Bùi Xuân Cậy đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình làm luậnvăn này.Tác giả xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô trong Bộ mônĐường Bộ, trong Khoa sau đại học trường Đại học Gia
Trang 1NguyÔn v¨n tuÖ
NGHI£N CøU c¸c GI¶I PH¸P Tæ CHøC GIAO TH¤NG
§Ó N¢NG CAO HIÖU QU¶, AN TOµN GIAO TH¤NG TR£N §ÞA BµN thÞ x· b¾c k¹n, tØnh b¾c k¹n
CHUY£N NGµNH: X¢Y DùNG §¦êNG ¤ T¤ & §¦êNG Thµnh phè
M· sè: 60.58.30
LUËN V¡N TH¹C Sü Kü THUËT
Gi¸o VI£N H¦íNG DÉN: PGS.TS BïI XU¢N CËY
Hµ NéI – 2013 2013 LỜI CẢM ƠN
Trang 2Lời đầu tiên tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáoPGS.TS Bùi Xuân Cậy đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình làm luậnvăn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô trong Bộ mônĐường Bộ, trong Khoa sau đại học trường Đại học Giao thông vận tải đã tậntình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian theo học, thực hiện
và hoàn thành luận văn, cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, người thân
và các đồng nghiệp trong thời gian làm luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệttình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rấtmong nhận được những đóng góp quí báu của quý thầy cô và các bạn./
Trang 3BẮC KẠN 5
1.1 Tình hình chung thị xã Bắc Kạn 5
1.1.1 Giới thiệu tổng quan thị xã Bắc Kạn 5
1.1.2 Đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội 9
1.2 Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống GTVT thị xã Bắc Kạn 12
1.2.1 Vai trò của Giao thông vận tải trong phát triển kinh tế xã hội 12
1.2.2 Hệ thống đường giao thông thị xã Bắc Kạn 14
1.2.3 Phương tiện giao thông 18
1.2.4 Vận tải đường bộ 19
1.2.5 Đánh giá chung về hệ thống giao thông vận tải thị xã Bắc Kạn 20
1.3 Hiện trạng môi trường 28
1.3.1 Tổng quan các vấn đề môi trường ở thị xã Bắc Kạn 28
1.3.2 Hiện trạng về cơ chế chính sách quản lý môi trường 31
1.3.3 Hiện trạng về tác động môi trường do các hoạt động GTVT 31
1.3.4 Hiện trạng về các biện pháp bảo vệ môi trường và giảm thiểu tác động môi trường 32
1.4 Hiện trạng tai nạn giao thông đường bộ xảy ra trên địa bàn 34
1.4.1 Tình hình chung về tai nạn giao thông trên địa bàn 34
1.4.2 Hiện trạng một số điểm có nguy cơ xảy ra tai nạn giao thông 38
Chương 2 CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 42
2.1 Các vấn đề về tổ chức giao thông 42
2.1.1 Mục đích của tổ chức giao thông 42
2.1.2 Các biện pháp tổ chức giao thông tầm vĩ mô và chiến lược 43
2.1.3 Các biện pháp tổ chức giao thông bằng phân làn phân luồng 51
2.1.4 Các biện pháp tổ chức giao thông tại nút 53
2.1.5 Tổ chức giao thông sử dụng các trang thiết bị trên đường 59
Trang 42.2 Tổ chức hệ thống giao thông công cộng 67
2.2.1 Vai trò của hệ thống giao thông công cộng 67
2.2.2 Hệ thống xe buýt 68
2.2.3 Hệ thống vận tải công cộng bánh sắt 68
2.3 Hệ thống cơ sở dữ liệu về tai nạn giao thông 70
2.3.1 Hệ thống số liệu thống kê của các nước Châu Âu 70
2.3.2 Hệ thống dữ liệu bản đồ số hóa tai nạn của Châu Âu 70
2.3.3 Kết nối cơ sở dữ liệu đường, giao thông và tai nạn 71
2.3.4 Hệ thống cơ sở dữ liệu tai nạn giao thông tại Việt Nam 72
2.4 Cơ cấu tổ chức về an toàn giao thông tại Việt Nam 76
2.5 Các hướng dẫn về an toàn giao thông 78
Chương 3 ÁP DỤNG CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC GIAO THÔNG Ở THỊ XÃ BẮC KẠN 80
3.1 Nguyên nhân mất an toàn giao thông 80
3.2 Các giải pháp giảm thiểu tai nạn giao thông đường bộ địa bàn Thị xã Bắc Kạn 84
3.2.1 Xây dựng hạ tầng đồng bộ và an toàn 84
3.2.2 Đảm bảo an toàn phương tiện 86
3.2.3 Tăng cường công tác cưỡng chế giao thông 87
3.2.4 Phát triển hệ thống giáo dục và văn hoá về an toàn giao thông 89
3.2.5 Tăng cường hệ thống cứu hộ, cứu nạn và cấp cứu y tế 92
3.2.6 Giải pháp đối với người điều khiển phương tiện 93
3.2.7 Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 5Bảng 1.2: Thống kê số lượng phương tiện trên địa bàn 18
Bảng 1.3 : Khối lượng vận chuyển hành khách, hàng hoá đường bộ 19
Bảng 1.4: Thống kê tình hình tai nạn giao thông đường bộ 34
Bảng 1.5: Thống kê địa bàn xảy ra tai nạn giao thông 35
Bảng 1.6: Thống kê tuyến đường xảy ra tai nạn giao thông 36
Bảng 1.7: Thống kê phương tiện liên quan đến tai nạn 37
Bảng 2.1: Thể hiện sự khác biệt trong con số tai nạn giao thông đường bộ trong năm 2009 75
Trang 6Hình 1.2: Một phần của thị xã Bắc Kạn 12
Hình 1.3: Bản đồ mạng lưới đường thị xã Bắc Kạn 14
Hình 1.4: Phụ huynh đưa con đi học không chấp hành quy định đội mũ bảo hiểm tại trường tiểu học Đức Xuân 22
Hình 1.5: Ô tô đỗ trên vỉa hè và dưới lòng đường trước cổng Sở Văn hóa, thể dục và thể thao 23
Hình 1.6: Hè đường Trường Chinh bị lấn chiếm làm nơi bán nước 25
Hình 1.7: Sạt lở đường trên QL3B 30
Hình 1.8: Nước Sông Cầu dâng cao làm ngập Đường Thanh Niên 30
Hình 1.9a: Hiện trường vụ tai nạn 38
Hình 1.9b: Hiện trường vụ tai nạn 39
Hình 1.9c: Hiện trường vụ tai nạn 40
Hình 1.9d: Hiện trường vụ tai nạn 40
Hình 2.1: Khu đô thị mới tích hợp văn phòng, trung tâm thương mại, trường học tại Mỹ Đình Hà Nội 43
Hình 2.2: Trung tâm phát thanh của kênh VOV giao thông tại Hà Nội 45
Hình 2.3: Một loại xe buýt hiện đại 47
Hình 2.4: Cầu vượt cho người đi bộ tại Hà Nội 50
Hình 2.5: Phân làn riêng cho ôtô và xe máy tại Hà Nội 52
Hình 2.6: Bố trí phân luồng giao thông bằng cách tổ chức đường một chiều tại một khu vực ở TP HCM 53
Hình 2.7: Nút giao thông kênh hóa 54
Trang 7Hình 2.9: Bố trí làn rẽ trái trực tiếp từ đường chính và làn rẽ trái + đi thẳng
bán trực tiếp từ đường phụ bằng dải phân cách giữa 56
Hình 2.10: Bố trí đoạn chuyển làn ở các nhánh đường vào nút giao thông kênh hoá 56
Hình 2.11: Các hình dạng đảo khác nhau 57
