1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn tỉnh thái bình

97 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, dù được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, quan điểm, khái quát hay cụ thể, các tác giả đều khẳng định: hỗ trợ đối với DNNVV là một trong những nội dung cơ bản của chính sách

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này cũng như hoàn thành cả quá trình học tập, rèn luyện là nhờ sự giảng dạy, động viên và hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô trong Khoa sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội cùng cơ quan, gia đình và bạn bè Nhân dịp này tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành của mình đến Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa, các thầy giáo, cô giáo đã chỉ dẫn để tôi có những kiến thức vô cùng quý giá giúp tôi có thể trưởng thành một cách vững vàng

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong Bộ môn Luật Kinh tế, đặc biệt là thầy giáo TS NGUYỄN QUÝ TRỌNG là người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND tỉnh Thái Bình, các Sở, Ban, Ngành cùng một số doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết để làm sáng tỏ mục tiêu của đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội , ngày tháng 12 Năm 2018

Tác giả luận văn

NGUYỄN VĂN HÙNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của tôi Tất cả các nội dung và số liệu trong đề tài này do tôi tự tìm hiểu, nghiên cứu và xây dựng, các số liệu thu thập là đúng và trung thực Các giải pháp đề xuất là do tôi rút ra từ quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thái Bình mà bản thân tôi được tiếp xúc và kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ

rõ nguồn gốc Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình trước Nhà trường và những quy định pháp luật

Hà Nội, ngày 10 tháng 01 năm 2019

Tác giả luận văn

NGUYỄN VĂN HÙNG

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

LỜI CAM ĐOAN 3

MỤC LỤC 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 6

MỞ ĐẦU 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ VÀ HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 15

1.1 Nhận diện doanh nghiệp nhỏ và vừa 15

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa 15

1.1.2 Phân tích về các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa 25

1.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 33

1.3 Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa 38

1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của hỗ trợ pháp lý 38

1.3.2 Vai trò của hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp DNNVV 41

1.3.3 Nội dung hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhỏ và vừa 42

Chương 2 45

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA – TỪ THỰC TIỄN TẠI TỈNH THÁI BÌNH 45

2.1 Các quy định của pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho DNNVV 45

2.1.1 Các nguyên tắc hỗ trợ pháp lý cho DNNVV 45

2.1.2 Đối tượng của công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp 49

2.1.3 Phương thức, hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp 51

Trang 5

2.1.4 Trách nhiệm của các chủ thể trong công tác hỗ trợ pháp lý 592.2 Thực tiễn áp dụng công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV tại tỉnh Thái Bình 602.2.1 Một số nét về doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh Thái Bình 602.2.2 Một số kết quả đạt được 642.2.3 Những bất cập, hạn chế trong hỗ trợ pháp lý cho DNNVV và nguyên nhân của nó 70TIỂU KẾT LUẬN CHƯƠNG 77

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 80

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 803.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 82TIỂU KẾT LUẬN CHƯƠNG 94

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

15 TTPBPL Tuyên truyền phổ biến pháp luật

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, DNVVN là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế Loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo… Nhà nước xác định mục tiêu phát triển DNVVN giai đoạn 2011-2015 là thành lập mới 350.000 doanh nghiệp và phấn đấu đến ngày 31-12-2015, cả nước sẽ có khoảng 700.000 doanh nghiệp hoạt động Trong đó, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực DNVVN chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc; đầu tư của khu vực này chiếm khoảng 35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; đóng góp 40% GDP; 30% tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN); tạo thêm 3,5 - 4 triệu việc làm mới trong giai đoạn 2011 - 2015… Số tiền thuế và phí mà các DNVVN đã nộp cho Nhà nước đã tăng 18,4 lần sau 10 năm Sự đóng góp của DNVVN đã góp phần khá lớn cho việc chi tiêu của nhà nước vào các công tác xã hội và các chương trình phát triển khác nên đã tạo ra 40% cơ hội cho dân cư tham gia đầu tư có hiệu quả, huy động các khoản tiền đang phân tán, nằm trong dân cư để hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh thiếu vốn hiện nay1 Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa Việt Nam (VINASME) , có đến 96% doanh nghiệp đăng

ký ở Việt Nam là DNVVN Khối này tạo ra đến 40% tổng sản phẩm quốc nội, tạo ra hơn 1 triệu việc làm mới mỗi năm, chủ yếu mang lại lợi ích đặc biệt cho nguồn lao động chưa qua đào tạo Trong nhiều năm tới, khối DNVVN vẫn là động cơ chạy chính cho nền kinh tế Việt Nam

1 http://moj.gov.vn/tcdcpl , truy cập ngày 05/03/2018

Trang 8

Để thúc đẩy sự tồn tại và phát triển bền vững của các loại hình doanh nghiệp nói chung, trong đó có DNNVV, Nhà nước đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật Để tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp, trong thời gian qua Nhà nước đã ban hành mới nhiều đạo luật quan trọng: Bộ luật Dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2014; Luật Doanh nghiệp 2014; Luật Đầu tư 2014, Luật Hợp tác xã 2012, Luật Thương mại 2005, Luật Cạnh tranh 2014, Luật Phá sản 2014, Luật hỗ trợ DNNVV (2017), Nghị định số 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật hỗ trợ DNNVV Bên cạnh đó, một số chương trình hỗ trợ DNNVV, như Chương trình

585 (Ngày 19/9/2014, Bộ Tư pháp đã có Báo cáo số 238/BC-BTP về kết quả thực hiện Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014 gửi Thủ tướng Chính phủ Hệ thống các văn bản pháp luật đã tạo nên một khung pháp lý tương đối đầy đủ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh cho DNNVV trong nền kinh tế thị trường

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động DNNVV vẫn chưa đầy đủ, đồng bộ trên phương diện lý luận và thực tiễn

áp dụng trên phương diện khu vực, địa giới hành chính, trong đó có tỉnh Thái Bình Việc áp dụng các quy định của pháp luật về hỗ trợ DNNVV vẫn bộc lộ một số bất cập như: hiệu lực thi hành chưa cao, nhiều chính sách vẫn chung chung chưa cụ thể, chủ yếu mang tính khuyến khích, cơ chế điều phối giữa các

cơ quan, tổ chức, chưa đồng bộ, thống nhất dẫn đến hiệu quả hỗ trợ DNNVV chưa cao, nhiều chính sách hỗ trợ chưa đi vào cuộc sống Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập sâu rộng quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV phát huy lợi thế cạnh tranh, phát triển minh bạch và hiệu quả về hỗ

Trang 9

trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề cần thiết trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ nhận thức trên, tác giả chọn đề tài: “Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn tỉnh Thái Bình” làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Sự hỗ trợ của nhà nước đối với các doanh nghiệp, đặc biệt hỗ trợ pháp lý không phải là một vấn đề mới mẻ trên thế giới Vì vậy, vấn đề này cũng dành được sự quan tâm không chỉ từ phía Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học pháp lý cũng như chính cộng đồng doanh Trên thế giới và Việt Nam có khá nhiều công trình khoa học tiếp cận về sự hỗ trợ nói chung, hỗ trợ pháp lý nói riêng đối với đối với các doanh nghiệp ở những góc độ khác nhau, phương diện khác nhau Chủ yếu có thể kể tên một số công trình sau:

- Cuốn sách: SME Guidebook Towards the AEC 2015, The ASEAN Secretariat Jakarta (Sách hướng dẫn DNNVV hướng tới AEC 2015) của

