1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam, "vấn đề và giải pháp"

91 94 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 653,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết của đề tài Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, khi chuyển dầnsang nên kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức và trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhậpquốc tế, ch

Trang 1

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2013QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở

VIỆT NAM: VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP

Chủ nhiệm đề tài: ThS Ngô Minh Tuấn Các thành viên: TS Nguyễn Mạnh Hải

TS Đặng Thị Thu Hoài

TS Trần Toàn Thắng

Hà Nội- tháng 12/2013

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 14

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 14

1 Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 14

2 Khái niệm quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực 17

2.1 Khái niệm quản lý nhà nước 17

2.2 Khái niệm quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực 18

3 Các công cụ, phương thức thực hiện vai trò và chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế 19

3.1 Các công cụ của quản lý nhà nước 19

3.2 Các chức năng của quản lý nhà nước 21

II VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 23

III VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 25

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 33

I TỔNG QUAN CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 33

II THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI GIAN VỪA QUA 38

III THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 43

1 Về vai trò định hướng và điều tiết phát triển 43

Trang 3

2 Về vai trò tạo khuôn khổ pháp luật và môi trường cho việc phát triển

nguồn nhân lực 44

3 Về vai trò can thiệp trực tiếp, điều tiết phát triển nguồn nhân lực 49

4 Vai trò thanh kiểm tra và giám sát thực thi các chính sách về phát triển nguồn nhân lực 54

III ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 56

1 Những thành tựu đạt được 56

2 Các hạn chế và nguyên nhân 57

CHƯƠNG III: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 61

I BỐI CẢNH VÀ MỤC TIÊU CỦA ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 61

1 Bối cảnh và thách thức đối với phát triển nguồn nhân lực Việt Nam 61

2 Mục tiêu tổng quát đổi mới quản lý Nhà nước 62

3 Các mục tiêu cụ thể 62

II CÁC QUAN ĐIỂM ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 63

III CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 66

1 Nhóm các giải pháp đổi mới vai trò quản lý nhà nước về định hướng và điều tiết phát triển nguồn nhân lực 66

2 Nhóm các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và môi trường pháp lý cho phát triển nguồn nhân lực 67

3 Nhóm giải pháp đổi mới can thiệp của Nhà nước trong cung cấp dịch vụ công cho phát triển nguồn nhân lực 70

4 Nhóm giải pháp về tăng cường kiểm tra, giám sát sự phát triển và chất lượng dịch vụ công 72

Trang 4

5 Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức và bộ máy 74

KẾT LUẬN 76

PHỤ LỤC DỰ THẢO QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 5

Danh mục các chữ viết tắt

UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp quốc

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, khi chuyển dầnsang nên kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức và trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhậpquốc tế, chất lượng nguồn nhân lực ngày càng thể hiện vai trò quyết định đối với

sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia bởi vì nó là một trong các yếu tốđầu vào của sản xuất Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đãnhấn mạnh đến vai trò của các loại vốn phi vật chất, trong đó có nguồn nhân lực1.Trong đó, động lực quan trọng nhất cho tăng trưởng kinh tế bền vững chính là yếu

tố con người, tức là con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, taynghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo để trở thành “ nguồn vốn- vốn con người,vốn nhân lực” Muốn nâng cao năng suất lao động, tăng trưởng và phát triển kinh

tế mà chỉ có các phương tiện công nghệ thì chưa đủ, mà còn cần phát triển mộtcách tương xứng năng lực của con người sử dụng những phương tiện đó Vậy conngười là yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững Với ýnghĩa quan trọng như vậy, bảo đảm nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế là mộttrong những chức năng cơ bản của Nhà nước thông qua các chính sách, kế hoạch,quy hoạch, xây dựng pháp luật có liên quan đến nguồn nhân lực nhằm tác động,

tổ chức, điều chỉnh quá trình phát triển nguồn nhân lực hướng đến các mục tiêu

đã xác định

Theo lý thuyết kinh tế học phát triển, nguồn nhân lực của một quốc gia,một vùng lãnh thổ là bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý đểtham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội như: nguồn lực vật chất, nguồnlực tài chính, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên Nguồn nhân lực hiểu theo nghĩahẹp là một phần dân số, bao gồm những người trong độ tuổi quy định, có khảnăng lao động hoặc hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.Khái niệm này bao hàm cả về mặt chất lượng và mặt số lượng Số lượng nguồnnhân lực là xác định quy mô, cơ cấu tuổi, giới tính; chất lượng nguồn nhân lực làkhả năng tổng hợp về thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách, đặc điểm lối sống, tinhthần và đặc biệt là khả năng nghiên cứu, sáng tạo, tiếp thu công nghệ mới phục vụ

1 Manuelli và Seshadri (2005); Szirmai (1997).

Trang 7

nền kinh tế Do vậy bảo đảm nguồn nhân lực chính là đào tạo được nguồn nhânlực đáp ứng cả về số lượng và chất lượng Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực lànguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngườicho sự phát triển.

Với khái niệm nguồn nhân lực trên, Nhà nước cần phải xác định rõ vai tròcủa mình trong việc quản lý nguồn nhân lực để nguồn nhân lực thực sự là một lựclượng có vai trò quyết định trong phát triển kinh tế-xã hội Muốn vậy, việc quản

lý nguồn nhân lực quốc gia cần phải hướng đến những nội dung chủ yếu sau: (i)phải đảm bảo có một đội ngũ đông đảo những người lao động có kỹ thuật, cóchuyên môn, có sức khoẻ; (ii) cơ cấu lao động phải phù hợp với trình độ pháttriển kinh tế của quốc gia; (iii) phải phân bổ dân số và nguồn nhân lực hợp lý theolãnh thổ với tính chất là lực lượng lao động chủ yếu; và (iv) kiểm tra, giám sátthực thi các chính sách phát triển nguồn nhân lực Với nội dung quản lý nguồnnhân lực như trên, vai trò của nhà nước cần phải phát huy một cách tối đa, chứcnăng nhà nước phải được bảo đảm thực hiện trong thực tiễn Tuy nhiên, trongthực tế, nguồn nhân lực luôn luôn thể hiện sự biến đổi không ngừng Do đó, vaitrò và chức năng của nhà nước không chỉ dừng lại ở việc quản lý đơn thuần màphải hướng đến sự quản lý phát triển của nguồn nhân lực

Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể hình thức, biện pháp tác động nhằmhoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về trí tuệ, thể chất và phẩmchất đạo đức, văn hoá xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự pháttriển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn Trong quản lý phát triển nguồn nhânlực, nhà nước có trách nhiệm xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển nguồnnhân lực và đề ra các biện pháp thực hiện các chiến lược, quy hoạch phát triểnnguồn nhân lực đó2

Trên thực tế, không một quốc gia nào trên thế giới có thể phát triển kinh tếbền vững mà không tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực Kinh nghiệm chothấy nhờ có nguồn nhân lực có chất lượng cao nhiều nước như Nhật Bản, HànQuốc, các nước công nghiệp mới (NICs) đã có bước phát triển kinh tế thần kỳ.Hiện nay, ở những nước công nghiệp phát triển, đóng góp của lao động trí óc

2 Nguyễn Văn Mạnh (2011), Vai trò của Nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.

Trang 8

ngày càng cao, yếu tố tri thức chiếm tới 65% giá thành sản xuất và 35% giá thànhsản phẩm3.

Ở Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực, Đảng vàNhà nước luôn luôn chú trọng nhân tố con người trong định hướng phát triển Đểđẩy nhanh phát triển nguồn nhân lực, ngay từ Đại hội VII xác định: “ giáo dục vàđào tạo là quốc sách hàng đầu “, coi phát triển giáo dục, đào tạo là động lực quantrọng, là điều kiện tiên quyết để phát triển con người Kết quả là, sau 25 năm đổimới với nhiều nỗ lực, nguồn nhân lực nước ta đã đạt một số thành tựu đáng kể.Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thể lực của con người Việt Nam

đã từng bước được nâng lên, được thể hiện qua chỉ số phát triển con người (HDI),tuổi thọ bình quân ngày càng cao trong bảng xếp hạng trên thế giới Tuy nhiên, sovới nhiều nước trong khu vực và so với yêu cầu của quá trình đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức thì chất lượng nguồncung nhân lực của nước ta chưa đáp ứng được được nhu cầu, còn rất thấp kém vàđang ở mức báo động đáng lo ngại, thể hiện ở những mặt chính sau đây:

- Thứ nhất, lực lượng lao động hiện nay chủ yếu vẫn chưa được đào tạo

hoặc trình độ chuyên môn thấp, phần lớn là lao động thủ công chưa đáp ứng đượckhả năng chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng gia tăng đóng góp của nguồnnhân lực trong tăng trưởng kinh tế Một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB,2008) cho thấy: lao động Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm Trong khi đó, những nềnkinh tế có chất lượng lao động dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranhtrên thị trường toàn cầu Các tiêu chí đánh giá chất lượng lao động do WB đưa rabao gồm những kết quả chung về hệ thống giáo dục và đào tạo nhân lực; mức độsẵn có của lao động chất lượng cao; mức độ sẵn có của nhân lực quản lý hànhchính chất lượng cao; sự thành thạo tiếng Anh và sự thành thạo về kỹ thuật vàcông nghệ tiên tiến

- Thứ hai, cơ cấu của nguồn nhân lực Việt Nam còn phân bố không đồng

đều và chưa hợp lý Điều này thể hiện trong giai đoạn 2005-2010, số lượng sinhviên đại học tăng hơn gấp ba lần số học viên dạy nghề; số lượng nhân lực tronglĩnh vực khoa học-công nghệ còn nhỏ bé về quy mô Trong số này, đội ngũ nhânlực khoa học-công nghệ chất lượng cao (thạc sỹ, tiến sỹ, phó giáo sư, giáo sư)

3 Tài liệu hội thảo: “ Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yếu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” do Tạp chí cộng sản và Nhà xuất bản chính trị Quốc gia- sự thật tổ chức (2012).