Hình 2.12: Các hình thức tổ chức rẽ trái khác 58
Hình 2.13: Điều khiền giao thông bằng làn sóng xanh 59
Hình 2.14: Hình thức đỗ xe song song và xén vỉa hè tổ chức đỗ xe 61
Hình 2.15: Hình thức đỗ xe xiên góc 62
Hình 2.16: Hình thức đỗ xe vuông góc 62
Hình 2.17: Giao thông với tỷ lệ xe máy lớn ở Hà Nội 63
Hình 2.18: Tai nạn xe máy chiếm tỷ lệ cao và nghiêm trọng 64
Hình 2.19: Ùn tắc do chen lấn không nhường đường 65
Hình 2.20: Đường vành đai TP Hà Nội đã và đang có kế hoạch xây dựng .65
Hình 2.21: Bịt các ngã tư, tổ chức xe chạy vòng theo hình xuyến dẹt tại Hà Nội 66
Hình 2.22: Mô hình các yếu tố hình học trong hệ thống tọa độ và điểm nút của mạng lưới đường (ASB-Ordnungssystem, 2005) của CHLB Đức 71
Hình 2.23: Cơ cấu tổ chức phát triển an toàn giao thông toàn diện 77
Hình 3.1: Bố trí hệ thống chiếu sáng đầy đủ để tăng cường an toàn giao thông về đêm 84
Trang 8Hình 3.3: Tuyên truyền luật giao thông trong trường học 90
Hình 3.4: Diễu hành tuyên truyền an toàn giao thông 2012 91
Hình 3.5: Cảnh mưa ngập đường phố Bắc Kạn năm 2008 92
Hình 3.6: Cảnh sát giao thông xử phạt chủ phương tiện ôtô đỗ, dừng sai quy định trên đường Phùng Chí Kiên 93
Hình 3.7: Công an thị xã Bắc Kạn kiểm tra nồng độ cồn của người tham gia giao thông 94
Hình 3.8: Lực lượng CSGT và TTGT trao đổi nghiệp vụ trước khi thực hiện qui trình tuần tra, kiểm soát 95
Hình 3.9: Bố trí đảo tròn ở ngã tư khách sạn Bắc Kạn 96
Hình 3.10: Bố trí đèn tín hiệu (Trường Chinh – Hùng Vương) 96
Hình 3.11: Điều tiết giao thông bằng sơn kẻ đường 97
Hình 3.12: Hạn chế tốc độ tại nút giao nguy hiểm 97
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
- Nâng cao hiệu quả, an toàn giao thông (ATGT) là một bộ phận quantrọng của giao thông vận tải (GTVT), tính hiệu quả, an toàn giao thông đã trởthành mối quan tâm hàng đầu trong các dự án xây dựng đường ô tô ở ViệtNam Cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng và đảm bảo an toàn giao thông đểtạo tiền đề, làm động lực phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hóa - hiện đại hóa, đáp ứng tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc
tế, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia
- Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Chính phủ, hiệu quảcủa việc của giao thông và công tác ATGT ở nước ta đã đạt được một sốthành tựu nhất định Chỉ trong 5 năm gần đây (từ năm 2007 đến năm 2012)con số tai nạn và người chết hàng năm giảm hơn trước, các tuyến đường đangđược nâng cấp và xây dựng mới ngày càng hiện đại Tuy nhiên có sự daođộng lên xuống trong xu hướng phát triển của số lượng người chết vì tai nạngiao thông kể từ năm 2002 đến nay Con số tử vong hàng năm giảm nhẹkhoảng 16% (từ 13,186 người chết trong năm 2002 đến 11,094 người chếttrong năm 2009) Điều này thể hiện sự khác biệt trong cấu trúc tai nạn củangười chết và người bị chấn thương Thêm vào đó, các giải pháp được đề xuấtchưa phát huy đầy đủ hiệu quả Vì lý do đó, cần có các giải pháp lắp đặt cácthiết bị an toàn chủ động và bị động trên các phương tiện giao thông Xâydựng mới những con đường cao tốc, cấm xe máy lưu thông trên một số tuyếncao tốc, trang bị quần áo và mũ bảo hiểm cho người lái xe máy và người đi xeđạp Đẩy mạnh các giải pháp cưỡng chế, giám sát và quản lý tốc độ
- Tỉnh Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa vùng ĐôngBắc có tỉnh lỵ là thị xã Bắc Kạn Thị xã Bắc Kạn ngày nay được thành lập
Trang 10ngày 16 tháng 7 năm 1990 trên cơ sở thị trấn Bắc Kạn thuộc huyện BạchThông, tỉnh Bắc Thái Ngày 01 tháng 01 năm 1997, tỉnh Bắc Kạn chính thứcđược tái lập; thị xã Bắc Kạn trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Bắc Kạn Sau hơn 15năm tái lập tỉnh, thị xã Bắc Kạn có tốc độ đô thị hoá rất nhanh Hàng loạt cáccông trình trụ sở, trường học, bệnh viện, đường giao thông và các kết cấu hạtầng được xây dựng Dân số của Thị xã cũng tăng rất nhanh do tăng về cơhọc Khu trung tâm đô thị đã có hàng trăm cơ quan, đơn vị, xí nghiệp có trụ
sở xây dựng Thị xã cũng là nơi tập trung các trụ sở của các cơ quan đầu nãocủa tỉnh, trung tâm vui chơi, thể thao của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế– xã hội trên phạm vi toàn tỉnh Bắc Kạn, là đô thị hạt nhân thúc đẩy lan tỏa đểtạo ra năng lực tăng trưởng cao cho các địa phương khác trong tỉnh, đồng thờithể hiện diện mạo chung của tỉnh miền núi Có tốc độ tăng trưởng và pháttriển cao, toàn diện bao gồm các ngành: Công nghiệp chế biến, du lịch, dịch
vụ thương mại, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đầu mối Là vùng sinh thái thiên nhiên,vùng bảo tồn văn hóa – lịch sử bền vững của cộng đồng các dân tộc vùng núiphía đông bắc và là vùng trung tuyến, hậu phương vững chắc đảm bảo anninh quốc phòng cho vùng biên giới phía Bắc
Ngày 29 tháng 12 năm 2012, thị xã Bắc Kạn đã được công nhận là đô thịloại III và phấn đấu trở thành thành phố Bắc Kạn trực thuộc tỉnh vào năm
2015, đô thị loại II vào giai đoạn 2020 - 2030 Hiện Thị xã có 59.835 người,(dân số thường trú 44.739; dân số tạm trú quy đổi là: 15.096 người); trong đókhu vực nội thị có 24.942 người Dự báo, đến năm 2015 Thị xã là 48 nghìnngười và đến năm 2020 là 60 nghìn người
Tuy vậy, thị xã Bắc Kạn có tình hình giao thông vẫn diễn biến phức tạp,mạng lưới đường còn nhiều bất cập, số vụ tại nạn giao thông (TNGT) đặc biệtnghiêm trọng còn xảy ra nhiều, nhất là TNGT có liên quan đến xe ôtô chởkhách, xe máy theo thống kê trên địa bàn trong năm 2012
Trang 11Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả khai thác giao thông và xác định cácnguyên nhân trọng yếu và tìm ra giải pháp hạn chế TNGT là một đòi hỏinhằm cải thiện tình hình tai nạn, ùn tắc giao thông.
Từ thực tế này, tác giả lựa chọn chủ đề “Nghiên cứu các giải pháp tổ chức giao thông để nâng cao hiệu quả, an toàn giao thông trên địa bàn thị
xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài thực hiện trong Luận văn thạc sĩ.
Nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc làm sao để nâng cao hiệu quả khai thác
và xác định các nguyên nhân và đưa ra giải pháp khắc phục giảm thiểuTNGT, đặc biệt nghiên cứu tập trung cụ thể cho địa bàn thị xã Bắc Kạn
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là xây dựng phương pháp thực hiện nhằm nâng caohiệu quả giao thông, xác định các nguyên nhân và đưa ra các giải pháp hạnchế giảm thiểu tình hình tai nạn, ùn tắc giao thông cho khu vực thị xã BắcKạn
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Trong phạm vi luận văn này tác giả nghiên cứu một số giải pháp tổchức giao thông và các biện pháp nâng cao hiệu quả an toàn giao thông trênđịa bàn thị xã Bắc Kạn Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những nhận xét,đánh giá về công tác tổ chức nhằm giảm thiểu tai nạn, ùn tắc giao thông tạimột số địa phương trên cả nước để có cơ sở khách quan cho việc nghiên cứu
- Nghiên cứu kinh nghiệm các biện pháp tổ chức giao thông của cácnước trong khu vực và các tỉnh thành ở Việt Nam từ đó đưa ra các giải pháp
áp dụng cho thị xã Bắc Kạn
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra, khảo sát hiện trạng, thu thập số liệu từ tài liệutham khảo
Đánh giá, phân tích, xử lý tài liệu thu thập được, rút ra những nhận xét
có ích cho việc xác định phương hướng giải quyết
Phương pháp kế thừa kết quả của các đề tài nghiên cứu khoa học đãđược thực hiện, các dự án có liên quan đã và đang triển khai
Tổng hợp kết quả phân tích, đối chiếu kinh nghiệm trong và ngoài nước,
đề xuất giải pháp
Phương pháp so sánh
Trang 13CHƯƠNG 1 HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG GIAO THÔNG THỊ XÃ BẮC KẠN 1.1 Tình hình chung thị xã Bắc Kạn
1.1.1 Giới thiệu tổng quan thị xã Bắc Kạn
Về tỉnh Bắc Kạn: Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa
vùng Đông Bắc, có tọa độ từ 21o5 đến 23o45 vĩ độ Bắc và 105o30 đến 106o15kinh độ Đông, phía Đông giáp Lạng Sơn, phía Tây giáp Tuyên Quang, phíaNam giáp Thái Nguyên, phía Bắc giáp Cao Bằng Tỉnh có vị trí quan trọng vềmặt kinh tế và an ninh quốc phòng; với 80 % diện tích tự nhiên là đồi núi, độcao trung bình 550-600 m so với mực nước biển, địa hình khá phức tạp, bịchia cắt bởi nhiều dồi núi cao có độ dốc lớn, tạo bởi cánh cung Ngân Sơn –Yên Lạc và cánh cung sông Gâm và còn là vùng đầu nguồn của nhiều sôngsuối Sự chia cắt địa hình đó hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu mang lại khảnăng thích nghi đa dạng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi tạo điều kiện chophát triển nông lâm sản hàng hoá
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn là 4.868,41 km2, sốđơn vị hành chính của tỉnh bao gồm 01 thị xã và 07 huyện (Thị xã Bắc Kạn,các huyện: Chợ Mới, Chợ Đồn, Bạch Thông, Ngân Sơn, Ba Bể, Na Rì, PácNặm), với tổng số 122 xã, phường, thị trấn
Bắc Kạn là tỉnh nằm trên quốc lộ 3 đi từ Hà Nội lên Cao Bằng trục quốc lộ quan trọng của vùng Đông Bắc, đồng thời nằm giữa các tỉnh cótiềm năng phát triển kinh tế lớn Chính quốc lộ 3 chia lãnh thổ thành 2 phầnbằng nhau theo hướng Nam - Bắc, là vị trí thuận lợi để Bắc Kạn có thể dễdàng giao lưu với tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn là các tỉnh giáp Trung Quốc ởphía Bắc, với tỉnh Thái Nguyên về Hà Nội cũng như các tỉnh của vùng Đồngbằng sông Hồng ở phía Nam
Trang 14-Vị trí của tỉnh có địa hình núi cao, lại ở sâu trong nội địa nên gặp nhiềukhó khăn trong việc trao đổi hàng hoá với các trung tâm kinh tế lớn cũng nhưcác cảng biển Mạng lưới giao thông chủ yếu trong tỉnh chỉ là đường bộnhưng chất lượng đường lại kém Chính vị trí địa lí cũng như những khó khăn
về địa hình đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế xã hội củatoàn tỉnh
Về mặt an ninh quốc phòng, Bắc Kạn là một trong những tỉnh từng là căn
cứ cách mạng của Việt Nam
Về thị xã Bắc Kạn:
Trang 15Hình 1.1: Bản đồ hành chính thị xã Bắc Kạn
* Vị trí địa lý: Thị xã Bắc Kạn là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bắc Kạn, códiện tích tự nhiên 13.688ha, gồm 08 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 04phường: Nguyễn Thị Minh Khai, Sông Cầu, Đức Xuân, Phùng Chí Kiên và
04 xã Huyền Tụng, Dương Quang, Nông Thượng, Xuất Hoá; nằm trong giới
Trang 16hạn tọa độ địa lý 2208'5'' đến 2209'23''vĩ độ Bắc từ 105049'30''đến105051'15''kinh độ Đông.
+ Phía Bắc: giáp xã Cẩm Giàng, Hà Vị - huyện Bạch Thông;
+ Phía Nam giáp xã Thanh Vân, Hoà Mục - huyện Chợ Mới
+ Phía Đông giáp xã Mỹ Thanh - huyện Bạch Thông
+ Phía Tây giáp xã Quang Thuận, Đôn Phong - huyện Bạch Thông.Thị xã Bắc Kạn cách Hà Nội hơn 160km, tên Bắc Kạn theo tiếng dân tộcTày (người Tày là dân tộc đông nhất ở Bắc Kạn) là Pác Cạm, nghĩa là cửangõ Thị xã có tuyến Quốc lộ 3 chạy qua, nối liền với Cao Bằng và TháiNguyên, nhánh quốc lộ 3B nối liền với Lạng Sơn và Quốc lộ 279 nối liền vớitỉnh Tuyên Quang và tỉnh Lạng Sơn
Tổng dân số toàn thị xã tính đến 8/2012 là 59.835 người
* Địa hình: Thị xã Bắc Kạn là thung lũng lòng chảo nằm theo hai bờ sôngCầu xung quanh đều có các dãy núi bao bọc, hướng dốc từ Tây sang Đông
Độ cao trung bình từ 150 đến 200m Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Nặm Dất (xãXuất Hóa) cao 728m, núi Khau Nang (xã Dương Quang) cao 746m Nhìnchung thị xã Bắc Kạn bao gồm ba loại địa hình chính:
- Địa hình núi đá vôi tập trung ở phía Nam xã Xuất Hóa, có địa hình phứctạp
- Địa hình vùng núi đất phân bố hầu hết ở các xã, phường, độ cao từ150m đến 160m so với mực nước biển Thành phần đá mẹ chủ yếu là sa kết,bột kết, sét kết, rải rác có khu vực thành phần đá mẹ có nguồn gốc Mác mahoặc biến chất
- Địa hình thung lũng: Hầu hết các phường nội thị, là khu vực có địa hìnhtương đối bằng phẳng
Trang 17* Khí hậu: Thị xã Bắc Kạn chịu ảnh hưởng chung của khí hậu miền núiphía Bắc Việt Nam Được hình thành từ một nền nhiệt đới cao của đới chítuyến và sự thay thế của các hoàn lưu lớn theo mùa, kết hợp với điều kiện địahình nên mùa đông (từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau) giá lạnh,nhiệt độ không khí thấp, trời khô hanh, có sương muối; mùa hè (từ tháng 4đến tháng 9), nóng ẩm mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm 21,8oC; cao nhất27,60C; thấp nhất 14,70C.
Lượng mưa trung bình năm 1.436 mm, tập trung vào các tháng 7,8,9,chiếm đến 80% lượng mưa cả năm Lượng mưa ít nhất vào tháng 12 và tháng1
Tổng số giờ nắng trung bình 1.540-1.750 giờ/năm
Độ ẩm không khí trung bình 83%, cao nhất 89% vào tháng 3 và tháng 4,thấp nhất 80% vào tháng 11 và tháng 12
Hướng gió cũng thay đổi theo mùa rõ rệt và phù hợp với sự thay đổi củahoàn lưu gió mùa nhưng do vướng núi nên tốc độ gió nhỏ hơn so với vùngđồng bằng Bắc Bộ Gió phụ thuộc vào địa hình rất nhiều, hướng gió chính làĐông Bắc – Tây Nam Tốc độ gió mạnh nhất là gió Tây Nam 30m/s, tốc độgió trung bình là 1,3m/s
Độ ẩm không khí tương đối của các tháng trong năm từ 79 ÷ 86%
Số giờ nắng trung bình trong năm là 1554,7 giờ
Lượng bốc hơi trong năm lớn nhất là 863mm, nhỏ nhất 710mm trung bình771mm
Số ngày sương mù trung bình trong năm 87,1 ngày
Số ngày mưa phùn trong năm trong năm 23,5 ngày
Số ngày dông trung bình trong năm là 47,3 ngày
Trang 18* Thủy văn: Thị xã Bắc Kạn chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn sông Cầu vàcác suối chảy qua địa bàn thị xã như suối Nông Thượng, suối Thị Xã, suối PáDanh, suối Nậm Cắt, suối Xuất Hóa Sông suối có độ dốc bị bồi lắng do đất
đá ở thượng nguồn trôi về làm cho dòng chảy của sông, suối bị thu hẹp lại,mùa mưa gây úng ngập ở hai bên bờ sông, suối Sông Cầu chảy qua địa bàntỉnh Bắc Kạn dài 100 km và qua địa phận thị xã Bắc Kạn dài khoảng 20km,chiều rộng trung bình 40m Sông Cầu là sông chi phối chế độ thủy văn của thị
xã Bắc Kạn
- Suối Pá Danh có diện tích lưu vực 2,8km2, chiều dài suối 2,7km
- Suối Nông Thượng có diện tích lưu vực 14,2km2, chiều dài suối 4,7km
- Suối Bắc Kạn (suối Thị Xã) có diện tích lưu vực 2,3km2, chiều dài suối2,8km
- Suối Nặm Cắt (sông lạnh) có diện tích lưu vực 110km2 chiều dài nhánhchính suối 25km
1.1.2 Đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Từ năm 1997 đến nay, cùng với xu thế chung đổi mới và mở cửa của cảnước, sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội thị xã Bắc Kạn đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể trên mọi lĩnh vực: qui mô nền kinh tế từng bước lớn mạnh,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch đáng kể theo hướng tiến bộ, cơ sở hạ tầng bướcđầu được cải thiện, các lĩnh vực văn hóa xã hội và đời sống vật chất, tinh thầncủa nhân dân từng bước được nâng cao Nền kinh tế thị xã Bắc Kạn tuy còngặp nhiều khó khăn song đang từng bước phát huy các thế mạnh về phát triểncông nghiệp, du lịch và kinh tế rừng v.v Tiềm lực kinh tế từng bước đượccủng cố và phát triển, đang tạo những nền tảng cơ bản cho giai đoạn phát triểntiếp theo
Trang 19Đánh giá tình hình tăng trưởng kinh tế của thị xã Bắc Kạn được chia làm 3giai đoạn: giai đoạn I từ 1997 đến 2000; giai đoạn II từ 2001 đến 2005 và giaiđoạn III từ năm 2006 đến nay
- Thời kỳ 1997-2000 Tăng trưởng kinh tế chung toàn nền kinh tế đạt bình
quân 9,84%/năm, trong đó công nghiệp- xây dựng tăng 15,02%/năm, khu vựcnông nghiệp tăng 5,07%/năm, dịch vụ tăng 12,62%
- Thời kỳ 2001-2005 Tăng trưởng kinh tế chung đạt bình quân 12,85%,
trong đó công nghiệp- xây dựng tăng 27,87%, khu vực nông nghiệp tăng5,89%, dịch vụ tăng 16,13% Năm 2005, tổng GDP toàn tỉnh (giá SS 1994)đạt 733,4 tỉ đồng, GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) năm 2005 đạt3,53 triệu đồng, bằng 34% mức bình quân chung của cả nước
- Thời kỳ 2001-2005: Tốc độ tăng trưởng GDP chậm lại, tốc độ tăng
trưởng GDP bình quân có 11,43%, năm 2012 đạt tốc độ tăng trưởng đạt10,47%
Từ tốc độ tăng trưởng GDP bình quân ba giai đoạn trên cho thấy nền kinh
tế thị xã Bắc Kạn tăng trưởng thiếu tính bền vững, chất lượng tăng trưởngkhông cao Lý do chủ yếu cả sự tăng trưởng thiếu tính bền vững là do trướcnăm 2005 nền kinh tế thị xã Bắc Kạn tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào ngànhcông nghiệp, trong đó chủ yếu là công nghiệp khai khoáng
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Về cơ cấu ngành kinh tế:
Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp trong GDP giảm từ 61,6% năm 1997xuống còn 58,24% năm 2000 (giảm 3,36%) và 41,96% năm 2005 (giảm16,28% so với năm 2000) và đến năm 2011 tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp
Trang 20trong GDP lại chiếm 45,04%; tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ9,6% năm 1997 lên 15,79% năm 2000 và đến năm 2012 cũng mới chỉ chiếm19,58%; tỷ trọng ngành dịch vụ tăng nhanh từ 25,97% năm 2000 tăng lên36,21% năm 2005 (tăng 10,24% so với năm 2000) và năm 2008 đạt 38,07%,năm 2012 lại chỉ chiếm 35,39%.
- Cơ cấu nội bộ từng ngành: Trong sản xuất nông, lâm nghiệp chưa có sự
chuyển dịch mạnh, trong hơn 10 năm qua tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trồngtrọt vẫn chiếm khoảng 70- 73%, tỷ trọng chăn nuôi có tăng lên nhưng khôngnhiều cũng chỉ chiếm có 25-26%; Lâm nghiệp tuy là ngành có thế mạnh củaBắc Kạn nhưng đến năm 2011ngành lâm nghiệp cũng mới chỉ đóng góp có22% trong tổng giá trị sản xuất khu vực nông, lâm ngư nghiệp Trong sảnxuất ngành công nghiệp, tỷ trong ngành công nghiệp khai khoáng vẫn chiếm
tỷ trọng lớn, ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng không lớn
- Cơ cấu thành phần kinh tế Có sự chuyển đổi theo hướng đa dạng hóa các thành phần; kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỉ trọng ngày càng lớn.
- Cơ cấu lao động Quá trình phát triển kinh tế đã tác động đến chuyển dịch
cơ cấu lao động và phân công lại lao động xã hội Tuy nhiên đến năm 2012 tỷtrọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp của thị xã Bắc Kạn vẫn còn chiếm
tỷ trọng lớn, tới 36,41% so với tổng lao động có việc làm
Trang 21Với cơ cấu kinh tế như trên, nền kinh tế thị xã Bắc Kạn chưa thể hiện sựtập trung vào khai thác thế mạnh của tỉnh là lâm nghiệp, du lịch dịch vụ vàchăn nuôi đại gia súc.
Hình 1.2: Một phần của thị xã Bắc Kạn
Biển số xe của Bắc Kạn là 97
1.2 Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống GTVT thị xã Bắc Kạn
1.2.1 Vai trò của Giao thông vận tải trong phát triển kinh tế xã hội.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giao thông là mạch máu của
tổ chức Giao thông tốt thì mọi việc dễ dàng Giao thông xấu thì các việc đìnhtrệ” Câu nói giản dị của Bác đã thể hiện rõ vai trò quan trọng của Giao thôngvận tải trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổquốc
Trang 22Ngay từ khi bắt đầu công cuộc "Đổi mới", phát triển nền kinh tế đấtnước theo kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng CSVN đã chủ trươngphải ưu tiên đầu tư phát triển Giao thông vận tải để Giao thông vận tải đitrước một bước tạo tiền đề và thúc đẩy kinh tế phát triển Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VI (1986) xác định: “Giao thông vận tải là khâu quantrọng nhất của kết cấu hạ tầng’’ và “Giao thông vận tải phải đi trước mộtbước để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân’’ Nghị quyếtĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991), Đại hội VIII (1996) đã xác địnhnhững mục tiêu lớn của Giao thông vận tải Đó là: “Khắc phục tình trạngxuống cấp của hệ thống giao thông hiện có; khôi phục, nâng cấp và mở rộngthêm một số tuyến giao thông trọng yếu, kết hợp giao thông với thuỷ lợi, tậndụng giao thông đường thuỷ; mở thêm đường đến các vùng sâu, vùng xa ; cảithiện giao thông ở các thành phố lớn Cải tạo, nâng cấp một số cảng sông,cảng biển, sân bay; xây dựng dần cảng biển nước sâu’’ Đến Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ IX (2001), Nghị quyết Đại hội một lần nữa ghi rõ: “Kết cấu
hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và cóbước đi trước Hệ thống giao thông bảo đảm lưu thông an toàn, thông suốtquanh năm và hiện đại hoá một bước Mạng lưới giao thông nông thôn được
mở rộng và nâng cấp”; “Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngànhdịch vụ: thương mại, hàng không, hàng hải ”
Rõ ràng Giao thông vận tải có một vai trò hết sức quan trọng trong quátrình phát triển kinh tế xã hội
Trang 231.2.2 Hệ thống đường giao thông thị xã Bắc Kạn
Hình 1.3: Bản đồ mạng lưới đường thị xã Bắc Kạn
Đường bộ là mạng lưới đường giao thông chính của thị xã Bắc Kạn nốicác trung tâm kinh tế chính trị của Tỉnh và thị xã với khu vực khác Trongnhững năm qua được sự quan tâm đầu tư của Trung ương và của địa phương,mạng lưới giao thông đường bộ trong thị xã Bắc Kạn đã được củng cố pháttriển đáng kể đáp ứng lưu lượng giao thông ngày một tăng, chủ yếu là cácphương tiện chuyên chở một khối lượng lớn hàng hoá, cải thiện môi trườnggiao thông, giảm tắc nghẽn giao thông trong đô thị góp phần tích cực vào việcphát triển kinh tế - xã hội của địa phương Theo số liệu thống kê năm 2012,toàn thị xã có trên 60 km đường bộ, trong đó:
Trang 24+ Đường Quốc lộ qua địa bàn thị xã Bắc Kạn gồm 2 tuyến dài 26km.Trong đó Quốc lộ 3 là 21 km đã được nâng cấp thành đường cấp III miền núi11km, đường đô thị có tốc độ thiết kế V= 80km/h là 10km và Quốc lộ 3B là5km đang được nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp IV núi (TCVN4054-2005).
+ Đường Tỉnh qua địa bàn gồm 2 tuyến dài 13km Trong đó đường nội thị
có 5 km đang được rải bê tông asphan Đường cấp V miền núi có 6 km, đườngcấp VI có 2km (hiện đang được nâng cấp thành đường cấp IV miền núi)
+ Đường đô thị: Có 07 tuyến trục chính gồm: Đường Trường Chinh (có
bề rộng nền 41m), đường Nguyễn Văn Tố và đường Phùng Chí Kiên (bề rộngnền 27m) là đường trục chính chạy dọc thị xã Đường Hùng Vương, đườngNguyễn Văn Thoát (Bnền = 30m), đường Thành Công, đường Kon Tum(Bnền= 27m) là các đường trục chính chạy ngang thị xã Ngoài ra còn trên150km là đường nội thị
Bảng 1.1: Hệ thống đường giao thông thị xã Bắc Kạn
Số
Chiều dài (km)
Bề rộng nền (m)
Bề rộng mặt (m)
1 TX Bắc Kạn, Đường Hùng Vương 0,75 36 2x7
Trang 2510 Đường Kon Tum 2,50 27 15,00
12 Đường Chiến Thắng Phủ Thông 2,20 27 15,00
13 Đường Nguyễn Thị Minh Khai 2,20 27 2x5+2
14 Đường Phùng Chí Kiên (QL3) 2,30 27 2x5+2
16 Đường Quốc lộ 3 đoạn xã Xuất
17 Đường Quốc lộ 3B đoạn xã Xuất
19 Đường Nội thị Lên đài tưởng niệm 0,10 15 1x7,5
Trang 26Bắc Kạn cũ
33 Đường vào trường Quân Sự Tỉnh 1,24 11,5 1x7
35 Đường Nà Rào- Đôn Phong ĐT
37 Đường vào Nghĩa Trang Đon Tuấn 1,20 5 1x3,5
40 Đường Huyền Tụng- Khuổi Hẻo 2,50 5 1x2,5
41 Đường Huyền Tụng- Mỹ Thanh 5,00 5 1x3
43 Đường QL3- Thôn Khuổi Pái 9,00 5 1x3,5
Trang 27+ Hệ thống đường xã, liên xã có tổng chiều dài 56km, các tuyến nàychưa được xếp vào cấp vì nền, mặt đường còn hẹp, cấp tải trọng của cầu,cống thấp.
+ Hệ thống đường thôn, xóm và đường ra đồng với tổng chiều dài134km, hiện nay đang được cứng hoá mặt đường bằng đá nhựa, bê tông ximăng đảm bảo giao thông êm thuận, 100% xã phường có đường ôtô về trungtâm Hệ thống đường giao thông nông thôn được củng cố và xây dựng đã gópphần cải thiện đời sống ở nông thôn, giúp xoá đói giảm nghèo
1.2.3 Phương tiện giao thông.
Năm 2008 toàn thị xã có 32.758 xe cơ giới đường bộ các loại, đến hếttháng 10 năm 2012 số phương tiện cơ giới đường bộ của tỉnh đã tăng lên53.713 xe gần gấp đôi số xe của năm 2008 Trong đó chủ yếu là phương tiện
cá nhân đây là loại phương tiện gây ra nhiều tai nạn giao thông Đến nay, đã
cơ bản xoá bỏ xe công nông đầu ngang là hung thần trên các tuyến đườnggiao thông nông thôn gây tai nạn giao thông
Bảng 1.2: Thống kê số lượng phương tiện trên địa bàn
Đăng ký mới (xe)
Tổng
QL (xe)
So sánh (%)
Trang 28Dựa theo số liệu ta nhận thấy mức tăng trưởng của phương tiện là rấtnhanh, mỗi năm đăng ký mới trên dưới 1.00 xe ôtô, 4.000 đến 5.000 xe môtô.Trên 98% phương tiện đi lại là xe máy và số lượng xe đăng ký dự kiến sẽ tiếptục tăng trong tương lai Ngoài ra xe ô tô cũng có thể tăng lên nhanh chóngvới sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam cũng như quá trình
tự do hoá thương mại với các nước láng giềng và do nhu cầu ngày càng tăngcủa ngành dịch vụ vận tải dự kiến sẽ có sự gia tăng về số lượng xe tải cỡ lớn
1.2.4 Vận tải đường bộ
Thực hiện đường lối mở cửa, trong những qua hoạt động của ngànhdịch vụ phát triển khá, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trên khắpđịa bàn thị xã đã đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân Vềvận tải đã có bước phát triển tốt cả về vận tải bộ và vận tải thủy, sản lượngvận tải hàng hoá và hành khách liên tục tăng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế xã hội của thị xã và sự đi lại của nhân dân Chất lượng vận tải khách ngàycàng được nâng cao Các tuyến xe khách chất lượng cao hoạt động ổn định,chất lượng phục vụ tốt Vận tải hành khách cơ bản đã được xã hội hoá ở mức
độ cao Xuất hiện nhiều doanh nghiệp vận tải với nhiều loại hình vận chuyểnkhách: Xe khách, taxi Tỷ trọng khối ngành dịch vụ chiếm trong tổng thể nềnkinh tế thị xã không ngừng tăng, tỷ lệ tăng trưởng đạt trung bình 10%/năm
Bảng 1.3 : Khối lượng vận chuyển hành khách, hàng hoá đường bộ
Vận chuyển Luân chuyển Vận chuyển Luân chuyển
2008 0,5 triệu tấn 145,1 triệutấn.Km 0,6 triệu HK 41,2 triệuHK.Km
2009 0,9 triệu tấn 213,3 triệutấn.Km 0,7 triệu HK 54,6 triệuHK.Km
20010 1,1 triệu tấn 312,6 triệutấn.Km 0,8 triệu HK 59,1 triệuHK.Km
2011 1,4 triệu tấn 451,4 triệutấn.Km 1,1 triệu HK 73,4 triệuHK.Km
2012 1,6 triệu tấn 481,7 triệu 1,2 triệu HK 82,5 triệu
Trang 29tấn.Km HK.KmDựa theo số liệu nhận thấy khối lượng vận chuyển tăng lên theo từngnăm, khối lượng luân chuyển hàng hoá cũng tăng nhưng không nhiều, chứng
tỏ các phương tiện vận chuyển có tải trọng lớn đã được đưa vào sử dụng
1.2.5 Đánh giá chung về hệ thống giao thông vận tải thị xã Bắc Kạn
để đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cho người tàn tật vẫn chưa được banhành Chất lượng một số văn bản chưa cao, chưa sát thực tế, thậm chí mâuthuẫn với văn bản pháp luật khác nên phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần như
Trang 30Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ,Nghị định về điều kiện kinh doanh vận tải.
+ Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thôngđường bộ mới đạt yêu cầu về diện, thiếu chiều sâu, còn mang tính hình thức,chưa phù hợp với đặc điểm từng đối tượng nên chất lượng, hiệu quả còn hạnchế Giao thông đường bộ là một lĩnh vực mang tính xã hội cao, đối tượngtham gia giao thông đa dạng về thành phần, lứa tuổi, trình độ văn hoá Trongkhi đó, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thôngđường bộ chưa sâu và chưa thường xuyên, nội dung và hình thức chưa thực
sự phù hợp với từng vùng, từng đối tượng, nhất là đồng bào ở nông thôn Việc
tổ chức dạy Luật Giao thông đường bộ trong các trường học còn ít Một sốBan an toàn giao thông các huyện, thành phố chưa thực hiện trách nhiệmkiểm tra, đôn đốc thực hiện, do đó nhiều chủ trương, giải pháp bảo đảm trật tự
an toàn giao thông đã được Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Thị ủy, UBND thị xã chỉđạo mạnh mẽ, kiên quyết nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc, đều khắp ở
cơ sở Một số đơn vị chỉ tập trung trong dịp Tết, tháng an toàn giao thông cònsau đó buông lỏng để tình trạng tái lấn chiếm vỉa hè, lòng đường và hành langđường bộ làm nơi họp chợ, bán hàng, để nguyên vật liệu gây cản trở mất antoàn giao thông nhất là trong nội thị và trên các tuyến đường Quốc lộ, tỉnh lộ.Một số phường xã chưa có các biện pháp kiên quyết để ổn định trật tự các chợhọp ven đường như chợ Đức Xuân, chợ Nguyễn Thị Minh Khai, Chợ BắcKạn
+ Ý thức chấp hành pháp luật an toàn giao thông của một bộ phận cán
bộ, nhân dân chưa tốt nhất là trong các dịp lễ, tết Tình trạng vi phạm các quytắc an toàn giao thông như chạy xe quá tốc độ cho phép, say rượu bia, lạnglách đánh võng, đi không đúng phần đường, vượt ẩu, xe môtô đèo quá sốngười quy định, không đội mũ bảo hiểm, đi xe vào đường cấm, đường ngược
Trang 31chiều, dừng đỗ xe không đúng nơi quy định; người đi bộ, đi xe đạp ngang tắttuỳ tiện không theo chỉ dẫn còn diễn ra khá phổ biến Khi các lực lượng chứcnăng tăng cường tuần tra kiểm soát thì an toàn giao thông giảm, ngược lại khicông tác tuần tra kiểm soát giảm thì an toàn giao thông tăng lên
Hình 1.4: Phụ huynh đưa con đi học không chấp hành quy định đội mũ
bảo hiểm tại trường tiểu học Đức Xuân
+ Do hạn chế về lực lượng, công tác tuần tra, kiểm soát bảo đảm trật tự
an toàn giao thông có nơi có lúc chưa đảm bảo thường xuyên liên tục, chưabao quát được toàn bộ địa bàn và tất cả thời gian trong ngày, xử lý vi phạmchưa triệt để, kịp thời còn để lọt nhiều vi phạm Công tác tuần tra, kiểm soát,
xử lý vi phạm vẫn còn chưa đạt mục tiêu: “Mọi vi phạm đều phải được pháthiện, xử lý kịp thời nghiêm minh” quy định trong Luật Giao thông đường bộ.Hiện tượng tiêu cực không xử lý hoặc xử lý không đúng mức trong xử lý viphạm hành chính còn không ít Một số Cảnh sát giao thông biến chất, khôngthực hiện đúng quyền hạn và nhiệm vụ của mình
Trang 32+ Việc triển khai xây dựng quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giaothông chậm, chất lượng chưa cao, còn dàn trải, thiếu đồng bộ giữa phát triểnkết cấu hạ tầng giao thông đường bộ với quy hoạch phát triển đô thị, giữa kếtcấu hạ tầng giao thông đường bộ với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Việcquy hoạch đô thị nói chung và quy hoạch giao thông đường bộ nói riêng thiếu
ổn định và đồng bộ, không bố trí đủ quỹ đất cho xây dựng kết cấu hạ tầnggiao thông đường bộ đặc biệt là giao thông tĩnh, quản lý việc thực hiện quyhoạch chưa chặt chẽ Sự phối hợp giữa ban, ngành ở địa phương trong quyhoạch đô thị và tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị chưa tốt; Việc khôngquản lý chặt chẽ thực hiện quy hoạch dẫn đến phá vỡ quy hoạch Tình trạngkhông tách riêng được khu vực dân cư, khu vực cơ quan, tổ chức tạo ra sựđan xen nhau và dẫn đến vận tải phục vụ xã hội và đi lại của nhân dân khônghợp lý, mất thời gian, tốn kém và làm cho kết cấu hạ tầng đường bộ đã thiếulại càng thiếu
Trang 33Hình 1.5: Ô tô đỗ trên vỉa hè và dưới lòng đường trước cổng Sở Văn hóa, thể dục và thể thao
+ Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ hiện nay vẫn còn rất nhiều khókhăn, yếu kém và bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng vàphát triển đất nước Ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản và sự nghiệp giaothông của Thị xã Bắc Kạn còn khó khăn đã ảnh hưởng đến việc triển khai các
dự án, bảo trì mạng lưới giao thông Tiến độ nhiều dự án xây dựng mới, cảitạo nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông chậm, đầu tư còn dàn trải, khôngđồng bộ giữa cầu và đường khá phổ biến, có tuyến chỉ cải tạo, nâng cấp cầunhưng chưa cải tạo, nâng cấp đường hoặc ngược lại làm cho tải trọng khaithác đường không được nâng cao, hiệu quả đầu tư thấp Hệ thống quốc lộ,đường tỉnh khi vừa cải tạo nâng cấp hoặc xây dựng mới xong đã bị tận dụng
để quy hoạch, xây dựng trụ sở cơ quan, tổ chức… biến dần thành đường đô
Trang 34thị Vẫn còn tồn tại nhiều điểm đen về giao thông Hệ thống cọc tiêu, biển báohiệu còn thiếu Hệ thống báo hiệu đường bộ có khi trở thành nơi quảng cáocho nhà đầu tư; cổng chào, biển hiệu, áp phích tuyên truyền lấn át báo hiệuđường bộ làm mất tập trung và gây nhiễu sự nhận biết của người điều khiểnphương tiện giao thông, gây mất an toàn giao thông; nhiều biển báo hiệuđường bộ bị lấy cắp, dải phân cách bị đập phá Nhiều tuyến đường, nhất làđường giao thông nông thôn đã hư hỏng, xuống cấp nhưng do khó khăn vềkinh phí nên chưa được sửa chữa kịp thời Ngoài ra, sự vô ý hoặc cố ý lấnchiếm, vi phạm quy định sử dụng đất dành cho đường bộ, phá hoại công trìnhgiao thông đường bộ xảy ra ở nhiều nơi chưa được ngăn chặn, các nguyênnhân trên kết hợp với nhau dẫn đến cầu đường hư hỏng, xuống cấp nghiêmtrọng Việc quản lý, sử dụng và bảo vệ hành lang an toàn đường bộ chỉ dựavào lực lượng quản lý đường bộ, Thanh tra giao thông đường bộ và Cảnh sátQuản lý hành chính về trật tự xã hội, trong khi người chịu trách nhiệm chính
là chính quyền địa phương thì chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực hiệnđúng trách nhiệm quản lý và bảo vệ công trình giao thông; hành lang an toànđường bộ, một số nơi còn buông lỏng hoặc tiếp tay cho vi phạm Chưa kiênquyết xử lý các tổ chức, cá nhân có công trình vi phạm hành lang an toànđường bộ Một số địa phương thậm chí còn giao đất, cho thuê đất, cho xâydựng công trình trong phạm vi hành lang an toàn đường bộ Việc đấu nối vàocác tuyến đường giao thông cũng rất tùy tiện không có phép, không đảm bảo
an toàn giao thông
Trang 35Hình 1.6: Hè đường Trường Chinh bị lấn chiếm làm nơi bán nước
+ Công tác bảo trì mặc dầu đã có rất nhiều nỗ lực của các cấp, cácngành nhưng vẫn còn nhiều bất cập Kinh phí dành cho bảo trì rất kiêm tốn,các quy định về huy động quỹ vốn dành cho giao thông từ năm 1997 theoĐiều 3, Quyết định 397/QĐ-UB ngày 25/8/1995 không còn được thực hiện,dẫn đến việc thực hiện bảo dưỡng thường xuyên không làm đủ công việc theoquy định, sửa chữa định kỳ không đúng kỳ hạn mà chỉ tập trung cho nhữngđoạn hư hỏng nặng và sửa chữa đột suất do thiệt hại thiên tai chỉ làm bước 1bảo đảm giao thông nên việc quản lý, bảo trì cầu đường không đúng quy định,dẫn đến cầu đường hư hỏng, xuống cấp nhanh hơn Nguồn vốn cấp cho côngtác bảo trì đối với đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường đô thị đã khó khăn thì đối vớiđường giao thông nông thôn càng khó khăn hơn, nhất là các đường xã nhiềunơi hầu như không có vốn để bảo trì Nhận thức về bảo trì và tạo lập thói quenbảo trì vẫn còn chưa được chú trọng ở nhiều địa phương Quan niệm của các
Trang 36cấp vẫn chủ yếu là ưu tiên xây dựng đường mới nên nhiều tuyến đường đã vàđang xuống cấp, một số tuyến đã hư hỏng ở mức độ trầm trọng Hệ thống tổchức thực hiện quản lý, bảo trì đường bộ không ổn định, cơ chế quản lý côngtác bảo dưỡng thường xuyên không phù hợp, công tác bảo dưỡng thườngxuyên có tính đặc thù nhỏ lẻ, phân tán, kéo dài, năng suất không cao, các đơn
vị làm bảo dưỡng thường xuyên được hưởng lợi từ lãi tiết kiệm mà khôngphải lãi như các đơn vị kinh doanh xây dựng khác Tổ chức quản lý đường bộ
ở cấp xã hầu như không có cán bộ chuyên trách dẫn đến các đường liên xã,đường xã không được quan tâm bảo dưỡng thường xuyên dẫn đến hầu hết cácđường đã có
+ Việc tổ chức quản lý giao thông chưa chặt chẽ Các tuyến đường đượcphân cấp quản lý theo ngành dọc chứ không được phân theo chức năng Cácđiểm nút giao cắt quá nhiều Ngã ba, ngã tư không có đèn tín hiệu giao thông,lực lượng Cảnh sát giao thông có trang bị kỹ thuật lạc hậu… Nhiều đoạn tuyếntrên hệ thống quốc lộ khi vừa cải tạo nâng cấp hoặc xây dựng mới xong đã bịcác địa phương tận dụng để quy hoạch, xây dựng các khu công nghiệp, khu dân
cư, các trụ sở, cơ quan, tổ chức và dần dần thành đường đô thị
+ Trong quản lý hoạt động vận tải còn đơn giản, việc tổ chức các doanhnghiệp còn nhỏ lẻ, kém hiệu quả, các doanh nghiệp chưa chú trọng áp dụng
hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng dịch vụ, đăng ký thương hiệu, cạnhtranh lành mạnh bằng nâng cao chất lượng, giá cả và các ưu đãi khác Chấtlượng dịch vụ vận tải khách chưa được nâng cao đúng mức, hiện tượng chởquá tải, chạy nhanh, vượt ẩu, chở hàng hoá trong khoang hành khách cònnhiều; cá biệt có hiện tượng chở người trên mui, trong khoang chở hành lý.Chưa hình thành được trạm dừng nghỉ để tổ chức vận tải hợp lý, bảo đảm antoàn; công tác quản lý ở các bến xe chưa tốt, chưa tạo tiện lợi và yên tâm cho
xe và khách vào bến khi khởi đầu và kết thúc hành trình Tình trạng lái xe
Trang 37không thực hiện quy định thời gian làm việc theo quy định của Luật Giaothông đường bộ còn khá phổ biến; nhiều chủ doanh nghiệp khoán trắng cho lái
xe, yêu cầu lái xe tăng chuyến, tăng tải gây ra tình trạng tranh giành khách,
ép giá, chở quá tải, chạy quá tốc độ, vượt ẩu, gây mất an toàn giao thông
+ Việc nhập khẩu, đóng mới phương tiện vẫn còn tùy tiện, không căn
cứ theo kiểu loại phương tiện đã được Bộ Giao thông vận tải quy định phùhợp với tiêu chuẩn cầu đường Việt Nam Theo quy định của Luật Giao thôngđường bộ, việc đăng ký, cấp, thu hồi biển số xe cơ giới đường bộ do cơ quanCảnh sát Giao thông thực hiện, việc kiểm định xác nhận bảo đảm kỹ thuật antoàn và bảo vệ môi trường và xác định phương tiện hết niên hạn sử dụng docác đơn vị trong ngành đăng kiểm thực hiện Sự phối hợp giữa các đơn vịchức năng chưa thường xuyên nên số phương tiện được xác định hết niên hạn
sử dụng nhưng chưa thu hồi biển số mà tiếp tục được đưa về vùng sâu, vùng
xa để sử dụng còn nhiều Trong công tác đăng ký, đăng kiểm vẫn còn tiêu cựcgây bức xúc trong dư luận; nhiều cơ sở đóng mới, cải tạo phương tiện không
đủ điều kiện được cấp phép nhưng vẫn hành nghề, sau kiểm định nhiều chủphương tiện tự ý thay đổi các thiết bị, phụ tùng, thay đổi kết cấu, nâng trọngtải phương tiện Mặc dù Bộ Giao thông vận tải đã có quy định về bảo dưỡngđịnh kỳ phương tiện giao thông đường bộ nhưng việc thực hiện ở các đơn vị,doanh nghiệp vận tải chưa thực sự nghiêm túc Việc bảo đảm kỹ thuật an toànphương tiện giữa hai kỳ kiểm định vẫn chủ yếu giao lái xe tự làm Đến nay,chúng ta vẫn chưa quản lý tốt xe cho người tàn tật; một số loại xe tự lắp rápnhư xe lôi, xe ba gác máy, xe mang nhãn hiệu thương binh hoạt động không
có đăng ký, không nằm trong sự quản lý của các cơ quan chức năng
+ Công tác đào tạo sát hạch cấp giấy phép lái xe còn một số tồn tại,việc quản lý, giáo dục lái xe chưa được coi trọng đúng mức Trình độ quản lý,năng lực đội ngũ giáo viên dạy lái xe chưa đồng đều, nhiều nơi công tác quản
Trang 38lý chưa tốt Hiện tượng cắt xén nội dung, chương trình đào tạo khá phổ biến;
do giá xăng dầu tăng cao, một số cơ sở tìm cách giảm chi phí bằng cáchkhoán chi phí xăng dầu tập lái cho giáo viên dẫn tới giáo viên dạy không đủ
km hoặc phải thu thêm tiền của học viên Trong công tác sát hạch, việc sáthạch lái xe môtô làm thủ công, phân tán, chất lượng không đồng đều, ở một
số nơi chất lượng thấp, có nơi xẩy ra tiêu cực
+ Công tác quản lý, giáo dục lái xe chưa được chủ sử dụng lao độngchú ý; chưa tổ chức phổ biến, cập nhật kiến thức mới thường xuyên, tuyêntruyền pháp luật định kỳ cho lái xe, chưa bảo đảm điều kiện làm việc, nghỉngơi, chăm sóc sức khỏe, các chế độ bảo hiểm cho lái xe theo quy định Vìvậy tình trạng không ít lái xe coi thường kỷ cương pháp luật, nghiện hút matúy, cá biệt có lái xe chống người thi hành công vụ
1.3 Hiện trạng môi trường
1.3.1 Tổng quan các vấn đề môi trường ở thị xã Bắc Kạn
a Môi trường nước
Thị xã Bắc Kạn chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn sông Cầu và cácsuối chảy qua địa bàn thị xã như suối Nông Thượng, suối Thị Xã, suối PáDanh, suối Nậm Cắt, suối Xuất Hóa Sông suối có độ dốc bị bồi lắng do đất
đá ở thượng nguồn trôi về làm cho dòng chảy của sông, suối bị thu hẹp lại,mùa mưa gây úng ngập ở hai bên bờ sông, suối Sông Cầu chảy qua địa bàntỉnh Bắc Kạn dài 100 km và qua địa phận thị xã Bắc Kạn dài khoảng 20km,chiều rộng trung bình 40m Sông Cầu là sông chi phối chế độ thủy văn của thị
xã Bắc Kạn
- Suối Pá Danh có diện tích lưu vực 2,8km2, chiều dài suối 2,7km
- Suối Nông Thượng có diện tích lưu vực 14,2km2, chiều dài suối 4,7km
Trang 39- Suối Bắc Kạn (suối Thị Xã) có diện tích lưu vực 2,3km2, chiều dài suối2,8km.
- Suối Nặm Cắt (sông lạnh) có diện tích lưu vực 110km2 chiều dài nhánhchính suối 25km
b Môi trường không khí và tiếng ồn
Cùng với sự phát triển kinh tế thì số lượng phương tiện vận tải trong thị
xã những năm gần đây cũng gia tăng nhanh, các khu công nghiệp đã và đanghình thành ngày càng nhiều là những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môitrường không khí và tiếng ồn
c Quản lý chất thải rắn
Chất thải rắn ở thị xã được phân thành các loại như sau: Chất thải rắnsinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp và chất thải rắn nguy hại (rác thải y tế,thuốc bảo vệ thực vật)
Hiện nay, việc quản lý thu gom đang được các cấp, các ngành quan tâm,tuy nhiên do tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, lượng rác càngngày càng tăng, trong khi đó việc thu gom xử lý chưa được thực hiện đúngquy trình và bãi chứa rác hiện nay đang trong tình trạng quá tải Toàn thị xãBắc Kạn hiện nay chưa có quy hoạch tổng thể các bãi rác, chưa có hệ thống
xử lý, chôn lấp rác hợp vệ sinh, đây là vấn đề bức xúc nhất
d Thiên tai và sự cố môi trường
Với đặc trưng là miền núi nên thị xã Bắc Kạn thường xuyên bị sạt lở
lũ quét