ASEAN như một phần nỗ lực không ngừng nghỉ của ASEAN chuẩn bị cho DNNVV

- Sách, “Small is beautiful” E.F.Schumacher (1973); “A comparison of small and medium sized enterprises in Europe and in the USA, European Capital Markets Institute (2001); “Is small beautiful and worthy of subsidy? - Literature review”, Tyler Biggs (2002)

- Báo cáo: “The impact of the global crisis on SME and entrepreneurship financing and policy responses”, OECD (2009)

- Đạo luật: “Act on Facilitation of Purchase of Small and Medium Enterprises – Manufactured Products and Support for Development of their

Trang 10

Markets”của Hàn Quốc (tạm dịch là Đạo luật về Hỗ trợ mua bán cho DNNVV

- Hàng hoá sản xuất và hỗ trợ phát triển thị trường) sửa đổi, bổ sung năm 20112

- Nguyễn Thiện Phong: “Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh khu vực đồng bằng sông cửu long”, Luận

án tiến sĩ, 2007

- Lê Quang Mạnh: “Phát huy vai trò của nhà nước trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, 2011

- Nguyễn Thị Ngọc Mai: “Chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận văn thạc sỹ, Bảo vệ

tại Đại học ngoại thương, 2008

- Dương Đăng Huệ: “Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và tổ chức đại diện doanh nghiệp trong việc hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp”, Dân chủ

và Pháp luật, Bộ Tư pháp, số chuyên đề 11/2017

- Trần Minh Sơn: “Các tổ chức đại diện doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp” Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Số chuyên

đề 1/2009

- Hoàng Văn Hoan (2011): “Vai trò của nhà nước trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 1

2.2 Một số nhận xét

Từ quá trình khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về

hỗ trợ của nhà nước đối với DNNVV có liên quan đến đề tài, tác giả nhận thấy hoạt động nghiên cứu của các học giả đã đạt được các kết quả cơ bản sau:

2 kien-nghi-tham-khao.html

Trang 11

http://npklaw.com/vi/bai-viet/bai-viet-ve-doanh-nghiep/1148 phap-luat-ho-tro-doanh-nghiep-nho-va-vua-cua-han-quoc-va-mot-so-Thứ nhất, có rất nhiều cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau từ góc độ triết học, kinh tế, góc độ pháp lý, góc độ xã hội học, về hỗ trợ của nhà nước đối với DNNVV Tuy nhiên, dù được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, quan điểm, khái quát hay cụ thể, các tác giả đều khẳng định: hỗ trợ đối với DNNVV là một trong những nội dung cơ bản của chính sách pháp luật về doanh nghiệp, là một yêu cầu tất yếu của đời sống xã hội Sự hỗ trợ đối với cộng đồng doanh nghiệp nói chung, với DNNVV nói riêng đảm bảo quyền tự do kinh doanh và sự bphats triển bền vững của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Thứ hai, vấn đề xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng các tiêu chí như thế nào cũng được các học giả quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau.Việc xác định doanh nghiệp nào là doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như việc phân loại các DNNVV là cơ sở quan trọng để xây dựng khung pháp lý đồng bộ, thống nhất

Thứ ba, các tác giả đều cho rằng: hỗ trợ đối với DNNVV, trong đó có hỗ trợ pháp lý mang tính chính trị pháp lý và có một lịch sử phát triển lâu dài Sự

hỗ trợ đối với DNNVV thể hiện quyền năng của Nhà nước đối với doanh nghiệp thông qua việc xây dựng, ban hành và bảo đảm thực thi hiệu quả của sự hỗ trợ

ấy đối với doanh nghiệp trong thực tiễn Tuy nhiên, cũng nhấn mạnh rằng: doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng không chỉ trông chờ hay ỷ lại vào sự hỗ trợ từ phía Nhà nước hay Chính phủ mà cần phải hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển kinh doanh mottj cách minh bạch, hiệu quả; tận dụng tối đa và phát huy sự hỗ trợ của nhà nước vì mục tiêu phát triển bền vững của cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế quốc gia

Thứ tư, từ các độ tiếp cận và nghiên cứu khác nhau các học giả đều cho rằng: hỗ trợ đối với DNNVV là cơ sở, nền tảng và là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Chính sách

Trang 12

hỗ trợ đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp với nhà nước và giữa các doanh nghiệp với nhau, góp phần đảm bảo quyền tự do kinh doanh hướng tới một xã hội ổn định và phát triển

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận về hỗ trợ, hỗ trợ pháp lý đối với DNNVV và thực trạng pháp luật về vấn đề này tại tỉnh Thái Bình Qua đó, chỉ rõ, đánh giá những kết quả đạt được và những bất cập, tồn tại trong thực tiễn thi hành pháp luật về hỗ trợ pháp lý đối với DNNVV hiện nay Trên cơ sở đó xác định yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về về hỗ trợ, hỗ trợ pháp lý đối với DNNVV

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được được xác định trên những khía cạnh sau:

- Nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa; tiêu chí xác định và phân loại loại doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về hỗ trợ nói chung và hỗ trợ pháp lý nói riêng đối với DNNVV và pháp luật về hỗ trợ DNNVV Phân tích làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về hỗ trợ đối với DNNVV, tìm ra những điểm tiến bộ cũng như hạn chế, bất cập và xác định nguyên nhân của các hạn chế về vấn đề này

- Làm rõ những yếu tố quyết định đảm bảo sự hỗ trợ đối với DNNVV nhằm phát huy và nâng cao hiệu quả vai trò hỗ trợ đối với DNNVV

Trang 13

- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thái Bình về

sự hỗ trợ đối với nghiệp nhỏ và vừa; chỉ ra những bất cập, khó khăn, vướng mắc

và nguyên nhân

- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công tác quản lý đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về hỗ trợ, trong đó chủ yếu về hỗ trợ pháp lý đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên phương diện lý luận

và thực tiễn thi hành Thực tiễn áp dụng về hỗ trợ pháp lý đối với DNNVV tại tỉnh Thái Bình, chỉ rõ những kết quả và các hạn chế bất cập Xác định rõ nguyên

nhân của những hạn chế, bất cập đó trong điều kiện hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các qui định của pháp luật hiện hành về hỗ trợ pháp lý đối với DNNVV, đặc biệt là các quy định tại Luật Hỗ trợ DNNVV

năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Lịch sử, lôgíc, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống

kê, so sánh, đánh giá,…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 14

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu giúp các

cơ quan quản lý nhà nước thực hiện tốt hơn công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo luật học

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kiến nghị, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hỗ trợ và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ

và vừa từ thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thái Bình

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ VÀ HỖ TRỢ PHÁP

LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Nhận diện doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.1.1.1 Khái niệm

Nhiều chuyên gia kinh tế và pháp luật của Việt Nam cho rằng, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) được du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam Vấn đề tiêu chí doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của khu vực này trong nhiều năm qua Thông thường các tiêu chí đó là về số nhân công, vốn đăng kí, doanh thu , các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương trình phát triển khác nhau Việc xác định khái niệm DNNVV có ý nghĩa trong việc tìm ra các đối tượng thuộc diện DNNVV được áp dụng các chính sách hỗ trợ phát triển của Nhà nước

Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động

Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hay SMEs (Small and medium enterprises) nói chung là loại doanh nghiệp có số lao động hay doanh số ở một giới hạn nào đó SMEs được dùng phổ biến ở các nước cộng đồng Châu Âu và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (World Bank), Liên hiệp quốc

Trang 16

(United Nation), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Tuy nhiên, SMEs được

sử dụng nhiều nhất ở Hoa Kỳ3

Các nước thuộc Cộng đồng Châu Âu truyền thống có cách định nghĩa riêng của họ, ví dụ ở Đức thì SMEs được định nghĩa là doanh nghiệp có số lao động dưới 500 người, trong khi đó ở Bỉ là 100 người Tuy nhiên hiện nay việc định nghĩa về SMEs của Liên minh Châu Âu (EU) cụ thể, rõ ràng hơn Doanh nghiệp

có dưới 50 lao động là doanh nghiệp nhỏ, ngược lại doanh nghiệp có trên 250 lao động được xác định là doanh nghiệp vừa Trong khi đó ở Mỹ thì doanh nghiệp có dưới 100 lao động là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp dưới 500 lao động là doanh nghiệp vừa

Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về vốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp nhỏ

và vừa có thể chia thành ba loại căn cứ vào quy mô, đó là : Doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa

Như vậy, có thể nhận thấy các khái niệm về DNNVV được tiếp cận, nghiên cứu ở các góc độ khác nhau về kinh tế, pháp lý, xã hội nhưng việc xác định DNNVV chủ yếu được xác định dựa theo các tiêu chí nhất định như: tiêu chí

về lao động, tiêu chí về vốn và tiêu chí về lĩnh vực kinh doanh

Ở Việt Nam, vấn đề định nghĩa về DNNVV theo thời gian lịch sử và cách thức nhìn nhận về loại doanh nghiệp này có sự thay đổi Tại Công văn số 681 /CP-KTN ban hành ngày 20-6-1998 theo đó doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người , số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa VND và USD tại thời điểm ban hành công văn) Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về các

3 https://123doc.org//document/684351-ly-luan-chung-ve-doanh-nghiep-nho-va-vua-va-ho-tro-phat-trien-doanh-nghiep-nho-va-vua.htm

Trang 17

DNNVV ở Việt Nam và chủ yếu đó là quy ước hành chính phục vụ cho việc hoạch định chính sách hỗ trợ các DNNVV Trên thực tế tiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ nhưng đây được coi là mốc thời gian quan trọng vì công văn này có thể hiểu là hướng dẫn đầu tiên về DNNVV ở Việt Nam, tuy nhiên nó lại không phải là văn bản pháp luật chính thức

Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ về trợ giúp Doanh nghiệp nhỏ và vừa đã chính thức đưa ra định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:

“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” Nghị định này

áp dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: (i) các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (năm 1999); (ii) các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước (1995); (iii) các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã (1996); (iv) các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/2/2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh Cũng theo Nghị định này, các doanh nghiệp cực nhỏ được quy định là có từ 1 đến 9 nhân công, doanh nghiệp có từ

10 đến 49 nhân công được coi là doanh nghiệp nhỏ

Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành kể từ ngày

20 tháng 8 năm 2009 và thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng

11 năm 2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP, định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa

được quy định cụ thể như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh

đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng

Trang 18

tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên),

Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chính thức được Quốc hội Khóa XIV thông qua tại phiên họp sáng ngày 12/6/2017 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 đề cập đến doanh nghiệp nhỏ và vừa Tại Điều 4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định: Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá

200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí:

a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng;

b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng

Như vậy, DNNVV bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa xác định theo các tiêu chí về số người lao động đóng bảo hiểm và tổng nguồn vốn hoặc tổng doanh thu Ví dụ, doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch

vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người

và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng4

1.1.1.2 đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Doanh nghiệp nhỏ và vừa với tư cách là một doanh nghiệp, do đó DNNVV

4 Khoản 1, Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ

Trang 19

mang những đặc điểm chung của doanh nghiệp DNNVV là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh5 Bên cạnh đó, DNNVV mang những đặc điểm riêng thể hiện bản chất pháp lý của nó

Thứ nhất, DNNVV có quy mô vốn nhỏ và số lượng lao động ít

Tiêu chí về quy mô nhỏ và số lượng lao động ít là những tiêu chí quan trọng để nhận diện đó có phải là DNNVV hay không? Tuy nhiên, sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô hay số lao động thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình

độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng lên Ví dụ như một doanh nghiệp có 400 lao động đóng bảo hiểm xã hội ở Việt Nam không được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng lại được tính là SMEs ở CHLB Đức Ở một số nước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì các chỉ số về lao động, vốn để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ thấp hơn so với các nước phát triển Tính chất ngành nghề: do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất, điện

Do đó cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối chứng trong phân loại các SMEs giữa các ngành với nhau Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động Còn một số tiêu chí khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước

Tại Việt Nam, theo quy định của Nghị định 56/2009/NĐ-CP việc xác định doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa chủ yếu theo tiêu chí tổng vốn và số lao động trong doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ có tổng vốn từ 10-20 tỷ đồng trở xuống và số lao động từ trên 10 người đến 200 người, Doanh nghiệp vừa có

5 Xem thêm Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 20

tổng nguồn vốn từ trên 10 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng với số lao động từ trên 50 đến 300 người So với Nghị định 90/2001/NĐ-CP thì mức vốn của doanh nghiệp được quy định ở Nghị định 56/2009/NĐ-CP đã tăng lên gấp 10 lần Nguyên nhân của sự thay đổi này là do tác động từ kinh tế - xã hội của đất nước, sau 8 năm kể từ khi ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, các doanh nghiệp lớn mạnh không ngừng Do vậy, nếu vẫn giữ mức quy định vốn như Nghị định cũ thì không phù hợp với tình hình phát triển chung của doanh nghiệp Việt Nam và sẽ khó hỗ trợ tích cực cho các DNNVV Trong tương lai khi nền kinh tế tiếp tục phát triển, các quy định này cũng sẽ thay đổi theo để đáp ứng kịp thời yêu cầu của tình hình mới

Tuy nhiên, theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (HTDNNVV) xác định DNNVV là doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân không quá 200 người/năm Đồng thời đáp ứng một trong hai tiêu chí về vốn: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng6

Tài sản hay vốn có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại; Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này) Đối với tiêu chí số người lao động đóng bảo hiểm xã hội (không quá 200 người) là tiêu chí “cứng”, còn tiêu chí về vốn hay doanh thu mang tính “mở” Kết quả nghiên cứu cho thấy, với đặc điểm về mức vốn, sử dụng ít lao động sẽ mang lại những lợi thế cho DNNVV trong vấn đề đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi

ro cao Các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động

6 Điều 4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017

Trang 21

nên sẵn sàng gánh chịu rủi ro trong kinh doanh nếu cần thiết Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được Bên cạnh đó các DNNVV có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các hoạt động kinh doanh mạo hiểm

Tuy nhiên, cũng xuất phát từ đặc điểm về vốn thấp và số lượng lao động

ít mà các DNNVV hạn chế trong việc tiếp cận với nguồn tín dụng, nguồn vốn

xã hội Điều này rất dễ thấy và nó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành

và phát triển của các DNNVV Do tài sản cầm cố, thế chấp ít nên các DNNVV rất khó vay được các khoản vay lớn từ các tổ chức tín dụng và các quỹ tín dụng Trong khi đó phần lớn các DNNVV đều rất hạn chế về vốn tự có vì vậy nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh là rất lớn và việc hình thành một nguồn vốn cho khu vực doanh nghiệp này là yêu cầu cấp thiết Bên cạnh đó, do nguồn vốn ít nên các chủ DNNVV không đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê những người lao động có tay nghề cao Bản thân người lao động không thường xuyên được đào tạo, đào tạo lại do kinh phí hạn hẹp vì vậy trình độ tay nghề và kỹ năng của người lao động trong DNNVV thấp

Theo kết quả khảo sát tại 1.200 DNViệt Nam của Tổ chức Hợp tác kỹ thuật Cộng hòa liên bang Đức (GTZ), năm 2008, chỉ có khoảng 0,1% doanh thu hằng năm của DN được dành cho đổi mới công nghệ Tại TP Hồ Chí Minh Ban quản

lý các KCN-KCX (Heppza) đã phối hợp với Sở Khoa học &Công nghệ TP.HCM tiến hành khảo sát công nghệ của các DN tại các KCN-KCX tại TP

Hồ Chí Minh cho thấy số DN có trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu chiếm đa

số Trong số 429 DN được kháo sát thì có chỉ có 3 DN trong tổng số các DN

Trang 22

được khảo sát đạt trình độ tiên tiến chiếm tỷ lệ 1% Tương tự như vậy tại các KCN-KCX các DN đạt trình độ công nghệ tiên tiến chỉ chiếm số lượng rất khiếm tốn, khoảng 2% ở các KCN Vĩnh Lộc và Tân Tạo, 1% ở KCN Tân Bình Kết quả khảo sát cũng cho thấy, có đến 10% các DN tại các KCN-KCX nói trên mua lại thiết bị với giá trị kỹ thuật chỉ còn dưới 50%7 Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ khá khó khăn hoặc chưa thực sự quan tâm đầu tư đúng mức cho việc đổi mới công nghệ

Thứ hai, DNNVV được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau

Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp là những doanh nghiệp được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh Khởi nghiệp (startup) cũng

có nghĩa là tạo ra giá trị có lợi cho người cho xã hội hoặc nhóm khởi nghiệp, cho các cổ đông của công ty, cho người lao động, cho cộng đồng và nhà nước Khởi nghiệp bằng việc thành lập doanh nghiệp sẽ tạo tăng trưởng kinh tế và dưới một góc độ nào đó sẽ tham gia vào việc phát triển kinh tế và xã hội Khời nghiệp có thể hiểu một người vừa là nhân viên vừa là ông chủ hoặc cao hơn có thể tự thành lập doanh nghiệp riêng cho mình rồi tuyển nhân viên vào cùng làm

Vì vậy khởi nghiệp cũng chính là bạn bắt đầu làm chủ Và khởi nghiệp cũng chính là một công việc kinh doanh của bạn vì nó liên quan đến việc tạo ra sản phẩm và bán ra thị trường để bạn có thu nhập Chính vì vậy người ta thường gọi là khởi nghiệp kinh doanh

Doanh nghiệp mới sáng lập hoặc trong những giai đoạn đầu phát triển Không có độ dài thời gian cụ thể nào để xác định khi nào thì doanh nghiệp hết được gọi là khởi nghiệp, trừ khi doanh nghiệp không còn coi mình là khởi

7 Lê Phương: “ Nghiên cứu Chính sách và Quản lý”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Số 2 (2016) 75-82,

Trang 23

nghiệp nữa8 Thực tế cho thấy, nhiều công ty startup không sáng chế ở khía cạnh sản phẩm, mà sử dụng các sáng chế khác: điều chỉnh những công nghệ hiện tại cho mục đích mới, đặt ra một mô hình kinh doanh mới để mở ra các giá trị trước đây chưa được tìm ra, hoặc thậm chí mang sản phẩm hay dịch vụ đến một địa điểm mới hoặc nhóm khách hàng trước đây chưa được phục vụ Trong tất cả các trường hợp này, sự sáng tạo đổi mới là chìa khóa đưa đến thành công cho công ty9

Đặc điểm này cho phép DNNVV có thể thuận lợi trong khởi sự, bộ máy quản lý gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thị trường cũng như loại hàng hóa, sản phẩm Điều đó có thể giúp cho doanh nghiệp sẽ tạo ra

sự sống động trong phát triển kinh tế

Đối với DNNVV do phụ nữ làm chủ có thể do một hoặc nhiều người thành lập chiếm từ 51% vốn điều lệ trở lên Đây là một tư duy mới trong việc xác định

mô hình kinh doanh Trong trường hợp có nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đồng thời đáp ứng điều kiện của các mức hỗ trợ khác nhau trong cùng một nội dung

hỗ trợ theo quy định của pháp luật thì doanh nghiệp có thể được lựa chọn mức

hỗ trợ có lợi nhất đối với doanh nghiệp Bên cạnh đó, nếu có nhiều DNNVV cùng đáp ứng điều kiện hỗ trợ theo quy định của pháp luật thì ưu tiên lựa chọn doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động nữ hơn Quy định này không tạo ra các rào cản pháp lý nhằm

8 https://www.facebook.com/22ceo/posts/1136763359716852:0

9 https://khoinghieptre.vn/khoi-nghiep-la-gi-dinh-nghia-khoi-nghiep-kinh-doanh-startup/

Trang 24

tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp, chủ yếu khuyến khích các DNNVV sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là các lao động nữ giới

Thứ ba, DNNVV là loại doanh nghiệp được hoạt động ở nhiều lĩnh vực

khác nhau như: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, lĩnh vực thương mại, dịch vụ,…DNNVV hoạt động ở nhiều lĩnh vực thể hiện tính đa dạng lĩnh vực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; đồng thời cho phép lựa chọn lĩnh vực hoạt động phù hợp, mô hình DNNVV với số người lao động và mức vốn khác nhau Đồng thời, điều đó cho phép DNNVV linh hoạt, uyển chuyển dễ thích ứng với các thay đổi của thị trường Ví dụ, doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá

300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng Đối với Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm

xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng10 Như vậy, DNNVV

sẽ có nhiều cơ hội trong việc lựa chọn mô hình DNNVV, đổi mới trang thiết bị,

đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp.Doanh nghiệp

có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn Với chiến lược phát triển, đầu

tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các DNNVV có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế Bên cạnh đó, Xuất phát từ

10 Điều 6, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017

Trang 25

đặc điểm này đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý của các nhà quản lý trong doanh nghiệp, hạn việc các chủ doanh nghiệp thường vừa quản lý, vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn trong tổ chức, quản lý không cao

1.1.2 Phân tích về các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.1.2.1 Quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa

Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo những tiêu chí nhất định nhằm xác định rõ hơn DNNVV Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa là nội dung quan trọng nhằm xác định cụ thể từng loại doanh nghiệp để có thể được hưởng hỗ trợ theo quy định của pháp luật Việc tăng hay giảm các tiêu chí trong phân loại doanh nghiệp sẽ làm tăng hoặc giảm số lượng đối tượng được hưởng hỗ trợ Việc mở rộng hay thu hẹp đối tượng cần phải căn cứ vào khả năng, nguồn lực của nhà nước Tuy việc sử dụng tiêu chí phân loại DNNVV ở các quốc gia khác nhau song có 5 tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là: vốn, tổng tài sản, doanh thu, doanh số bán hàng, số lao động sử dụng Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc,… sử dụng tiêu chí vốn nhưng các yếu tố cấu thành tiêu chí vốn có sự khác nhau Ở nhiều nước khác thuộc Cộng đồng chung châu Âu, Thái Lan, Philippines, Colombia, Bolivia,… sử dụng tiêu chí tổng tài sản.11

Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hiện nay được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa giống như mô hình DNNVV của Hàn Quốc Hàn Quốc cũng đã chia SMEs ra thành

11

Bộ Kế hoạch và Đầu tư: “Báo cáo Tổng hợp ý kiến các cơ quan, tổ chức và cá nhân góp ý Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa”

Trang 26

ba loại: Doanh nghiệp siêu nhỏ; doanh nghiệp nhỏ; doanh nghiệp vừa căn cứ vào ngành nghề và quy mô kinh doanh12

Doanh nghiệp siêu nhỏ là những doanh nghiệp được xác định theo các tiêu chí về số lao động trong doanh nghiệp, tổng doanh thu và lĩnh vực kinh doanh Doanh nghiệp siêu nhỏ được xác định ở hai lĩnh vực khác nhau Việc xác định lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp siêu nhỏ vừa đáp ứng tính đa dạng, điều kiện của từng lĩnh vực kinh doanh vừa phù hợp với nhu cầu của người kinh doanh hoặc để thuận lợi trong vấn đề tổ chức, quản lý doanh nghiệp

Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng13

Theo quy định này có thể thấy ở một góc độ nhất định thì mô hình doanh nghiệp siêu nhỏ có phần tương đồng với mô hình hộ kinh doanh về số lao động,

về vốn hoặc lĩnh vực kinh doanh, ví dụ: hiện nay hộ kinh doanh được sử dụng dưới 10 lao động, trong trường hợp hộ kinh doanh sử dụng từ 10 lao động trở lên thì hộ kinh doanh phải chuyển đổi mô hình kinh doanh sang doanh nghiệp Quy định về doanh nghiệp siêu nhỏ hiện nay là một trong hướng tiếp cận mới

về doanh nghiệp, theo đó nếu hộ kinh doanh có nhu cầu và đáp ứng các điều kiện có thể làm thủ tục chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp siêu nhỏ Tuy nhiên, hộ kinh doanh có chuyển đổi sang daonh nghiệp siêu nhỏ hay không còn

có sự tác động của rất nhiều yếu tố khác như: yếu tố về mặt bằng, tài chính hay chính sách về thuế,…

12 Điều 2, Đạo luật cơ bản về SMEs sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Điều 3 Nghị định hướng dẫn thi hành Đạo luật cơ bản về SMEs

13 Khoản 1, Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày ngày 11 tháng 3 năm 2018 của Chính Phủ

Trang 27

Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng14 Doanh nghiệp nhỏ cũng được xác định ở các lĩnh vực khác nhau với các tiêu chí khác nhau về lao động, nguồn vốn Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20

tỷ đồng Như vậy, cụ thể hơn thì doanh nghiệp nhỏ sử dụng lao động từ trên 10 người đến 100 người với tổng doanh thu năm từ trên 3 tỷ đến 50 tỷ đồng hoặc nguồn vốn tổng từ trên 3 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng

Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm từ trên 10 người đến 50 người và tổng doanh thu của năm trên 10 tỷ đến 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn từ trên 3 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng

Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ

Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của

14 Khoản 1, Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2018 của Chính Phủ

Trang 28

năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng15, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ.16

Như vậy, cách xác định mô hình doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu theo tiêu chí mang tính định lượng như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận Trong đó, số lao động: có thể lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế; Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại; Doanh thu:

có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có xu hướng

sử dụng chỉ số này) Hơn nữa, mỗi một cách phân loại có thể còn tùy thuộc vào từng quốc gia hay khu vực Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) ở Hàn Quốc là một trong những hệ thống doanh nghiệp đóng vai trò chủ chốt đối với sự phát triển toàn diện của nền kinh tế Số lượng SMEs chiếm khoảng 99,9% tổng số doanh nghiệp, đóng góp trên 102,9 triệu đô la Mỹ từ việc xuất khẩu và giải quyết được việc làm cho hơn 87,7% trên tổng dân số đang ở độ tuổi lao động

Để dễ điều hành, quản lý và cung cấp các chính sách hỗ trợ SMEs, Hàn Quốc

đã chia SMEs ra thành ba loại: (1) doanh nghiệp siêu nhỏ, (2) doanh nghiệp nhỏ, (3) doanh nghiệp vừa căn cứ vào ngành nghề và quy mô kinh doanh17

1.1.2.2 Một số nhận xét, đánh giá về tiêu chí xác định DNNVV theo quy định của pháp luật Việt Nam

Một là, nghiên cứu các quy định về tiêu chí xác định DNNVV của Việt Nam cơ bản là phù hợp với quy định của một số nước về lao động, vốn, doanh thu và lĩnh vực kinh doanh Việc đưa ra các tiêu thức xác định DNNVV mới chỉ có tính ước lệ, cần có các quy định cụ thể và minh bạch hơn về các tiêu chí

15 Khoản 3, Điều 7 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2018 của Chính Phủ

16 Xem thêm Khoản 3, Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2018 của Chính Phủ

17 Điều 2, Đạo luật cơ bản về SMEs sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Điều 3 Nghị định hướng dẫn thi hành Đạo luật cơ bản về SMEs

Trang 29

gắn liền với từng lĩnh vực kinh doanh để đảm bảo hoạt động của các DNNVV ngày càng hiệu quả Có thể khảo cứu các quy định của pháp luật Nhật Bản về vấn đề này Luật Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhật Bản18 doanh nghiệp nhỏ

và vừa (SMEs) được khái quát dựa trên các tiêu chí sau: loại hình ngành nghề, hàng hóa, bán buôn, công nghiệp dịch vụ, bán lẻ tập trung vào 3 yếu tố là vốn, người lao động và đóng góp vào nền kinh tế Xét về vốn, theo quy định của luật doanh nhiệp nhỏ và vừa hoạt động trên lĩnh vực sản xuất phải có vốn đến 300 triệu yên Nhật hoặc ít hơn, doanh nghiệp bán buôn phải có vốn đến 100 triệu yên hoặc ít hơn Với ngành dịch vụ công nghiệp và bán lẻ thì yêu cầu về vốn là

50 triệu yên hoặc ít hơn19

Hai là, việc xác định DNNVV theo tiêu chí về lao động

Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật Việt Nam theo tiêu chí định lượng như: doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng20

Hiện nay, về tiêu chí lao động để xác định DNNVV có thể áp dụng theo từng nhóm lĩnh vực kinh doanh như trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng hoặc lĩnh vực thương mại, dịch vụ

Ví dụ, doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ

18 Small and Medium Enterprises Basic Act of Japan – Đạo luật cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhật Bản

19 Ủy ban thương vụ Quốc hội, Viện NCLP, TT thông tin khoa học lập pháp (2017), Thông tin chuyên đề: “

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CỦA NHÀ NƯỚC CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA – KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM (Tài liệu phục vụ kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIV), tr 3

20 Điều 4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 30

đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng21 Tuy nhiên, thiết nghĩ trong từng lĩnh vực kinh doanh có thể do xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi về sử dụng lao động có thể khác nhau như doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp thì nhu cầu sẽ lớn hơn, ngược lại trong lĩnh vực xây dựng có thể cần sử dụng ít lao động hơn Do đó, có thể quy định cụ thể số lượng lao động đối với từng lĩnh vực kinh doanh sẽ phù hợp hơn Về vấn đề này, có thể tiếp cận quy định của Nhật Bản Theo quy định của Luật Doanh nhỏ và vừa của Nhật Bản về số lượng lao động xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa phụ thuộc vào lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nhiệp nhỏ và vừa hoạt động trên lĩnh vực sản xuất phải có số người lao động đến 300 người, doanh nghiệp bán buôn, ngành dịch vụ công nghiệp phải có 100 người hoặc ít hơn Với ngành bán lẻ thì yêu cầu này là ít hơn 50 người22

Thứ ba, tiêu chí về vốn hoặc doanh thu của doanh nghiệp

Để xác định đó có phải là DNNVV hay không thì một trong các tiêu chí liên quan đến vốn của doanh nghiệp Theo quy định thì DNNVV ngoài việc đáp ứng về số lao động đóng bảo hiểm xã hội năm thì phải đáp ứng một trong hai tiêu chí là Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng Vốn của doanh nghiệp có thể bao gồm nhiều loại vốn khác nhau như vốn điều lệ, vốn vay, vốn được hỗ trợ, tài trợ…Câu chuyện cần xác định là vốn của doanh nghiệp có thể gồm hai giai đoạn: vốn khi thành lập doanh nghiệp và vốn của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động Do đó dẫn đến một thực tế là con số tổng nguồn vốn hoặc tổng doanh

21 Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP

22 Ủy ban thương vụ Quốc hội, Viện NCLP, TT thông tin khoa học lập pháp (2017), Thông tin chuyên đề: “

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CỦA NHÀ NƯỚC CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA – KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM (Tài liệu phục vụ kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIV), tr 3

Trang 31

thu của năm trước liên kề của doanh nghiệp thường thay đổi chứ không phải là

cố định Vì vậy, nếu đưa tiêu chí cố định là 100 tỷ đồng (tổng vốn) hoặc 300 tỷ đồng (tổng doanh thu năm trước liền kề) có thể không phù hợp Nếu vốn của doanh nghiệp hay tổng doanh thu của doanh nghiệp vượt quá ngưỡng trên thì

đó không phải là DNNVV Ví dụ, có một số doanh nghiệp vốn của năm nay dưới 100 tỷ đồng nhưng đến năm sau do các nguồn vốn huy động khác điều lệ trên 100 tỷ đồng nhưng tổng vốn huy động để sản xuất kinh doanh nhỏ hơn 100

tỷ đồng do vốn điều lệ không cấp đủ theo quy định mà doanh nghiệp phải vay thêm vốn ngân hàng để hoạt động, như vậy, chỉ tiêu này luôn biến động theo nguồn vốn vay ngân hàng Thực tế nhiều doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu rất thấp, chủ yếu là vốn vay, vốn huy động khác, từ đó sẽ mang tính rủi ro rất cao trong sản xuất kinh doanh Quy mô vốn từng lĩnh vực có khác nhau ở các lĩnh vực như lĩnh vực nông nghiệp sẽ khác trong lĩnh vực xây dựng cũng như lĩnh vực dịch vụ

Đồng thời quy định về vốn của các DNNVV có một tỷ lệ khoảng cách khá

xa, ví dụ đối với doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm từ trên 10 người đến 50 người

và tổng doanh thu của năm trên 10 tỷ đến 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn từ trên 3 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng23 Quy định này có thể cho thấy khoảng cách giữa

3 tỷ đồng và 50 tỷ đồng dẫn đến năng lực tài chính của doanh nghiệp khác nhau,

do đó trong một điều kiện, môi trường kinh doanh như nhau thì khả năng cạnh tranh vẫn có chiều hướng có lợi thế cho doanh nghiệp nhỏ có vốn lớn

Một vấn đề khác về tiêu chí tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng là một trong những tiêu chí để phân loại DNNVV Tuy nhiên,

23 Khoản 2, Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP

Trang 32

quy định có vẻ hơi cứng nhắc vì sự thay đổi và diễn biến khó lường của nền kinh tế hiện nay, việc quy định cứng các tiêu chí về tài chính, trong đó có tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng có thể sẽ tạo ra một số khó khăn khi áp dụng, nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ hiện đang có quy mô nhỏ và vừa so với quốc

tế Đặc biệt là sự hỗ trợ về lĩnh vực sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Thứ tư, tiêu chí về lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp

Tại Khoản 1, Điều 4 Luật HTDNNVV đưa ra một bộ tiêu chí chung cho

cả loại doanh nghiệp (doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa) nhưng không áp dụng cho các lĩnh vực riêng Tuy nhiên, doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ24 Do đó, sẽ dẫn đến quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật HTDNNVV là không có ý nghĩa trên thực tế Bởi dù có phân theo lĩnh vực kinh

tế thì các tiêu chí của lĩnh vực này đều như nhau Ví dụ, doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng25 Quy định này chưa thực sự phù hợp vì thực tế cho thấy,

do có sự khác biệt về tính chất của các lĩnh vực kinh tế nên quy mô về vốn lao động, doanh thu của doanh nghiệp ở mỗi lĩnh vực có sự khác biệt rất lớn, ví dụ doanh nghiệp nông nghiệp thường ít vốn, ít doanh thu nhưng lao động lại nhiều

24 Khoản 2 Điều 4 Luật HTDNNVV năm 2017

25 Khoản 1, Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ- CP

Trang 33

trong khi doanh nghiệp ở thủy sản có thể ít lao động, ít vốn nhưng doanh thu lớn

1.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong hầu hết các nền kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số Tại

EU, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đến 99% và số lao động lên tới 65 triệu người Trong một số nền kinh tế DNNVV giữ vai trò quan trọng trong công cuộc cải tạo và là động lực phát triển của nền kinh tế Trong phạm vi thế giới DNNVV đóng góp 40% - 50% tổng thu nhập quốc dân26 Ở Nhật Bản, con số các doanh nghiệp nhỏ và vừa là 99,7% với trên 70% lao động và chiếm trên 50% giá trị gia tăng27 Có thể nói các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã định hình nền tảng cho nền kinh tế từng quốc gia Tuy nhiên, để vượt qua được những thách thức ngày càng lớn mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đối mặt, chính phủ nhiều quốc gia vẫn cần tập trung nhiều hơn nữa vào môi trường kinh doanh, văn hóa kinh doanh, quá trình đổi mới quy định và cơ cấu của doanh nghiệp nhỏ và vừa SMEs)

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay DNNVV ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững nền kinh tế quốc dân Đánh giá sức mạnh của mỗi nền kinh tế APEC có sự đóng góp quan trọng của các DNNVV Khối DN này chiếm khoảng 97% tổng số DN và tạo ra 60% việc làm Khối DN này là nguồn động lực cho tăng trưởng, đổi mới và sáng tạo tại các nền kinh tế APEC28 Ví dụ, doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) ở Hàn Quốc là một trong

26 https://123doc.org//document/684351-ly-luan-chung-ve-doanh-nghiep-nho-va-vua-va-ho-tro-phat-trien-doanh-nghiep-nho-va-vua.htm, truy cập ngày 19/10/2017

27 Ủy ban thương vụ Quốc hội, Vụ Lập pháp, TT thông tin khoa học lập pháp (2017), Thôn tin chuyên đề: “

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CỦA NHÀ NƯỚC CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA – KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM (Tài liệu phục vụ kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIV), tr 2

28 http://cafef.vn/thu-tuong-keu-goi-apec-ho-tro-doanh-nghiep-nho-va-vua-20170915133905054.chn

Trang 34

những hệ thống doanh nghiệp đóng vai trò chủ chốt đối với sự phát triển toàn diện của nền kinh tế Số lượng SMEs chiếm khoảng 99,9% tổng số doanh nghiệp, đóng góp trên 102,9 triệu đô la Mỹ từ việc xuất khẩu và giải quyết được việc làm cho hơn 87,7% trên tổng dân số đang ở độ tuổi lao động29

Vai trò của DNNVV được thể hiện trên những góc độ cơ bản sau đây:

Một là, DNNVV tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp Các cơ sở doanh

nghiệp nhỏ và vừa rất thích hợp với các biện pháp tiết kiệm vốn và do đó chúng được công nhận là phương thức giải quyết thất nghiệp hiệu quả nhất Một trong những lý do được đưa ra là do đặc tính phân bố rải rác của các DNNVV Các doanh nghiệp loại này thường phân tán nên chúng có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động, đặc biệt là với các vùng sâu, vùng xa, vùng chưa phát triển kinh tế, với các đối tượng lao động có trình

độ tay nghề thấp Nhờ vậy chúng vừa giải quyết thất nghiệp vừa góp phần giảm dòng người di chuyển về thành phố tìm việc làm

Sự linh hoạt, uyển chuyển dễ thích ứng với các thay đổi của thị trường cũng là một đặc điểm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong trường hợp có biến động xảy ra, các doanh nghiệp lớn sẽ đối phó khá chậm chạp, không phải

vì cấp quản lý bất tài mà bởi vì doanh nghiệp lớn thì khó xoay xở một cách kịp thời Họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động, sau đó sẽ phải sa thải bớt lao động để cắt giảm chi phí đến mức có thể tồn tại và phát triển được trong điều kiện cung lớn hơn cầu Trong khi đó do khả năng linh hoạt, có thể thích ứng nhanh với thay đổi của thị trường, các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn có thể tồn tại được mà không phải sử dụng đến biện pháp cắt giảm lao động

29 Điều 2, Đạo luật cơ bản về SMEs sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Điều 3 Nghị định hướng dẫn thi hành Đạo luật cơ bản về SMEs

Trang 35

Việt Nam là quốc gia đang trong giai đoạn dân số trẻ, nhu cầu việc làm cao và nếu không giải quyết được vấn đề việc làm sẽ dẫn đến nhiều vấn đề phức tạp cho các nhà quản lý Các DNNVV góp phần giúp lực lượng lao động tiếp cận được việc làm một cách dễ dàng hơn và phong phú hơn, giải quyết phần nào tình trạng thiếu việc làm đang là thực trạng không chỉ của Việt Nam và trên toàn thế giới trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế

Hai là, các DNNVV cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hoá đáng

kể về cả chất lượng, số lượng và chủng loại Các DNNVV thu hút một lượng

lớn lao động và tài nguyên của xã hội để sản xuất ra hàng hoá Để có thêm sức cạnh tranh trực tiếp với các công ty và tập đoàn lớn, hàng hoá của họ nói chung thiên về sự đa dạng về chất lượng và chủng loại, tạo cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội được lựa chọn Bên cạnh đó họ cũng tiến vào nhiều thị trường nhỏ

mà các công ty lớn bỏ qua vì doanh thu từ đó quá nhỏ Ở Việt Nam, các thương hiệu lớn đã dần khẳng định được chỗ đúng của mình trên thương trường nhờ đầu tư về mọi mặt Tuy nhiên, không phải các sản phẩm này đều là sự lựa chọn hàng đầu của người tiêu dùng Việt Nam, xuất phát từ lý do đơn giản là thu nhập của người dân chưa cao, chưa thể sử dụng các dịch vụ và hàng hóa đắt tiền Do

đó, các DNNVV đã hướng đến một số lượng lớn người tiêu dùng bình dân với đầy đủ các loại hàng hóa, dịch vụ phong phú cả về chất lượng, số lượng và

chủng loại

Ba là, DNNVV gieo mầm cho các tài năng quản trị kinh doanh Một số

những người có tài trong quản trị kinh doanh không muốn làm việc trong các công ty lớn mà muốn mở công ty riêng để tiện đường vùng vẫy Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa rất thích hợp đối với họ trong việc thử sức của mình Bên cạnh đó các công ty tư nhân lớn nói chung đều xuất phát từ các công

ty nhỏ đi lên Tập đoàn Microsoft của tỷ phú Bill Gates cũng do ông ta xây

Trang 36

dựng dần lên Ông ta vào lúc 20 tuổi vẫn còn là một người chưa có nhiều tài sản, bỏ học đại học để mở doanh nghiệp riêng của mình Chưa đầy 30 năm sau

đó trở thành người giàu nhất thế giới, là một điển hình của người làm giàu dựa

vào năng lực của mình

Các doanh nghiệp nhỏ còn là nơi huấn luyện nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp lớn Các nhân viên sẽ học được những kỹ năng ban đầu về quản

lý rất cần thiết, được công ty lớn đánh giá cao như: Điều hành kinh doanh, kiểm soát và quản lý nhân viên, quản lý thời gian, bán hàng và tiếp thị, xúc tiến sản phẩm và dịch vụ, quan hệ với khách hàng, quy định xuất nhập khẩu, quan hệ với quan chức cơ quan nhà nước… Đây là các kỹ năng cần thiết cho công việc

ở các công ty lớn và việc đào tạo chúng cho người lao động cần thời gian Các doanh nghiệp nhỏ sẽ thực hiện “hộ” khâu này Nhân viên DN nhỏ sau một thời gian có được kinh nghiệm rồi sẽ được các công ty lớn thu nhận Trong điều kiện Việt Nam ngày càng chảy máu số lượng và chất lượng “chất xám” thì DNNVV chính là môi trường tốt để các tài năng tích lũy kinh nghiệm và hoàn thiện khả năng của mình trước khi chính thức bước ra môi trường kinh doanh khốc liệt hơn là cạnh tranh với các doanh nghiệp, tập đoàn lớn trong và ngoài nước

Bốn là, DNNVV làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn

Các doanh nghiệp lớn và các tập đoàn không có được tính năng động của các đơn vị kinh tế nhỏ hơn chúng vì một nguyên nhân đơn giản là quy mô của chúng quá lớn Quy luật của vật lý là khối lượng một vật càng lớn thì quán tính của nó càng lớn Do vậy, các đơn vị kinh tế càng to lớn thì càng thiếu tính linh hoạt, thiếu khả năng phản ứng nhanh, nói cách khác là sức ì càng lớn Một nền kinh

tế đặt một tỷ lệ quá lớn nguồn lao động và tài nguyên vào tay các doanh nghiệp quy mô lớn sẽ trở nên chậm chạp, không bắt kịp và phản ứng kịp với các thay đổi trên thị trường Ngược lại, một nền kinh tế có một tỷ lệ thích hợp các doanh

Trang 37

nghiệp nhỏ và vừa sẽ trở nên “nhanh nhẹn” hơn, phản ứng kịp thời hơn Tính hiệu quả của nền kinh tế sẽ được nâng cao Đánh giá được đúng vai trò này, Việt Nam đang ngày càng quan tâm hơn nữa đến việc hỗ trợ các DNNVV cho phù hợp với thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập sâu và rộng, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường là phải năng động, mềm dẻo và hiệu quả

Năm là, DNNVV cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau Việc phân định ra các khu vực kinh tế mang đến nhiều thuận lợi

ngay cho các nhà đầu tư và cho cả Nhà nước Mỗi khu vực kinh tế lại có tính đặc thù riêng không giống nhau nên mỗi khu vực kinh tế nên cần được chú ý tạo điều kiện về mọi mặt Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong từng khu vực kinh tế đều có quan hệ với nhau và với cả các doanh nghiệp lớn Điều này có lợi không chỉ cho bản thân các doanh nghiệp trong việc tìm đối tác sản xuất, kinh doanh mà còn tạo cho nền kinh tế quốc dân trở nên gắn kết cùng phát triển dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước Việt Nam tiếp tục khẳng định

đa dạng hóa các thành phần kinh tế, đề cao vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, ngày càng xóa bỏ vai trò của các thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể lạc hậu trước đây góp phần tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng và lành

mạnh giữa các khu vực kinh tế khác nhau

Sáu là, DNNVV phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương,

góp phần tăng trưởng kinh tế Một nền kinh tế bao giờ cũng có “vùng biên giới”,

“vùng sâu”, “vùng xa” Đó là các khu vực địa lý hoặc các thị trường có quy mô nhỏ, kém phát triển, hoặc là xa tuyến giao thông, thiếu tài nguyên Các công ty lớn thường bỏ qua các khu vực đó vì cho rằng nguồn lợi thu được từ đó không lớn bằng nguồn lợi thu được từ nơi khác với cùng một chi phí bỏ ra, nói cách khác là chi phí phụ trội của vùng đó cao Nếu một nền kinh tế chỉ có các doanh nghiệp lớn thì điều này sẽ dẫn đến một sự phát triển không đều giữa các vùng,

Trang 38

không tận dụng hết tài nguyên và giảm hiệu quả hoạt động của nền kinh tế cũng như gây ra các thiệt hại tiềm tàng cho nền kinh tế Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì chi phí phụ trội của các vùng này là chấp nhận được, xứng đáng với nguồn lợi thu lại Vì vậy họ sẵn sàng hoạt động ở đây nếu có các chính sách ưu đãi thích hợp của chính quyền địa phương Thực tế cho thấy, Việt Nam

có rất nhiều các vùng kiểu này, để thúc đẩy nền kinh tế của đất nước phát triển toàn diện, hạn chế dần khoảng cách giữa các vùng phát triển và các vùng sâu, vùng xa, biên giới thì Nhà nước luôn quan tâm hỗ trợ các DNNVV hoạt động ở các khu vực này Một mặt sự hỗ trợ của Nhà nước giúp kinh tế địa phương phát triển một cách chủ động, giải quyết vấn đề việc làm, mặt khác góp phần không

nhỏ vào sự phát triển chung của cả nền kinh tế quốc gia

Bảy là, DNNVV giúp giữ gìn và phát huy các ngành nghề truyền thống, thể hiện bản sắc dân tộc Loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể nói là rất

thích hợp cho sản xuất thủ công Các ngành nghề truyền thống có thể dựa vào

đó để sản xuất, kinh doanh, quảng cáo Bên cạnh đó công nghệ tiên tiến cũng

sẽ dần tiếp cận vào các ngành nghề này Và đó cũng là một điều cần phải xảy

ra trong thời đại công nghiệp Việt Nam với đặc thù rất nhiều làng nghề truyền thống trải dài từ Bắc vào Nam, đây không chỉ là một nét văn hóa đặc sắc mà còn là một phần của lịch sử dân tộc do đó để giũ gìn và phát huy nó Nhà nước luôn có sự quan tâm đặc biệt đến các DNNVV kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực này như hỗ trợ về mặt bằng sản xuất, hỗ trợ tài chính…

1.3 Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của hỗ trợ pháp lý

- Khái niệm

Việc hỗ trợ cho DNNVV là một nhiệm vụ trong quản lý nhà nước của nền kinh tế thị trường Nhiệm vụ ấy càng quan trọng hơn khi hiện nay các doanh

Trang 39

nghiệp Việt Nam đang yếu, thiếu kiến thức, sự nhận thức và hiểu biết pháp luật (trong số trên 600.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động hiện nay thì 97,7% doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ) Hỗ trợ được hiểu là “Sự giúp đỡ nhau, giúp thêm vào”30 Sự hỗ trợ thường được thực hiện khi đối tượng hỗ trợ yếu hoặc chưa đủ mạnh ở một góc độ nào đó

Hỗ trợ của Nhà nước đối với DNNVV được hiểu là Nhà nước thông qua hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền từ Trung ương đến địa phương thực hiện hỗ trợ DNNVV như: xây dựng chương trình, kế hoạch, triển khai chương trình, kế hoạch hỗ trợ cho DNNVV thông qua việc áp dụng các hình thức, nội dung hỗ trợ; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch hỗ trợ cho doanh nghiệp Cùng với việc xây dựng thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân và nhu cầu giúp đỡ pháp luật của nhân dân và doanh nghiệp ngày một cao đã trở thành động lực quan trọng mang tính quyết định thúc đẩy hỗ trợ pháp lý ra đời và phát triển

Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được hiểu là việc thực hiện các hoạt động của các tổ chức thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp dưới nhiều hình thức nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho doanh nghiệp nhằm giúp đối tượng được hỗ trợ nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ pháp chế, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật

Trang 40

- Chủ thể thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là các đối tượng: Bao gồm các Bộ, UBND cấp tỉnh, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, các hiệp hội, câu lạc bộ của doanh nghiệp, doanh nghiệp và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật

- Đối tượng được hỗ trợ là các doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ

và doanh nghiệp vừa thuộc các thành phần kinh tế

- Nội dung hỗ trợ pháp lý tập trung vào lĩnh vực pháp luật có liên quan trực tiếp đến những vướng mắc pháp luật của DNNVV trong quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình điều hành quản lý của doanh nghiệp, từ đó có sức lan tỏa tới những người quản lý, chủ sở hữu, cán bộ pháp chế trong doanh nghiệp, hình thành nên thói quen tuân thủ pháp luật trong kinh doanh

- Thông qua hoạt động hỗ trợ pháp lý các DNNVV kiến nghị cơ quan nhà nước những vấn đề về vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật, từ đó giúp

cơ quan nhà nước hoàn thị hệ thống pháp luật kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn của tình hình kinh tế xã hội đất nước

Hoạt động hỗ trợ pháp lý có quan hệ mật thiết với hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật Tổ chức thực hiện hỗ trợ pháp lý ngoài nhiệm vụ thực hiện nhiệm

vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp còn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng này Thông qua hoạt động hỗ trợ pháp lý, bằng các hình thức bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tổ chức các hội thảo tọa đàm khuyến cáo doanh nghiệp thực thi pháp luật, cung cấp thông tin pháp luật, giải đáp thắc mắc pháp luật cho doanh nghiêp người thực hiện hỗ trợ pháp lý phổ biến, giáo dục pháp luật cho doanh nghiệp, giúp người quản lý chủ sở hữu, cán bộ pháp chế trong doanh nghiệp nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật để xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật và biết vận dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân và doanh nghiệp khi bị xâm phạm Khác với các hình

Ngày đăng: 24/04/2020, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm