch tại ngân hàng, nhờ đó gia tăng hiệu quả hoạt động vàkhả năng cạnh tranh Đặc biệt, hệ thống công nghệ thông tin là điều mà NHNN
và các ngân hàng trong thời gian gần đây chú trọng đầu tư
2.3.2 Nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội
Môi trường kinh tế chính trị có vai trò quan trọng trong việc định hướng
và phát triển của ngành ngân hàng nói chung cũng như đến HQHĐ của ngânhàng nói riêng Bởi lẽ, ngành ngân hàng với sản phẩm kinh doanh là tiền - mộtlĩnh vực nhạy cảm vì nó liên quan trực tiếp đến nhiều chủ thể khác nhau trong
Trang 38nền kinh tế Bất kỳ một sự biến động nào trong nền kinh tế đều có thể gây ảnhhưởng đến hoạt động ngân hàng Nếu tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn địnhthì tình hình sản xuất, kinh doanh của các cá nhân, doanh nghiệp sẽ diễn ra bìnhthường, hoạt động ngân hàng nhờ đó cũng diễn ra suôn sẻ Khi nền kinh tế tăngtrưởng nhanh, tình hình hoạt động kinh doanh thuận lợi, nhu cầu vay vốn tăngcao, khả năng hoàn trả cũng được đảm bảo nên các ngân hàng sẽ có điều kiệnthuận lợi để mở rộng quy mô tín dụng, tăng khả năng sinh lời, kết quả này đượctìm thấy trong các nghiên cứu của Semih Yildirim và Philippatos (2007),Athanasoglou và ctg (2008), Lozano-Vivas và Pasiouras (2010) và Dietrich vàWanzenried (2014) Tuy nhiên trong giai đoạn này nếu ngân hàng chỉ chạy theolợi nhuận mà không chú trọng đến chất lượng tín dụng thì hậu quả về sau rấtkhó lường Ngược lại, khi nền kinh tế suy giảm, hoạt động sản xuất kinh doanhcủa các chủ thể gặp nhiều khó khăn thì họ có xu hướng thu hẹp sản xuất, khảnăng trả nợ suy giảm, các khoản nợ xấu tăng khiến khả năng sinh lợi của cácNHTM bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực (Staikouras và ctg.,, 2008; Tan,Floros và Anchor, 2017).
Việc giữ cho nền kinh tế phát triển ổn định và tránh lâm vào các cuộckhủng hoảng kinh tế là yếu tố quan trọng trong việc duy trì HQHĐ trong ngânhàng Theo Albertazzi và Gambacorta (2009), khủng tài chính toàn cầu sẽ tạo racác điều kiện kinh tế bất lợi có thể làm suy giảm chất lượng của các khoản vay
và tạo ra tổn thất tín dụng, cuối cùng làm suy giảm lợi nhuận của các ngân hàng(Ashamu và Abiola, 2012) Tuy nhiên, Chronopoulos và ctg., (2015) lại chorằng cuộc khủng hoảng tài chính gần đây dường như đã dẫn đến sự gia tăng củalợi nhuận cho các ngân hàng bởi một số can thiệp chính sách ưu tiên đặc biệtnhằm tăng cường sự ổn định của hệ thống tài chính trong giai đoạn khủnghoảng
Ngoài ra, việc giữ cho nền kinh tế ổn định và kiểm soát lạm phát cũng cótác động không nhỏ đến HQHĐ của các ngân hàng Grigorian và Manole (2002)cho thấy lạm phát có xu hướng làm tăng chi phí giám sát và quản trị rủi ro, tức
là làm giảm hiệu quả chi phí Nghiên cứu của Naceur (2003) cũng ủng hộ kếtquả này khi cho rằng hoạt động chính của các NHTM là cấp tín dụng Do đó,thị trường sẽ phụ thuộc vào nguồn cung tín dụng từ phía các ngân hàng và nhu
Trang 39cầu tín dụng của các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế Lạm phát sẽ làmgiảm nhu cầu tín dụng, bởi vì nó làm người ta nghi ngờ về sự không chắc chắntrong tương lai Nhu cầu suy giảm sẽ khiến các ngân hàng giảm cấp tín dụng,kéo theo hiệu quả cũng đi xuống Tuy nhiên, việc dự báo lạm phát chính xác cótác động đến HQHĐ của ngân hàng vì nếu không thể dự báo đầy đủ thì lạmphát sẽ làm giảm lãi suất biên, dẫn đến giảm lợi nhuận của ngân hàng Ngượclại, nếu tỷ lệ lạm phát được dự đoán đầy đủ, các ngân hàng có thể điều chỉnh lãisuất hoặc quản lý chi phí hoạt động của mình để mở rộng lãi suất biên, làm giatăng lợi nhuận (Athanasoglou và ctg., 2008; Dietrich và Wanzenried, 2011;2014).
Nhìn chung, các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh, RRTD đều có mốitương tác qua lại với HQHĐ, bởi các mối quan hệ này là phụ thuộc lẫn nhau.Khi cạnh tranh tăng lên đồng nghĩa với các ngân hàng sẽ phải cạnh tranh vớinhau để thu hút khách hàng cả về lãi suất cũng như giá cả dịch vụ cung cấp.Nếu xét riêng ở mặt cấp tín dụng thì khi cạnh tranh gia tăng, các ngân hàng sẽ
có ít sự lựa chọn về khách hàng hàng hơn đồng nghĩa với chất lượng các khoảncho vay giảm Điều này đồng nghĩa với RRTD tăng lên (các khoản nợ xấu tăng),ngân hàng phải bỏ thêm nhiều khoản chi phí liên quan đến việc giải quyết cáckhoản nợ xấu này Các chi phí tăng thêm bao gồm: chi phí để tăng cường giámsát những khách hàng vay quá hạn và các tài sản thế chấp của họ; chi phí phântích và dàn xếp (thỏa thuận) với khách hàng về các khoản vay này; chi phí duytrì và xử lý tài sản đảm bảo; chi phí liên quan đến việc bảo vệ danh tiếng và sự
an toàn của ngân hàng đối với các cơ quan quản lý và thị trường tài chính; chiphí tăng thêm để đảm bảo chất lượng của các khoản cho vay khác Việc giatăng các chi phí này làm cho RRTD có thể trở thành một nguyên nhân làm giảmHQHĐ của ngân hàng Do đó, mối quan hệ giữa cạnh tranh, RRTD và HQHĐ
là mối quan hệ tương tác qua lại lẫn nhau
2.4 Các nghiên cứu có liên quan về tác động của RRTD, TXĐTT đến HQHĐ của các NHTM
Trang 402.4.1 Các nghiên cứu liên quan đến rủi ro tín dụng
2.4.1.1 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của quy mô đến rủi ro tín dụng ngân hàng
Nghiên cứu của Hu và ctg (2004) đã chỉ ra mối quan hệ ngược chiềugiữa qui mô ngân hàng và rủi ro tín dụng ngân hàng Các ngân hàng lớn có hệthống quản lý rủi ro tốt hơn và nắm giữ danh mục cho vay ít rủi ro hơn nên cóthể hạn chế được rủi ro tín dụng so với những ngân hàng có qui mô nhỏ.Thiagarajan & ctg (2011) nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tạicác ngân hàng ở Ấn Độ trong giai đoạn từ năm 2001-2010, và nghiên cứu củaHess & ctg (2008) trên 32 ngân hàng Australia trong giai đoạn 1980 – 2005cũng tìm được kết quả tương tự
Tuy nhiên, Foos và ctg (2010) không tìm thấy tác động có ý nghĩa củaqui mô ngân hàng đến RRTD ngân hàng khi sử dụng dữ liệu Bankscope từ hơn16.000 ngân hàng cá nhân trong giai đoạn 1997-2007, các phân tích sâu hơncho thấy tăng trưởng cho vay cũng có tác động tiêu cực đến HQHĐ được điềuchỉnh theo rủi ro
Nabila Zribi và Younes Boujelbène (2011) nghiên cứu 10 ngân hàngthương mại trong khoảng thời gian từ năm 1995 tới năm 2008 ở Tunisia cũngcho kết quả tương tự Các ngân hàng ở Tunisia có qui mô gần như tương tựnhau và phần lớn trong số họ phù hợp với quy định, yêu cầu của hệ thống ngânhàng nên qui mô ngân hàng không tác động đến rủi ro tín dụng ngân hàng
Nghiên cứu của Haq và Heaney (2012) nghiên cứu các yếu tố tác độngđến rủi ro của 117 ngân hàng thuộc 15 nước Châu Âu giai đoạn 1996 – 2010,s
ử dụng các ước lượng trong dữ liệu bảng và ước lượng GMM để hồi quy môhình nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro ngân hàng, trong đó một số cácyếu tố liên quan đến biến giải thích được nhóm tác giả xem xét bao gồm quy
mô ngân hàng, vốn chủ ngân hàng, vốn điều lệ, hạng mục ngoại bảng, chínhsách cổ tức và biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu bao gồm rủi ro hệthống, tổng rủi ro, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằngquy mô ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều với rủi ro tín dụng tuy nhiên cóquan hệ cùng chiều với tổng rủi ro của ngân hàng