Trang 9

chiếm tỷ lệ rất thấp khoảng hơn 20%, thấp hơn so với một số nước trong khu vựcĐông Nam Á như Indonesia (40%), Malaisia (48%)4…

- Thứ ba, về mặt thể lực con người Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước

trong khu vực Điều này thể hiện qua nhiều chỉ số HDI vẫn còn ở mức thấp Tỷ lệsuy dinh dưỡng thấp còi (chiều cao/tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi còn ở mức cao(29,3% - 2010); đến năm 2010 vẫn còn 28 tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấpcòi cao hơn mức trung bình của cả nước, trong đó 12 tỉnh có tỷ lệ trên 35% Đây

là mức rất cao theo xếp loại của Tổ chức Y tế Thế giới5

Nguyên nhân của các mặt tồn tại ở trên một phần là do những yếu kém vàbất hợp lý trong quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực trong thời gianqua, điều này thể hiện ở những mặt chính sau đây:

- Thứ nhất, vai trò của Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực chưa

được xác định một cách hợp lý và triển khai thực hiện hiệu quả Nhà nước còncan thiệp quá sâu vào hoạt động của các tổ chức giáo dục-đào tạo, chưa giaoquyền tự chủ hoạt động cho các tổ chức giáo dục-đào tạo, nhất là trong các lĩnhvực tài chính, bộ máy, và nhân sự6

- Thứ hai, việc xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở

các ngành/địa phương còn nặng về mặt hình thức và hành chính mà chưa dựa theo

cơ sở khoa học Nguyên do một phần là chưa có một quy định pháp lý cao nhưLuật, Nghị định hướng dẫn thực hiện xây dựng quy hoạch, kế hoạch và các số liệuxây dựng trong kế hoạch còn thiếu các căn cứ khoa học, thiếu tính chính xác vàthiếu tính khách quan

- Thứ ba, cách thức tổ chức thực hiện, phân công nhiệm vụ và phối hợp

giữa các cơ quan chưa hợp lý Ví dụ, trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo, quản lýnhà nước về giáo dục, đào tạo còn bị phân tán, chia cắt dưới sự quản lý của nhiều

cơ quan chủ quan khác nhau (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục

và Đào tạo, các Bộ chuyên ngành và địa phương) Theo số liệu của Bộ Giáo dục

và Đào tạo, cả nước có 376 trường đại học, cao đẳng thì Bộ Giáo dục và Đào tạoquản lý 54 trường (chiếm 14,4%), các Bộ/ngành khác quản lý 116 trường(30,8%), Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố quản lý 125 trường (33,3%), còn lại 81

4

Tài liệu đã dẫn ở trang 1.

5

Bộ Y tế (2011), Báo cáo tổng quan ngành y năm 2011.

5 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011).

6 Lê Xuân Bá (2005), Ngô Minh Tuấn (2008).

Trang 10

trường dân lập, tư thục (21,5%)7 Việc chia cắt quản lý như vậy dẫn đến việc phân

bổ nguồn tài chính cho giáo dục đại học bị phân tán và gây khó khăn cho cơ quanquản lý nhà nước về giáo dục-đào tạo trong việc thanh tra, kiểm tra, giám sát các

cơ sở giáo dục đại học, nhất là dưới địa phương còn bị buông lỏng8

Hơn nữa, theo các văn bản pháp quy, Chính phủ thống nhất quản lý nhànước về giáo dục, đồng thời có sự phân công của Chính phủ đối với Bộ Giáo dục

và Đào tạo, các Bộ, cơ quan ngang Bộ Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng phápluật và việc phân công của Chính phủ trong thực hiện quản lý nhà nước về giáodục không phải lúc nào cũng rõ ràng, thống nhất và hiệu quả Chẳng hạn, cùngmột thành phần của hệ thống giáo dục quốc dân là giáo dục nghề nghiệp nhưng lại

do hai cơ quan cùng thực hiện chức năng quản lý: Bộ Giáo dục và Đào tạo thựchiện quản lý đối với trung cấp chuyên nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xãhội thực hiện quản lý đối với dạy nghề Đây là một bất cập gây ra những khó khăntrong thống nhất quản lý giáo dục, trong thực hiện chương trình giáo dục, côngtác phân luồng và liên thông; khả năng dự báo, quy hoạch và quản lý các cơ sởgiáo dục nghề nghiệp v v

Nhận thức được những yếu kém và tầm quan trọng của nguồn nhân lựchiện nay, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 được thông qua tại

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” là một trong ba đột phá phát triển

nhanh, bền vững đất nước đến năm 2020 Do vậy, đổi mới vai trò quản lý nhànước về nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đang là mộtđòi hỏi cấp bách của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa Chính vì vậy, vừaqua Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 và kèmtheo Chương trình hành động để thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triểnnhân lực, trong đó có nội dung xây dựng Đề án đổi mới quản lý nhà nước về pháttriển nguồn nhân lực Để có cơ sở đề xuất những cơ chế, chính sách đổi mới quản

lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực và thực hiện nhiệm vụ được Bộ Kếhoạch và Đầu tư và Chính phủ giao (công văn số 6722/VPCP-KGVX ngày

8 Ngô Minh Tuấn (2010).

Trang 11

29/8/2012 của Văn phòng Chính phủ giao nhiệm vụ cho Bộ Kế hoạch và Đầu tưxây dựng Đề đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực, trình Thủtướng Chính phủ trong quý II năm 2013), Ban Chính sách dịch vụ công thuộcViện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đề nghị thực hiện đề tài khoa học

cấp Bộ năm 2013 với tiêu đề: “Quản lý nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam: Vấn đề và giải pháp ”.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước

Hiện tại, đã có nhiều nghiên cứu và hội thảo về phát triển nguồn nhân lực,điển hình có một số nghiên cứu sau:

- Đề tài luận án tiến sỹ của Lê Thị Mỹ Linh (2009)9 tập trung nghiên cứuvào phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vựcngoài quốc doanh Trên cơ sở đánh giá thực trạng nguồn nhân lực trong các doanhnghiệp nhỏ và vừa ở hai thành phố lớn trên cả nước (Hà Nội và Thành phố HồChí Minh), tác giả đưa ra một số kiến nghị đối với Nhà nước, các tổ chức hỗ trợdoanh nghiệp vừa và nhỏ trong và ngoài nước để có những hỗ trợ về phát triểnnguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

- Một nghiên cứu khác của Tạ Ngọc Hải (2008)10 lại tập trung nghiên cứuquản lý nguồn nhân lực và các phương pháp đánh giá của nguồn nhân lực trên thếgiới và từ đó tác giả đưa ra một số gợi ý chính sách cho Việt Nam

- Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2008) tậptrung hệ thống hoá các đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triểnnguồn nhân lực và đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở Việt Namtrong thời gian qua dựa trên tổng quan các tài liệu và số liệu được công bố trongthời gian gần đây

- Nghiên cứu Nguyễn Văn Mạnh (2011) về vai trò của Nhà nước đối vớiphát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Namtập trung nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực trong khía cạnh nội dung pháttriển xã hội mà không tập trung nghiên cứu về quản lý phát triển nguồn nhân lực

9

Lê Thị Mỹ Linh (2009), Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình

hội nhập kinh tế, luận án tiến sỹ.

10 Tạ Ngọc Hải (2008), Một số nội dung về nguồn nhân lực và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực, bài viết

nghiên cứu.

Trang 12

- Mới đây nhất là Hội thảo do Tạp chí cộng sản và Nhà xuất bản Chính trịQuốc gia-Sự thật tổ chức (2012)11 Các báo cáo trong hội thảo chủ yếu tập trungvào thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay và các kiến nghịchính sách chung về phát triển nguồn nhân lực.

Nhìn chung, các nghiên cứu và tài liệu trên tập trung đánh giá vào thựctrạng và đo lường nguồn nhân lực ở Việt Nam hay trong một số ngành cụ thể màkhông đi vào đánh giá quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực Các đề ánhay nghiên cứu khác về đổi mới vai trò của Nhà nước lại tập trung vào các lĩnhvực, ngành kinh tế khác như của Đỗ Thị Hải Hà (2007)12 hay của Chu VănThành (2007)13 lại tập trung vào đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh vực dịch vụcông, mà không tập trung vào đổi mới quản lý nhà nước về nguồn nhân lực hiệnnay

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích cuối cùng của Đề tài là tập trung vào việc kiến nghị và thực thichính sách nhằm đổi mới quản lý nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực ViệtNam

Đề tài được thực hiện nhằm 3 mục tiêu cụ thể sau:

1 Cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực;

2 Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực ở ViệtNam;

3 Quan điểm, định hướng và giải pháp đổi mới quản lý Nhà nước đối với pháttriển nguồn nhân lực

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu về quản lý

Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực Trong đó, khái niệm quản lý nhà nướcđược hiểu là xem xét vai trò và nhiệm vụ của Nhà nước trong phát triển nguồnnhân lực, được thể hiện qua những nội dung chính sau đây:

11Tạp chí cộng sản và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật tổ chức (2012), Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng

yếu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Kỷ yếu hội thảo khoa học.

12 Đỗ Thị Hải Hà (2007), Quản lý Nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.

13

Chu Văn Thành (2007), Dịch vụ công: Đổi mới quản lý và tổ chức cung ứng ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Trang 13

+ Vai trò định hướng phát triển nguồn nhân lực: thông qua việc ban hànhcác chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chương trình về phát triển nguồn nhânlực.

+ Vai trò thực hiện tạo khuôn khổ pháp luật và môi trường cho việc pháttriển nguồn nhân lực: bao gồm việc ban hành các luật lệ, chính sách đối với cácngành, lĩnh vực liên quan đến phát triển nguồn nhân lực;

+ Vai trò can thiệp trực tiếp, điều tiết phát triển nguồn nhân lực: thông quatài trợ ngân sách, trực tiếp cung ứng dịch vụ xã hội cơ bản, các công cụ khuyếnkhích phát triển ngồn nhân lực;

+ Vai trò kiểm tra, giám sát và thanh tra thực thi chính sách pháp luật vềphát triển nguồn nhân lực

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Về nội dung: do lĩnh vực của đề tài tương đối rộng, trong khuôn khổ nghiên cứu

này, đề tài sẽ tiếp cận theo định nghĩa nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp (dân sốtrong độ tuổi lao động) và tập trung vào các chính sách trí lực và thể lực chongười lao động

Về không gian: chung cả nước, không theo các tỉnh thành, địa phương.

Về thời gian: Hiện tại và nhu cầu nguồn nhân lực trong tương lai, đến năm 2020.

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cách tiếp cận nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu, đề tài tiếp cận theo cách tiếp cận theo chức năngquản lý nhà nước: bao gồm chức năng xây dựng chính sách (chiến lược, quyhoạch, kế hoạch liên quan đến phát triển nguồn nhân lực); chức năng dự báo;chức năng tổ chức, điều hành nhằm tác động, tổ chức, điều chỉnh quá trình pháttriển nguồn nhân lực

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong khuôn khổ nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp định tính, cụ thểnhư sau:

5.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp từ nguồn tài liệu trong và ngoài nước:

- Tập trung phân tích vai trò và chức năng của Nhà nước trong phát triển nguồnnhân lực;

Trang 14

- Thu thập và phân tích các văn bản pháp quy của Nhà nước liên quan đến pháttriển nguồn nhân lực;

5.2.2 Khảo sát thực tế: lựa chọn một số địa phương tiến hành khảo sát về quản lý

nhà nước về nguồn nhân lực ở địa phương nhằm thu thập các thông tin về phâncấp quản lý nhà nước về nguồn nhân lực, các chính sách cụ thể của địa phương vềthu hút nguồn nhân lực…

5.2.3 Phương pháp so sánh: Nghiên cứu sẽ lựa chọn so sánh thực trạng quản lý

đối với phát triển nguồn nhân lực tại các ngành hoặc địa phương để rút ra nhữngbài học thành công và thất bại về quản lý nhà nước tại ngành/ địa phương đối vớiphát triển nguồn nhân lực

5.2.4 Thảo luận nhóm và lấy ý kiên các Bộ/ngành và địa phương: tổ chức một số

cuộc họp với các chuyên gia từ các Bộ/ngành thảo luận về quản lý nhà nước vềnguồn nhân lực; tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc và các giải pháp kiến nghị.Ngoài ra, để có cơ sở thực tiễn, đề tài cũng lấy ý kiến tham khảo của cácBộ/ngành và địa phương về các nội dung thực trạng và các kiến nghị liên quanđến đổi mới quản lý Nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực trong thời giantới

Nguồn số liệu: các số liệu sử dụng trong đề tài được lấy từ các báo cáo

chính thức của các Bộ/ngành liên quan và từ nguồn thu thập thông tin đi khảo sátthực tế và trong các cuộc thảo luận Các số liệu và phân tích chính sách đượcdùng để phân tích từ năm 2006 và các kiến nghị đề xuất trước hết cho giai đoạnđến năm 2020

6 Nội dung Báo cáo

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Báo cáo đề tài được trình bày trong bachương với các nội dung chính sau đây:

- Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đối với phát triển nguồnnhân lực

- Chương II: Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước đối với phát triểnnguồn nhân lực

- Chương III: Quan điểm, định hướng và giải pháp đổi mới quản lý Nhànước đối với phát triển nguồn nhân lực

Trang 15

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1 Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một '' tài nguyên đặc biệt '',một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người, pháttriển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống pháttriển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắnnhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người làđầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững

Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiềucách hiểu khác nhau khi bàn về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực.Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực được hiểu như là nguồn lực con người (Humanresources) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ (vùng, tỉnh ), là một bộ phận củacác nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triểnkinh tế- xã hội như nguồn lực vật chất (physical Resources), nguồn lực tài chính(Finalcial Resources) Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của

xã hội, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Các

cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc cho rằng nguồn nhân lực bao hàm nhữngngười đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khả năng laođộng Một số nhà khoa học của Việt Nam thì cho rằng nguồn nhân lực “được hiểu

là số dân và chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe vàtrí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồnnhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia pháttriển kinh tế-xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó” (Bùi Văn Tiến,2012)14

Nguồn nhân lực của một đất nước được đánh giá trên hai mặt chủ yếu là sốlượng và chất lượng Số lượng nguồn nhân lực được đánh giá bằng các chỉ tiêu: tỷ

lệ nguồn nhân lực trong dân số; tỷ lệ lực lượng lao động trong dân số; tỷ lệ thamgia lực lượng lao động của người trong độ tuổi lao động; tỷ lệ lao động có việclàm trong lực lượng lao động… Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá bằngcác chỉ tiêu sau:

14 http://www.hcmuc.edu.vn/nghien-cuu-khoa-hoc1/1067-phat-trien-nhan-luc.html

Trang 16

- Thứ nhất, chỉ tiêu trạng thái sức khỏe nguồn nhân lực, trong đó chú ý đề

tuổi thọ bình quân; thể trạng của người lao động; phân loại sức khỏe; chỉ tiêu suygiảm sức khỏe hoặc không có khả năng lao động…

- Thứ hai, chỉ tiêu trình độ văn hóa của nguồn nhân lực, đây là chỉ tiêu rất

quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực và có tác động mạnh mẽ tới quátrình phát triển kinh tế xã hội Trình độ văn hóa cao sẽ tạo điều kiện và khả năngtiếp thu, vận dụng có hiệu quả những tiến bộ mới của khoa học công nghệ trongthực tiễn

- Thứ ba, chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn-kỹ thuật của nguồn nhân

lực được thể hiện bằng tỷ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học sovới nguồn nhân lực chung

Ngoài ra chất lượng nguồn nhân lực còn được đo bằng chỉ số phát triển conngười HDI là thước đo tổng hợp sự phát triển con người trên ba phương diện chủyếu: sức khỏe, tri thức, thu nhập và một số chỉ tiêu khác mang tính định tính vềmôi trường làm việc của người lao động như truyền thống yêu nước, truyền thốngvăn hóa, văn minh của dân tộc, phong tục, tập quán, lối sống…

Như vậy, có thể nói rằng nguồn nhân lực là tổng hòa của thể lực và trí lựctồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinhtruyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sửđược vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầuhiện tại và tương lai của đất nước Điều quan trọng nhất trong nguồn nhân lựckhông phải là số lượng mà là chất lượng Nói đến chất lượng nguồn nhân lực lànói đến hàm lượng trí tuệ trong đó, nói tới “người lao động có trí tuệ cao, có taynghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp” Xu hướng phổ biến trong xã hội là vai tròngày càng tăng của nguồn nhân lực Trong nguồn nhân lực có sự kết hợp giữa thểlực, trí lực và nhân cách Ngoài ra, cái làm nên nguồn nhân lực còn là kinhnghiệm sống, là nhu cầu và thói quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệmcủa mình, của cộng đồng vào các hoạt động vật chất như các hoạt động chính trị-

xã hội và hoạt động thực nghiệm của con người Xét theo ý nghĩa đó, nguồn nhânlực bao gồm toàn bộ sự phong phú, sự sâu sắc của các năng lực trí tuệ, năng lựcthực hành, tổ chức và quản lý, tính tháo vát và những phản ứng của con ngườitrước mọi hoàn cảnh Những năng lực đó chỉ xuất hiện trên cơ sở của trình độ họcvấn, kinh nghiệm, sự mở rộng các quan hệ xã hội, sự tiếp thu tinh tế các ảnh

Trang 17

hưởng văn hóa truyền thống từ gia đình tới xã hội, từ cộng đồng quốc gia tới khuvực, quốc tế Nguồn nhân lực được xem xét trên hai phương diện: cá nhân và xãhội Vì vậy khi xem xét cấu trúc nguồn nhân lực, trước hết phải tính đến phươngdiện cá thể của nó gồm ba yếu tố: thể lực, trí tuệ và đạo đức, ba yếu tố này cấuthành chất lượng cá thể của nguồn nhân lực và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượngphát triển xã hội của nguồn nhân lực xét trên quy mô xã hội.

Trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu

là: “ là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi), tức là toàn bộ các cá nhân có thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực của họ được huy động vào quá trình lao động”.

Về khái niệm phát triển nguồn nhân lực, Szirmai (1997) cho rằng phát triểnnguồn nhân lực và giáo dục, đào tạo (theo nghĩa rộng) là những thuật ngữ có cùngnội hàm Hai tác giả này định nghĩa “phát triển nguồn nhân lực là làm tăng kinhnghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng caonăng lực thực hiện công việc” Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợpquốc (UNESCO) sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp vàcho rằng phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cưluôn luôn phù hợp yêu cầu phát triển của đất nước Trong khi đó, Tổ chức Laođộng Thế giới (ILO) lại định nghĩa phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm virộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nóichung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm cóhiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân Liên hiệp quốcthì nghiêng về sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, baogồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triểnkinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống (Viện Nghiên cứu quản lý kinh

Trang 18

tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồnnhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để pháttriển kinh tế- xã hội.

Trong khung khổ của Đề tài khái niệm Phát triển nguồn nhân lực là sự biến

đổi về số lượng và chất lượng trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng và tinh thầncủa nguồn nhân lực cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấunhân lực Chất lượng của nguồn nhân lực cần phải được đánh giá một cách toàndiện cả về thể lực, trí tuệ, đạo đức, nhân cách, phẩm chất của con người

2 Khái niệm quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực

2.1 Khái niệm quản lý nhà nước

Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước là chủ thể duy nhấtquản lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật Cụ thể như sau:

-Nhà nước quản lý toàn dân là nhà nước quản lý toàn bộ những người sống

và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm công dân và những người không phải

là công dân

- Nhà nước quản lý toàn diện là nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực củađời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnhthồ Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa là các cơquan quản lý điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở pháp luậtquy định

-Nhà nước quản lý bằng pháp luật là nhà nước lấy pháp luật làm công cụ xử

lý các hành vi vi phạm pháp luật theo luật định một cách nghiêm minh

Vậy quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhànước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành

vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tựpháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

Quản lý nhà nước là các công việc của nhà nước, được thực hiện bởi tất cảcác cơ quan nhà nước; cũng có khi do nhân dân trực tiếp thực hiện bằng hình thức

bỏ phiếu hoặc do các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội thực hiện nếu được nhànước giao quyền thực hiện chức năng nhà nước Quản lý nhà nước thực hiệnthông qua bộ máy nhà nước trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện các

Trang 19

nhiệm vụ, chức năng của Chính phủ là hệ thống cơ quan được thành lập đểchuyên thực hiện hoạt động quản lý nhà nước.

2.2 Khái niệm quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực

Quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân là sự tác động có tổ chức

và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệuquả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạtđược các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước đã đặt ra, trong điềukiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế15 Quản lý kinh tế là một trong nhữngnội dung cốt lõi của quản lý xã hội nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạtđộng quản lý khác của xã hội Quản lý nhà nước về kinh tế được thể hiện thôngqua các chức năng kinh tế và quản lý kinh tế của Nhà nước

Từ định nghĩa trên, nội dung quản lý nhà nước về kinh tế bao gồm:

- Thứ nhất, thực chất của quản lý nhà nước về kinh tế là việc tổ chức và sử

dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực trong và ngoài nước mà Nhà nước có khảnăng tác động vì mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước Trong đó, vấn đề nắmbắt được con người, tổ chức và tạo động lực lớn nhất cho con người hoạt độngtrong xã hội là vấn đề có vai trò then chốt

- Thứ hai, bản chất của quản lý nhà nước về kinh tế, trong đó có vấn đề về

phát triển nguồn nhân lực là đặc trưng thể chế chính trị của đất nước; nó chỉ rõNhà nước là công cụ của giai cấp hoặc của lực lượng chính trị, xã hội nào? Nódựa vào ai và hướng vào ai để phục vụ? Đây là vấn đề khác nhau cơ bản giữaquản lý nhà nước về kinh tế của các chế độ xã hội khác nhau

- Thứ ba, quản lý nhà nước về kinh tế, trong đó có phát triển nguồn nhân

lực còn là một nghệ thuật và một nghề vì nó lệ thuộc không nhỏ vào trình độ nghềnghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế; phong cách làmviệc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi…của bộmáy quản lý kinh tế của Nhà nước

Là một bộ phận của nội dung quản lý nhà nước về kinh tế, quản lý nhànước đối với phát triển nguồn nhân lực cần hướng đến những nội dung chủ yếusau:

15 Trường Đại học kinh tế quốc dân, Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội, Hà Nội 2005.

Trang 20

- Một là, mỗi quốc gia phải nhanh chóng xây dựng một đội ngũ đông đảo

những người lao động có kỹ thuật, có chuyên môn, có sức khỏe để phát triển kinhtế-xã hội đất nước

- Hai là, phải tạo ra sự chuyển biến trong cơ cấu lao động xã hội, trong đó

lao động công nghiệp và dịch vụ tăng lên về tuyệt đối và tương đối trong khi laođộng nông nghiệp chuyển hướng ngược lại

- Ba là, phải tiến hành sự phân bố dân số và nguồn nhân lực hợp lý theo

lãnh thổ với tính chất là lực lượng lao động chủ yếu, nhằm khai thác tối đa tiềmnăng của đất nước, làm thay đổi bộ mặt và sức sống của nền kinh tế

- Bốn là, hình thành giá trị văn hóa nhân văn phù hợp với tiến trình phát

triển trong điều kiện mới

3 Các công cụ, phương thức thực hiện vai trò và chức năng quản lý Nhà

nước về kinh tế

3.1 Các công cụ của quản lý nhà nước

Công cụ quản lý nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện hữu hình và vô hình mà Nhà nước sử dụng để tác động lên mọi chủ thể kinh tế trong

xã hội nhằm thực hiện mục tiêu quản lý nền kinh tế quốc dân Theo lý thuyết, Nhà

nước thường sử dụng 4 công cụ sau để quản lý nhà nước về kinh tế:

- Thứ nhất về pháp luật Pháp luật thường được hiểu là hệ thống các quy

tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung (quy phạm pháp luật) thể hiện ý chí của giaicấp thống trị và cộng đồng xã hội, do Nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ, nhằmmục tiêu bảo toàn và phát triển xã hội theo các đặc trưng đã định

Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước về kinh tế :

+ Tạo tiền đề pháp lý vững chắc để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, duy trì

sự ổn định lâu dài nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững;

+ Tạo cơ sở pháp lý hữu hiệu để thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi vànghĩa vụ của các chủ thể kinh tế;

+ Tạo cơ sở pháp lý cần thiết để kết hợp hài hòa phát triển kinh tế với pháttriển xã hội và bảo vệ môi trường

Trang 21

Pháp luật về kinh tế được thể hiện bằng các văn bản pháp luật do các cơquan quản lý nhà nước về kinh tế và các cơ quan quyền lực và cơ quan nhà nướckhác ban hành Trong thực tế, có hai loại văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt độngquản lý nhà nước về kinh tế là văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụngquy phạm pháp luật

- Văn bản quy phạm pháp luật: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có 3

+ Văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành

- Văn bản áp dụng quy phạm pháp luật: Là những văn bản có tính chất cá

biệt, thường được ban hành để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể : Bổ nhiệm, miễnnhiệm, đề bạt, khen thưởng, điều động công tác…

- Thứ hai về kế hoạch Kế hoạch theo nghĩa rộng là quá trình xây dựng,

quán triệt, chấp hành, kiểm tra việc thực hiện phương án hành động trong tươnglai Kế hoạch với tính cách là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước là một

hệ thống bao gồm nhiều nội dung hoạt động, đó là :

+ Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội;

+ Quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội;

để thực hiện các mục tiêu bộ phận trong quá trình đạt tới các mục tiêu chung của

sự phát triển kinh tế-xã hội Chính sách là một hệ thống phức tạp gồm nhiều loại,

có thể được chia thành 2 nhóm chủ yếu, đó là :

Trang 22

+ Các chính sách kinh tế : Chính sách cơ cấu , chính sách tài chính, chínhsách tiền tệ, chính sách kinh tế đối ngoại…

+ Các chính sách xã hội : chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sáchdân số và kế hoạch hóa gia đình, chính sách lao động và việc làm, chính sách giáodục, chính sách văn hóa, chính sách khoa học và công nghệ…

- Thứ tư, tài sản quốc gia ( hay tiềm lực kinh tế quốc gia) Tài sản quốc

gia theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi nguồn lực của đất nước, theo nghĩa hẹp lànguồn vốn và các phương tiện vật chất-kỹ thuật mà Nhà nước có thể sử dụng đểtiến hành quản lý nền kinh tế quốc dân Ở đây ta xét theo nghĩa hẹp, đó là: côngsở; ngân sách nhà nước; tài nguyên thiên nhiên; công khố (kho bạc, dự trữ ngoại

tệ, tiền mặt, vàng bạc, đá quý…; có chức năng chủ yếu là dự trữ và bảo hiểm );kết cấu hạ tầng; doanh nghiệp nhà nước; hệ thống thông tin nhà nước

3.2 Các chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế

Để quản lý được nền kinh tế quốc dân, Nhà nước phải thực hiện rất nhiềuloại công việc khác nhau Những công việc này hình thành nên khái niệm chức

năng quản lý nhà nước về kinh tế Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là hình thức biểu hiện phương hướng và giai đoạn tác động có chủ đích của Nhà nước tới nền kinh tế quốc dân, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà Nhà nước phải tiến hành trong quá trình quản lý nền kinh tế quốc dân.

Hiện tại, có 3 cách tiếp cận chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, đó là:cách tiếp cận theo quá trình quản lý; cách tiếp cận theo tính chất tác động; và cáchtiếp cận theo yếu tố và lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân Theo đó,cách tiếp cận theo quá trình quản lý người ta chia các hoạt động quản lý nhà nước

về kinh tế thành các nhóm chức năng: kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm soátnền kinh tế

Theo cách tiếp cận theo tính chất tác động có thể chia các hoạt động quản

lý nhà nước về kinh tế thành các nhóm chức năng: tạo lập môi trường thuận lợicho các hoạt động kinh tế- xã hội, bảo đảm cơ sở hạ tầng phát triển, hỗ trợ pháttriển, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước Trong khi đó, theo cáchtiếp cận căn cứ vào các yếu tố và lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc tế cóthể chia chức năng quản lý nhà nước về kinh tế thành quản lý nhà nước về tàichính – tiền tệ, quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại, quản lý nhà nước về cácvấn đề xã hội…

Trang 23

Tuy nhiên, dù theo cách tiếp cận nào, quản lý nhà nước về kinh tế có nhữngđặc trưng chủ yếu sau:

- Thứ nhất, định hướng sự phát triển của nền kinh tế Định hướng sự phát

triển kinh tế là xác định con đường và hướng sự vận động của nền kinh tế nhằmđạt đến một đích nhất định (gọi là mục tiêu) căn cứ vào đặc điểm kinh tế, xã hộicủa đất nước trong từng thời kỳ nhất định

Phạm vi định hướng phát triển kinh tế bao gồm: toàn bộ nền kinh tế, cácngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế Nhà nước không có chứcnăng định hướng phát triển cho từng doanh nghiệp ngoài nhà nước, mà căn cứvào định hướng phát triển của nền kinh tế, các doanh nghiệp tự xác định hướngphát triển cho mình

Nội dung định hướng phát triển kinh tế bao gồm : Xác định mục tiêu chungdài hạn (có thể vài ba chục năm hoặc xa hơn); Xác định mục tiêu của từng thời kỳ(có thể 10, 15, 20 năm), từng kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm; Xác định thứ

tự ưu tiên các mục tiêu; Xác định các giải pháp để đạt mục tiêu

Các công việc cần làm khi định hướng phát triển kinh tế: Phân tích đánhgiá thực trạng của nền kinh tế hiện tại, những nhân tố trong nước và quốc tế ảnhhưởng đến sự phát triển hiện tại và tương lai của nền kinh tế; Dự báo phát triểnkinh tế; Hoạch định phát triển kinh tế bao gồm đường lối, chiến lược, quy hoạch,chính sách, chương trình mục tiêu và dự án phát triển

- Thứ hai, tạo lập môi trường cho sự phát triển kinh tế Môi trường cho sự

phát triển kinh tế là tập hợp các yếu tố, các điều kiện tạo nên khung cảnh tồn tại

và phát triển của nền kinh tế Các loại môi trường cần thiết cho sự phát triển kinhtế: môi trường kinh tế (bao gồm chính sách nâng cao thu nhập cho dân cư, chínhsách hấp dẫn đầu tư, chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách giá cả, tiền tệ,tiết kiệm…); môi trường pháp lý; môi trường chính trị; môi trường văn hóa-xãhội; môi trường sinh thái; môi trường quốc tế…

Những việc Nhà nước cần làm để tạo lập các môi trường:

+ Đảm bảo sự ổn định về chính trị và an ninh quốc phòng, mở rộng quan

hệ đối ngoại trong đó có quan hệ kinh tế đối ngoại;

+ Xây dựng và thực thi một cách nhất quán các chính sách kinh tế-xã hộitheo hướng đổi mới;

Trang 24

+ Xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật;

+ Xây dựng mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng;

- Thứ tư, điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế Nhà nước điều tiết sự hoạt

động của nền kinh tế là Nhà nước sử dụng quyền lực của mình chi phối các hành

vi kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường, ngăn chặn các tác độngtiêu cực đến quá trình hoạt động kinh tế, ràng buộc chúng phải tuân thủ các quytắc đã định sẵn nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của nền kinh tế

Những nội dung điều tiết :

+ Điều tiết các quan hệ lao động sản xuất, như quan hệ phân công và hợptác trong nội bộ nền kinh tế, quan hệ với quốc tế trong đầu tư-thương mại, lựachọn quy mô doanh nghiệp, điều tiết giá cả, lãi xuất…

+ Điều tiết các quan hệ lợi ích, như quan hệ tiền công- tiền lương, phânchia thu nhập quốc dân, điều tiết thu nhập cá nhân…

+ Điều tiết trong phân bổ các nguồn lực quốc gia…

- Thứ năm, kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế Kiểm tra giám sát hoạt

động kinh tế là Nhà nước xem xét, đánh giá tình trạng tốt xấu của các hoạt độngkinh tế, theo dõi sự hoạt động kinh tế đúng hoặc sai so với các quy định pháp luật

Để từ đó có các giải pháp xử lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý

II VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ

- XÃ HỘI

Nguồn nhân lực bao gồm các yếu tố cấu thành về lực lượng (số lượng), trithức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội và sức sángtạo, cũng như truyền thống lịch sử và nền văn hoá mà con người được thụ hưởng

Trang 25

Trong bất cứ nền kinh tế nào, nguồn nhân lực đều giữ vai trò quyết định đối vớicác hoạt động sản xuất- kinh doanh và dịch vụ Thậm chí trong một nền kinh tếkém phát triển, sản xuất còn mang nặng tính tự nhiên, tự cấp, tự túc, con ngườituy trình độ hiểu biết về mọi mặt còn rất hạn chế, song vẫn là nhân tố hàng đầuquyết định sự phát triển của nền kinh tế.

Những công trình gần đây về tăng trưởng kinh tế đã chứng minh vai trò tolớn của giáo dục, sức khoẻ và các mặt chất lượng khác của con người trong việctạo ra tăng trưởng kinh tế Ví dụ, trong giải thích nguyên nhân của “sự thần kỳ”châu Á, người ta ngày càng nhận rõ vai trò nền tảng và cực kỳ quan trọng thuộc

về sự nâng cao chất lượng và kỹ năng của lao động Thực tế, đây chính là khíacạnh của nguồn vốn con người, của nguồn nhân lực Vai trò kinh tế của việc họchành tốt hơn và phổ cập hơn, sức khoẻ và dinh dưỡng tốt hơn, và tiến bộ côngnghệ đều cho thấy tầm quan trọng của năng lực con người như là tác nhân số mộttạo ra sự tiến bộ vật chất Các nghiên cứu trắc nghiệm đã chỉ ra rằng những đầu tư

về vốn chỉ góp một phần nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế Phần lớn giá trị của sảnphẩm thặng dư là do chất lượng lực lượng lao động quyết định Thêm vào đó,trong thời đại của cách mạng khoa học và công nghệ , yếu tố thông tin và tri thứctrở thành thành phần cốt lõi của cả hệ thống kinh tế hiện đại Số liệu thống kê chothấy, phần đóng góp của thông tin, tri thức trong thu nhập quốc dân của Mỹ là47,4%, Anh là 45,8%, Đức là 40%16 Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà GaryBecker, người được giải hưởng Noben về kinh tế năm 1992, đã khẳng định rằng

“không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn lực conngười, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục” Hiệu quả đầu tư phát triển con người luôncao hơn hiệu quả đầu tư vào các lĩnh vực khác, tiết kiệm được việc sử dụng vàkhai thác các nguồn lực khác, và có độ lan toả đồng đều hơn so với các hình thứcđầu tư khác

Nền kinh tế thế giới đang dần chuyển sang kinh tế tri thức, xu thế toàn cầuhoá đang diễn ra sâu rộng và nhanh chóng thì vai trò quyết định của nguồn nhânlực đối với phát triển càng rõ nét hơn Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế gần đây

đã chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựatrên ít nhất ba trụ cột cơ bản là: áp dụng công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng hiệnđại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, yếu tố và cũng là động lựcquan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là nguồn nhân lực, đặc

16 Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2011).

Trang 26

biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Trong nền kinh tế toàn cầu hoá đầy biếnđộng và cạnh tranh quyết liệt, thì ưu thế cạnh tranh luôn nghiêng về các quốc gia

có nguồn nhân lực chất lượng cao Bởi vậy, hiện nay trong chiến lược phát triểncủa mình, nhiều quốc gia đã xác định phát triển nguồn vốn nhân lực là yếu tốcạnh tranh cơ bản nhất

Tóm lại, nhìn chung lý thuyết tăng trưởng kinh tế và thực tiễn đều chỉ chorằng bên cạnh vốn vật chất, công nghệ, thì nguồn nhân lực là một nhân tố đónggóp cho sự thịnh vượng chung của loài người Bởi vì nền tảng kiến thức của mộtquốc gia chủ yếu được tăng cường nhờ công tác nghiên cứu (cơ bản và ứng dụng)

và truyền bá kiến thức thông qua hệ thống giáo dục và đào tạo nghề cho conngười Việc đầu tư vốn con người góp phần chính tạo ra nhiều sản phẩm mới vàcải tiến nhiều quy trình công nghệ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Việc đầu tưvào con người như nâng cao trình độ giáo dục, chăm sóc y tế sẽ đem lại những lợiích lớn cho cả khu vực tư nhân và công cộng như tăng thu nhập, tăng năng suấtlao động, v.v Qua đó nói lên vai trò của Nhà nước đối với tăng trưởng và pháttriển thông qua đầu tư vào nguồn nhân lực

Thông qua chỉ tiêu phát triển con người (HDI) dựa trên trọng số của ba yếutố: thu nhập bình quân đầu người/GDP, tuổi thọ bình quân, và tỷ lệ đi học,chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) cũng nhấn mạnh đến vai trò củavốn con người trong quá trình phát triển Do có nhiều khó khăn về nguồn lực ởcác nước kém phát triển, các nước này thường cắt giảm chi tiêu cho con người,đặc biệt ở trong các lĩnh vực giáo dục và y tế và hậu quả là các nước này rơi vàovòng xoáy đói nghèo và tăng trưởng thấp Do vậy, để thúc đẩy phát triển kinh tế,các nước phải tập trung đầu tư nguồn lực thường xuyên vào vốn con người vànâng cao hiệu quả chi tiêu công Điều đó sẽ dẫn đến nâng cao năng suất củanguồn nhân lựuc trong tương lai Ngoài ra, giữa giáo dục và sức khoẻ có mốiquan hệ hai chiều với nhau bởi vì sức khoẻ là một điều để học tốt, nâng cao năngsuất lao động, trong khi đó chất lượng giáo dục cũng phụ thuộc vào sức khoẻ củatừng cá nhân Do vậy, đầu tư cho nguồn nhân lực là sự kết hợp cả hai lĩnh vựcgiáo dục và y tế và đó là những nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế

III VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Trang 27

Trong xã hội phát triển ngày nay, nhờ những ưu thế tuyệt đối của mình như

sử dụng quyền lực nhà nước, bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp, các nguồn lựctài chính vật chất trong và ngoài nước,…Nhà nước có vai trò nòng cốt, quyết địnhtrên quy mô toàn xã hội đối với phát triển kinh tế-xã hội ở mỗi quốc gia Vai tròquan trọng đó thể hiện ở những mặt chính sau đây:

- Thứ nhất, Nhà nước nhân danh quyền lực của nhân dân, thực hiện quyền

lực do nhân dân ủy thác để quyết định các vấn đề liên quan đến phát triển đấtnước, trong đó có phát triển nguồn nhân lực Ở Việt Nam, cần nhận thức rằngNhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, vì thế trong tổchức, hoạt động của Nhà nước phải có cơ chế bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc

về nhân dân

- Thứ hai, Nhà nước có bộ máy thực hiện quyền lực nhà nước trên tất cả

các mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp, có bộ máy bố trí rộng khắp từ Trung ươngđến địa phương; nắm giữ các nguồn lực tài chính, vật chất chủ yếu phục vụ pháttriển đất nước Bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức là những yếu tốcần thiết cho phép Nhà nước xây dựng và triển khai thực hiện nhanh chóng, trênquy mô toàn xã hội các chính sách phục vụ phát triển kinh tế- xã hội Nhờ bộ máynhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, các chính sách kinh tế- xã hội được thựchiện theo những phương hướng, mục tiêu chung, thống nhất Các nguồn lực tàichính, vật chất do Nhà nước đứng ra quản lý, phân phối bảo đảm sự công bằng,cân đối, hài hòa giữa phát triển kinh tế- xã hội, văn hóa, an ninh- quốc phòng…

- Thứ ba, Nhà nước có vai trò và trách nhiệm trong xây dựng chiến lược,

chương trình, kế hoạch, chính sách về phát triển kinh tế- xã hội, trong đó có pháttriển nguồn nhân lực Nhà nước sử dụng sử dụng quyền lực về mặt lập pháp, hànhpháp, tư pháp do nhân dân ủy thác để thực hiện chức năng phát triển kinh tế- xãhội Chính vì vậy, Nhà nước phải chủ động xây dựng chiến lược phát triển kinhtế-xã hội và từ chiến lược này cụ thể hóa xây dựng các chương trình, kế hoạch,chính sách cụ thể và những văn bản pháp luật có liên quan đến phát triển đấtnước Xây dựng được chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đúng là cơ sở để pháttriển, cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế-

xã hội, trong đó có phát triển nguồn nhân lực

- Thứ tư, Nhà nước có vai trò trực tiếp tổ chức thực hiện các chương trình,

kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế- xã hội, trong đó có các chính sách phát

Trang 28

triển nguồn nhân lực Thực hiện vai trò này, Nhà nước huy động, triển khai thựchiện trong hệ thống bộ máy nhà nước, trực tiếp các cơ quan trong hệ thống hànhpháp, huy động các nguồn lực trong và ngoài nhà nước bảo đảm thực hiện đượccác chương trình, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế-xã hội Trong quá trình

tổ chức thực hiện các Chương trình, chính sách kinh tế - xã hội, Nhà nước có thểtrực tiếp đứng ra thực hiện hoặc có thể ủy quyền cho các tổ chức xã hội ngoài nhànước cùng tham gia thực hiện

- Thứ năm, Nhà nước có vai trò thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện

các chương trình, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế-xã hội và xử lý các viphạm Thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ là phát hiện các sai phạm trong quátrình thực hiện để xử lý kịp thời mà điều quan trọng hơn, có ý nghĩa hơn là quathanh tra, kiểm tra, giám sát phát hiện, đánh giá tính đúng đắn của các chươngtrình, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế-xã hội cũng như những bất cập, chưaphù hợp của những chương trình, kế hoạch và chính sách này để kịp thời điềuchỉnh, sửa đổi, bổ sung

- Thứ sáu, Nhà nước là đầu mối hợp tác, phối hợp xây dựng, thực hiện các

chương trình, dự án, và cung ứng dịch vụ công (giáo dục, y tế liên quan đến pháttriển nguồn nhân lực) liên quan đến chương trình, kế hoạch, chính sách phát triểnkinh tế- xã hội với các tổ chức trong và ngoài nước Thực hiện tốt các vai trò nêutrên, Nhà nước là người có ảnh hưởng quyết định trên quy mô toàn xã hội đối vớiquá trình phát triển bền vững Ngược lại, nếu thiếu chủ động và tầm nhìn chiếnlược có tính hệ thống của các vấn đề kinh tế - xã hội sẽ không tránh khỏi tìnhtrạng chắp vá, phân tán, thiếu hiệu quả các chương trình, chính sách phát triểnkinh tế- xã hội của đất nước Phải gắn với các vấn đề xã hội (trong đó có vấn đềphát triển con người) trong từng bước phát triển kinh tế trong chiến lược và trongtừng chương trình, chính sách, dự án phát triển kinh tế mới bảo đảm xã hội pháttriển bền vững

Xã hội là một tập hợp, cộng đồng các cá nhân và tổ chức, nhưng có điểmchung là cộng đồng của các cá nhân- con người Muốn phát triển đất nước phảiphát triển con người, phát triển nguồn nhân lực- yếu tố có vai trò quyết định đốivới sự phát triển xã hội, đồng thời là hiện thân của phát triển xã hội

Ở Việt Nam, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, khi ảnh hưởngcủa ý thức hệ hành chính quan liêu chưa được khắc phục triệt để, đã luôn tồn tại

Trang 29

tư duy cho rằng Nhà nước phải là người trực tiếp và duy nhất thực hiện cácchương trình, dự án, cung cấp mọi loại hàng hóa, dịch vụ công, bất kể đó là dịch

vụ công thuần tuý hay không thuần tuý Thực tế, trong một thời gian dài, Nhànước đã là người cung cấp trực tiếp các hàng hóa, trong đó có các dịch vụ thiếtyếu phục vụ đời sống con người thông qua các cơ quan, tổ chức của mình Với

mô hình "Nhà nước vừa là người cung cấp tài chính, vừa là người tổ chức việccung ứng mọi loại dịch vụ” này, Nhà nước đã bỏ vốn ra tạo lập, thực hiện hoạtđộng sản xuất, cung ứng các dịch vụ công theo cơ chế bao cấp (lãi nộp ngân sáchnhà nước, lỗ sẽ được Nhà nước bù lỗ) Chủ thể trực tiếp cung ứng là doanhnghiệp/cơ quan/tổ chức nhà nước Các doanh nghiệp này không hoạt động vì lợinhuận mà chủ yếu vì mục tiêu hoàn thành kế hoạch được Nhà nước xác định vàgiao xuống Do mọi hoạt động cung ứng hàng hóa đều nằm trong tay các tổ chứckinh tế của Nhà nước hoặc tập thể do Nhà nước chỉ huy, nên việc tạo hành langpháp lý cho các hoạt động đó đã chưa được quan tâm thực sự Cơ chế để theo dõi,đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động của các tổ chức này cũng chưa được thiết lậpđầy đủ Do đó, chất lượng dịch vụ được cung ứng đã không đảm bảo Sự thấtthoát tài sản nhà nước, nạn tham ô, tham nhũng xảy ra khá phổ biến, để lại hậuquả nặng nề cho cả xã hội và người dân

Như phần trên đã phân tích, mọi Nhà nước, không phụ thuộc vào chế độchính trị-xã hội đều hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và có tráchnhiệm bảo đảm cung ứng hàng hóa, dịch vụ công phục vụ cho người dân qua đónâng cao đời sống của nhân dân Hiện tại, trên thế giới, nhiều nước đều đặt trọngtâm vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ công, đáp ứng yêu cầu ngày càng caocủa người dân17 Hàng hóa và dịch vụ công là do Nhà nước chịu trách nhiệm cungứng, nhưng việc làm rõ những biểu hiện cụ thể trách nhiệm của Nhà nước là rấtcần thiết giúp cho việc cung cấp, quản lý dịch vụ công đạt hiệu quả, nhất là khi

mà Nhà nước đang trong quá tình có những sự chuyển đổi về chức năng, cải cách

về bộ máy, hoạt động và có sự huy động tham gia của nhiều chủ thể xã hội đốivới các công việc của Nhà nước nói chung và dịch vụ công nói riêng

Tuy nhiên, xu hướng chủ yếu trên thế giới hiện nay là Nhà nước chỉ đảmnhiệm những loại hình hàng hóa, dịch vụ công và dự án nào mà xã hội không thểlàm, hoặc không muốn làm Trong điều kiện hiện nay, ở các nước đang phát triển,Nhà nước đang có xu hướng đẩy mạnh xã hội hóa việc cung ứng các dịch vụ sự

17 Chu Văn Thành (2007).

Trang 30

nghiệp công phục vụ phát triển con người như: giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội,đồng thời phân cấp mạnh cho các địa phương trực tiếp quản lý và tổ chức cungứng các loại dịch vụ công liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân, cộngđồng Các dịch vụ công mà xã hội có thể đảm nhận được, Nhà nước thực hiệnchuyển giao, khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế,

tư nhân thực hiện với sự định hướng và hỗ trợ của Nhà nước

Việc mở rộng các thành phần ngòai Nhà nước tham gia vào các hoạt độngmang tính phục vụ xã hội xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

- Do yêu cầu phát triển chung của đời sống kinh tế -xã hội Trong bối cảnhphát triển kinh tế thị trường và xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội diễn ramạnh mẽ, khoa học và công nghệ đang có những bước tiến vượt bậc đã buộc cácnhà nước, một mặt phải nâng cao trách nhiệm đối với các quá trình phát triển kinhtế-xã hội, mặt khác phải thu hút sự tham gia của người dân vào công việc nhànước Đây là động lực thúc đẩy cải tiến mô hình nền hành chính nhà nước, nângcao chất lượng dịch vụ, bảo đảm phục vụ những nhu cầu chung của tòan xã hội.Việc mở rộng khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công không chỉ

là khuynh hướng riêng của các nước đang trong quá trình chuyển đổi sang nềnkinh tế thị trường mà là khuynh hướng chung đối với các quốc gia trên thế giới

- Do đặc điểm của nền kinh tế thị trường Một đặc điểm quan trọng của thịtrường là hướng sự chú ý tới khách hàng, nhằm thỏa mãn nhu cầu của kháchhàng, khu vực tư nhân là khu vực có sự linh hoạt hơn khu vực nhà nước trongcung ứng dịch vụ (thời gian, phương thức, giá cả…) cũng như phương thức quản

lý (trả lương, huy động các nguồn tài chính…) Chính vì vậy việc mở rộng sựtham gia của các chủ thể xã hội sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng dịchvụ

- Sự thay đổi tương quan giữa khu vực công với khu vực ngoài nhà nước,trong việc cung ứng dịch vụ công cũng là một trong những yếu tố dẫn đến cần có

sự thay đổi trong hình thức cung ứng các dịch vụ công Trong nền kinh tế thịtrường, tương quan giữa khu vực công và khu vực ngòai nhà nước có nhiều thayđổi do các nguyên nhân chủ yếu sau:

+ Sự phát triển khoa học và công nghệ ngày càng cao, điều đó dẫn đến khuvực ngòai nhà nước có khả năng tiếp cận một số dịch vụ trước đây chỉ thuộc vềNhà nước

Trang 31

+ Sự thay đổi về mức sống của người dân: mức sống tăng lên đòi hỏi phải

có sự phục vụ ngày càng cao, khối lượng dịch vụ cần cung ứng cũng ngày càngtăng để đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội (nhu cầu, giáo dục, y tế…đều tăng)

+ Sự kém hiệu quả của khu vực công so với khu vực ngoài Nhà nước Ví

dụ, như dịch vụ công được tổ chức theo yêu cầu của người cung ứng dịch vụ chứkhông phải của người hưởng dịch vụ; chỉ chú ý đến đầu vào chứ không chú ý đếnkết quả đầu ra và thường tìm cách tối đa hóa mức ngân sách được cấp chứ khôngchú ý đến việc nghiên cứu xem có thể thay đổi gì trong kết quả, hiệu quả côngviệc Ngoài ra, các cơ sở công lập thường thiếu gắn kết và ít quan tâm đến nhucầu của người sử dụng dịch vụ; cung cấp cho người sử dụng cái mà họ có chứkhông phải cái mà khách hàng cần và có thể lựa chọn; không chú ý đến việc giảmchi phí, hạ giá thành và nâng cao hiệu quả hoạt động; việc đổi mới trang thiết bị,công nghệ ở các tổ chức nhà nước thường chậm hơn so với các đơn vị thuộc khuvực ngòai nhà nước Những yếu kém khu vực công có thể kéo dài mà không đượckhắc phục

- Tiết kiệm ngân sách Bất kể nước nào, trong bối cảnh phát triển rất nhiềuvấn đề xã hội chung được đặt ra yêu cầu nhà nước phải có trách nhiệm Điều đólàm nảy sinh mâu thuẫn giữa khỏan kinh phí bao cấp quá lớn cho dịch vụ côngvới ngân sách nhà nước luôn trong tình trạng căng thẳng, nhất là đối với các quốcgia đang trong điều kiện nền kinh tế còn ở mức phát triển thấp

Nền kinh tế thị trường phát triển trong những năm gần đây đã đưa đếnnhững bước tiến bộ mới trên nhiều lĩnh vực khoa học- công nghệ ngày càng pháttriển, nhu cầu sử dụng dịch vụ công trong dân cư ngày càng tăng lên và trở nênkhông đồng đều giữa các tầng lớp dân cư Cùng với những mâu thuẫn được đặt ranhư trên đã cho thấy, nhà nước không thể tiếp tục thực hiện việc cung ứng trựctiếp và bao cấp hoàn toàn đối với mọi dịch vụ công như trước kia mà phải cónhững bước chuyển giao thích hợp

- Năng lực bộ máy cung cấp dịch vụ Yêu cầu nâng cao chất lượng phục vụcủa người dân và khả năng cung cấp của nhà nước có hạn, tạo ra mâu thuẫn giữatrách nhiệm phải đảm bảo hàng hóa, cung ứng dịch vụ công với năng lực thực thicủa bộ máy nhà nước Khối lượng dịch vụ nhà nước phải cung ứng trực tiếp ngàycàng lớn, trong khi bộ máy nhà nước nói chung và hệ thống các đơn vị thực hiệncung ứng dịch vụ công nói riêng còn hạn chế về nhiều mặt, kể cả năng lực quản lý

Trang 32

điều hành đến việc tổ chức thực hiện cung ứng, nên nhìn chung chất lượng dịch

vụ thấp, khối lượng không bảo đảm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng Việcthu hút và mở rộng các thành phần kinh tế khác cùng tham gia sẽ tạo ra cơ hội chongười dân tiếp cận nhanh, dễ dàng với các dịch vụ chất lượng cao và giá rẻ

- Yêu cầu nâng cao tính cạnh tranh và chuyên nghiệp khu vực công Cácdịch vụ công trước kia được nhà nước bao cấp toàn bộ Việc bao cấp đã dẫn chocác cơ quan trực tiếp cung cấp dịch vụ ỷ lại, không chịu thực hiện các cải tiếntrong quá trình cung cấp dịch vụ, khiến cho các tổ chức công lập không có sứccạnh tranh, tính chuyên nghiệp của các cán bộ trong tổ chức công lập kém Tìnhhình đó dẫn đến cần phải thực hiện mở rộng hay xã hội hóa cho các thành phầnkinh tế ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công Với sự tham gia của khuvực ngoài nhà nước khiến cho các tổ chức công lập phải tham gia vào cơ chế cạnhtranh, thúc đẩy sự nâng cao tính chuyên nghiệp trong phục vụ, cung cấp dịch vụlàm cho các sản phẩm dịch vụ có chất lượng và có tính cạnh tranh cao Điều này

có lợi không chỉ đối với các đối tượng được cung cấp dịch vụ mà có lợi rất nhiềucho cơ quan nhà nước Nó giúp cho các cơ quan nhà nước học được cách quản lý

và cung cấp dịch vụ từ thị trường, cải cách tổ chức bộ máy, nhân sự nâng cao khảnăng trong điều kiện tình hình mới

- Bảo đảm tính công khai và minh bạch Việc mở rộng sự tham gia của cácthành phần kinh tế tham gia cộng đồng không chỉ có tác dụng tăng thêm số lượng,nâng cao chất lượng dịch vụ, mà còn tạo điều kiện cho người dân, các tổ chức xãhội tham gia kiểm tra, giám sát việc tổ chức cung ứng dịch vụ công, bảo đảm tínhcông khai, minh bạch

Những lý do trên đây cho thấy cần thiết phải đổi mới vai trò của Nhà nướctrong đó có vấn đề kinh tế-xã hội và đặc biệt trong vấn đề phát triển nguồn nhânlực Với các nội dung, khái niệm đã trình bày ở trên, đổi mới quản lý nhà nước vềphát triển nguồn nhân lực thực chất là xem xét lại vai trò của Nhà nước trong pháttriển nguồn nhân lực, được thể hiện qua những nội dung chính sau đây:

+ Vai trò định hướng phát triển nguồn nhân lực: thông qua việc ban hànhcác chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chương trình về phát triển nguồn nhânlực

Trang 33

+ Vai trò tạo khuôn khổ pháp luật và môi trường cho việc phát triển nguồnnhân lực: bao gồm việc ban hành các luật lệ, qui định, chính sách tác động tới cácngành, lĩnh vực liên quan đến phát triển nguồn nhân lực;

+ Vai trò can thiệp trực tiếp, điều tiết phát triển nguồn nhân lực: thông quatài trợ ngân sách, trực tiếp cung ứng dịch vụ xã hội cơ bản, các công cụ khuyếnkhích phát triển nguồn nhân lực;

+ Vai trò kiểm tra, giám sát và thanh tra thực thi chính sách pháp luật vềphát triển nguồn nhân lực

Trang 34

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI

VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

I TỔNG QUAN CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

Trong tiến trình 25 năm đối mới, quan điểm của Đảng và Nhà nước đối vớiphát triển nguồn nhân lực luôn thể hiện quá trình nhận thức ngày càng đầy đủ,đúng đắn về vị trí và vai trò của phát triển nguồn nhân lực Đại hội VI của ĐảngCộng sản Việt Nam (1986) đưa ra đường lối đổi mới đất nước, đặc biệt trong đónhấn mạnh vai trò quan trọng của nhân tố con người, phát huy nhân tố con người,gắn việc phát triển kinh tế với phát triển xã hội, lấy việc phục vụ con người làmmục đích cao nhất của mọi hoạt động

Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) thông qua Cương lĩnhxây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổnđịnh và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000, tư tưởng xuất phát điểm củaChiến lược này là đặt con người vào trung tâm, đó là chiến lược của dân, do dân

và vì dân, nhằm giải phóng và phát huy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, từng tậpthể lao động và cả dân tộc

Tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng về công cuộc xây dựng con ngườiViệt Nam phù hợp với sự phát triển của nhiệm vụ mới của đất nước, năm 1988,tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, con ngườiViệt Nam được xác định với những đức tính cần phải có như sau: “ có tinh thầnyêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ýthức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung; có lối sống lành mạnh, nếp sốngvăn minh; lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp; thường xuyên học tập,nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực” Do đó,trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường thì con người phải đáp ứng được yêucầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hộinhập kinh tế quốc tế

Muốn có sự phát triển về chất như vậy, đòi hỏi còn người phải được giáodục và đào tạo đầy đủ Đảng nhấn mạnh: “ Coi trọng giáo dục đạo lý làm người, ýthức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đạođức, lối sống, nếp sống văn hóa, lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý chí vươn lên

Trang 35

vì tương lai mỗi người và tiền đồ của đất nước; bồi dưỡng ý thức và năng lựcphát huy giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”18 Quanđiểm này thể hiện tính toàn diện và thống nhất trong chiến lược phát triển conngười của Đảng ta Chiến lược này phát triển theo hướng gắn con người với quátrình phát triển kinh tế và phát triển xã hội theo mục đích, muốn phát triển kinh tế,phát triển xã hội thì con người buộc phải phát triển và phát triển một cách toàndiện cả về thể chất, năng lực, tư duy và được đặt trong môi trường xã hội chủnghĩa.

Trong quan điểm về phát triển con người, nguồn nhân lực của Đảng, nộidung nổi trội đó là quan điểm xây dựng con người mới bảo đảm có sự thống nhấtgiữa lý tưởng và thực tiễn, giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích của cộng đồng, giữanghĩa vụ công dân và trách nhiệm xã hội, bảo đảm sự phát triển con người toàndiện cả về đạo đức, tài năng đến thể lực, trí lực và tâm lực Đặc biệt, đó phải làcon người có ý chí và bản lĩnh vươn lên trong cuộc sống, vừa bảo đảm lợi ích vàphá triển cho cá nhân, vừa đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Ở giai đoạn này, Đảng xác định văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xãhội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển, trong đó,con người được xác định là vị trí trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội Do

đó, con người chỉ có thể có được sự phát triển khi sống trên một nền tảng văn hóađậm đà bản sắc dân tộc

Bên cạnh văn hóa, Đảng cũng khẳng định vài trò của đạo đức xã hội để xác

định mục tiêu phát triển con người nằm trong chiến lược xây dựng “ lối sống có lý tưởng, lành mạnh, trung thực, sống bằng lao động của mình, có ý thức tôn trọng

và bảo vệ của công, chăm lo lợi ích của tập thể và của đất nước”19, khắc phục lốisống thực dụng Như vậy, vấn đề đạo đức và lý tưởng đã được Đảng xác địnhngày từ đầu thời kỳ đổi mới

Đại hội lần thứ VIII (1996) của Đảng chủ trương đẩy mạnh công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước “ lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”20 Nguồn lực con người là quý báunhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta khi nguồn nguồn lực vật chất

Trang 36

còn hạn hẹp Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thànhthạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáodục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại.

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) coi phát triển nguồn nhân lực làyếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, coiphát triển giáo dục đào tạo là động lực quan trọng, là điều kiện tiên quyết để pháttriển nguồn lực con người Để phát huy nhân tố con người, Đảng đã đưa ra lý luậncủa mình và các chiến lược phát triển tập trung đến các tầng lớp nhất định trong

xã hội Một trong những tầng lớp được Đảng chú trọng đó là thanh niên Hội nghịlần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa VII về công tác thanh niên đã

khẳng định: “công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của dân tộc, vì vậy, vấn đề thanh niên phải đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người”.

Đối với thanh niên, nhiệm vụ chiến lược của Đảng là đào tạo, giáo dục, bồidưỡng và tạo mọi điều kiện cho thanh niên phấn đấu để hình thành một thế hệ conngười mới có lý tưởng cao đẹp, có ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức, cósức khỏe và lao động giỏi, sống có văn hóa và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước vàtinh thần quốc tế chân chính

Trong phát triển con người và nguồn nhân lực, Đảng rất quan tâm vấn đềphát triển đội ngũ trí thức và nhân tài Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước cần phải nhận thức vàthực hiện một số nội dung sau:

- Một là, xây dựng môi trường và bảo đảm điều kiện hoạt động cho trí thức

- Hai là, xây dựng chính sách thu hút sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức.Cùng với chế độ ưu đãi về lương, điều kiện làm việc cho trí thức trong nước, Nhànước xây dựng chính sách để thu hút các trí thức Việt kiều tham gia công cuộcxây dựng, phát triển đất nước

- Ba là, đào tạo, bồi dưỡng trí thức, bao gồm cải cách giáo dục, nâng caochất lượng đào tạo đại học và sau đại học; đổi mới cơ chế quản lý, vận hành cáctrường đại học, các viện nghiên cứu; thực hiện tốt việc đưa sinh viên có triểnvọng đi đào tạo ở nước ngoài; bồi dưỡng đội ngũ trí thức trẻ và mở ra nhiều hìnhthức, huy động các nguồn lực xã hội tham gia bồi dưỡng, đào tạo lại để đội ngũ trí

Trang 37

thức đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

- Bốn là, xây dựng, củng cố và phát triển các hội trí thức nhằm nâng cao vaitrò của các tổ chức này trong việc tập hợp, đoàn kết, góp phần phát huy năng lựcchuyên môn, khoa học, nâng cao và cập nhật tri thức, giáo dục lòng yêu nước, ýthức trách nhiệm công dân của đội ngũ trí thức Tạo điều kiện và cơ chế để cáchội trí thức thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia tích cực vàoquá trình hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước

- Năm là, đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng đối với trí thức, trước hết lànâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp về vai trò, vị trí của trí thứccũng như của công tác trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X

về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước cũng đã nhìn thẳng vào những yếu kém, hạn chế trong công tác tríthức, rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết, đề ra hệ thống đồng bộ nhữngnhiệm vụ, giải pháp trong công tác trí thức của Đảng và Nhà nước nhằm xâydựng, phát triển một đội ngũ trí thức Việt Nam hiện đại ngang tầm với yêu cầunhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới

Nối tiếp quan điểm về con người và nguồn lực con người đã được khẳngđịnh từ các kỳ Đại hội, Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định vai tròchiến lược của nhân tố con người, đồng thời xác định một số nội dung mới về vấn

đề này:

- Thứ nhất, các văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng thể hiện sự điều chỉnh

đặc trưng về con người trong xã hội xã hôi chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xâydựng, đồng thời chỉ ra cơ chế để phát huy tối đa nhân tố con người Đặc trưng đóđược thể hiện cụ thể trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) phù hợp với ước vọng của mỗicon người, đó là: “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiệnphát triển toàn diện” Để hướng tới mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam trở thànhmột nước công nghiệp theo hướng hiện đại và thực hiện được mục tiêu phát triểncon người mà Cương lĩnh bổ sung và phát triển đề ra, Đảng ta nêu ra quan điểm: “

Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”.

Trang 38

- Thứ hai, đặc trưng cơ bản nhất của thời đại ngày nay là xu hướng toàn cầu

hóa đang ngày càng gia tăng, cuốn hút ngày càng nhiều quốc gia vào dòng chảycủa nó Trong lĩnh vực kinh tế, sự thâm nhập lẫn nhau về kinh tế giữa các quốcgia đã tạo ra nhiều mối quan hệ mới, tạo ra những cơ hội cho một số quốc gia này,song lại là thách thức với những quốc gia khác Trên phạm vi toàn cầu, các dòngđầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) ngày càng đổ về những nước có lợi thế về trithức và tay nghề cao của nguồn nhân lực Chính vì vậy, khả năng cạnh tranh củamỗi nước ngày càng được xác định nhiều hơn bởi chất lượng nguồn lực conngười, tri thức, khoa học, công nghệ là những cái được áp dụng trong quá trìnhsản xuất Trong quá trình toàn cầu hóa, nguồn nhân lực của các quốc gia có sựthâm nhập kinh tế lẫn nhau, phải có được một trình độ tương đương về khoa học,công nghệ, về học vấn và trình độ chuyên môn, cũng như về kỹ năng sản xuất và

vì vậy, nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và tay nghề mới là lợi thế cạnhtranh trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội

Để đạt được mục tiêu tổng quát đã đề ra tại Đại hội XI là: “đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”, Đảng ta đã

xác định những khâu đột phá tạo sự thay đổi mạnh mẽ, căn bản, tạo động lực tolớn thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển nhằm thực hiện thành công chiến lượcphát triển kinh tế-xã hội từ nay đến năm 2020 Một trong ba khâu đột phá chiếnlược mà Đảng ta xác định là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhânlực chất lượng cao Nói đến xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, về thựcchất là nói đến việc xây dựng và phát huy sức mạnh của đội ngũ trí thức Đội ngũtrí thức luôn là lực lượng nòng cốt trong sáng tạo và truyền bá tri thức, với sự pháttriển như vũ bão của cách mạng khoa học, công nghệ hiện nay, giá trị của tri thức

và vai trò của đội ngũ trí thức ngày càng được đề cao và được coi là nguồn lựcquan trọng đặc biệt, nguồn lực này phản ánh sức mạnh của mỗi quốc gia trongchiến lược phát triển đất nước và cạnh tranh toàn cầu Vì vậy, chủ trương pháttriển mạnh mẽ nguồn nhân lực chất lượng cao được đề ra tại Đại hội Đảng lần thứ

XI là sự tiếp tục thực hiện quan điểm chỉ đạo mà Hội nghị Ban Chấp hành Trungương lần thứ 7, khóa X nêu ra tại Nghị quyết 27-NQ/TƯ là luôn coi trí thức Việt

Trang 39

Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; xây dựng đội ngũ tríthức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước,nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chínhtrị; đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững Có thể nóirằng đội ngũ trí thức Việt Nam vững mạnh sẽ là lực lượng nòng cốt thực hiện chủtrương có vai trò định hướng rất quan trọng trong thời kỳ mới đến năm 2020 đượcthể hiện trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ XI của Đảng, đó là: “pháttriển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”.

Gần đây, ngày 4/11/2013, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (Nghị quyết

29 –NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đã nhấnmạnh “đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từchủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất ngườihọc” Nghị quyết cũng đã đề ra 9 giải pháp toàn diễn để đổi mới chất lượng giáodục và đào tạo trong thời gian tới

Cụ thể hóa các chủ trương và đường lối của Đảng, Nhà nước ta đã ban hànhnhiều chính sách liên quan đến phát triển nguồn nhân lực như: các chính sách vềphát triển giáo dục, các chính sách về đào tạo nghề cho người lao động, các chínhsách tạo dựng, tìm kiếm việc làm và sử dụng lao động, các chính sách bảo vệchăm sóc sức khỏe nhân dân, các chính sách về phát triển văn hóa-xã hội và nângcao thể lực cho người dân…Trong phần III sẽ trình bày cụ thể hơn các chính sáchnày

II THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI GIAN VỪA QUA

Về mặt số lượng, Việt Nam đang có lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào, thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế Việt Nam đang ở thời kỳ “dân số

vàng”, theo đó số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm tỷ trọng caotrong tổng dân số Dân số trong độ tuổi lao động (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15-

55 tuổi) chiếm khoảng 65,3% dân số năm 2012, tốc độ gia tăng hàng năm vàokhoảng 2% Tuy nhiên, theo quy luật nhân khẩu học của một quốc gia, thời kỳ

“dân số vàng” sẽ chỉ kéo dài khoảng 30-40 năm và tiếp nối là thời kỳ dân số già,nếu không tận dụng được thời kỳ này đề phát triển nền kinh tế, gia tăng thu nhập,củng cố hệ thống an sinh xã hội thì tình hình sẽ ngày càng khó khăn hơn Tính đến

Trang 40

ngày 1/1/2013, cả nước có 52,79 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng laođộng với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 76,7% Mặc dù quá trình đô thị hoáđang diễn ra nhanh chóng ở nước ta, hiện vẫn còn 69,5% lực lượng lao động củanước ta tập trung ở khu vực nông thôn (TCTK, 2013).

Chất lượng nguồn nhân lực của nước ta thời gian qua đã được nâng lên đáng kể nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế và xã hội.

Trình độ học vấn của lực lượng lao động (LLLĐ) được cải thiện khá tốt, là cơ sở

để tiến tới phát triển một lực lượng lao động có tay nghề trong tương lai Tỷ trọnglao động tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông chiếm phần lớn trongLLLĐ hiện nay, tăng tương ứng 0,4 và 8,1 điểm phần trăm trong giai đoạn 2001 -

Mặc dù đã có những tiến bộ, nhìn chung chất lượng lao động chưa đáp ứngđược yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội, đặc biệt so với mục tiêu phấn đấu trở

Ngày đăng: 24/04/2020, 13:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w