Các luận văn của các cơ sở đào tạo luật khi nghiên cứu về quỹ BHXH cũng có đề cập đến chi trả BHXH như: luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội và thực tiễn thực hiệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ THANH HÓA,
TỈNH THANH HÓA
LÊ THỊ LAN
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ THANH HÓA,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu khoa học của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Thị Dung Các số liệu, tài liệu, kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
LÊ THỊ LAN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô cùng một số cá nhân, đoàn thể khác
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô giáo – Tiến sĩ Đỗ Thị Dung, người đã luôn dành thời gian, công sức hướng dẫn em trong suốt quá trình từ khi làm đề cương, thu thập tài liệu, quá trình viết đến khi hoàn thành bản luận văn Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo Sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội, các thầy cô giáo, những người đã đem lại cho tôi những kiến thức vô cùng bổ ích trong quá trình học tập và hoàn thành khóa học Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Kính chúc các Thầy, Cô sức khỏe và thành công trong sự nghiệp trồng người!
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018
Học viên
Lê Thị Lan
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Cơ cấu nguồn quỹ chi trả BHXH thành phố Thanh Hóa giai đoạn 2013-
2017 49
Bảng 2: Tổng chi trả các chế độ BHXH tại thành phố Thanh Hóa giai đoạn
2013-2017 51
Trang 7MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI 7
1.1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật chi trả trả bảo hiểm xã hội 7
1.1.1 Chi trả bảo hiểm xã hội 7
1.1.2 Pháp luật về chi trả bảo hiểm xã hội 15
1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chi trả BHXH 22
1.2.1 Quy định về chủ thể có thẩm quyền chi trả BHXH 22
1.2.2 Quy định về nguồn quỹ và phân bổ nguồn quỹ chi trả BHXH 24
1.2.3 Điều kiện chi trả và mức chi trả BHXH 26
1.2.4 Trình tự, thủ tục thực hiện chi trả BHXH 36
Kết luận chương 1 41
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA 42
2.1 Khái quát về bảo hiểm xã hội thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 42 2.1.1 Khái quát tình hình địa lý, dân cư, kinh tế thành phố Thanh Hóa 42
2.1.2 Khái quát về tổ chức, nhiệm vụ của BHXH thành phố Thanh Hóa 43
2.2 Kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện pháp luật về chi trả bảo hiểm xã hội tại thành phố Thanh Hóa, Tỉnh Thanh Hóa 44
2.2.1 Kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện thẩm quyền chi trả BHXH tại thành phố Thanh Hóa 44
2.2.2 Kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện pháp luật về quy trình chi trả BHXH tại thành phố Thanh Hóa 47
2.2.3 Kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện pháp luật về quỹ chi trả và tổng chi trả BHXH tại thành phố Thanh Hóa 49
2.2.4 Kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện pháp luật về trình tự, thủ tục chi trả BHXH tại thành phố Thanh Hóa 52
2.3 Một số hạn chế trong thực hiện pháp luật về chi trả bảo hiểm xã hội tại thành phố Thanh Hóa và nguyên nhân 54
Trang 82.3.1 Một số hạn chế trong công tác chi trả BHXH tại thành phố Thanh Hóa 54 2.3.2 Nguyên nhân của các hạn chế trong thực hiện pháp luật về chi trả bảo
hiểm xã hội tại thành phố Thanh Hóa 55
Kết luận chương 2 57
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA 58
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chi trả BHXH tại thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 58
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về chi trả BHXH 58 3.2.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định điều kiện chi trả, mức chi trả 60
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chi trả BHXH tại thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 68
Kết luận chương 3 74
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
thống an sinh xã hội Tại Việt Nam, BHXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình họ trong các trường hợp NLĐ bị suy giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc chết Trong chính sách BHXH, chi trả BHXH là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng, bởi lẽ chỉ khi những khoản trợ cấp đến được tay NLĐ một cách đầy đủ, nhanh chóng để
họ kịp thời trang trải các chi phí trong cuộc sống thì khi đó mục tiêu của chính sách BHXH mới được hiện thực hóa
ban hành và tổ chức thực hiện chi trả BHXH cho NLĐ thông qua các qui định về chi trả BHXH trong Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 218-CP ngày 27 tháng 12 năm
1961 cúa Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Các quy định về chi trả BHXH này được áp dụng đến năm 1994 Nhìn chung, hoạt động chi trả BHXH trong thời
kỳ này diễn ra trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp với nguồn ngân sách hạn hẹp, tổ chức quản lý phân tán nên hiệu quả chi trả BHXH còn thấp
đường lối đổi mới, nền kinh tế chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Do vậy, nhiều qui định về chi trả BHXH đã ban hành trước đây không còn phù hợp Để khắc phục tình trạng này, nhà nước ta đã ban hành Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định số 12/1995/NĐ-CP ngày 26 tháng 01 năm
1995 của chính phủ, tiếp sau đó là Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2003 của chính phủ sửa đổi Điều lệ bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định 12/1995/NĐ-CP Đặc biệt là sự ra đời của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và sau
đó được thay thế bằng Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, đã góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động chi trả BHXH ở nước ta một cách rõ rệt
Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện Luật BHXH năm 2014, một số quy định
về chi trả BHXH đã bộc lộ những bất cập do không phù hợp với điều kiện thực tế của
Trang 10cơ quan BHXH và địa phương Một số vấn đề không có quy định để điều chỉnh áp dụng, gây lúng túng cho cơ quan BHXH khi tiến hành hoạt động chi trả BHXH,… Những hạn chế nêu trên được bộc lộ rõ nét trong quá trình hoạt động của cơ quan BHXH cấp cơ sở, nơi trực tiếp chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng hưởng BHXH thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa là một trong các đơn vị thực hiện thường xuyên các hoạt động chi trả BHXH với số lượng lớn đối tượng tham gia so với các huyện, thị xã khác trong phạm vi toàn tỉnh Thanh Hóa Trong quá trình thực hiện chi trả BHXH, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn vẫn còn một số vướng mắc đó là đối tượng được chi trả BHXH chưa cao, mức chi trả BHXH còn chưa đáp ứng nhu cầu của đối tượng hưởng, thủ tục chi trả vẫn còn phức tạp, chưa bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho đối tượng hưởng,
Từ những lý do trên, em thấy rằng cần thiết phải nghiên cứu về vấn đề này,
từ đó không chỉ nhằm hoàn thiện những bất cập trong quy định của pháp luật, mà còn nhằm nâng cao công tác thực hiện chi trả BHXH tại BHXH thành phố Thanh
Hóa Vì vậy, em đã chọn vấn đề: “Pháp luật về chi trả BHXH và thực tiễn thực
hiện tại thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu ở bậc luận
văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
cứu khoa học chủ yếu nghiên cứu về các nội dung của BHXH, về các chế độ BHXH hoặc nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật về BHXH nói chung, hoàn thiện hiệu quả hoạt động quỹ BHXH, mà có rất ít công trình nghiên cứu trực tiếp về pháp luật chi trả BHXH Tuy nhiên, dù không đề cập trực tiếp, song một số công trình nghiên cứu có giới thiệu về pháp luật chi trả BHXH như:
- Giáo trình, sách tham khảo: Đó là các Giáo trình luật an sinh xã hội của các
cơ sở đào tạo luật học, như: Giáo trình luật an sinh xã hội của Trường Đại học Luật
Hà Nội, Nxb Công an nhân dân năm 2013; Giáo trình bảo hiểm xã hội của Trường Đại học Lao động - xã hội, Nxb Lao động - xã hội năm 2011; Giáo trình Luật an sinh xã hội do PSG.TS Nguyễn Hữu Chí chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2012; Giáo trình Luật an sinh xã hội của Viện Đại học Mở Hà Nội, Nxb Lao động - xã
Trang 11hội, Hà Nội năm 2018;… Các sách tham khảo, chuyên khảo như: “Pháp luật an sinh
xã hội - những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Tư pháp năm 2010 của tác giả Nguyễn Hiền Phương; “Bình luận một số nội dung của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014” do TS Nguyễn Hiền Phương chủ biên, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2016
- Bài viết đăng trên tạp chí: Có các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến chi trả BHXH như: “Những vấn đề cần quan tâm qua thanh tra
quỹ bảo hiểm xã hội” của tác giả Trần Xuân Lâm trên tạp chí Thanh tra Chính phủ
số 12/2010; bài viết “Nghiên cứu cân đối các quỹ bảo hiểm xã hội” năm 2016 của
tác giả Phạm Đình Thành trên tạp chí Bảo hiểm xã hội Việt Nam số 12B
- Đề tài nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn: Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp cơ sở như: “Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội” do Nguyễn Thị Kim Phụng chủ nhiệm đề tài, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2005; “Bình luận một số nội dung cơ bản của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014” do TS Nguyễn Hiền Phương chủ nhiệm đề tài, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2015
Luận án: “Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hiền Phương, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2009
Các luận văn của các cơ sở đào tạo luật khi nghiên cứu về quỹ BHXH cũng
có đề cập đến chi trả BHXH như: luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật về quỹ bảo
hiểm xã hội và thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội” năm 2014 của
tác giả Phạm Thành Công; Luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế “Pháp luật về quỹ bảo
hiểm xã hội từ thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội” năm 2016 của tác giả Cao
Gia Duy; luận văn thạc sĩ luật học “Giải pháp bảo đảm an toàn quỹ bảo hiểm xã hội
theo pháp luật Việt Nam” năm 2017 của tác giả Mai Thị Hậu; luận văn thạc sĩ luật
học “Pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” năm 2017
của tác giả Trần Thị Hằng,
Có thể thấy rằng, một số nội dung trong các công trình nghiên cứu trên đã không còn tính thời sự, không còn phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, nhất là trong bối cảnh các bộ luật, luật có liên quan đã được ban hành mới (như: Bộ luật Lao động năm 2012, Luật BHXH năm 2014, Luật ATLĐ, VSLĐ năm 2015,…) Không chỉ vậy, khi các văn bản quy phạm pháp luật mới ra đời cũng
Trang 12sẽ nảy sinh các bất cập mới mà những công trình nghiên cứu trước đó chưa đề cập đến Đồng thời đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về pháp luật chi trả BHXH ở thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Bởi vậy, luận văn là công trình nghiên cứu không trùng lặp về nội dung với các công trình nghiên cứu đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận về chi trả BHXH, thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về chi trả BHXH và thực tiễn thực hiện tại BHXH thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Từ việc rút ra những điểm tích cực, hạn chế, luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và hoàn thiện cơ chế thực hiện về chi trả BHXH tại BHXH thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Từ mục đích nêu trên, luận văn tập trung vào các nhiệm vụ chính sau đây:
Một là, nghiên cứu để làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về chi trả BHXH và
pháp luật chi trả BHXH
Hai là, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về chi trả
BHXH ở Việt Nam
Ba là, nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về chi trả
BHXH tại BHXH thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Từ đó, rút ra những nhận xét về ưu điểm cũng như những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thi hành pháp luật chi trả BHXH tại BHXH thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Bốn là, đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về chi trả
BHXH và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chi trả BHXH tại BHXH thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định
của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, các văn bản hướng dẫn thi hành về chi trả BHXH và số liệu chi trả BHXH tại BHXH thành phố Thanh Hóa trong những năm gần đây
luận, quy định cả pháp luật về điều kiện chi trả, mức chi trả, chế độ chi trả, thủ tục
Trang 13chi trả BHXH và thực tiễn chi trả các chế độ BHXH tại thành phố Thanh Hóa, Tỉnh Thanh Hóa
Luận văn không nghiên cứu các nội dung:
- Pháp luật về chi trả bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
- Xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp về chi trả BHXH
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của học thuyết Mác –
Lênin, bao gồm phép biện chứng duy vật và phương pháp luận duy vật lịch sử Theo đó, vấn đề pháp luật chi trả BHXH được nghiên cứu luôn ở trạng thái vận động và phát triển trong mối quan hệ không tách rời với các yếu tố kinh tế, xã hội ở Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn dựa trên cơ sở các quan điểm, định hướng của Đảng và nhà nước về chính sách BHXH nói chung, chi trả BHXH nói riêng ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện luận văn bao gồm các phương pháp lịch sử, phân tích, chứng minh, so sánh, so sánh luật học, tổng hợp, nghiên cứu thực tiễn, dự báo khoa học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật chi trả BHXH, qua đó góp phần nhận thức đầy đủ hơn về bản chất, vai trò của BHXH trong hệ thống an sinh xã hội
pháp luật Việt Nam hiện hành về chi trả BHXH, qua đó đề xuất phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về chi trả BHXH
- Phản ánh thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về chi trả BHXH tại BHXH thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế tổ chức chi trả BHXH trên thực tế
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn cung cấp kiến thức cho những người đang làm
công tác thực tiễn về BHXH nói chung, chi trả BHXH nói riêng Từ đó, giúp họ thực thi pháp luật về BHXH nói chung, pháp luật về chi trả BHXH nói riêng một cách chính xác, đảm bảo quyền lợi cho đối tượng hưởng
Trang 14Bên cạnh đó, luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên, các nhà nghiên cứu, giảng dạy quan tâm đến pháp luật chi trả BHXH nói riêng, pháp luật BHXH nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng, lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
pháp luật Việt Nam hiện hành về chi trả BHXH
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về chi trả BHXH tại thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chi trả BHXH tại thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Trang 15CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT
CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật chi trả trả bảo hiểm xã hội
1.1.1 Chi trả bảo hiểm xã hội
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của chi trả bảo hiểm xã hội
- Khái niệm chi trả BHXH
Để hiểu được khái niệm chi trả BHXH, trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm BHXH là gì? Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tuổi già và chết” [34-tr.43]
Ở mỗi quốc gia, bảo hiểm xã hội đều được coi là trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, nhằm bảo đảm thu nhập cho người lao động khi gặp rủi ro dẫn đến bị mất hoặc suy giảm thu nhập [34-tr.44]
Ở Việt Nam, khái niệm bảo hiểm xã hội được đưa ra trong các Luật BHXH Theo Luật BHXH năm 2006 và Luật BHXH năm 2014, thì: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp thu nhập cho NLĐ khi họ khi bị giảm, bị mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” [3]
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu ngắn gọn về BHXH như sau: BHXH là
sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ khi bị giảm, bị mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ
sở đóng phí vào quỹ BHXH
tạo thành nguồn tài chính tập trung để chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng hưởng khi có đủ điều kiện pháp luật quy định Như vậy, chi trả BHXH là một hoạt
Trang 16động của bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, do hoạt động chi trả BHXH có liên quan đến vấn đề quỹ, đến điều kiện hưởng của các đối tượng, đến thủ tục thực hiện, … vì vậy khi tìm hiểu về vấn đề chi trả BHXH, chúng ta có thể tiếp cận theo nhiều góc độ khoa học khác nhau, để từ đó có thể tổng quan, khoa học nhất về chi trả BHXH
chính dự trữ của những NLĐ, NSDLĐ và có sự bảo trợ của nhà nước, nhằm bảo đảm đời sống cho NLĐ hoặc đối tượng hưởng khi gặp rủi ro do ốm đạu, thai sản, TNLĐ, BNN hoặc tuổi già và chết
Ở góc độ này, định nghĩa chi trả BHXH đã nêu rõ bản chất của quá trình chi trả BHXH thực chất là quá trình phân phối lại quỹ tài chính dự trữ của cộng đồng những NLĐ, NSDLĐ và có sự bảo trợ của nhà nước Tuy nhiên, khái niệm chi trả BHXH, khi nhìn nhận ở góc độ này chưa nêu rõ được những điều kiện cụ thể để NLĐ có thể được chi trả BHXH
thể có thẩm quyền chi trả, điều kiện, định mức và thủ tục chi trả BHXH cho NLĐ hoặc đối tượng khác từ quỹ BHXH, khi NLĐ hoặc đối tượng hưởng đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật
Theo đó, các điều kiện cần đáp ứng là thời gian tham gia BHXH, hoàn thành nghĩa vụ đóng góp tài chính trong thời gian tham gia BHXH, nộp hồ sơ hưởng trợ cấp đầy đủ, đúng thời hạn,…
sau: Chi trả BHXH là quá trình sử dụng quỹ BHXH do những NLĐ, NSDLĐ đóng góp và có sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo thu nhập cho NLĐ và thân nhân gia đình họ khi NLĐ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, hết tuổi lao động hoặc chết, khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật
- Đặc điểm của chi trả bảo hiểm xã hội
Từ khái niệm nêu trên, có thể thấy chi trả BHXH có một số đặc điểm sau đây:
Về bản chất: Chi trả BHXH thực chất là quá trình phân phối, sử dụng quỹ
BHXH Trong đó, quỹ BHXH là quỹ dự trữ tài chính có sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và hổ trợ một phần từ ngân sách nhà nước Phân phối quỹ BHXH là quá
Trang 17trình phân bổ các nguồn tài chính từ quỹ BHXH cho các quỹ thành phần: quỹ ốm đau và thai sản; quỹ TNLĐ, BNN; quỹ hưu trí và tử tuất Sử dụng quỹ BHXH là quá trình chi tiền từ quỹ BHXH đến tay các đối tượng thụ hưởng hoặc cho từng mục đích sử dụng cụ thể (như phát triển quỹ BHXH thông qua mua trái phiếu Chính phủ, cho ngân hàng nhà nước vay,…)
thân nhân trong gia đình họ Khi khỏe mạnh, NLĐ đã cống hiến sức lao động của mình để mang lại thu nhập, họ trích một phần thu nhập đó của mình đóng phí vào quỹ NSDLĐ là bên sử dụng sức lao động của NLĐ, phải có nghĩa vụ trích một phần lợi nhuận thu được để bù đắp cho thu nhập của NLĐ khi họ bị suy giảm hoặc mất khả năng lao động Trong nhiều trường hợp, thân nhân trong gia đình của NLĐ khi NLĐ bị suy giảm hoặc mất khả năng lao động cũng là đối tượng thụ hưởng của chi trả BHXH Tuy NSDLĐ có tham gia đóng góp vào quỹ BHXH nhưng đây là nghĩa vụ của NSDLĐ để bảo đảm quyền lợi của NLĐ Do đó, NSDLĐ không phải
là đối tượng thụ hưởng của hoạt động chi trả BHXH
nhập cho NLĐ và thân nhân gia đình họ Do những yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau, NLĐ không thể lường trước những rủi ro có thể gặp phải (bị ốm đau, TNLĐ, BNN,…) hoặc không thể tránh khỏi (nghỉ việc do sinh con, do hết tuổi lao động hoặc chết) Mục đích của chi trả BHXH là kịp thời đảm bảo đời sống của NLĐ trong những hoàn cảnh như vậy Mục đích này đã được Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hóa như sau: bù đắp cho NLĐ những khoản thu nhập bị mất để bảo đảm nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ; chăm sóc sức khỏe và chống bệnh tật; xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu cơ bản của dân cư và nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em [30]
1.1.1.2 Vai trò của chi trả bảo hiểm xã hội
- Vai trò đối với đối tượng thụ hưởng bảo hiểm xã hội:
nhân gia đình họ Khi khỏe mạnh, NLĐ đã tham gia đóng góp một phần thu nhập vào quỹ BHXH Chính vì vậy, khi bị suy giảm hoặc mất sức lao động, họ có quyền
Trang 18được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH Nếu khoản tiền trợ cấp đến tay NLĐ một cách đầy đủ, kịp thời thì họ sẽ có điều kiện để bù đắp những thiếu thốn đang gặp phải Ngược lại, nếu việc chi trả BHXH không đầy đủ, kịp thời thì họ sẽ không có kinh phí để trang trải cho cuộc sống của mình và gia đình Bởi lẽ, khi lâm vào những hoàn cảnh khó khăn, những nhu cầu thiết yếu không những giảm mà còn tăng lên (như khi ốm đau phải cần tiền để mua thuốc; khi sinh con cần tiền để bồi
bổ cho người mẹ và con nhỏ; khi bị BNN cần tiền để khám, chữa bệnh gần như suốt đời…) Khi đó, quyền lợi của đối tượng thu hưởng sẽ không được đảm bảo
Nếu hoạt động chi trả BHXH được làm tốt, NLĐ sẽ yên tâm công tác, chủ
động gắn bó với NSDLĐ và hăng say trong sản xuất, kinh doanh Khi đó, trong cùng một thời gian thuê lao động nhưng năng suất lao động tăng lên, sản phẩm làm
ra nhiều hơn và NSDLĐ sẽ là người được hưởng lợi Ngược lại, nếu không làm tốt công tác chi trả BHXH (chi trả thiếu, chi trả chậm), NLĐ sẽ cảm thấy quyền lợi chính đáng của mình không được bảo đảm, cảm thấy bất mãn và lo lắng cho cuộc sống gia đình, thậm chí có thể xảy ra đình công ở phạm vi doanh nghiệp hoặc địa phương Khi đó, hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ không được đảm bảo theo như mong muốn của NSDLĐ Như vậy có thể nói chi trả BHXH góp phần tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh của NSDLĐ
phát triển bền vững Quản lý quỹ BHXH gồm hai khâu không tách rời là thu và chi BHXH Nếu quá trình chi trả BHXH thực hiện một cách chính xác đến tay các đối tượng thụ hưởng, tiết kiệm chi phí quản lý hành chính thì sẽ đảm bảo cân đối nguồn thu - chi của BHXH Không những vậy, thực hiện tốt công tác chi trả BHXH còn tạo điều kiện cho quỹ phát triển Bởi lẽ, sau khi cân đối được nguồn thu - chi quỹ BHXH, nguồn quỹ có khả năng kết dư và đem đầu tư theo các hình thức an toàn, hiệu quả theo quy định của pháp luật quản lý, sử dụng quỹ BHXH
chính sách an sinh xã hội Bởi BHXH là chính sách rất cơ bản trong hệ thống chính
Trang 19sách an sinh xã hội, BHXH tạo ra nền móng thiết yếu nhất để phát triển con người Chi trả BHXH lại là khâu trung tâm trong chính sách về BHXH, bởi mục đích cuối cùng của bất kỳ một Nhà nước nào khi thực hiện chính sách BHXH cũng là chi trả trợ cấp cho NLĐ khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, góp phần đảm bảo cuộc sống cho NLĐ và thân nhân gia đình họ Chỉ khi nào khoản trợ cấp BHXH được đến tay các đối tượng thụ hưởng một cách đầy đủ, kịp thời thì cuộc sống người dân mới được đảm bảo, nhờ đó mà xã hội mới phát triển một cách ổn định, mục tiêu của BHXH mới được hiện thực hóa trên thực tế Do đó, thực hiện thành công các công tác chi trả BHXH thì mới có thể thực hiện hóa chính sách BHXH nói riêng và chính sách
an sinh xã hội nói chung
1.1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chi trả bảo hiểm xã hội
- Nhóm yếu tố về nguồn thu quỹ bảo hiểm xã hội
BHXH và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó, số tiền chi trả trợ cấp BHXH được lấy từ nguồn quỹ BHXH Chính vì vậy, yếu tố về nguồn thu quỹ BHXH sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chi trả BHXH Nếu nguồn thu BHXH được đóng góp một cách đầy đủ, thường xuyên từ phía NLĐ, NSDLĐ, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và được sử dụng đầu tư phát triển một cách có hiệu quả thì nguồn quỹ chi trả sẽ được kết dư, công tác chi trả BHXH nhờ đó mới có thể được duy trì và triển khai hiệu quả trên thực tế Ngược lại, khi nguồn thu quỹ BHXH không ổn định, thất thoát thì sẽ không có nguồn tài chính để phục vụ cho công tác chi trả BHXH
- Nhóm yếu tố về quản lý chi trả bảo hiểm xã hội
nhưng công tác quản lý chi trả không tốt thì hiệu quả của hoạt động chi trả cũng không thể được nâng cao Những yếu tố trong quản lý chi trả BHXH có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động chi trả BHXH đó là:
sẽ gây mất cân đối thu – chi quỹ BHXH, gây ảnh hưởng đến công tác chi trả BHXH Do đó, công tác chi trả BHXH chỉ có thể duy trì ổn định nếu quy định mức hưởng và mức đóng cân bằng nhau
Trang 20Cơ cấu các khoản chi: Trong cơ cấu chi BHXH có nhiều khoản chi, nhưng
có ba khoản chi cơ bản quan trọng nhất đó là chi trả các chế độ BHXH, chi phí quản
lý bộ máy và chi đầu tư phát triển quỹ Một khi cơ cấu chi thiếu hợp lý cũng là một nguyên nhân gây lạm chi, mất cân đối quỹ
hiện cho sự lỏng lẻo của cơ chế quản lý chi, tạo cơ hội cho kẻ xấu trục lợi, gây ảnh hưởng xấu đến kết quả chi trả BHXH
trượt giá thị trường, thậm chí là không thu hồi được vốn cũng là nguy cơ gây bất ổn quỹ, ảnh hưởng đến hoạt động chi trả BHXH
- Nhóm yếu tố về sinh học
năng kiểm soát theo ý chí của bản thân như tuổi thọ, giới tính và sự suy giảm sức khỏe tự nhiên của mỗi con người Cụ thể:
gia tăng của tuổi thọ là sự giảm sút sức khỏe của NLĐ khiến họ dễ có nguy cơ mắc bệnh, làm việc không tập trung Kéo theo đó là số lượng đối tượng cần được chi trả trợ cấp ốm đau, TNLĐ, BNN cũng tăng lên Tuổi thọ trung bình tăng cũng làm tăng thời gian chi trả trợ cấp hưu trí, tử tuất cho NLĐ và thân nhân gia đình họ
Độ tuổi lao động của mỗi người luôn có giới hạn Đứng trên góc độ quản lý dân số và nguồn lao động, người ta thường phân chia dân số thành ba nhóm tuổi: nhóm dân số trẻ (từ 14 tuổi trở xuống), nhóm dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 60 tuổi đối với nam, từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ) và nhóm dân số già (trên 60 tuổi đối với nam, trên 55 tuổi đối với nữ) Việc phân chia này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chi trả BHXH Bởi lẽ, với mỗi độ tuổi khác nhau, nhu câu tối thiểu
và khả năng tự nuôi sống bản thân đều rất khác nhau Vì vậy, chính sách chi trả BHXH cũng bị phụ thuộc vào từng độ tuổi này Ví dụ như: với những NLĐ tham gia BHXH và đến độ tuổi nghỉ hưu, cơ quan BHXH sẽ có trách nhiệm chi trả trợ cấp hưu trí cho nhóm đối tượng này; với những người chưa thành niên có cha (hoặc mẹ) là NLĐ tham gia BHXH và chết, cơ quan BHXH sẽ có trách nhiệm chi trả trợ
Trang 21cấp tử tuất cho nhóm đối tượng này cho đến khi họ thành niên,… Nếu độ tuổi nghỉ hưu, độ tuổi hưởng trợ cấp tuất thay đổi thì số lượng đối tượng hưởng và số tiền chi trả BHXH cũng sẽ biến động một cách đáng kể
Giới tính có liên quan đến nhiều hoạt động chỉ trả trợ cấp của nhiều chế độ BHXH khác nhau Đối với chế độ trợ cấp hưu trí, tuổi nghỉ hưu của nam giới thường cao hơn nữ giới, trong khi đó tuổi thọ lại cao hơn nam giới trung bình 5 năm Như vậy, cũng sẽ kéo dài thời gian chi trả BHXH cho nữ giới lâu hơn so với nam giới
Đối với chế độ trợ cấp thai sản, giới tính có liên quan trực tiếp đến sự kiện mang thai và sinh con của phụ nữ - một trong những điều kiện để cơ quan BHXH chi trả trợ cấp cho NLĐ nữ mang thai hoặc NLĐ nam tham gia BHXH có vợ sinh con Do đó, để có nguồn tài chính cần thiết cho chi trả, cơ quan BHXH cần nắm được số lượng và tỷ suất sinh ở nhóm NLĐ nữ trong độ tuổi sinh con
Đối với những doanh nghiệp sử dụng nhiều nam giới (do tính chất công việc đòi hỏi sức khỏe như khai thác, xây dựng…) thì việc khó tránh khỏi là họ phải chi trả nhiều cho trợ cấp TNLĐ, BNN Trong khi đó, những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ (vì những ưu thế trong độ bền bỉ, khéo léo,…) lại phải chi trả nhiều cho trợ cấp thai sản
- Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội
từng thời kỳ cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chi trả BHXH Bởi lẽ, chi trả BHXH cũng là một hoạt động xã hội trong mối quan hệ biện chứng với những hoạt động xã hội khác (như hoạt động đầu tư sản xuất trong nước, hoạt động giao lưu thương mại với nước ngoài, …) Khi điều kiện kinh tế - xã hội (thuộc phạm trù
cơ sở hạ tầng) thay đổi thì chính sách về BHXH nói chung, công tác chi trả BHXH nói riêng (thuộc phạm trù kiến trúc thượng tầng) cũng buộc phải thay đổi theo cho phù hợp
BHXH đó là:
nhanh, số lượng NLĐ tham gia quan hệ lao động và số đối tượng hưởng trợ cấp
Trang 22BHXH chắc chắn sẽ tăng cao Mặt khác, nguồn quỹ BHXH khi đó cũng sẽ có điều kiện được bổ sung, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác chi trả BHXH có điều kiện được đầu tư nâng cấp
điều chỉnh chính sách dân số, chính sách việc làm để tạo sự hài hòa giữa điều kiện dân số, nhu cầu làm việc với tốc độ phát triển của nền kinh tế Khi nhu cầu việc làm của nhóm dân số đến độ tuổi lao động tăng cao hơn so với nhu cầu của nền kinh tế, Nhà nước có thể sẽ điều chỉnh độ tuổi nghỉ hưu, xúc tiến đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Ngược lại, khi thiếu hụt nguồn nhân lực Nhà nước sẽ tăng độ tuổi nghỉ hưu, bổ sung ưu đãi trong các chế độ BHXH
để thu hút nhân lực
Trình độ quản lý lao động của doanh nghiệp và quản lý xã hội của Nhà nước: Khi trình độ quản lý lao động của doanh nghiệp và quản lý xã hội của Nhà
nước được nâng cao, công tác cập nhật thông tin của đối tượng hướng sẽ được quản
lý một cách chặt chẽ, tránh thất thoát cho quỹ BHXH Ngược lại, khi trình độ quản
lý yếu kém sẽ nảy sinh hiện tượng trục lợi bất chính từ các lỗ hổng trong cơ chế, chính sách quản lý chi trả BHXH
Trình độ dân trí của đông đảo người dân: Khi người dân có một nhận
thức đầy đủ, chính xác về lợi ích của BHXH, các quy định của pháp luật về chi trả BHXH thì họ sẽ tự nguyện, tích cực tham gia BHXH, bổ sung nguồn quỹ chi trả BHXH Đồng thời, khi trình độ dân trí được nâng cao, người dân sẽ có thói quen khám sức khỏe định kỳ, nâng cao ý thức tự bảo vệ mình trong quá trình lao động,… Nhờ đó mà cơ quan BHXH sẽ ít phải chi trả các chế độ ốm đau, TNLĐ hơn
Tiến trình hội nhập kinh tế thế giới: Trong một thế giới với nhu cầu giao lưu
thương mại mạnh mẽ như hiện nay, dù muốn hay không, các nước đều buộc phải hội nhập kinh tế với thế giới nếu không muốn bị tụt hậu phía sau Hội nhập về kinh
tế cũng có nghĩa là việc NLĐ nước ta có thể sang nước ngoài để tìm kiếm việc làm
và ngược lại NLĐ nước ngoài cũng có quyền sang nước ta để lao động Kéo theo
đó, pháp luật về chi trả BHXH cũng sẽ phải phù hợp với các điều ước quốc tế để bảo vệ quyền lợi chính đáng của NLĐ mỗi nước
Trang 231.1.2 Pháp luật về chi trả bảo hiểm xã hội
1.1.2.1 Khái niệm pháp luật về chi trả BHXH
Pháp luật về chi trả BHXH là một bộ phận cấu thành pháp luật BHXH và là một trong những nội dung thuộc chính sách an sinh xã hội, vì vậy nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia Xuất phát từ những nhu cầu của cuộc sống là đảm bảo thu nhập khi NLĐ hết khả năng lao động hoặc chết mà hoạt động về chi trả BHXH xuất hiện như một nhu cầu khách quan
Hiện nay, pháp luật các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận về chi trả BHXH Do BHXH là một chính sách xã hội của quốc gia nhưng đồng thời cũng
là công cụ của Nhà nước nhằm tham gia vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách hợp lý giữa các tầng lớp xã hội, giúp thực hiện xây dựng chế độ
an sinh xã hội lâu dài và bền vững, góp phần đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nên quy định về chi trả BHXH phải bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và khả năng về vật lực, nhân lực của đất nước, bảo đảm mục đích mà BHXH đã đặt ra
Ở Việt Nam, pháp luật về chi trả BHXH được quy định cùng với các quy định về đối tượng tham gia, điều kiện hưởng và các chế độ BHXH nên được biết đến từ rất sớm Cùng với sự phát triển của BHXH và quỹ BHXH, các quy định pháp luật về chi trả BHXH tại Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn, nhất là các quy định mới được cụ thể tại Luật BHXH 2014 Theo đó, pháp luật về chi trả BHXH điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động chi trả BHXH từ các quỹ BHXH (Quỹ ốm đau, thai sản; quỹ TNLĐ, BNN; quỹ hưu trí
và tử tuất) và phải bao quát được hết các khâu từ quy định về đối tượng tham gia, mức đóng phí, mức hưởng bảo hiểm cho đến quy định về thủ tục thực hiện BHXH tự nguyện, mức phí và phương thức đóng phí BHXH tự nguyện và các vấn đề khác có liên quan
Từ các quy định của pháp luật, có thể hiểu pháp luật về chi trả BHXH là hệ thống những quy định do Nhà nước ban hành, quy định về chi trả BHXH từ quỹ BHXH cho các đối tượng hưởng khi đủ điều kiện
Trang 241.1.2.2 Nguyên tắc chi trả bảo hiểm xã hội
Việc thực hiện chi trả BHXH tuân theo những nguyên tắc nhất định Cụ thể như sau:
BHXH phải chi trả đúng đối tượng thụ hưởng, đủ về trợ cấp cho từng đối tượng và kịp thời về thời gian chi trả khoản trợ cấp đến tay đối tượng thụ hưởng một cách nhanh chóng nhất Thực hiện đúng nguyên tắc này mới tạo ra sự công bằng, tin tưởng từ phía NLĐ và nhà nước, thực hiện chính sách an sinh xã hội
cơ quan BHXH cấp trên có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện chi trả BHXH của cơ quan BHXH cấp dưới, của đại điện chi trả và của NSDLĐ Ngược lại, cơ quan BHXH cấp dưới có trách nhiệm chi trả trợ cấp và báo cáo lên cơ quan BHXH cấp trên theo đúng quy định
- Đảm bảo an toàn tiền mặt trong quá trình chi trả BHXH Cần đảm bảo cân
đối thu chi trong quỹ BHXH để không xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn tiền chi trả dẫn đến tình trạng “vỡ quỹ” hoặc thiếu hụt tiền mặt trong một giai đoạn chi trả nhất định (do sử dụng quỹ BHXH để đầu tư phát triển nhưng không kịp thu hồi khi đến thời điểm chi trả BHXH) Bên cạnh đó, đảm bảo tiền mặt trong quá trình chi trả BHXH còn có nghĩa là phải bảo đảm về mặt an ninh, tránh để xảy ra tình trạng trộm, cướp trong quá trình vận chuyển tiền mặt từ trụ sở cơ quan BHXH đến địa điểm chi trả BHXH cho các đối tượng thụ hưởng
hệ thống kế toán của từng cơ quan BHXH Cuối mỗi kỳ chi trả, cơ quan BHXH cấp dưới phải gửi báo cáo tài chính lên cơ quan BHXH cấp trên để cơ quan BHXH cấp trên tiến hành hoạt động kiểm toán Cơ quan BHXH cấp trên chỉ quyết toán khi không phát hiện ra tình trạng thất thoát, lãng phí trong chi trả BHXH của cơ quan BHXH cấp dưới
1.1.2.2 Nội dung pháp luật về chi trả BHXH
Xuất phát từ vai trò hết sức quan trọng của BHXH đối với đời sống NLĐ cũng như trong đời sống xã hội, nên hầu hết các quốc gia đều quy định cụ thể về chi
Trang 25trả BHXH Tuy quy định của các quốc gia khác nhau, song nhìn chung đều bao gồm
các nội dung cơ bản như sau:
- Chủ thể có thẩm quyền chi trả BHXH:
Thẩm quyền chi trả BHXH hiện nay được các nước quy định khác nhau Ở các quốc gia đang phát triển, thẩm quyền chi trả BHXH thuộc về cơ quan, tổ chức BHXH Điều này xuất phát từ nguyên nhân hình thành, vai trò cũng như mục đích
sử dụng của quỹ BHXH, từ đó đặt ra yêu cầu quản lý, giám sát, và việc tổ chức thực hiện các hoạt động chi trả BHXH Các nước khu vực Đông Nam Á, trong đó có Thái Lan, Việt Nam, thẩm quyền chi trả BHXH do cơ quan BHXH nhà nước thành lập, thực hiện chi trả BHXH Ở các quốc gia phát triển, do mô hình BHXH có điểm khác, nên chủ thể chi trả BHXH không nhất thiết là cơ quan do nhà nước thành lập
Ví dụ ở Đức, mỗi loại bảo hiểm xã hội có một tổ chức quản lý, do vậy có rất nhiều
- Nguồn quỹ và phân bổ nguồn quỹ chi trả BHXH:
Quỹ BHXH được phân chia gồm nhiều quỹ khác nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện và hạch toán quỹ Quỹ BHXH thành lập theo cách thức phù hợp với trình độ tổ chức và thực hiện Theo tính chất sử dụng quỹ, quỹ BHXH bao gồm quỹ dài hạn (được thành lập để chi trả cho các chế độ dài hạn như trợ cấp hưu trí) và quỹ ngắn hạn (dùng chi trả cho các chế độ trợ cấp ngắn hạn như
ốm đau, thai sản,…) Hoặc có thể thành lập quỹ theo từng chế độ và mỗi quỹ sẽ được chi trả cho từng chế độ tương ứng như quỹ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất,…Cũng có thể thành lập quỹ theo đối tượng quản lý: quỹ cho công chức nhà nước, lực lượng vũ trang, người lao động,…
Ở Việt Nam, việc thành lập các quỹ thành phần đã được nghiên cứu rất kỹ trước khi đi vào thực hiện Trong điều kiện kinh tế hiện nay, việc thành lập quỹ
Trang 26BHXH tương ứng với các chế độ BHXH, bao gồm quỹ ốm đau, thai sản; quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quỹ hưu trí và tử tuất [3]
Quỹ BHXH hình thành từ thu nhập của NLĐ với nghĩa vụ được quy định cho hai chủ thể là NLĐ và NSDLĐ Tại một số quốc gia phát triển nền kinh tế thị trường dân chủ như Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Điển,… thì Nhà nước có sự hỗ trợ một mức đóng góp nhất định vào quỹ BHXH [20] Như vậy, quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ các nguồn chủ yếu là sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ, sự hỗ trợ của Nhà nước và từ các nguồn thu khác
Ở Việt Nam, pháp luật quy định về nguồn thu quỹ BHXH được điều chỉnh thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử Hiện nay pháp luật chỉ quy định Nhà nước hỗ trợ vào việc tạo lập quỹ BHXH trong một số trường hợp nhất định, trách nhiệm đóng góp tạo lập quỹ chủ yếu là NLĐ và NSDLĐ Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế, ổn định xã hội một mặt điều hòa mâu thuẫn giữa quan hệ NLĐ và NSDLĐ thông qua các chính sách, pháp luật, mặt khác hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định
- Điều kiện chi trả và mức chi trả BHXH
Đây là nội dung quan trọng trong hoạt động chi trả BHXH Bởi chỉ khi đối tượng hưởng BHXH có đầy đủ các điều kiện pháp luật quy định thì BHXH mới chi trả chế độ BHXH
+ Về điều kiện chi trả BHXH:
Điều kiện chi trả BHXH là những quy định của pháp luật về những điều kiện
mà người lao động hoặc thân nhân gia đình NLĐ phải đáp ứng Để tiến hành hoạt động chi trả BHXH đúng đối tượng, đúng mức chi trả, cơ quan có thẩm quyền chi trả BHXH căn cứ xem xét các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, NLĐ, NSDLĐ có tham gia BHXH và hoàn thành đầy đủ, kịp thời
các nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH Đây là điều kiện tiên quyết để chủ thể có thẩm quyền chi trả BHXH tiến hành xem xét chi trả Bởi lẽ, việc NLĐ, NSDLĐ có tham gia BHXH (bao gồm cả BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện) là sự kiện pháp
lý để thiết lập quan hệ BHXH về quyền và nghĩa vụ giữa các bên (NLĐ, NSDLĐ và
Trang 27cơ quan có thẩm quyền chi trả BHXH) Sự kiện pháp lý này chỉ được duy trì nếu NLĐ, NSDLĐ hoàn thành đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ đóng góp tài chính vào quỹ BHXH (nộp đủ định mức đóng, đúng kỳ hạn và đạt thời gian tham gia BHXH tối thiểu) Nếu không, quan hệ BHXH sẽ chấm dứt do có vi phạm về nghĩa vụ của một hoặc nhiều bên (NLĐ hoặc NSDLĐ hoặc cả hai) Khi đó, sẽ không còn phát sinh nghĩa vụ của bên còn lại (cơ quan BHXH) về nghĩa vụ chi trả BHXH
Pháp luật nước ta quy định thời gian tham gia BHXH tối thiểu cho một số trường hợp hưởng trợ cấp BHXH thông thường như sau: lao động nữ sinh con, mang thai hộ hoặc NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải đóng BHXH một thời gian nhất định từ đủ 06 tháng tuổi trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi (theo khoản 2 Điều 31 Luật BHXH năm 2014); lao động nam từ đủ 60 tuổi trở lên, lao động nữ từ đủ 55 tuổi trở lên và làm việc trong điều kiện môi trường bình thường thì thời gian đóng BHXH tối thiểu để được hưởng lương hưu là từ đủ 20 năm trở lên (theo khoản 1 Điều 54 Luật BHXH năm 2014); NLĐ đã đóng BHXH từ đủ 15 năm trở lên thì thân nhân gia đình họ mới được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng (theo khoản 1 Điều 67 Luật BHXH năm 2014);…
Thứ hai, phát sinh một trong các biến cố làm suy giảm hoặc mất khả năng
lao động, được dự liệu trong quy định về các chế độ BHXH Các biến cố đó bao gồm: NLĐ bị ốm đau hoặc phải nghỉ việc để chăm con nhỏ bị ốm đau; NLĐ nữ mang thai, sinh con, nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi hoặc NLĐ nam đóng BHXH có vợ sinh con; NLĐ nghỉ hưu khi hết tuổi lao động; hoặc khi NLĐ chết Điều cần lưu ý là không phải cứ phát sinh một trong các sự kiện nêu trên đều được coi là biến cố làm suy giảm hoặc mất khả năng lao động, được dự liệu trong quy định về các chế độ BHXH Trong một số trường hợp, nếu NLĐ có lỗi trong việc xảy ra sự kiện đó, vi phạm các quy định của pháp luật thì sự kiện đó sẽ không được pháp luật công nhận là biến cố theo quy định Ví dụ: Điều 25 Luật BHXH năm 2014 quy định: “Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định thì không được hưởng chế độ ốm đau” Như vậy, trường hợp
Trang 28ốm đau để được hưởng chế độ BHXH phải là trường hợp ốm đau do bệnh lý và nếu
là tai nạn thì phải là tai nạn rủi ro không phải là TNLĐ Những trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định thì không được hưởng chế độ
ốm đau
Thứ ba, NSDLĐ, NLĐ (hoặc thân nhân của họ khi NLĐ chết) nộp đầy đủ hồ
sơ hưởng trợ cấp HBXH trong thời hạn do pháp luật quy định
Pháp luật các quốc gia đều quy định cụ thể vấn đề này Theo đó, đối tượng hưởng BHXH phải có đủ hồ sơ hưởng trợ cấp BHXH cho từng chế độ khác nhau, bao gồm các loại giấy tờ cần thiết, hình thức của một số giấy tờ trong hồ sơ chủ yếu nhằm mục đích chứng minh tính xác thực của các yếu tố nhân thân đối tượng hưởng trợ cấp, về sự kiện rủi ro làm suy giảm hoặc mất khả năng lao động, về mức độ duy giảm khả năng lao động,… để từ đó làm căn cứ xác định đúng đối tượng hưởng, loại trợ cấp và mức độ chi trả phù hợp [20]
Cũng như nhiều vấn đề pháp lý khác, việc nộp hồ sơ hưởng trợ cấp BHXH của NLĐ, NSDLĐ cần phải tuân thủ các quy định về thời hạn nộp được định quy định đối với từng loại chế độ BHXH khác nhau Mục đích của nhà làm luật khi quy định ra điều kiện này, một mặt nhằm kịp thời chi trả cho NLĐ và thân nhân gia đình
họ để nhanh chóng khắc phục khó khăn, mặt khác tạo điều kiện cho cơ quan BHXH thuận lợi trong công tác xác minh thông tin, vì khi sự kiện xảy ra càng lâu thì việc tìm lại hồ sơ, giấy tờ lưu trữ càng trở nên khó khăn, phức tạp Đôi khi, nếu sự kiện
đã xảy ra quá lâu thì thông tin cung cấp sẽ không đảm bảo tính chính xác, thậm chí
là không thể xác minh tính xác thực của sự kiện rủi ro Do đó, việc NSDLĐ, NLĐ (hoặc thân nhân của họ khi NLĐ chết) nộp đầy đủ hồ sơ hưởng trợ cấp BHXH trong thời hạn do pháp luật quy định cũng là một điều kiện bắt buộc để cơ quan BHXH có thể tiến hành công tác chi trả BHXH
+ Về mức chi trả bảo hiểm xã hội:
chi trả cho các đối tượng hưởng Để vừa đảm bảo quyền lợi của các đối tượng hưởng, vừa tránh thất thoát quỹ BHXH, pháp luật nước ta đã quy định cách xác
Trang 29định mức chi trả cho từng chế độ BHXH khác nhau, trong các trường hợp thông thường cũng như một số trường hợp đặc thù Về cơ bản, mức chi trả BHXH được xác định dựa trên những căn cứ sau:
Thứ nhất, nhu cầu tối thiểu cần thiết để NLĐ duy trì cuộc sống bình thường
của mình và gia đình Mục đích của BHXH là nhằm bù đắp những nhu cầu thiết yếu của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập Để làm được điều đó, mức trợ cấp phải đảm bảo được các nhu cầu tối thiểu của NLĐ như chi phí ăn ở, đi lại, khám chữa bệnh, giáo dục, giải trí,… Những nhu cầu tối thiểu này được xác định dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương, trong từng thời kỳ và được thể hiện trong các quy định của pháp luật chi trả BHXH
Thứ hai, tính chất công việc và mức độ suy giảm khả năng lao động Tính
chất công việc (bình thường, nặng nhọc hay độc hại,…) là yếu tố có khả năng gây tác động trực tiếp đến việc NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động Đối với những NLĐ làm việc trong mội trường lao động nặng nhọc, độc hại thì họ sẽ tốn nhiều sức lao động hơn, dễ mắc bệnh hơn, do đó mức độ suy giảm khả năng lao động đương nhiên cũng cao hơn nhiều so với những NLĐ làm việc trong môi trường lao động thông thường Vì vậy, khi xác định mức chi trả BHXH cần căn cứ vào các yếu tố tính chất công việc để xác định chi trả trợ cấp BHXH cho phù hợp Căn cứ này được thể hiện rõ nét trong cách xác định mức chi trả chế độ TNLĐ, BNN Theo đó, việc NLĐ được hưởng trợ cấp một lần hay trợ cấp hàng tháng được phân loại dựa theo mức độ suy giảm khả năng lao động Với mỗi loại trợ cấp, khi mức độ suy giảm khả năng lao động càng cao thì mức hưởng trợ cấp tăng dần theo tỷ lệ % suy giảm khả năng lao động
Thứ ba, mức đóng và thời gian đóng BHXH Đây là cơ sở quan trọng, thể
hiện tính công bằng trong BHXH (có đóng mới có hưởng, đóng ít hưởng ít, đóng nhiều hưởng nhiều) và nhằm đảm bảo tính cân đối thu – chi cho quỹ BHXH Căn cứ này đã trở thành một nguyên tắc của pháp luật BHXH, quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật BHXH năm 2014: “Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội” Tùy thuộc vào mỗi chế độ BHXH mà pháp luật quy định mức đóng,
Trang 30thời gian đóng riêng để có thể cân bằng một cách tương đối giữa tổng mức đóng và tổng mức hưởng của NLĐ đối với chế độ BHXH đó
- Thủ tục chi trả BHXH:
Thủ tục chi trả BHXH bao gồm các quy định của pháp luật về hồ sơ, trình tự
cơ quan BHXH tiến hành để chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng hưởng khi có
đủ điều kiện hưởng BHXH Theo đó, NLĐ tham gia BHXH và được xác định thời gian tham gia trong sổ BHXH
Trong khoảng thời gian nhất định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành giải quyết chế độ cho NLĐ hoặc thân nhân của NLĐ Việc thực hiện đúng thủ tục chi trả chế độ BHXH là rất quan trọng, bởi nó không chỉ liên quan đến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm mà còn liên quan đến vấn đề tài chính của quỹ BHXH Việc xác định không đúng cách thức chi trả chế độ, quyền lợi BHXH cho người tham gia bảo hiểm dễ
dẫn đến việc thâm hụt quỹ BHXH ảnh hưởng đến nguồn tài chính của quỹ
1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chi trả BHXH
1.2.1 Quy định về chủ thể có thẩm quyền chi trả BHXH
Trước năm 1994, tổ chức chịu trách nhiệm thực hiện công tác chi trả BHXH
là Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (chi trả các chế độ dài hạn là hưu trí, từ tuất, BNN) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (chi trả các chế độ ngắn hạn là
ốm đau, thai sản, TNLĐ) Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong sự phát triển chính sách BHXH với việc triển khai thống nhất BHXH bắt buộc cho người lao động trong mọi thành phần kinh tế và sự ra đời của tổ chức BHXH Việt Nam [5] Từ năm 1995 đến nay, việc chi trả các chế độ BHXH được tập trung về một đầu mối là BHXH Việt Nam [6]
Theo pháp luật hiện hành, cơ quan BHXH Việt Nam là chủ thể có thẩm quyền chi trả lương hưu, trợ cấp từ tuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản và sau khi điều trị TNLĐ, BNN [7] Công tác chi trả BHXH được tổ chức theo chiều dọc và phân thành ba cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện [8]
Theo đó, cơ quan BHXH cấp trên có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra việc chi trả BHXH của cơ quan BHXH cấp dưới Ngược lại, cơ quan BHXH cấp dưới có
Trang 31trách nhiệm chi trả trợ cấp, báo cáo lên cơ quan BHXH cấp trên theo quy định Cụ thể như sau:
BHXH Việt Nam là cấp quản lý chi trả BHXH cao nhất, chịu sự quản lý Nhà nước trực tiếp của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính Nhiệm vụ của cấp này là phải quản lý bao quát toàn bộ hoạt động chi trả trong toàn hệ thống, đồng thời giải quyết các tranh chấp và vi phạm lớn xảy ra trong công tác chi trả BHXH Để quản lý hoạt động chi trả của mình, cơ quan BHXH Việt Nam thành lập Ban quản lý chi trả BHXH chịu sự giám sát của Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam BHXH tỉnh là cơ quan có thẩm quyền chi trả BHXH cấp Tỉnh Đối với công tác chi trả BHXH, nhiệm vụ của cơ quan BHXH cấp Tỉnh được quy định như sau: i) BHXH Tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức quản lý, thống nhất hướng dẫn việc chi trả, quyết toán các chế độ BHXH trên địa bản quản lý; ii) Trực tiếp chi trả và quyết toán chế độ ốm đau, thai sản; trợ cấp tuất một lần và trợ cấp khu vực một lần, trợ cấp mai táng, TNLĐ, BNN, trang cấp phương tiện dụng cụ chỉnh hình cho người lao động
do BHXH tỉnh quản lý thu BHXH; iii) Chi trả cho người hưởng mới, từ tỉnh khác chuyển đến có tháng chưa nhận và chưa lập vào danh sách chi trả, có nhu cầu nhận tiền tại BHXH tỉnh; vi) Lập, in, ký danh sách chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng và lưu trữ file dữ liệu theo quy định; v) Ghi thu, ghi chi số tiền đóng BHYT của người hưởng chế độ BHXH hàng tháng theo phân cấp
Đối với khu vực có cơ quan BHXH cấp huyện, cơ quan BHXH cấp Tỉnh có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra hoạt động chi trả ở cơ quan BHXH cấp huyện, trực tiếp xét duyệt và chi trả các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, trợ cấp một lần cho NLĐ làm việc trong các đơn vị do cơ quan BHXH tỉnh trực tiếp quản lý thu và ghi
sổ BHXH
Đối với các khu vực không có cơ quan BHXH cấp huyện (mô hình hai cấp), ngoài chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ quan BHXH cấp tỉnh còn phải kiêm nhiệm hoạt động của cơ quan BHXH cấp huyện
BHXH huyện, có thẩm quyền chi trả BHXH là BHXH huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là BHXH huyện) trực thuộc BHXH tỉnh Nhiệm vụ của BHXH cấp này là: thực hiện
Trang 32xét duyệt và chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản, trợ cấp một lần cho người lao động
trong các đơn vị do BHXH huyện trực tiếp thu, ghi sổ BHXH theo phân cấp của
BHXH tỉnh và những đơn vị do BHXH tỉnh ủy quyền chi trả, chi trả các chế độ
BHXH hàng tháng (hưu trí, từ tuất, TNLĐ, BNN) cho đối tượng hưởng trên địa
bàn, chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ có hồ sơ đề nghị giải quyết hưởng BHXH
trong một số trường hợp đặc biệt Ví dụ: NLĐ bảo lưu thời gian đóng BHXH, tự
đóng tiếp BHXH, nghỉ việc trước thời điểm sinh con… Ngoài ra, BHXH cấp huyện
thực hiện quản lý chặt chẽ tình hình tăng giảm đối tượng hưởng và số tiền chi trả tại
địa phương mình để kịp thời báo cáo lên cơ quan BHXH cấp tỉnh
1.2.2 Quy định về nguồn quỹ và phân bổ nguồn quỹ chi trả BHXH
1.2.2.1 Quy định về nguồn quỹ chi trả BHXH
Điều 83 Luật BHXH năm 2014 quy định các quỹ thành phần của quỹ BHXH
bao gồm 03 quỹ: quỹ ốm đau và thai sản; quỹ TNLĐ, BNN; quỹ hưu trí và tử tuất
Việc chia thành phần quỹ BHXH sẽ góp phần quản lý tốt các quỹ BHXH và thực
hiện chi trả chế độ cho NLĐ được nhanh chóng, chính xác và đúng đối tượng Hơn
nữa, quy định như vậy cũng phù hợp với mức đóng của người tham gia vào từng
quỹ thành phần khi tham gia BHXH
- Quỹ ốm đau và thai sản:
Mức trích quỹ là 3% trên cơ sở quỹ tiền lương đóng BHXH của NLĐ từ mức
đóng BHXH hàng tháng của NSDLĐ [3] Quỹ này dùng để chi trả chế độ bảo hiểm
ốm đau và chế độ thai sản
Chế độ bảo hiểm ốm đau là chế độ bảo hiểm xã hội nhằm bảo đảm thu nhập
cho NLĐ tham gia BHXH tạm thời bị gián đoạn do phải nghỉ việc vì ốm đau, tai
nạn, chăm sóc con ốm Chế độ bảo hiểm thai sản là chế độ BHXH nhằm bảo đảm
thu nhập và sức khỏe cho lao động nữ khi mang thai, sinh con, nuôi con nuôi sơ
sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai
- Quỹ TNLĐ, BNN:
Mức trích đóng vào quỹ này là 0,5% trên cơ sở quỹ tiền lương đóng BHXH
của NLĐ từ mức đóng BHXH hàng tháng của NSDLĐ [13] Quỹ này dùng để chi trả
cho NLĐ bị TNLĐ, BNN khi có đủ điều kiện quy định Chế độ bảo hiểm TNLĐ,
Comment [H1]: Đã bảo quy định này đã sủă đổi
rồi!!!
Tại sao ko cập nhật vè sủă nhỉ???
Trang 33BNN là chế độ BHXH nhằm bù đắp các chi phí chữa trị, bù đắp hoặc thay thế thu nhập từ lao động của NLĐ bị giảm hoặc mất do giảm hoặc mất khả năng lao động
mà nguyên nhân là TNLĐ hoặc BNN
- Quỹ hưu trí và tử tuất:
Mức trích quỹ là 22% trên cơ sở mức tiền lương đóng BHXH của NLĐ Trong
đó, NLĐ có trách nhiệm đóng 8% và NSDLĐ có trách nhiệm đóng 14% [3] Quỹ này dùng để chi trả cho chế độ bảo hiểm hưu trí và tử tuất Chế độ bảo hiểm hưu trí
là chế độ BHXH đảm bảo thu nhập cho người hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động Chế độ tử tuất là chế độ BHXH đối với thân nhân của NLĐ đang tham gia lao động hoặc đã tham gia quan hệ lao động nay đang hưởng BHXH, đang chờ hưởng bảo hiểm mà bị chết nhằm trợ giúp một phần tiền tang lễ
và trợ giúp cho thân nhân của NLĐ khi mất đi người trụ cột trong gia đình
1.2.2.2 Quy định về phân bổ nguồn quỹ chi trả BHXH
BHXH tỉnh: Trước ngày 05 tháng 7 hàng năm, tổng hợp, lập dự toán chi năm
kế hoạch của toàn tỉnh; trình Giám đốc BHXH tính xem xét, quyết định; gửi BHXH Việt Nam
BHXH Việt Nam: Trước ngày 20 tháng 7 hàng năm, tổng hợp và lập dự toán chi hàng năm của BHXH Việt Nam; báo cáo Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam xem xét, quyết định; trình Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam thông qua; gửi Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Phân bổ và giao dự toán chi trả BHXH hàng năm:
Trang 34Sau khi dự toán chi trả hàng năm của BHXH Việt Nam, Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam thông qua và Bộ Tài chính phê duyệt, cơ quan BHXH Việt Nam tiến hành phân bổ và giao dự toán chi trả BHXH hàng năm cho cơ quan BHXH các cấp theo quy định như sau [8]:
BHXH Việt Nam phân bổ dự toán chi BHXH từ nguồn ngân sách nhà nước đảm bảo Theo quy định, ngan sách nhà nước có nhiệm vụ đảm bảo nguồn chi trả BHXH cho các đối tượng hưởng BHXH trước ngày 01 tháng 11 năm 1995 (bao gồm: lương hưu, trợ cấp TNLĐ, BNN hàng tháng; trợ cấp phục vụ; trợ cấp tuất; trợ cấp mai táng) Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định về việc giao dự toán ngân sách nhà nước hàng năm của Thủ tướng chính phủ, BHXH Việt Nam phân bổ dự toán chi lương hưu, trợ cấp BHXH từ nguồn ngân sách nhà nước đảm bảo năm kế hoạch cho BHXH tỉnh
Ngoài ra, BHXH Việt Nam phân bổ dự toán chi BHXH hàng năm từ nguồn quỹ chi BHXH Theo quy định nguồn chi trả BHXH cho các đối tượng hưởng BHXH sau ngày 01 tháng 01 năm 1995 lấy từ quỹ BHXH do NLĐ và NSDLĐ đóng góp Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giao dự toán thu, chi của Thủ tướng Chính phủ, BHXH Việt Nam giao dự toán chi cho BHXH tỉnh; ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện dự toán chi năm kế hoạch
Bảo hiểm xã hội tỉnh: Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định giao dự toán chi của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam, BHXH tỉnh giao dự toán chi cho BHXH huyện; ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện dự toán chi năm kế hoạch
Bảo hiểm xã hội huyện: Tiếp nhận kinh phí cùng danh sách các đối tượng được hưởng trợ cấp BHXH và tiến hành chi trả cho các đối tượng hưởng theo danh
sách trên [8]
1.2.3 Điều kiện chi trả và mức chi trả BHXH
1.2.3.1 Điều kiện chi trả và mức chi trả chế độ ốm đau
Chế độ bảo hiểm ốm đau được trả cho NLĐ tham gia BHXH bị ốm đau, tai nạn mà không phải là TNLĐ phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế hoặc phải nghỉ việc để chăm
Trang 35sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền
Như vậy, điều kiện chi trả chế độ ốm đau, theo khoản 2 Điều 25 Luật BHXH năm 2014, một trong những điều kiện để NLĐ được hưởng chế độ ốm đau là phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền Ở đây, chúng ta không bàn đến mốc 7 tuổi mà nhà làm luật đưa ra, vì cũng chỉ là một con số tương đối được đưa ra dựa trên sự tính toán về các yếu tố sinh học Vấn đề ở đây là, đối với con trên 7 tuổi dù mức độ ốm đau có nghiêm trọng đến đâu thì NLĐ cũng không được hưởng trợ cấp khi phải nghỉ việc để chăm sóc con Trong khi đó, dù trên 7 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi thì vẫn chưa được coi là đạt độ tuổi trưởng thành để tự lo cho bản thân, vẫn rất cần sự chăm sóc của người cha, người mẹ, nhất là trong những điều kiện bị ốm đau ở mức
độ nặng Trong những hoàn cảnh như vậy, NLĐ cũng rất cần có thời gian để chăm sóc con, bị ảnh hưởng đến khả năng lao động, thu nhập gia đình và cần sự chia sẻ của xã hội Để chi trả BHXH thực sự phát huy hết vai trò của mình và đảm bảo công bằng quyền lợi cho NLĐ, cần thiết phải xem điều kiện chi trả đối với trường hợp này
Theo quy định, thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với NLĐ làm việc trong điều kiện bình thường là 30 ngày nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm; là 40 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm và là 60 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên Trường hợp NLĐ làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng 40 ngày nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm; 50 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên Người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau tối
đa là 180 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần Hết thời gian này nếu còn điều trị thì được hưởng ở mức thấp hơn
Mức hưởng trợ cấp ốm đau tính theo tháng bằng 75% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc Trường hợp NLĐ mắc bệnh cần điều
Trang 36trị dài ngày mà hết thời gian 180 ngày còn phải điều trị thêm thì thời gian điều trị thêm sẽ được hưởng từ từ 50% đến 65% mức tiền lương đóng BHXH của tháng trước liền kề [3]
Theo khoản 3 Điều 28 Luật BHXH năm 2014, đối với NLĐ là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yêu hưởng lương như đối với quân nhân thì mức hưởng trợ cấp BHXH bắng 100% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc
Như vậy, có thể thấy các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang được hưởng mức trợ cấp cao hơn so với NLĐ bình thường Họ được ưu đãi cả về thời gian hưởng và mức hưởng BHXH Xét ở một góc độ nào đó thì quy định này là chưa hợp lý, bởi quỹ BHXH là do NSDLĐ đóng góp, hạch toán độc lập, không lấy từ ngân sách nhà nước nên không thể lấy quỹ đó để thực hiện chính sách ưu đãi của nhà nước Các chính sách ưu đãi về BHXH đối với NLĐ làm việc trong lực lượng
vũ trang phải lấy từ ngân sách nhà nước và thể hiện thông qua chính sách tiền lương chứ không nên bằng quỹ BHXH Vì thế, cũng cần xem xét lại quy định này
1.2.3.1 Điều kiện chi trả và mức chi trả chế độ thai sản
Chế độ bảo hiểm thai sản được trả cho NLĐ thuộc một trong các trường hợp như lao động nữ mang thai; lao động nữ sinh con; lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi; lao động nữ đặt vòng tránh thai, NLĐ thực hiện biện pháp triệt sản; lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con
Thời gian hưởng chế độ khi sinh con: Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng Trường hợp lao động
nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng Thời gian nghỉ chế độ thai sản trước khi sinh không tối đa không quá 02 tháng
Lao động nam đang đóng BHXH khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế
độ thai sản như sau: a) 05 ngày làm việc; b) 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi; c) Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ them 03 ngày làm
Trang 37việc; d) Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con
Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới 02 tháng tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc 04 tháng tính từ ngày sinh con; nếu con từ 02 tháng tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc 2 tháng tính từ ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế
độ thai sản không vượt quá thời gian quy định tại khoản 1 điều này; thời gian này không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động Trường hợp chỉ có mẹ tham gia BHXH hoặc cả cha và mẹ tham gia BHXH
mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ theo quy định Trường hợp mẹ tham gia BHXH nhưng không đủ điều kiện quy định mà chết thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con
đủ 06 tháng tuổi
Trường hợp cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia BHXH mà không nghỉ việc theo quy định thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của mẹ theo quy định Trường hợp chỉ có tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc rủi ro sau khi sinh con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi Thời gian hưởng chế độ thai sản tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hàng tuần
Về thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi, NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH đủ điều kiện hưởng chế
độ thai sản thì chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ
Mức trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, lao động nữ sinh con hoặc NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con hoặc tháng NLĐ nhận nuôi con nuôi Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia BHXH thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con
Trang 38Từ quy định của pháp luật, vấn đề đặt ra như sau: Mỗi cặp vợ chồng NLĐ
cùng tham gia BHXH và họ nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi (theo Điều 8 Luật
Nuôi con nuôi năm 2010, việc nhận nuôi con nuôi luôn phải có sự đồng ý của cả vợ
và chồng) thì cặp vợ chồng NLĐ này sẽ được nhận mức trợ cấp một lần bằng 04 lần
mức lương cơ sở tại tháng họ nhận nuôi con nuôi (một suất của chồng và một suất
của vợ) Với một cặp vợ chồng NLĐ khác, cả hai cùng tham gia BHXH, nhưng nếu
họ sinh con thì chỉ có NLĐ nữ được hưởng trợ cấp một lần với mức bằng 02 lần
mức lương cơ sở tại tháng NLĐ nữ sinh con Rõ ràng ở đây đã bộc lộ sự không
công bằng khi cả cặp vợ chồng NLĐ đều tham gia BHXH như nhau, nhưng một gia
đình thì được hưởng 04 lần mức lương cơ sở khi nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng
tuổi, một gia đình khác lại chỉ được 02 lần mức lương cơ sở khi sinh con Trong khi
đó, việc sinh con nhiều khi gây ra cho NLĐ nhiều khó khăn hơn, do còn phải mang
thai, chăm sóc thai nhi và khám thai định kỳ, Do vậy, tác giả cha rằng, đây cũng là
vấn đề cần hoàn thiện
Mức hưởng trợ cấp một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng
đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản là hợp lý
1.2.3.3 Điều kiện chi trả và mức chi trả chế độ TNLĐ, BNN
Người lao động được hưởng chế độ TNLĐ, BNN khi bị TNLĐ, BNN và bị
suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên Theo quy định của pháp luật các trường
hợp được coi là TNLĐ bao gồm: bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc; bị
tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu
cầu của NSDLĐ; bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc
trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý
Như vậy, một trong những điều kiện để NLĐ được hưởng chế độ TNLĐ là
khi họ bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng
thời gian và tuyến đường hợp lý Tuy nhiên, thế nào là “tuyến đường hợp lý” thì lại
chưa được quy định chi tiết trong các văn bản dưới luật Do vây, quy định này vẫn
mang tính “định tính” hơn là “định lượng”, gây lúng túng cho cơ quan BHXH trong
việc xác định tai nạn đó có phải là TNLĐ hay không?
Theo Điều 44 Luật BHXH năm 2014, điều kiện hưởng chế độ BNN, danh
mục BNN hiện nay gồm 34 bệnh [11] Với sự phát triển mạnh mẽ của quá trình công
Comment [H2]: Chế độ này quy định ở đâu? Tại
sao?
Comment [H3]: Chế độ này quy định ở đâu? Tại
sao?
Trang 39nghiệp hóa hiện nay, rất nhiều các ngành nghề mới có tính chất phức tạp, nguy hiểm
ra đời thì danh mục này liên tục sửa đổi, bổ sung như vậy là phù hợp với thực tế
Khi bị TNLĐ, BNN, tùy vào mức suy giảm khả năng lao động mà NLĐ
được hưởng một hoặc nhiều chế độ sau đây Người lao động được hưởng trợ cấp 01
lần hoặc hàng tháng tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động Cụ thể
NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một
lần Mức trợ cấp một lần được quy định như sau: Suy giảm 05% khả năng lao động
thì được hưởng 05 lần mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 01% thì được
hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở; Ngoài mức trợ cấp này, NLĐ còn được
hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ một năm trở xuống
thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm
0,3 tháng tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị
Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng
trợ cấp hằng tháng Mức trợ cấp hằng tháng được quy định như sau: Suy giảm 31%
khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm
thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở Ngoài mức trợ cấp này, hằng
tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ
một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH
được tính thêm 0,3% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ
việc để điều trị
Ngoài ra NLĐ bị TNLĐ, BNN còn có thể được hưởng trang cấp phương tiện
trợ giúp cho sinh hoạt và trợ cấp phục vụ Trường hợp NLĐ chết do TNLĐ, BNN
thì thân nhân còn được trợ cấp 1 lần bằng 36 tháng lương cơ sở
Mức chi trả chế độ TNLĐ, BNN, theo quy định hiện hành của pháp luật tồn
tại hai bất cập như sau:
Thứ nhất, quy định mức chi trả của hai chế độ TNLĐ và BNN như nhau là
chưa phù hợp Mức chi trả TNLĐ, BNN cùng căn cứ vào mức độ suy giảm khả
năng lao động, nhưng lại chưa có sự phân biệt về mức chi trả giữa trường hợp
TNLĐ với trường hợp bị BNN Trong khi đó, theo các chuyên gia y tế, khi mắc
BNN rồi sẽ không còn cơ may để phục hồi mà phải chịu bệnh tật suốt đời và ngày
Comment [H4]: Chế dộ dưỡng sức, phục hồi sức
khỏe thì sao??
Trang 40càng có nguy cơ nặng hơn Thêm vào đó, TNLĐ thường xảy ra bất kỳ thời gian nào, bất kỳ ngành nghề nào và bất kỳ ở đâu, nhưng BNN thường chỉ xảy ra ở một số ngành nghề do môi trường độc hại, nặng nhọc Vì vậy, cần xem xét lại vấn đề này
Thứ hai, cơ sở tính mức chi trả trợ cấp dựa vào mức lương cơ sở là không
phù hợp, bởi các lý do sau: Một là, không bảo đảm sự thống nhất trong cách tính
mức chi trả các chế độ BHXH Chế độ TNLĐ, BNN cũng là một trong những chế
độ BHXH, những quy định tính mức chi trả trợ cấp lại không theo quy định chung
Cụ thể, tiền trợ cấp của các chế độ còn lại như: ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất đều được tính trên cơ sở mức đóng, riêng với chế độ TNLĐ, BNN lại dựa trên mức
lương cơ sở Hai là, không bảo đảm sự công bằng giữa những người cùng được
hưởng chế độ TNLĐ, BNN Vì trên thực tế, có người lương cao, có người lương thấp nên tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của mỗi NLĐ là khác nhau, nhưng mức hưởng trợ cấp của NLĐ có cùng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động lại quy định như nhau là không đảm bảo nguyên tắc đóng ít hưởng ít, đóng nhiều hưởng nhiều
Do vậy, pháp luật cũng cần xem xét vấn đề này cho bảo đảm công bằng giữa những người tham gia BHXH
1.2.3.4 Điều kiện chi trả và mức chi trả chế độ hưu trí
Chế độ bảo hiểm hưu trí được chi trả cho cả đối tượng NLĐ đóng BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện [3]
Chế độ BHXH hưu trí được trả cho người lao động khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: i) Nam
đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; ii) Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến
đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên; iii) Người lao động từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có
đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò; iv) Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp; v) Lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở
xã, phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến