1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong giao dịch giữa thương nhân với người tiêu dùng ở việt nam

97 54 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự ra đời của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam, theo đó một trong những công cụ được kỳ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT HỢP ĐỒNG THEO MẪU TRONG GIAO DỊCH GIỮA THƯƠNG NHÂN VỚI

NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN HẢI

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ ĐẶNG HẢI YẾN

HÀ NỘI 10-2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Giảng viên hướng dẫn là TS Vũ Đặng Hải Yến Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả,

cơ quan tổ chức khác và cũng thể hiện trong phần tài liệu tham khảo

Xác nhận của Giảng viên hướng dẫn

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018

Tác giả

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Đặng Hải Yến với lòng nhiệt tình và sự quan tâm đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, đặc biệt là thầy cô giáo và các cán bộ của Khoa Đào tạo Sau Đại học Viện Đại học Mở Hà Nội đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và rèn luyện kiến thức tại trường

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018

Học viên

Nguyễn Văn Hải

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

lợi người tiêu dùng của ASEAN

thế giới

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH

Bảng 1 Nhân sự triển khai hoạt động kiểm soát HĐTM tại Cục QLCT 40 Bảng 2: Số lượng hồ sơ đăng ký tại Cục QLCT từ năm 2012 đến 6 tháng đầu năm 2017 42 Bảng 3: Phân loại các lĩnh vực thanh tra kiểm tra 47

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HỢP ĐỒNG THEO MẪU 5

1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng theo mẫu 5

1.1.1 Khái niệm hợp đồng theo mẫu 5

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng theo mẫu 6

1.2 Khái niệm kiểm soát và sự cần thiết phải kiểm soát các hợp đồng theo mẫu trong giao dịch với người tiêu dùng 8

1.2.2 Sự cần thiết phải kiểm soát các hợp đồng theo mẫu trong giao dịch với người tiêu dùng 9

1.3 Pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu 12

1.4 Một số kinh nghiệm trên thế giới về việc bảo vệ người tiêu dùng thông qua chế định hợp đồng theo mẫu 15

1.4.1 Pháp luật một số nước 15

1.4.2 Sự kế thừa kinh nghiệm quốc tế trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT HỢP ĐỒNG THEO MẪU TRONG GIAO DỊCH GIỮA THƯƠNG NHÂN VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG 27

2.1 Quy định pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong giao dịch với người tiêu dùng 27

2.1.1 Đối tượng hợp đồng theo mẫu bị kiểm soát 27

2.1.2 Cơ quan kiểm soát 28

2.1.3 Cơ chế kiểm soát 28

2.1.4 Phạm vi kiểm soát 31

2.1.5 Quy định về chế tài xử lý trong trường hợp vi phạm 37

2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu 39

2.2.1 Thực trạng về nguồn lực 39

2.2.2 Thực trạng công tác kiểm soát hợp đồng theo mẫu 41

2.2.3 Thực trạng công tác xử lý vi phạm 45

Trang 7

2.3 Một số dạng điều khoản vi phạm cụ thể 48

2.3.1 Hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực mua bán căn hộ chung cư 48

2.3.2 Hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực phát hành thẻ ghi nợ nội địa; mở và sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân); vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng) 51

2.4 Đánh giá thực trạng kiểm soát hợp đồng theo mẫu 57

2.4.1 Đánh giá về quy định pháp luật 57

2.4.2 Đánh giá về thực trạng triển khai nhiệm vụ kiểm soát hợp đồng theo mẫu 71

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT HỢP ĐỒNG THEO MẪU 74

3.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm soát HĐTM 74

3.1.1 Điều chỉnh cơ chế/mô hình kiểm soát trong tương lai 74

3.1.2 Sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản hướng dẫn thi hành 76

3.1.3 Sửa đổi, bổ sung chế tài xử lý vi phạm hành chính 78

3.1.4 Về thẩm quyền của cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 79

3.2 Nâng cao năng lực, hiệu quả thực thi pháp luật 80

3.2 1 Tăng cường năng lực của cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 80

3.2.2 Tăng cường nhận thức cho cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng84 3.2.3 Tăng cường hợp tác quốc tế 84

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 8

1 Lý do chọn đề tài

Bảo vệ người tiêu dùng là một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội Không chỉ tại Việt Nam, hầu hết các nước trên thế giới đều rất coi trọng công tác này bởi lẽ bảo vệ người tiêu dùng chính là bảo vệ sự phát triển bền vững của xã hội Do đó, nhiều quốc gia đã sớm ban hành các đạo luật có nội dung, mục đích bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Việt Nam phải đối mặt với những thách thức trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Trong đó, nổi lên là hình thức tổ chức, cá nhân sử dụng các hợp đồng theo mẫu mang ý chí đơn phương, áp đặt quyền lợi của mình lên người tiêu dùng Đứng trước những bất cập của Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng 1999 trong tình hình mới, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Luật số 59/2010/QH12) vào ngày

17 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2011

Sự ra đời của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam, theo đó một trong những công cụ được kỳ vọng mang lại hiệu quả thiết thực chính là việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu, của các thương nhân

Từ khi có hiệu lực đến nay, chế định kiểm soát hợp đồng theo mẫu, bước đầu

đã phát huy vai trò tích cực trong việc phát triển môi trường kinh doanh lành mạnh giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng thông qua việc loại bỏ các điều kiện xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng trong 11 (mười một) nhóm hàng hoá, dịch vụ với phạm vi

áp dụng rộng lớn từ hai tỉnh trở lên hoặc trên phạm vi cả nước; qua đó tác động lên ý thức tuân thủ pháp luật và tôn trọng quyền lợi người tiêu dùng của cộng đồng doanh nghiệp cũng như khuyến khích người tiêu dùng lên tiếng yêu cầu vì lợi ích chính đáng của mình

Tuy nhiên, việc kiểm soát đang phải đối mặt với những khó khăn chính như sau:

Thứ nhất, việc tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký chủ yếu tập trung vào cấp

Trung ương là Cục Quản lý cạnh tranh, chưa hiệu quả tại các Sở Công thương nên chưa tạo được sự đồng bộ trên cả nước;

Trang 9

Thứ hai, một số hoạt động quan trọng nhưng chưa được triển khai hoặc triển

khai chưa thường xuyên như kiểm soát hợp đồng theo mẫu, trong các lĩnh vực chưa thuộc phạm vi phải đăng ký hoặc việc thanh kiểm tra xử lý vi phạm hành chính;

Thứ ba, cơ chế kiểm soát chưa phù hợp với tình hình xã hội hiện tại

Thứ tư, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe, chưa hướng tới việc khôi

phục quyền lợi bị xâm phạm của người tiêu dùng;

Trong khi đó, trong những vấn đề kinh tế trọng tâm của đất nước giai đoạn tới

có mục tiêu đô thị hóa, sự tập trung phát triển lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, bất động sản Đây là những lĩnh vực hiện nay đã được đưa vào Danh sách hàng hoá, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung theo Quyết định 02/2012/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2012 về việc ban hành Danh mục hàng hoá, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung và Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20 tháng 08 năm 2015 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định 02/2012/QĐ-TTg Dự báo trong thời gian tới, những lĩnh vực này phát triển sẽ kéo theo sự phức tạp, đa dạng hơn nữa của các loại hợp đồng giao kết với người tiêu dùng cũng như các vấn đề tranh chấp có thể phát sinh

Bên cạnh đó, sự hội nhập của Việt Nam trong phong trào bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong khu vực và quốc tế thông qua việc tham gia vào các tổ chức bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng thế giới như ACCP, ICPEN cũng đang đặt ra những yêu cầu cao hơn trong hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam

Vì những lý do nêu trên, việc lựa chọn đề tài “Pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong giao dịch giữa thương nhân với người tiêu dùng ở Việt Nam” làm

đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ sẽ góp phần giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước đòi hỏi của tình hình mới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề kiểm soát hợp đồng theo mẫu, được khá nhiều học giả nhiên cứu

Tại Việt Nam, vấn đề kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung được nghiên cứu và đưa vào giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Trường đại học Luật Hà Nội

Ngoài ra, có một số học giả quan tâm nghiên cứu như PGS.TS Nguyễn Như Phát, “Một số vấn đề lý luận xung quanh Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”;

Trang 10

ThS NCS Đỗ Giang Nam, “Bình luận về các quy định liên quan đến hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)”

Tuy nhiên, vấn đề kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng dưới cái nhìn phân tích, đánh giá chi tiết, tổng hợp về thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng tại các

cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để từ đó tìm ra phương hướng, giải pháp giải quyết vấn đề thì vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu thỏa đáng

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật Việt Nam về kiểm soát hợp đồng

Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế trong pháp luật một số quốc gia thu thập được tài liệu (bao gồm Canada (Quebec), Pháp, Châu Âu, Đài Loan, Malaysia); quy định về pháp luật theo Luật BVQLNTD và các văn bản hướng dẫn thi hành và thực trạng áp dụng pháp luật tại các cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam trong thời gian từ năm 2012 đến 2017

4 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu chính của luận văn là nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu theo pháp luật Việt Nam, trên cơ sở

đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm soát HĐTM trong dịch giữa thương nhân với người tiêu dùng

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung trả lời những câu hỏi sau về vấn đề kiểm soát hợp đồng theo mẫu:

Thứ nhất, tại sao phải đặt ra vấn đề kiểm soát hợp đồng theo mẫu?

Thứ hai, việc kiểm soát có phù hợp với thực tiễn Việt Nam không và có cần

hoàn thiện thêm không?

Thứ ba, thực tế triển khai có hiệu quả và mang lại lợi ích cho xã hội không, có

khó khăn, vướng mắc cần khắc phục không?

Thứ tư, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực, hiệu quả thực thi

pháp luật ra sao?

6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Trang 11

Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, luận văn được thực hiện theo các phương pháp truyền thống như: phương pháp nghiên cứu khoa học duy vật, biện chứng, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, luận giải, đánh giá, khảo cứu thực tiẽn v.v

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn có những đóng góp mới về khoa học như sau:

Thứ nhất, luận văn là công trình nghiên cứu khoa học góp phần làm rõ những

vấn đề lý luận và thực tiễn của việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu, theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản hướng dẫn thi hành

Thứ hai, luận văn là công trình nghiên cứu đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn

thiện pháp luật và nâng cao năng lực, hiệu quả thực thi pháp luật về việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu, trong giao dịch giữa thương nhân với người tiêu dùng

Thứ ba, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được các cơ quan quản lý nhà

nước, các cơ quan nghiên cứu, tổ chức xã hội có chức năng, nhiệm vụ liên quan tới công tác kiểm soát hợp đồng theo mẫu, tham khảo và sử dụng; là tài liệu tham khảo cho sinh viên tại các đại học giảng dạy về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

8 Bố cục của luận văn

Dựa trên mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu, luận văn được cấu trúc bao gồm 3 chương với nội dung như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm soát hợp đồng theo mẫu

Chương 2: Thực trạng kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong giao dịch giữa thương nhân với người tiêu dùng;

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát hợp đồng theo mẫu

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HỢP ĐỒNG THEO MẪU 1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng theo mẫu

1.1.1 Khái niệm hợp đồng theo mẫu

Trong nền kinh tế hiện đại, việc áp dụng HĐTM đã trở thành một hiện tượng hết sức phổ biến

Khi ký kết các hợp đồng với các nhà cung cấp hàng hóa hay sản phẩm đại trà, người tiêu dùng dường như không nhìn thấy tinh thần “tự do khế ước” của hợp đồng Bên cạnh đó, họ thường phải chấp nhận những quy tắc bán hàng do chính nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ đặt ra và về nguyên tắc những quy tắc này không phải là đối tượng của việc đàm phán Do ở thế yếu, người tiêu dùng phải chấp nhận và đôi khi không biết đến chúng mà cũng chẳng biết đến khả năng cần phải kiểm soát chúng Chỉ đến khi có tranh chấp xảy ra hay có một sự kiện nào đó, người ta mới vỡ lẽ ra rằng, đây là một hiện tượng mang tính pháp lý có liên quan đến hợp đồng

Các HĐTM được các luật gia phương tây mô tả là đứa con của cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ 19 Việc xuất hiện khả năng sản xuất và cung cấp các sản phẩm

và dịch vụ mang tính hàng loạt và liên tục cho vô số các khách hàng đã đặt ra vấn đề

“tiêu chuẩn hóa” các điều khoản của các hợp đồng mua bán Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp, trước tiên là bảo hiểm, giao thông, tín dụng rồi sau đó là các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ, đều thiết lập cho mình những quy tắc bán hàng thống nhất,

áp dụng chung trong các giao dịch với khách hàng của mình1

Với pháp luật Việt Nam, vấn đề này được đề cập lần đầu tiên trong BLDS

1995, dưới khái niệm ban đầu là HĐTM Đến nay, HĐTM, ĐKGDC được điều chỉnh chủ yếu trong BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 (thay thế BLDS 2005) và Luật BVQLNTD 20102

Khái niệm về HĐTM lần đầu tiên được định nghĩa trong BLDS 1995, sau đó được định nghĩa trong Luật BVQLNTD 2010 và BLDS 2005 Điều 406 BLDS 1995, Điều 407 BLDS 2005 và Điều 405 BLDS 2015 lần lượt đưa ra định nghĩa tương tự

1

Nguyễn Như Phát (2010), “Một số vấn đề lý luận xung quanh Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Trang

thông tin Cục QLCT tại địa chỉ: http://www.vca.gov.vn/NewsDetail.aspx?ID=1289&CateID=80 ngày truy cập

12/3/2016

2

Bên cạnh đó, một số pháp luật chuyên ngành cũng điều chỉnh vấn đề về điều khoản mẫu như trong Luật Kinh doanh bảo hiểm

Trang 13

nhau: “HĐTM là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên

kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung HĐTM mà bên đề nghị đã đưa ra”

Luật BVQLNTD 2010 định nghĩa: “HĐTM là hợp đồng do tổ chức, cá nhân

kinh doanh hàng hoá, dịch vụ soạn thảo để giao dịch với người tiêu dùng” (khoản 3

Điều 3)

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng theo mẫu

Từ những định nghĩa cụ thể nêu trên, có thể khái quát đặc điểm của HĐTM, như sau3:

Thứ nhất , đây là những quy định, quy tắc, điều kiện do thương nhân đơn

phương ban hành Đây có thể coi là đặc điểm nổi bật nhất của HĐTM Những quy tắc, quy định này được ban hành một cách đơn phương mà không có bất kỳ sự thỏa thuận nào giữa thương nhân và người tiêu dùng Vì vậy, HĐTM, thường thể hiện ý chí độc đoán và áp đặt của thương nhân, thường vì mục tiêu dành lấy phần thuận lợi và an toàn pháp lý cho mình và đẩy quả bóng bất lợi cho phía người tiêu dùng mà nội dung của

nó lại có thể vi phạm pháp luật hoặc không lành mạnh, thiếu đạo đức Trong khi, các quy tắc, điều kiện đó dù thể hiện trong hợp đồng (miệng hay văn bản) hay không nhưng trở thành nội dung mặc nhiên của hợp đồng khi người tiêu dùng tham gia quan

hệ tiêu dùng

Hai là, HĐTM, được áp dụng chủ yếu cho người tiêu dùng Mục đích của

thương nhân khi ban hành các HĐTM, là để tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong quá trình giao dịch với người tiêu dùng Do vậy, đối tượng áp dụng chủ yếu của HĐTM, là người tiêu dùng Thương nhân khi ban hành các HĐTM, không hướng đến các đối tượng khác như các nhà cung cấp nguyên liệu, phụ kiện, các khách hàng lớn mà chủ yếu là để áp dụng cho đối tượng là người tiêu dùng nhỏ lẻ Điều này xuất phát từ thực tiễn kinh doanh của thương nhân khi số lượng người tiêu dùng của họ là quá lớn không cho phép sử dụng các hình thức giao kết hợp đồng truyền thống dựa trên nguyên tắc tự

do, tự nguyện Về phương diện này, HĐTM, sẽ là công cụ quan trọng để cải tiến và hợp lý hóa phương thức bán hàng hiện đại

3

Nguyễn Như Phát (2010), “Một số vấn đề lý luận xung quanh Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Trang

thông tin Cục QLCT tại địa chỉ: http://www.vca.gov.vn/DewsDetail.aspx?ID=1289&CateID=80 ngày truy cập

12/3/2016

Trang 14

Ba là, HĐTM, áp dụng cho nhiều người tiêu dùng và sử dụng nhiều lần Các

quy tắc, quy định mà thương nhân ban hành không phải hướng đến một người tiêu dùng nào cụ thể hay một trường hợp nào cụ thể mà nó như một “luật” riêng mà thương nhân áp dụng cho nhiều người tiêu dùng và sử dụng một cách lâu dài Phương thức bán hàng hóa truyền thống dựa trên cơ sở hợp đồng được giao kết với từng đối tượng theo cách thức khác nhau và các quyền, nghĩa vụ cũng có thể có sự khác nhau trên cơ

sở, thỏa thuận giữa thương nhân và người tiêu dùng Tuy nhiên, khi sử dụng HĐTM, thì dường như không có bất kỳ sự phân biệt nào giữa các người tiêu dùng với nhau, hay nói cách khác là các quy tắc, quy định mặc nhiên áp dụng cho tất cả người tiêu dùng khi xác lập giao dịch với thương nhân

HĐTM, được thiết lập dưới nhiều hình thức đa dạng, bao gồm cả hình thức

“HĐTM” và “ĐKGDC” như được đề cập trong BLDS và Luật BVQLNTD Sự khác biệt giữa ĐKGDC và HĐTM ở chỗ, các ĐKGDC, thông thường không nằm ngay trong bản hợp đồng, nó có thể được quy định trong các văn bản riêng miễn là được bên cung cấp dịch vụ công bố công khai

Mặc dù có sự khác biệt giữa khái niệm HĐTM và ĐKGDC theo quy định của pháp luật Việt Nam nhưng cả hai khái niệm này đều cùng chỉ đến một hiện tượng khi

mà các HĐTM, ĐKGDC do một bên đơn phương soạn thảo hoặc công bố và được sử dụng trên thực tế với đối tác mà không cần có sự thỏa thuận, mặc cả về nội dung của HĐTM, ĐKGDC đó.Bên còn lại không có khả năng đàm phán thay đổi nội dung mà chỉ có khả năng chấp thuận hoặc từ chối điều khoản (take it or leave it)4

Bình luận số 2 của Điều 2.1.19 của Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng Thương mại quốc tế đã miêu tả một cách chính xác đặc trưng đó như sau:

“Yếu tố quyết định không phải là hình thức trong đó các điều khoản này được trình bày (ví dụ: các điều khoản này được chứa đựng trong văn bản riêng hay trong chính hợp đồng; các điều khoản này được ban hành dưới dạng bản in sẵn hay chỉ được lưu trữ online), cũng không phải người soạn thảo các HĐTM, ĐKGDC (chính là một trong các bên, hay hiệp hội thương mại hay nghề nghiệp ), hay số lượng (bao gồm toàn bộ các điều khoản liên quan đến tất cả các khía cạnh liên quan của hợp đồng hay chỉ một hay hai điều khoản, chẳng hạn điều khoản miễn trừ trách nhiệm

4

F.Kessler (1943), “Contracts of Adhesion some Thoughts about Freedom of Contract”, Colum.L.Rev., tr.629

Trang 15

hoặc điều khoản trọng tài) Yếu tố quyết định là việc thực tế các điều khoản này đã được soạn sẵn để sử dụng chung, nhiều lần lặp đi lặp lại và trong trường hợp đó, được

sử dụng thực sự bởi một bên không dựa trên sự thương lượng với phía bên kia” 5

1.2 Khái niệm kiểm soát và sự cần thiết phải kiểm soát các hợp đồng theo mẫu trong giao dịch với người tiêu dùng

1.2.1 Khái niệm và cơ chế kiểm soát

Theo nghĩa chung, kiểm soát được hiểu là xem xét một hành vi có làm theo đúng quy tắc, kỷ luật hay pháp luật không6 hoặc xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái quy định7, bao gồm các hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động; phát hiện sai lệch vi phạm và áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm tối thiểu hóa sai lệch vi phạm đảm bảo thực hiện mục tiêu8

Bên cạnh sự kiểm soát trong nội bộ doanh nghiệp, nhà nước còn xây dựng những biện pháp kiểm soát thông qua cơ chế hành chính Việc kiểm soát HĐTM, ĐKGDC của các tổ chức, cá nhân kinh doanh được quy định trong Luật BVQLNTD là một trong những cơ chế như thế Qua đó, nhà nước can thiệp vào nội dung HĐTM, ĐKGDC trước khi xác lập giao dịch cũng như trong quá trình áp dụng với người tiêu dùng

Quá trình kiểm soát này được cấu thành bởi các yếu tố sau:

- Chủ thể kiểm soát: cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng bao gồm Cục QLCT và Sở Công thương;

- Đối tượng kiểm soát: tổ chức, cá nhân kinh doanh sử dụng HĐTM, trong giao dịch với người tiêu dùng;

- Mục tiêu: bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh; giảm thiểu tranh chấp phát sinh từ việc giao kết/tham gia HĐTM; bảo đảm trật tự chung của toàn xã hội và môi trường kinh doanh lành mạnh, bền vững;

5

Xem nguyên bản tiếng Anh tại 2010/415-chapter-2-formation-and-authority-of-agents-section-I-formation/897-article-2-1-19-contracting- under-standard-terms> truy cập ngày 15/12/2015

Lê Hương (2014), “Quản lý hành chính nhà nước”, Thư viện chia sẻ tài liệu tại địa chỉ:

http://tailieu.tv/tai-lieu/quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-chuong-6-kiemsoat-doi-voi-hanh-chinh-nha-nuoc-23121/ ngày truy cập 30/2/2016

Trang 16

- Cơ chế kiểm soát: (i) tiền kiểm (pháp luật yêu cầu đăng ký HĐTM, đối với một số hàng hoá, dịch vụ theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trước khi áp dụng với người tiêu dùng); (ii) hậu kiểm (đối với những HĐTM, không thuộc phạm vi phải đăng ký, cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh loại bỏ điều khoản vi phạm trong các HĐTM, trong quá trình áp dụng với người tiêu dùng); (iii) vừa tiền kiểm vừa hậu kiểm (cơ quan có thẩm quyền xét duyệt hồ sơ đăng ký, đồng thời và kiểm tra việc áp dụng HĐTM, đã được chấp nhận trên thực tế)

1.2.2 Sự cần thiết phải kiểm soát các hợp đồng theo mẫu trong giao dịch với người tiêu dùng

Việc sử dụng cùng một HĐTM, cho nhiều giao dịch khác nhau đóng vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí và thời gian đàm phán, qua đó tăng hiệu quả kinh tế của việc giao kết hợp đồng9 Chính vì lý do thiết thực này, HĐTM, đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hiện đại, đặc biệt là trong kỷ nguyên số với sự phát triển của thương mại điện tử hiện nay

Tuy nhiên, các HĐTM, cũng tạo ra những thách thức mới đối với lý thuyết truyền thống về hợp đồng vốn được xây dựng dựa trên ý niệm: hợp đồng là kết quả của đàm phán10 Việc các HĐTM, do một bên “áp đặt” cho bên còn lại, có thể dẫn đến tình trạng làm giảm khả năng của bên kia trong việc đạt tới một thỏa thuận công bằng

Quá trình chuyển đổi mô hình kinh doanh ở Việt Nam đi liền với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là việc thiết lập khung pháp luật dân sự làm nền tảng cho các giao dịch Để đáp ứng mục tiêu trên, BLDS năm 1995 và sau đó là BLDS năm

2005 được xây dựng dựa trên nguyên tắc nền tảng của luật hợp đồng cổ điển: nguyên tắc tự do hợp đồng Nội hàm cơ bản của nguyên tắc tự do hợp đồng là quyền tự do của các bên trong việc xác lập hợp đồng, lựa chọn đối tác và các điều khoản của hợp đồng Chức năng của pháp luật hợp đồng khi đó là thiết lập các cơ chế hữu hiệu để đảm bảo quá trình giao kết hợp đồng và hỗ trợ thực thi các cam kết thỏa thuận đạt được dựa trên sự tự do ý chí của các bên Nhà nước, thông thường không can thiệp trực tiếp vào nội dung của hợp đồng, bởi vì một khi hợp đồng là kết quả của quá trình tự do thương lượng và thỏa thuận giữa các bên có địa vị pháp lý bình đẳng, các điều khoản của hợp

9

Gillette, Clayton P.(2009), “Standard Form Contracts”, NYU Law and Economics Research Paper No.09-18

tại địa chỉ http://ssrn.com/abstract=1374990 ngày truy cập 15/12/2015

10

Thomas Wilhelmsson (2011), “Standard Form Conditions”, Arthur S Hartkamp, Towards a European Civil

Code, Kluwer Law; tr.571-586

Trang 17

Học thuyết về chi phí giao dịch: Học thuyết này nhấn mạnh đến bản chất của

hợp đồng mẫu khi có sự bất cân xứng về chi phí giao dịch (transaction costs) giữa bên ban hành HĐTM, và bên còn lại Vì HĐTM có thể được sử dụng lặp đi lặp lại cho nhiều giao dịch khác nhau, bên ban hành HĐTM có thể phân tán chi phí đầu tư cho việc soạn thảo hợp đồng Trong khi đó, do chỉ tham gia giao dịch một lần, bên còn lại

sẽ không có động cơ để trả chi phí tương ứng với phía bên kia nhằm thu thập những thông tin cần thiết cho quá trình thương lượng hợp đồng Vì nguyên nhân đó, luôn tồn tại sự bất cân xứng về thông tin giữa bên ban hành HĐTM và bên đối tác 13 Do đó, việc sử dụng HĐTM thường dẫn đến hệ quả là tước đoạt khả năng của một bên trong việc thương thảo nhằm đạt đến một điều khoản công bằng

Bên cạnh đó, vì thiếu thông tin và động cơ để đàm phán từng nội dung của HĐT, phía bên kia mà tiêu biểu là người tiêu dùng sẽ dần dần hình thành tâm lý bỏ mặc, không quan tâm đọc, tìm hiểu nội dung của điều khoản đó nữa Hậu quả kéo theo của hiện tượng này là, nếu người tiêu dùng không có thói quen đọc HĐTM, bên cung cấp HĐTM cũng không có động lực cạnh tranh để thiết kế HĐTM tốt hơn, hấp dẫn hơn đối với người tiêu dùng Các doanh nghiệp khác, ban đầu cung cấp các HĐTM tương đối tốt, chứng kiến hiện tượng đó, sẽ dần dần loại bỏ điều khoản công bằng, thay vào đó là điều khoản bất công cho người tiêu dùng Tình trạng này kéo dài sẽ mở rộng ra toàn bộ thị trường, dẫn đến sự “thất bại của thị trường” theo một hiện tượng

11

Atiyah (1979), P.S The Rise and Fall of Freedom of Contract (Oxford: Oxford University Press)

12

Martin Ebers (2008), “Unfair Contract Terms Directive (93/13)”, H Schulte-Nửlke et al., EC Consumer Law

Compendium, tr.337; Xem thêm P Nebbia (2007), “Unfair Contract Terms in European Law”, A Study in Comparative and EC Law, Vol 15

Trang 18

mà George Arthur Akerlof - kinh tế gia đoạt giải Nobel năm 2001 - gọi là “market for lemons”14, trong đó chất lượng HĐTM ngày càng giảm đi theo hướng bất lợi cho người tiêu dùng15 Chính điều đó là lý do tại sao cần phải có sự kiểm soát từ phía nhà nước để đảm bảo tính công bằng trong nội dung các HĐTM, ĐKGDC

Học thuyết về lạm dụng vị thế: Học thuyết này dựa trên khái niệm về sự chênh

lệch về vị thế thương lượng giữa các bên (inequality of bargaining power) Theo đó, trái với học thuyết về chi phí giao dịch, nguyên nhân sâu xa đằng sau việc hợp đồng mẫu mà nhấn mạnh đến nhu cầu bảo vệ một nhóm người xác định cụ thể - người tiêu dùng là bên thường được coi là bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng với doanh nghiệp16 Do có lợi thế hơn về mặt vị thế kinh tế, xã hội và tâm lý, doanh nghiệp thường có khả năng đơn phương áp đặt các điều khoản do mình soạn thảo gây bất lợi cho người tiêu dùng Các đạo luật về kiểm soát tính công bằng của hợp đồng được thiết kế dựa trên một nguyên tắc mới của luật hợp đồng hiện đại - nguyên tắc bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng17

Bên cạnh đó, việc sử dụng các HĐTM cũng đẩy người tiêu dùng đến trước những rủi ro đồng thời cũng là thách thức cho nhiệm vụ quản lý nhà nước như sau:

Thứ nhất, việc thiếu khả năng thương lượng và thỏa thuận có thể dẫn đến việc

một bên không nhận thức được sự tồn tại hay nội dung của HĐTM do một bên đơn phương đưa ra Do đó, vấn đề đầu tiên đặt ra là pháp luật cần can thiệp để quy định những điều kiện nhất định để HĐTM do một bên đơn phương soạn thảo có thể trở thành một phần của hợp đồng và ràng buộc bên còn lại (the incorporation issue)?

Thứ hai, vấn đề quan trọng hơn là việc sử dụng các HĐTM, có nguy cơ tạo ra

hợp đồng bất lợi và thậm chí bất công cho bên còn lại, vậy làm thế nào để đảm bảo tính công bằng trong các trường hợp đó (the issue of control of unfair terms)?

M Schillig (2008), “Inequality of Bargaining Power Veus Market for Lemons: Legal Paradigm Change and

the Court of Justice’s Jurisprudence on Directive 93/13 on Unfair Contract Terms”, Eur.Law Rev., tr 336-358

16

Martijn Hesselink, Marco Loos (2012), “Unfair Terms in B2C Contracts”, CSECL Working Paper No.7

17

Ewoud Hondius (2004), “The Protection of the Weaker Party in Harmonized European Contract Law: A

Synthesis”, Journal of Consumer Policy 27, tr.245-251

Trang 19

Thứ ba, các HĐTM sẽ được giải thích như thế nào khi bên còn lại không có khả

năng tác động vào quá trình soạn thảo hợp đồng (the interpretaion issue)?18

Trước những vấn đề đã nêu, các nhà soạn thảo Luật BVQLNTD Việt Nam nhận định rằng sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ tư này sẽ góp phần ổn định trật tự

xã hội, bảo vệ lợi ích chung của xã hội và trong một chừng mực nhất định tạo ra thế cân bằng trong giao lưu dân sự19

1.3 Pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu

Quan hệ tiêu dùng là một loại quan hệ được thực hiện trên cơ sở hợp đồng mua bán, theo đó, người tiêu dùng mua và/hoặc sử dụng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của người cung cấp mà không vì mục đích kinh doanh (bán lại) Như vậy, quan hệ tiêu dùng không phải là quan hệ thương mại, được điều chỉnh bởi Luật Thương mại mà chỉ

có thể là quan hệ dân sự được điều chỉnh chung bởi Bộ luật dân sự

Là văn bản pháp luật gốc trong đời sống pháp lý dân sự, Bộ luật dân sự yêu cầu phải thiết lập các quan hệ pháp luật dân sự theo các nguyên tắc tự do thỏa thuận, nguyên tắc bình đẳng, thiện chi và trung thực, tự chịu trách nhiệm, tôn trọng đạo đức tốt đẹp, tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự, tôn trọng lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, nguyên tắc tuân thủ pháp luật và nguyên tắc hòa giải

Tuy nhiên, tính chất xã hội của quan hệ tiêu dùng là họ luôn buộc phải tham gia vào mối quan hệ với đặc tính truyền kiếp là “thông tin bất cân xứng” Do đó, người tiêu dùng khó có thể có cơ hội được tự do, bình đẳng Bên cạnh sự bất cân xứng về thông tin, người tiêu dùng còn có thể phải rơi vào tình trạng mất khả năng mặc cả khi

họ buộc phải sử dụng hàng hoá, dịch vụ của nhà cung cấp độc quyền

Thực tế cho thấy, những kẻ có thế và lực mạnh hơn thường hành xử theo xu hướng lạm dụng quyền lực trong quan hệ với kẻ yếu Thêm vào đó, nếu như cứ có 300% lợi nhuận thì các nhà “tư bản” sẵn sàng treo cổ mình lên và vì vậy, họ cũng sẵn sàng “khuyến mại” cho khách hàng và người tiêu dùng những cạm bẫy pháp lý và kỹ thuật và thậm chí còn cả những thứ độc hại Vì lẽ đó, mọi hệ thống pháp luật nhân đạo đều phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu và như thế, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng sẽ tựa hồ

18

Trong cuốn Towards a European Civil Code, Thomas Wilhemsson cũng khẳng định đây là ba vấn đề quan trọng nhất mà các quy định của BLDS Châu Âu trong tương lai cần phải điều chỉnh Xem thêm Thomas Wilhelmsson, Standard Form Conditions; sđd, tr 571-586

19

Bộ Công thương (2010), Tờ trình số 28/TTr-CP ngày 8/4/2010 về Dự án Luật Bảo vệ người tiêu dùng, tr.6

Trang 20

như một công cụ hỗ trợ từ bên ngoài quan hệ dân sự để khắc phục những lỗ hổng về khả năng tự do và bình đẳng của người tiêu dùng trong quan hệ với nhà cung cấp để quan hệ dân sự có thể trở lại với đúng nguyên tắc của nó20

Trên tinh thần đó, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là loại pháp luật mang tính can thiệp vào quyền tự do (do không nhận thức được quy luật) của các nhà cung cấp sản phẩm, hàng hoá dịch vụ và như thế, không có sự tự do và bình đẳng trong quan hệ pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng

Cũng cần lưu ý rằng, các lĩnh vực pháp luật khác như pháp luật cạnh tranh, pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm, pháp luật về chất lượng sản phẩm và rộng ra

là cả pháp luật dân sự, hình sự đều có thêm mục đích là bảo vệ người tiêu dùng Tuy nhiên, nếu như những pháp luật này bảo vệ người tiêu dùng theo phương pháp can thiệp vào hành vi của nhà sản xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm hàng hoá dịch vụ thông qua những hạn chế hoặc cấm đoán hành vi thì pháp luật bảo vệ người tiêu dùng (với tính cách là một chế định pháp luật độc lập) lại xuất hiện ở phía người tiêu dùng Theo đó, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng sẽ tạo cho người tiêu dùng những khả năng

và cơ hội thuận lợi hơn trong cơ chế điều chỉnh pháp luật quan hệ mua bán (theo luật dân sự) mà một chủ thể pháp luật dân sự thông thường sẽ không có được

Nếu như trong xã hội không xuất hiện quan hệ tiêu dùng như đã trình bày trên đây thì mọi quan hệ dân sự thông thường đều chỉ cần đến sự điều chỉnh của pháp luật dân sự truyền thống Như thế, mọi vấn đề đều được diễn ra như theo những nguyên tắc truyền thống trong việc xem xét, đánh giá và xử lý các hành vi pháp lý

Tuy nhiên, xuất phát từ những phân tích trên đây, sản xuất hàng hoá dẫn đến những người cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ chuyên nghiệp và quan hệ tiêu dùng nhất định phải xuất hiện trong xã hội hiện đại Vì vậy, do bản thân quan hệ tiêu dùng luôn tiềm ẩn những ngoại lệ của nguyên tắc dân sự truyền thống nên việc thiết kế

cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng phải tính đến việc thực thi những ngoại lệ trong quan hệ pháp luật dân sự về nội dung và hình thức Hơn thế nữa, do chính pháp luật đã chứa trong mình sự bất công bằng (do phải dùng cùng một thước đo để áp dụng cho mọi hiện tượng cụ thể khác nhau trên thực tế) nên việc áp dụng những ngoại lệ của cơ

20

Nguyễn Như Phát (2010), “Một số vấn đề lý luận xung quanh Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Trang

thông tin Cục QLCT tại địa chỉ: http://www.vca.gov.vn/NewsDetail.aspx?ID=1289&CateID=80 ngày truy cập

12/3/2016

Trang 21

chế áp dụng pháp luật dân sự đối với người tiêu dùng là xuất phát từ nhu cầu nội tại của chính hiện tượng pháp luật để thiết lập sự công bằng pháp lý trên thực tế Điều này cũng từng bước thể hiện trong quan hệ pháp luật lao động

Từ những điều trên đây cho thấy, việc áp dụng những hiện tượng điều chỉnh pháp luật mang tính đặc thù và ngoại lệ trong cơ chế điều chỉnh pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là nhu cầu khách quan mà không chỉ là nhân đạo và điều này không làm “đổ

vỡ nền tảng của pháp luật dân sự” - như đã có sự lo lắng Điều này khẳng định được bởi lẽ, (i) thứ nhất là không có nguyên tắc nào mà không có ngoại lệ mà ngoại lệ này

đã được luận chứng như trên và (ii) thứ hai là khi áp dụng những ngoại lệ pháp lý (về nội dung và hình thức trong cơ chế dân sự) thì những ngoại lệ này một mặt chỉ áp dụng trong quan hệ tiêu dùng và đối với người tiêu dùng và mặt khác, những vấn đề khác thuộc về pháp luật nội dung và hình thức trong lĩnh vực dân sự và những lĩnh vực khác (như đất đai, tài chính ) mà không được phát triển để trở thành “ngoại lệ” thì giữ nguyên giá trị điều chỉnh quan hệ tiêu dùng

Từ đây, có thể rút ra hệ quả là pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hiểu theo nghĩa tổng quát là một hệ thống pháp luật có liên quan đến nhau mà đạo luật riêng

rẽ về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chỉ có giá trị tiên phong21

Qua tìm hiểu về các quy định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hệ thống pháp luật, có thể thấy cấu trúc về chế định kiểm soát HĐTM bao gồm những nhóm quy định chính sau:

(i) Định nghĩa về HĐTM;

(ii) Đối tượng bị kiểm soát;

(iii) Cơ quan kiểm soát;

(iv) Cơ chế kiểm soát;

(v) Phạm vi kiểm soát;

(vi) Quy định về chế tài xử lý trong trường hợp vi phạm

Các quy định pháp luật cụ thể theo cấu trúc này sẽ được phân tích tại Mục 2.1 Chương 2

21

Nguyễn Như Phát (2010), “Một số vấn đề lý luận xung quanh Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Trang

thông tin Cục QLCT tại địa chỉ: http://www.vca.gov.vn/NewsDetail.aspx?ID=1289&CateID=80 ngày truy cập

12/3/2016

Trang 22

1.4 Một số kinh nghiệm trên thế giới về việc bảo vệ người tiêu dùng thông qua chế định hợp đồng theo mẫu

1.4.1 Pháp luật một số nước

Trong phạm vi tài liệu tiếp cận được, tác giả đã nghiên cứu và rút ra kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc bảo vệ người tiêu dùng thông qua chế định HĐTM như sau:

1.4.1.1 Canada (Quebec)

Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Quebec cũng như bản hướng dẫn thực thi Luật

đã quy định một cách chi tiết các vấn đề liên quan đến hợp đồng tiêu dùng Quan điểm của nhà làm Luật Quebec là bảo vệ người tiêu dùng thông qua chế định hợp đồng Do

đó, các chế định trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Quebec đều liên quan đến chế định hợp đồng Hay nói cách khác, có thể xem Luật Bảo vệ người tiêu dùng Quebec như một đạo luật bảo vệ người tiêu dùng thông qua quan hệ hợp đồng giữa người tiêu dùng và thương nhân

Chương 1 của Luật về những quy định chung trong đó đưa ra các quy định chung liên quan đến việc bảo vệ người tiêu dùng thông qua Hợp đồng hàng hoá, dịch

vụ Ngay tại Điều 8, Luật khẳng định: “Người tiêu dùng có thể đề nghị tuyên bố vô

hiệu một hợp đồng hoặc đề nghị giảm nghĩa vụ của mình nếu trong hợp đồng thể hiện

rõ sự không cân xứng giữa phần nghĩa vụ tương ứng của các bên mà phần lớn thuộc

về người tiêu dùng hoặc nếu nghĩa vụ của người tiêu dùng là quá nhiều, không hợp lý” Điều này có nghĩa là một hợp đồng có thể bị tuyên là vô hiệu nếu nó chứa đựng

những điều khoản gây bất lợi cho người tiêu dùng về phần nghĩa vụ mà người tiêu dùng phải thực hiện Tuy nhiên, Luật không coi trong trường hợp này hợp đồng sẽ bị

vô hiệu đương nhiên mà chỉ bị tuyên là vô hiệu khi có yêu cầu của người tiêu dùng Đây là một quy định bảo vệ người tiêu dùng một cách rõ ràng trong trường hợp họ thấy những quy định trong hợp đồng là vô lý

Tại Điều 10, Điều 11 cũng quy định về những điều khoản bị cấm, theo đó: “Bất

kỳ quy định nào mà nhờ đó một thương nhân được giải phóng khỏi hậu quả do việc làm của chính thương nhân hoặc đại diện của thương nhân đó gây ra đều bị cấm” và

“bất kỳ quy định nào mà nhờ đó một thương nhân duy trì quyền quyết định đơn

phương: (i) mà người tiêu dùng không có khả năng để hoàn thành một hoặc một vài trong số các nghĩa vụ của mình, hoặc (ii) mà trên thực tế đã xảy ra trường hợp trên

Trang 23

đều bị cấm” Như vậy, kể cả khi điều khoản bất lợi trong hợp đồng chưa gây thiệt hại

cho người tiêu dùng cũng như người tiêu dùng không đề nghị hủy bỏ hoặc tuyên vô hiệu hợp đồng nhưng nếu hợp đồng chứa những nội dung bị cấm (giải phóng nghĩa vụ của thương nhân) thì đều bị cấm

Về ngôn ngữ hợp đồng, Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Quebec quy định cụ thể về ngôn ngữ hợp đồng trong từng loại hợp đồng nhất định đồng thời đưa ra nguyên tắc về giải thích từ ngữ trong trường hợp ngôn ngữ của hợp đồng mập mờ, khó hiểu

Tại Điều 17 của Luật quy định “Trong trường hợp có những điều khoản bị nghi ngờ

hoặc tối nghĩa/mơ hồ, hợp đồng sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho người tiêu dùng” Bộ luật Dân sự của Việt Nam tại khoản 8, Điều 409 cũng quy định: “trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào nội dung bất lợi cho bên yếu thế thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên yếu thế” Mới nghe thì dường như Bộ luật

Dân sự Việt Nam cũng có cách tiếp cận như Luật bảo vệ người tiêu dùng của Quebec, tuy nhiên điều đó không hoàn toàn đúng Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Quebec quy định giải thích hợp đồng theo hướng có lợi cho người tiêu dùng khi có điều khoản bị

nghi ngờ hoặc tối nghĩa, còn theo quy định của Bộ luật Dân sự thì bên được giải thích

theo hướng có lợi là bên yếu thế trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào nội dung bất lợi Như vậy, rõ ràng cách tiếp cận của Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Quebec tiếp cận một cách trực tiếp nhằm bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng

Bên cạnh những quy định bảo vệ người tiêu dùng như trên, trong phần chung của Luật còn quy định một loạt các vấn đề khác liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng như: hợp đồng không có đề nghị giao kết, lựa chọn địa chỉ thường trú, đề nghị thanh toán Các quy định này cũng lấy tiêu chí bảo vệ người tiêu dùng lên trên hết Trong nhiều trường hợp nếu không ó quy định trong hợp đồng thì Luật giải quyết theo hướng

có lợi cho người tiêu dùng nhất, ví dụ tại Điều 21 về địa điểm giao kết hợp đồng, Luật

quy định: “Hợp đồng không có đề nghị giao kết được cho rằng hợp đồng được giao

kết tại địa chỉ của người tiêu dùng”

Trong Chương II của Luật quy định những vấn đề liên quan đến hợp đồng mà Luật yêu cầu phải lập thành văn bản:

- Về ngôn ngữ hợp đồng, Điều 26 quy định: “Hợp đồng và những văn bản kèm

theo nó phải được lập bằng tiếng Pháp, ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận thống nhất lựa chọn một ngôn ngữ khác để sử dụng soạn thảo Hợp đồng Nếu Hợp đồng

Trang 24

được soạn thảo bằng tiếng Pháp và một ngôn ngữ khác, trong trường hợp có sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ, phải lựa chọn theo hướng giải thích có lợi cho người tiêu dùng” Như vậy về mặt ngôn ngữ của hợp đồng Luật cũng đề cao việc bảo vệ quyền

lợi người tiêu dùng một cách tối đa

- Về ký kết hợp đồng, Điều 27 quy định: “Theo quy định tại Điều 29, thương

nhân phải ký kết đầy đủ vào hợp đồng văn bản, đưa Hợp đồng cho người tiêu dùng và cho họ một khoản thời gian cần thiết để đọc và hiểu được các điều khoản cũng như mục tiêu của hợp đồng trước và khi đặt bút ký” Đây có thể coi là một quy định hết sức

quan trọng, trong nhiều trường hợp thương nhân khi ký hợp đồng với người tiêu dùng không đưa lại một bản hợp đồng cho người tiêu dùng Do vậy, khi xảy ra tranh chấp liên quan đến hợp đồng thì người tiêu dùng không có đầy đủ chứng cứ cho việc khiếu nại của mình Mặt khác, người tiêu dùng nhiều khi lâm vào thế bị động trong giao kết hợp đồng với thương nhân, họ không có đủ thời gian và cơ hội để có thể xem lại hợp đồng một cách kỹ càng Quy định trách nhiệm của thương nhân trong việc tạo điều kiện cho người tiêu dùng được đọc và hiểu hợp đồng trong một khoảng thời gian hợp

lý đã khắc phục được tình trạng trên Việc giao hợp đồng cho người tiêu dùng không chỉ là một nghĩa vụ của thương nhân mà nó còn là căn cứ để xác định sự ràng buộc về mặt pháp lý của người tiêu dùng theo hợp đồng, bởi vì theo quy định tại Điều 33 của

Luật thì: “Người tiêu dùng chỉ bắt buộc phải hoàn thành nghĩa vụ của mình kể từ thời

điểm người tiêu dùng nắm trong tay một bản hợp đồng”

Chương III Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Quebec quy định các điều khoản liên quan đến các dạng hợp đồng nhất định như: bảo hành, hợp đồng do thương nhân bán hàng lưu động ký kết, hợp đồng tín dụng, hợp đồng cho thuê hàng hóa dài hạn, hợp đồng về ô tô và mô tô

Bản hướng dẫn Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Quebec (sau đây gọi là

“Hướng dẫn”) đã chi tiết hóa các quy định trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng một cách tối đa

- Hướng dẫn quy định các vấn đề mang tính kỹ thuật như: loại giấy dùng để in hợp đồng (Hợp đồng phải được trình bày trên loại giấy số 7 (Number 7 Bond paper) với trọng lượng là 11,8g/1000 tờ 432mm x 559 hoặc loại giấy có chất lượng cao hơn);

cỡ chữ thể hiện trong hợp đồng (ít nhất là 10)

Trang 25

- Hướng dẫn cũng bắt một số nội dung phải đưa vào hợp đồng tùy vào từng loại hợp đồng cụ thể, ví dụ trong hợp đồng có những điều khoản bất lợi cho người tiêu dùng được phép sử dụng theo quy định của Luật thì phải có dòng chữ “Điều khoản này theo quy định của Luật Bảo vệ người tiêu dùng” Trong một số loại hợp đồng, Hướng

dẫn còn bắt buộc thương nhân phải đưa vào nội dung: “Đây là quyền lợi của người

tiêu dùng theo quy định tại Điều của Luật Bảo vệ người tiêu dùng, nếu cần, hãy liên

hệ với Văn phòng bảo vệ người tiêu dùng ”

Nhìn chung, có thể khẳng định Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Quebec là một trong những đạo luật thể hiện cách tiếp cận bảo vệ người tiêu dùng thông qua chế định hợp đồng một cách rõ ràng nhất và toàn diện nhất

1.4.1.2 Pháp

Cộng hòa Pháp là một trong những mảnh đất nơi mà vấn đề quyền con người (nói chính xác hơn là quyền cá nhân) được quan tâm nhiều khi đến mức cao hơn cả chủ quyền quốc gia22 Đó là một trong những hệ quả của cuộc cách mạng tư sản và gắn với nó là nhu cầu giải phóng con người, tôn trọng các giá trị tự nhiên của con người bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng có thể nói là một khía cạnh tiêu biểu của xu hướng này, được cả xã hội nhìn nhận từ lâu như một trong những nhu cầu tự nhiên của quá trình lập pháp

Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở cộng hòa Pháp đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật và hơn thế, nó đã và đang được “chính trị hóa”

ở mức độ khác nhau bởi lẽ các chính trị gia tồn tại trên lá phiếu của cử tri mà tất cả các

cử tri đều là người tiêu dùng Các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng,

vì thế, cũng rất được “ưu ái”, thể hiện sự đa dạng từ các thiết chế quyền lực nhà nước đến các tổ chức xã hội dân sự

Trong pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của Pháp, các quy định về điều khoản lạm dụng người tiêu dùng (Clause abusive) là một trong những chế định cơ bản

Trong thực tế đời sống, nhiều nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp sử dụng các hợp đồng mẫu để giao kết với người tiêu dùng (ví dụ: điện, nước, điện thoại cố định và di động ); người tiêu dùng không được đàm phán các nội dung của hợp đồng mà chỉ có

sự chọn lựa: giao kết hay không giao kết hợp đồng Vấn đề đặt ra là nếu trong các hợp

22

Có lẽ chỉ có EU mới thừa nhận việc công dân của các nước thành viên được quyền kiện cả quốc gia của mình

ra trước Tòa án Châu Âu, đặc biệt trong lĩnh vực nhân quyền

Trang 26

đồng này có chứa những điều khoản gây bất lợi cho người tiêu dùng thì có giải pháp nào để khắc phục không?

Nhà lập pháp Pháp đã sớm ý thức được vấn đề này Trong một án lệ nổi tiếng của Tham chính viện vào năm 1978 và được pháp điển hóa bằng luật ngày 1 tháng 2 năm 1995, vấn đề này đã được quy định như sau:

“Trong các hợp đồng được giao kết giữa nhà chuyên môn và người tiêu dùng, các điều khoản bị coi là điều khoản lạm dụng người tiêu dùng nếu có đối tượng hoặc

hệ quả tạo ra một sự mất cân xứng một cách rõ ràng giữa quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng

Chính phủ có thể ban hành Nghị định, sau khi tham vấn Tham chính viện và Ủy ban quốc gia về điều khoản lạm dụng người tiêu dùng, để xác định những điều khoản nào bị coi là điều khoản lạm dụng người tiêu dùng Tuy nhiên, danh mục này không phải là bất biến, trong quá trình xét xử, tòa án hoàn toàn có thể coi những điều khoản khác là điều khoản lạm dụng người tiêu dùng

Các điều khoản lạm dụng người tiêu dùng có hệ quả bị vô hiệu Các điều khoản khác của hợp đồng vẫn có giá trị áp dụng nếu không bị tuyên vô hiệu”

Trên thực tế, các điều khoản này thường là:

- Loại trừ hoặc hạn chế trách nhiệm pháp lý của bên bán/nhà cung cấp dịch vụ trong trường hợp người tiêu dùng bị chết;

- Cho phép bên bán/nhà cung cấp dịch vụ được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần thông báo trước cho người tiêu dùng trong trường hợp các hợp đồng có thời hạn không xác định;

- Bắt buộc người tiêu dùng phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng ngay cả trong trường hợp bên bán/nhà cung cấp dịch vụ không thực hiện nghĩa vụ;

- Cấm hoặc ngăn cản người tiêu dùng khởi kiện ra tòa án hoặc khiếu nại lên cơ quan có thẩm quyền;

- Quy định rằng giá của sản phẩm sẽ được xác định vào thời điểm giao hàng hoặc cho phép người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ quyền tự ý tăng giá mà không tạo điều kiện cho người mua hàng hoá, dịch vụ quyền chấm dứt hợp đồng nếu

Trang 27

không phải nêu lý do và không bị phạt, Điều L121-20-12 quy định: “Người tiêu dùng

được hưởng thời hạn 15 ngày để thực hiện quyền rút lại giao kết mà không phải nêu lý

do và không bị phạt”

Như vậy, có thể Bộ luật Tiêu dùng của Pháp tiếp cận vấn đề bảo vệ người tiêu dùng thông qua chế định hợp đồng một cách rõ ràng Điều này thể hiện rất rõ thông qua việc quy định nhằm giúp người tiêu dùng có thể chủ động trong các giao dịch Đặc biệt, Bộ luật còn đưa ra những quy định mang tính nghiêm khắc như việc quy định số tiền mà người tiêu dùng thanh toán trước để mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ, nếu người bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ vi phạm nghĩa vụ giao hàng thì người tiêu dùng có thể chấm dứt hợp đồng, số tiền thanh toán trước đó được coi như là khoản tiền đặt cọc Rõ ràng đây là những quy định rất mạnh mẽ nhằm giúp người tiêu dùng đối phó với những hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ

1.4.1.3 Liên minh Châu Âu

EU đã ban hành nhiều chỉ thị liên quan đến người tiêu dùng nhằm khuyến cáo các nước thành viên đảm bảo thực hiện trong các quy định pháp luật của mình Một trong những chỉ thị đáng chú ý nhất là Chỉ thị số 1999/44/EC của Nghị viện Châu Âu

và Hội đồng Châu Âu ngày 25 tháng 5 năm 1999 về việc bán hàng hóa cho người tiêu dùng và bảo hành kèm theo (sau đây gọi tắt là “Chỉ thị”) Chỉ thị không đưa ra một quy định mang tính cụ thể về Hợp đồng tiêu dùng mà quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc Tuy nhiên, nhằm đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng, một số nội dung trong các quy định của Chỉ thị cũng có đề cập đến chế định hợp đồng

Tại Điều 2 của Chỉ thị về “Việc tuân thủ theo hợp đồng” quy định rằng người bán phải cung cấp hàng hoá cho người tiêu dùng theo những điều khoản trong hợp

23

Xem Phụ lục Điều L.132 Code de la consommation

Trang 28

đồng mua bán và đưa ra các tiêu chí để được coi là tuân theo hợp đồng như: a) tuân theo đúng với những miêu tả mà người bán đưa ra và đạt chất lượng hàng hoá sản phẩm mà người bán đã chào mới với người tiêu dùng như hàng mẫu; b) phù hợp với mục đích cụ thể mà người tiêu dùng cần và những gì người tiêu dùng cho người bán biết tại thời điểm giao kết hợp đồng và người bán đã chấp nhận; c) phù hợp với mục đích sử dụng cho những cái mà hàng hoá cùng loại có thể sử dụng được

Khoản 5 Điều 3 cũng đưa ra một số trường hợp mà người tiêu dùng có thể yêu cầu giảm giá hoặc hủy hợp đồng như: trong trường hợp người tiêu dùng không chấp nhận sửa chữa hoặc đổi mới; người bán không hoàn thành biện pháp đền bù trong thời gian hợp lý, hoặc người bán không thực hiện biện pháp mà không tránh khỏi việc gây ảnh hưởng lớn đến người tiêu dùng

Điều 7 quy định về việc ràng buộc người tiêu dùng, quy định: “Bất kỳ một điều

khoản hợp đồng hay thỏa thuận nào được ký kết với người bán trước khi người bán biết về việc không tuân thủ quy định của Chỉ thị này mà trực tiếp hoặc gián tiếp hạn chế những quyền lợi của người tiêu dùng được quy định trong Chỉ thị này thì theo quy định của luật các quốc gia, những điều khoản hay thỏa thuận này sẽ không có tính ràng buộc đối với người tiêu dùng

Các quốc gia thành viên cần quy định rằng, trong trường hợp hàng hoá là đồ

đã qua sử dụng, người bán và người mua có thể đồng ý với điều khoản hợp đồng hoặc thỏa thuận ràng buộc nghĩa vụ đối với người bán trong thời gian ngắn hơn theo quy định tại điều 5(1)/ Nhưng thời gian đó không thể dưới 1 năm”

Như vậy, Chỉ thị của EU không có một quy định cụ thể về hợp đồng mà chỉ đưa

ra một số nguyên tắc về việc thực hiện hợp đồng Thông qua cơ chế hợp đồng, Chỉ thị tiếp cận việc bảo vệ người tiêu dùng bằng cách cho phép người tiêu dùng được quyền chấm dứt hợp đồng trong một số trường hợp cũng như quy định về việc vô hiệu của hợp đồng nếu người bán vi phạm các quy định của pháp luật Có thể nói rằng đây là cách tiếp cận rất tiến bộ và hiệu quả đối với người tiêu dùng Người tiêu dùng thông qua quy định này được tạo điều kiện tốt nhất cho việc đàm phán và thực hiện hợp đồng, trong trường hợp người tiêu dùng mặc dù ký vào hợp đồng (thỏa thuận) nhưng nếu điều khoản trong hợp đồng có trái với quy định của pháp luật thì không bị ràng buộc nghĩa vụ

1.4.1.4 Đài Loan

Trang 29

Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Đài Loan tiếp cận vấn đề bảo vệ người tiêu dùng thông qua chế định hợp đồng bằng việc quy định một cách khá chi tiết về “Hợp đồng hàng loạt” Theo định nghĩa tại Khoản 9 Điều 2 của Luật thì: “Hợp đồng hàng loạt là hợp đồng mà một phần hoặc toàn bộ Điều khoản cơ bản được soạn thảo bởi các doanh nghiệp kinh doanh” Tại Khoản 7 Điều 2 cũng đưa ra một định nghĩa về “Điều khoản hàng loạt của hợp đồng”: là các điều khoản được các doanh nghiệp kinh doanh đơn phương soạn thảo khi tham gia quan hệ hợp đồng với các bên không xác định với

số lượng lớn Ngoài dạng văn bản, những Điều khoản cơ bản của hợp đồng còn được thể hiện trên các bảng thông báo công cộng, máy bay, thông điệp nơi công cộng, internet và các phương tiện khác Như vậy, có thể nói rằng, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đài Loan đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi tham gia giao kết những hợp đồng có sẵn (do thương nhân soạn thảo) Luật dành hẳn một Mục (Mục 2) để quy định các vấn đề về hợp đồng hàng loạt Điều 11 quy định, khi doanh nghiệp kinh doanh có ý định đưa ra một hợp đồng hàng loạt thì phải để một thời gian ít nhất là 30 ngày để người tiêu dùng xem xét lại nội dung của tất

cả các điều khoản và điều kiện Đồng thời, Luật cũng cho phép cơ quan có thẩm quyền

ở cấp trung ương có thể xem xét thông báo đến người tiêu dùng trong một thời gian thích hợp để người tiêu dùng có thể xem xét các điều khoản và điều kiện của hợp đồng

ở một số ngành cụ thể Điều 11 cũng quy định: “nếu các điều khoản và điều kiện trong

hợp đồng hàng loạt được hiểu theo nhiều nghĩa thì phải giải thích trên cơ sở có lợi cho người tiêu dùng”

Điều 12 của Luật cũng quy định nếu hợp đồng hàng loạt vi phạm nguyên tắc thiện chí và không công bằng với người tiêu dùng thì sẽ bị coi là vô hiệu, đồng thời đưa ra một số trường hợp mà hợp đồng bị coi là vi phạm nguyên tắc không công bằng

Điều 13 quy định, trong trường hợp các điều khoản trong hợp đồng hàng loạt không rõ ràng thì doanh nghiệp kinh doanh phải chịu trách nhiệm chứng minh, giải thích cho người tiêu dùng Nếu việc chứng minh, giải thích có những khó khăn thì phải công bố công khai nội dung các điều khoản này và phải được sự chấp thuận của người tiêu dùng Luật cũng quy định nếu điều khoản hàng loạt không rõ ràng và người tiêu dùng không nhận thức được các điều khoản đó thì nó sẽ không trở thành một phần của hợp đồng

Trang 30

Điều 16 của Luật quy định, trong trường hợp các điều khoản hàng loạt bị vô hiệu nhưng hợp đồng vẫn có thể thực hiện được thì các phần còn lại của hợp đồng vẫn tiếp tục có hiệu lực Điều này có nghĩa là tùy từng trường hợp mà hợp đồng có thể bị coi là vô hiệu một phần hay toàn bộ

Điều 17 của Luật cho phép cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương có quyền yêu cầu một số ngành, lĩnh vực được niêm yết công khai các điều khoản và điều kiện hàng loạt Trong trường hợp khi ký kết hợp đồng với người tiêu dùng mà các điều khoản và điều kiện trong hợp đồng trái với các điều khoản, điều kiện đã công bố thì bị coi là vô hiệu Đồng thời, Luật cũng cho phép các cơ quan có thẩm quyền có thể cử nhân viên đi kiểm tra hợp đồng hàng loạt của các doanh nghiệp ở bất kỳ thời điểm nào Đây có thể coi là mộ quy định rất quan trọng tạo hành lang pháp lý cho các cơ quan nhà nước, đặc biệt là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng có thể giám sát các hợp đồng hàng loạt một cách thường xuyên, nghiêm túc đảm bảo nội dung các điều khoản, điều kiện trong hợp đồng đó không vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng

1.4.1.5 Malaysia

Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 của Malaysia cũng không quy định hẳn một phần về hợp đồng Tuy nhiên, xuyên suốt trong các chế định của Luật này là những quy định bảo vệ người tiêu dùng liên quan đến quan hệ hợp đồng Ngay tại Điều 4, Điều 6 Phần I của Luật đã khẳng định nguyên tắc: bất kỳ điều khoản nào của hợp đồng hoặc bất kỳ sự viện dẫn luật nước ngoài nào cho phép bên áp dụng nó tránh được những trách nhiệm hoặc có những nội dung đi ngược lại các quy định theo quy định của Luật này đều không có giá trị pháp luật Như vậy có thể hiểu, Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 của Malaysia đảm bảo trách nhiệm của các bên (trong đó có

tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá dịch vụ) kể cả khi trong hợp đồng có thể có điều khoản thỏa thuận khác Điều này thể hiện quan điểm của nhà làm luật Malaysia trong việc bảo vệ người tiêu dùng trước nguy cơ có thể bị tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ áp đặt những điều kiện nhằm loại trừ trách nhiệm của họ đối với NTD theo Luật Bảo vệ người tiêu dùng

Bên cạnh việc quy định các nguyên tắc về nội dung hợp đồng, Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Malaysia cũng quy định rõ một số loại hợp đồng cũng như quy định khá cụ thể liên quan đến quan hệ hợp đồng giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá

Trang 31

nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Ví dụ tại Điều 17 quy định về “Hợp đồng dịch vụ tương lai” (hợp đồng dịch vụ liên tục) là loại hợp đồng dịch vụ cung cấp cho người tiêu dùng một cách liên tục theo quy định của Bộ trưởng tùy từng thời điểm Luật cũng quy định người tiêu dùng nếu muốn chấm dứt Hợp đồng dịch vụ liên tục thì phải trả cho nhà cung cấp các chi phí sau:

- 5% tổng giá trị hợp đồng;

- Giá trị của tài sản mà người tiêu dùng đã sử dụng hoặc đang nắm giữ; hoặc

- Tỷ lệ phần trăm của tổng giá trị hợp đồng cho phần dịch vụ mà người tiêu dùng đã nhận

Luật cũng quy định: khi người tiêu dùng đã trả cho nhà cung cấp nhiều hơn những khoản mà người cung cấp được nhận theo quy định ở trên, người cung cấp sẽ phải trả một phần tiền dư cho người tiêu dùng trong vòng 14 ngày kể từ ngày hủy hợp đồng Bên cạnh đó, Luật cũng quy định thời điểm có hiệu lực của việc hủy hợp đồng dịch vụ liên tục căn cứ vào (i) thời điểm mà nhà cung cấp được thông báo về việc hủy hợp đồng hoặc (ii) căn cứ vào thời điểm người tiêu dùng biểu thị cho người cung cấp bằng cách hợp lý tùy thuộc vào hoàn cảnh, ý định hủy bỏ hợp đồng dịch vụ liên tục khi không thể truyền đạt cho người cung cấp

Như vậy, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Malaysia đặc biệt quan tâm đến loại hợp đồng dịch vụ liên tục bởi vì đây là một giao dịch mà người tiêu dùng có thể chịu những bất lợi do thời hạn thực hiện hợp đồng là rất dài Luật cho phép người tiêu dùng có thể hủy hợp đồng theo những điều kiện nhất định như ở trên Tuy nhiên, cũng không vì thế mà Luật Bảo vệ người tiêu dùng Malaysia bỏ qua quyền và lợi ích chính đáng của nhà cung cấp bằng việc quy định người tiêu dùng cũng có trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng như quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật

Điều 61 của Luật cũng quy định về “mất quyền hủy bỏ hợp đồng”, theo đó: người tiêu dùng sẽ bị mất quyền hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp:

- Dịch vụ cung cấp chỉ là dịch vụ phụ cho việc bán hàng hóa; hoặc

- Người tiêu dùng có quyền từ chối nhận hàng hoá theo Điều 41 nhưng đã không thực hiện quyền đó

Đồng thời, Luật cũng quy định các vấn đề liên quan đến chấm dứt hợp đồng dịch vụ như: nguyên tắc áp dụng cho việc hủy hợp đồng (Điều 63); hiệu lực của việc

Trang 32

hủy bỏ hợp đồng (Điều 64); quyền hạn của Tòa án đối với việc hỷ bỏ hợp đồng (Điều 65)

1.4.2 Sự kế thừa kinh nghiệm quốc tế về HĐTM trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu để xây dựng Luật BVQLNTD, các nhà lập pháp của Việt Nam đã nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và cho rằng cần phải có những quy định cụ thể để bảo vệ người tiêu dùng thông qua quan hệ hợp đồng24

Đến nay, khi Luật đã ra đời, có thể nhận thấy Việt Nam đã có sự tham khảo, học tập kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về chế định HĐTM, ĐKGDC, thể hiện ở một số vấn để nổi bật như:

Thứ nhất, về cách tiếp cận, Luật BVQLNTD cũng được xây dựng dựa trên lý

thuyết về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng với tư cách là một bên yếu thế nhằm chống lại các điều khoản bất công được áp dụng bởi phía doanh nghiệp Chính vì vậy, Luật BVQLNTD đã bổ sung một chế định hoàn toàn mới so với pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trước đó là việc kiểm soát HĐTM, ĐKGDC Việc kiểm soát này được thực hiện thông qua việc đặt ra những quy định bắt buộc đối với các HĐTM, ĐKGDC, đồng thời đặt ra cơ chế đăng ký đối với một số hàng hoá (khoản 1 Điều 19 Luật Bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng), cũng như thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về người tiêu dùng trong việc can hiệp vào nội dung của những HĐTM, ĐKGDC không thuộc phạm vi phải đăng ký (khoản 2 Điều 19 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng)

Thứ hai, quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc trong giao kết với người

tiêu dùng như:

- Quy định các điều khoản cấm (Điều 16 Luật BVQLNTD đã liệt kê chín loại điều khoản sẽ đương nhiên không ó hiệu lực nếu được áp dụng với người tiêu dùng Những quy định này là cơ sở để người tiêu dùng có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu các điều khoản đã ký kết hoặc xác lập và là căn cứ để cơ quan quản lý nhà nước xem xét, đánh giá các HĐTM, ĐKGDC thuộc phạm vi phải đăng ký;

- Quyền tiếp cận điều khoản giao dịch chung trước khi xác lập giao dịch (Điều

17, 18 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng);

24

Bộ Công thương (2010), Tổng quan Luật Bảo vệ người tiêu dùng một số nước trên thế giới, Tài liệu phục vụ

công tác xây dựng Luật Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, tr.48

Trang 33

- Ngôn ngữ hợp đồng (Điều 14 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Điều 7 Nghị định 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng):

- Nguyên tắc giải thích hợp đồng trong trường hợp có nhiều cách hiểu khác nhau (Điều 15 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng);

- Yêu cầu về mặt hình thức đối với ĐHTM (Điều 7 Nghị định 99/2011/NĐ-CP)

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Việc sử dụng cùng một HĐTM cho nhiều giao dịch khác nhau đóng vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí và thời gian đàm phán, qua đó tăng hiệu quả kinh tế của việc giao kết hợp đồng25 Chính vì lý do thiết thực này, HĐTM đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hiện đại, đặc biệt là trong kỷ nguyên số với sự phát triển của thương mại điện tử hiện nay Tuy nhiên, do là bên yếu thế, bất cân xứng

về chi phí giao dịch và thông tin nên việc sử dụng HĐTM thường dẫn đến hệ quả là người tiêu dùng bị tước đoạt khả năng, động lực trong việc thương thảo nhằm đạt đến một điều khoản công bằng Điều này dẫn đến sự cần thiết phải kiểm soát HĐTM trong giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng

Trên thế giới, nhiều quốc gia đánh giá cao tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua chế định hợp đồng Trong quá trình nghiên cứu

để xây dựng Luật BVQLNTD, các nhà lập pháp của Việt Nam đã nghiên cứu và có sự tham khảo, học tập kinh nghiệm về chế định HĐTM của nhiều nước trên thế giới, thể hiện ở một số vấn đề nổi bật như: kế thừa lý thuyết về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng với tư cách là một bên yêu thế nhằm chống lại các điều khoản bất công được áp dụng bởi phía doanh nghiệp và quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc trong giao kết với người tiêu dùng

Từ đó, Việt Nam hình thành cấu trúc pháp luật để kiểm soát HĐTM, bao gồm những nhóm quy định sau: Định nghĩa về HĐTM; đối tượng bị kiểm soát; cơ quan kiểm soát; cơ chế kiểm soát; phạm vi kiểm soát và các quy định về chế tài xử lý trong trường hợp vi phạm

25

Gillette, Clayton P (2009), “Standard Form Contracts”, NYU Law and Economics Research Paper No.09-18

tại địa chỉ http://ssrn.com/abstract=1374990 ngày truy cập 15/12/2015

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT HỢP ĐỒNG THEO MẪU TRONG GIAO DỊCH

GIỮA THƯƠNG NHÂN VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG

2.1 Quy định pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong giao dịch với người tiêu dùng

Như đã trình bày tại Mục 1.3 Chương 1, vấn đề kiểm soát HĐTM trong giao dịch với người tiêu dùng được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như BLDS 2015, Luật BVQLNTD, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Viễn thông

Đối với văn bản pháp luật quy định riêng về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chế định kiểm soát HĐTM lần đầu tiên được quy định trong Luật BVQLNTD26

Trong một thời gian ngắn, các văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành, bao gồm Nghị định 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2011 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVQ:NTD; Quyết định 02/2012/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung; Quyết định 35/2015/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2012 của Thủ thướng Chính phủ; Thông tư số 10/2013/TT-BCT ngày 30 tháng 5 năm 2013 của Bộ Công thương Ban hành mẫu đơn đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung đã tạo cơ sở, nền tảng pháp lý để vận hành thông suốt cơ chế kiểm soát HĐTM

Ngoài định nghĩa HĐTM đã được trình bày tại Mục 1.1 Chương 1, phần này sẽ tập trung làm rõ các nội dung còn lại trong cấu trúc pháp luật về kiểm soát HĐTM theo quy định tại Luật BVQLNTD và các văn bản hướng dẫn thi hành, cụ thể như sau:

2.1.1 Đối tượng hợp đồng theo mẫu bị kiểm soát

Việc kiểm soát HĐTM có thể chia thành hai nhóm, bao gồm: (i) kiểm soát các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM theo Danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành (Điều 19 Luật BVQLNTD, từ Điều 7 đến Điều 15 Nghị định 99/2011/NĐ-CP, Quyết định 02/2012/QĐ-TTg và Quyết định 35/2015/QĐ-TTg) và (ii) kiểm soát các hàng hoá, dịch vụ khác không thuộc phạm vi phải đăng ký (Điều 16 Nghị định 99/2011/NĐ-CP)

26

Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng 1999 - văn bản pháp luật đầu tiên quy định riêng về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa đề cập đến cơ chế kiểm soát HĐTM

Trang 35

Theo đó, có thể nói, hiện nay cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng có quyền can thiệp vào mọi HĐTM được sử dụng để xác lập giao dịch với người tiêu dùng

2.1.2 Cơ quan kiểm soát

Việc kiểm soát HĐTM được Luật BVQLNTD và các văn bản hướng dẫn thi hành giao cho 2 cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều

lý của Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm - Bộ Tài chính

2.1.3 Cơ chế kiểm soát

Tương ứng với hai nhóm HĐTM thuộc đối tượng bị kiểm soát như đã trình bày tại mục 2.1.1 nêu trên, có thể thấy Luật BVQLNTD và các văn bản hướng dẫn thi hành xác lập ba cách thức kiểm soát, bao gồm: (i) tiền kiểm; (ii) hậu kiểm; (iii) vừa tiền kiểm, vừa hậu kiểm

2.1.3.1 Cơ chế tiền kiểm (đăng ký HĐTM)

Đối với nhóm hàng hoá, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM, thuộc Danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành, nhà nước kiểm soát HĐTM dưới hình thức yêu cầu đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có thẩm quyền và chỉ được sử dụng để giao kết với người tiêu dùng khi hoàn thành nghĩa

vụ đăng ký

Về nghĩa vụ đăng ký, khoản 1, Điều 19 Luật BVQLNTD quy định: “Tổ chức,

cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ thiết yếu do Thủ tướng Chính phủ ban hành phải đăng ký HĐTM với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”

Hướng dẫn chi tiết hơn, Điều 8 Nghị định 99/2011/NĐ-CP quy định: “HĐTM

chỉ được áp dụng đối với người tiêu dùng khi việc đăng ký được hoàn thành theo quy định tại Điều 14 Nghị định này” Thời điểm xác định việc hoàn thành nghĩa vụ đăng

Trang 36

ký là khi HĐTM được cơ quan bảo vệ người tiêu dùng ra thông báo về việc chấp nhận đăng ký (khoản 1 Điều 14 Nghị định 99/2011/NĐ-CP)

Về phạm vi đăng ký, theo Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg và Quyết định 35/2015/QĐ-TTg, đến nay có 11 hàng hoá, dịch vụ/nhóm hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục phải đăng ký HĐTM, bao gồm:

- Cung cấp điện sinh hoạt;

- Cung cấp nước sinh hoạt;

- Bảo hiểm nhân thọ

Luật không đưa ra tiêu chí về tính “thiết yếu” để xác định đối tượng thuộc danh mục cần đăng ký mà trao quyền này cho Thủ tướng Chính phủ căn cứ vào nhu cầu bảo

vệ người tiêu dùng trong từng thời kỳ (Điều 2 Quyết định 02/2012/QĐ-TTg)

Về thủ tục đăng ký, Mục 1 Chương III Nghị định 99/2011/NĐ-CP quy định cụ thể về việc nộp hồ sơ của doanh nghiệp và việc trả kết quả của cơ quan quản lý nhà nước, bao gồm thành phần hồ sơ và phương thức nộp hồ sơ đăng ký (Điều 10 Nghị định 99/2011/NĐ-CP); thời hạn và nội dung thông báo kết quả cho doanh nghiệp (Khoản 1 Điều 14 Nghị định 99/2011/NĐ-CP); công khai kết quả đăng ký sau khi hoàn thành thủ tục (Khoản 2 Điều 14 nghị định 99/2011/NĐ-CP); nghĩa vụ đăng ký lại (Điều 15 Nghị định 99/2011/NĐ-CP)

Trang 37

Bên cạnh quy định của pháp luật, cục QLCT và Sở Công thương một số tỉnh, thành trên cả nước còn xây dựng và ban hành Quy trình đăng ký HĐTM cũng như các mẫu văn bản được sử dụng trong quá trình xử lý hồ sơ27

2.1.3.2 Cơ chế hậu kiểm (kiểm tra những HĐTM không thuộc phạm vi phải đăng ký trong quá trình tổ chức, cá nhân áp dụng những HĐTM này với người tiêu dùng)

Đối với các hàng hoá, dịch vụ không thuộc danh mục thiết yếu do Thủ tướng Chính phủ ban hành, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực hiện việc kiểm soát HĐTM thông qua quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh phải sửa đổi, hủy bỏ nội dung vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và nguyên tắc chung về giao kết hợp đồng (khoản 1 Điều 16 Nghị định 99/2011/NĐ-CP)

Trong thời hạn mười (10) ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải sửa đổi, hủy bỏ nội dung vi phạm và thông báo cho người tiêu dùng đã giao kết hợp đồng (khoản 3 Điều 16 Nghị định 99/2011/NĐ-CP)

2.1.3.3 Cơ chế vừa tiền kiểm vừa hậu kiểm (đăng ký và kiểm tra việc áp dụng những HĐTM đã được chấp nhận đăng ký)

Đối với những hàng hoá, dịch vụ thiết yếu thuộc Danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành, sau khi HĐTM của tổ chức, cá nhân kinh doanh đã được chấp nhận đăng ký, cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng kiểm tra việc áp dụng những mẫu được chấp nhận trên thực tế và xử lý hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý nếu phát hiện hành vi vi phạm (khoản 5 Điều 48, khoản 4 Điều 49, Luật BVQLNTD, điểm

i khoản 1 Điều 35 Nghị định 99/2011/NĐ-CP, Điều 68 đến Điều 71 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng), điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định số 127/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm

2015 về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành công thương)

27

Tham khảo thêm Quy trình đăng ký tại Cục QLCT tại địa chỉ:

http://www.vca.gov.vn/expage_bvntd.aspx?id=40&Cate_ID=451#

Trang 38

a) Ngôn ngữ tiếng Việt

Đối với hợp đồng giao kết với người tiêu dùng nói chung, ngôn ngữ được quy định mang tính tùy nghi, tức là ngôn ngữ bằng tiếng Việt hoặc tiếng khác nếu các bên

có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (khoản 2 Điều 14 Luật BVQLNTD) Tuy nhiên, đối với HĐTM pháp luật đưa ra yêu cầu mang tính mệnh

lệnh là ngôn ngữ phải bằng tiếng Việt để đảm bảo việc tiếp cận các điều khoản của

hợp đồng cho mọi đối tượng người tiêu dùng cũng như cho quá trình giải quyết các tranh chấp phát sinh tại các cơ quan tài phán

Bên cạnh đó, điều này cũng hạn chế sự quy định một cách tùy tiện và tràn lan các từ/cụm từ chuyên ngành hoặc kỹ thuật bằng tiếng nước ngoài

b) Cỡ chữ tối thiểu là 12, nền giấy và màu mực của HĐTM phải tương phản nhau

Hiện nay, một số tổ chức, cá nhân kinh doanh thiết kế HĐTM có cỡ chữ nhỏ, thậm chí chỉ khoảng 6-8 nhằm thiết kế nhỏ gọn, thuận tiện cho việc ký và lưu giữ (ví

dụ như các điều khoản về mở tài khoản, thẻ tín dụng tại các ngân hàng) và tiết kiệm chi phí in ấn cho doanh nghiệp Bên cạnh cỡ chữ nhỏ, một số HĐTM có nền giấy in hoa văn trùng với màu mực in chữ

Điều này gây ra sự khó chịu, bất tiện và trong một chừng mực nào đó cản trở việc đọc, tìm hiểu HĐTM kỹ càng của người tiêu dùng Do vậy, pháp luật đưa ra quy định cỡ chữ tối thiểu và tính tương phản giữa nền giấy và màu mực để đảm bảo khả năng tiếp cận cho người tiêu dùng nhằm giúp họ hiểu rõ về các nội dung sẽ ràng buộc trách nhiệm của mình trước khi quyết định tham gia giao dịch Ngoài ra, việc sử dụng loại phông chữ, cách thức bố cục, giãn cách dòng tùy thuộc bên soạn thảo hợp đồng đưa ra

c) Tính rõ ràng, dễ hiểu của ngôn ngữ

Bản chất của HĐTM là tính đơn phương đưa ra các điều khoản giao kết Vì vậy, dựa trên lợi thế về mặt thông tin, nhiều trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh

Trang 39

soạn thảo HĐTM một cách phức tạp, sử dụng những thuật ngữ chuyên môn khó hiểu hoặc chuyển tải nội dung từ tiếng nước ngoài nhưng ngôn ngữ không được Việt hóa Trong khi đó, đối tượng người tiêu dùng có trình độ nhận thức, hiểu biết rất khác nhau trong xã hội Chính vì vậy, sự rõ ràng, minh bạch và dễ hiểu cho mọi người tiêu dùng

là tiêu chí bắt buộc để đảm bảo người tiêu dùng hiểu rõ và đầy đủ nội dung HĐTM trước khi quyết định tham gia giao dịch

2.1.4.2 Yêu cầu về tính hiệu lực của các điều khoản trong HĐTM (Điều 16 Luật BVQLNTD, khoản 1 Điều 13 Nghị định 99/2011/NĐ-CP)

Điều 16 Luật BVQLNTD quy định điều khoản của HĐTM không có hiệu lực trong 9 trường hợp như sau:

a) Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đối với người tiêu dùng theo quy định của pháp luật

Để đảm bảo trật tự xã hội trong việc điều chỉnh mối quan hệ giao kết hợp đồng giữa các bên, đặc biệt là đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh, hệ thống pháp luật nói chung đã đưa ra những quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp nhằm tạo ra một hành lang pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh từ cấp độ chung (ví dụ BLDS, Luật Thương mại) đến những trách nhiệm cụ thể trong từng lĩnh vực (ví dụ trong lĩnh vực xây dựng, kinh doanh bất động sản, viễn thông, vận tải)

Tuy nhiên, xuất phát từ thế mạnh của mình cũng như đặc tính của HĐTM, nhiều trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh đưa ra những quy định loại trừ trách nhiệm đã được pháp luật xác lập Điều này vừa dẫn tới việc nội dung hợp đồng không tuân thủ pháp luật, vừa đặt người tiêu dùng trước muôn vàn rủi ro một khi quyền lợi của mình không còn được đảm bảo bởi các trách nhiệm tương ứng của doanh nghiệp

Nhận thức được mức độ nghiêm trọng từ những điều khoản như vậy, Luật BVQLNTD quy định trường hợp không có hiệu lực khi tổ chức, cá nhân kinh doanh đưa ra những điều khoản cho phép loại trừ các trách nhiệm của chính mình khi đã được pháp luật quy định

b) Hạn chế, loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng

Trên thực tế, có rất nhiều giao dịch hợp đồng trong đó tổ chức, cá nhân kinh doanh đưa ra những điều khoản hạn chế hay không cho người tiêu dùng được quyền khiếu nại, khởi kiện khi có phát sinh rủi ro Người tiêu dùng, vì một lý do nào đó, không có lựa chọn nào khác đánh chấp nhận giao kết hợp đồng với tổ chức, cá nhân

Trang 40

kinh doanh Đến khi có tranh chấp xảy ra, người tiêu dùng sẽ là đối tượng phải chịu thiệt thòi do trong hợp đồng, tổ chức, cá nhân kinh doanh đã loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của họ Bởi lẽ đó, quy định này nhằm bảo đảm quyền được khiếu nại, khởi kiện tổ chức, cá nhân kinh doanh của người tiêu dùng trong trường hợp quyền lợi hợp pháp của họ bị xâm phạm

c) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đơn phương thay đổi HĐTM

Khi tham gia giao kết HĐTM, giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh xem như đã thống nhất và đồng ý với nội dung của hợp đồng Do đó, bất kỳ sự thay đổi hay sửa đổi nào đối với các điều kiện của hợp đồng mà tổ chức, cá nhân kinh doanh đưa ra cần phải có sự chấp thuận của người tiêu dùng

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, dựa vào lợi thế của mình, tổ chức, cá nhân kinh doanh đưa vào trong hợp đồng những điều khoản cho phép họ được quyền đơn phương thay đổi các điều khoản của hợp đồng Đặc biệt, do xuất phát từ đặc trưng của HĐTM, người tiêu dùng thường chỉ có hai sự lựa chọn là ký hoặc không ký vào những HĐTM với điều khoản sẵn mà không có điều kiện để thỏa thuận việc sửa đổi, bổ sung

Bên cạnh HĐTM, tổ chức, cá nhân kinh doanh còn soạn thảo các quy tắc, quy định bán hàng, cung ứng dịch vụ để áp dụng chung cho người tiêu dùng Đây là những nội dung do tổ chức, cá nhân kinh doanh soạn thảo và áp dụng nên họ có thể thay đổi

vì mục đích kinh doanh ở từng thời điểm Vì vậy, họ có thể đưa ra những quy định cho phép mình được đơn phương thay đổi các quy tắc, quy định đang được áp dụng đối với đối tượng khách hàng đang giao dịch tại thời điểm sửa đổi

Những trường hợp đơn phương thay đổi trên đây có thể gây ảnh hưởng rất lớn tới quyền và lợi ích của người tiêu dùng khi họ bị ràng buộc bởi những nội dung mà mình không có quyền kiểm soát Bởi vậy, Luật BVQLNTD đưa ra trường hợp không

có hiệu lực này nhằm tránh rủi ro cho người tiêu dùng trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh tự ý thay đổi các điều kiện của hợp đồng hay thay đổi các quy định, quy tắc bán hàng, cung ứng dịch vụ mà không được thể hiện cụ thể trong hợp đồng

d) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đơn phương xác định người tiêu dùng không thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ

Ngoài việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua việc hướng tới sự cân bằng lợi ích giữa hai bên, Luật còn hạn chế trường hợp công ty, cá nhân kinh doanh

Ngày đăng: 24/04/2020, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm