1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm từ thực tiễn tỉnh nam định

132 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 3,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm từ thực tiễn tỉnh Nam Định” nhằm đánh giá thực trạng pháp luật

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM TỪ

THỰC TIỄN TỈNH NAM ĐỊNH

VŨ THỊ MAI PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả, số liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./

Hà nội, ngày tháng năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vũ Thị Mai Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình sau đại học và viết luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Sau đại học - Viện đại học mở Hà Nội đã giúp đỡ, truyền đạt kiến thức để tôi hoàn thành khóa học

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Hữu Tráng đã tận tình hướng dẫn tôi trong việc thực hiện và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vũ Thị Mai Phương

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM 10 1.1 Một số vấn đề lí luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 10 1.1.1 Khái niệm, phân loại thực phẩm 10 1.1.2 Người tiêu dùng thực phẩm 13 1.1.3 Các yếu tố có tác động đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 15 1.2 Một số vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 18 1.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 18 1.2.2 Các nguyên tắc của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 20 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 24 2.1 Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 24 2.1.1 Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng và của chủ thể sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm 24 2.1.2 Quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn và điều kiện bảo đảm an toàn, vệ sinh thực phẩm nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 26

Trang 6

2.1.3 Quy định về kiểm soát các hoạt động sản xuất và kinh doanh thực phẩm

nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 28

2.1.4 Quy định về xử lý hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực ATTP 30

2.1.5 Quy định về giáo dục, trợ giúp người tiêu dùng bảo vệ quyền lợi của mình 32 2.1.6 Quy định về vai trò của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 33

2.2 Hệ thống các cơ quan tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm 35

2.2.1 Các cơ quan quản lý nhà nước 35

2.2.2 Các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dung thực phẩm 36 2.3 Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định 36

2.3.1 Thực trạng nhận thức về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định 36 2.3.2 Thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định 47

2.3.2.1 Tình hình thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm 47

2.3.2.2 Tình hình thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm 49

2.3.2.3 Tình hình xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm 52

2.4 Những hạn chế, yếu kém trong quy định và thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 58

2.4.1 Quy định của pháp luật còn có những bất cập, hạn chế 58

2.4.2 Việc xử lý vi phạm pháp luật an toàn thực phẩm quá nhẹ 60

2.4.3 Người tiêu dùng chưa tin tưởng vào việc được bảo vệ 61

2.4.4 Thiếu thông tin hướng dẫn và thiếu cơ chế hữu hiệu bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm 62

Trang 7

2.4.5 Nguyên nhân từ nhận thức về trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm của người sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm 63 CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 65 3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 65 3.2 Hoàn thiện hệ thống chế tài xử lý vi phạm và phương thức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm 66 3.3 Giải pháp đổi mới tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức pháp luật về an toàn thực phẩm 68 3.4 Phát huy vai trò của xã hội trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm 71 3.5 Giải pháp về tăng cường năng lực quản lý nhà nước trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm 72 KẾT LUẬN CHUNG 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Những năm gần đây, vấn nạn thực phẩm bẩn đang ngày càng trở nên nghiêm trọng ở nước ta Theo thống kê của Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), hàng năm nước ta xảy khoảng 500 vụ ngộ độc thực phẩm với số nạn nhân bình quân 10.000 người Trong đó, số người chết do ngộ độc thực phẩm hàng năm từ

100 – 200 người Việt Nam đang trở thành quốc gia thuộc vùng nóng về vấn đề

an toàn thực phẩm khi các vấn đề về thực phẩm ngày càng đe dọa đến tính mạng

và sức khỏe con người Mỗi năm nước ta có khoảng 150.000 ca mắc bệnh ung thư mới, gây tử vong cho 75.000 người, trong đó nguyên nhân chính là do nguồn thực phẩm “bẩn”

Năm 2017 đã chứng kiến nhiều vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng.Ngày 10/02/2017, đã xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể của hơn 200 học sinh của 03 trường: Trường tiểu học A thị trấn Long Hồ (huyện Long Hồ), Trường tiểu học Chu Văn An và Trường tiều học Trương Định (thành phố Vĩnh Long) sau khi ăn bữa trưa do cơ sở Vĩnh Xương, địa chỉ 47/1, Lý Thường Kiệt, phường 1, thành phố Vĩnh Long cung cấp.1 Trưa 13/2/2017, sau khi ăn cỗ cưới tại đám cưới của gia đình ông Hoàng Văn Kim (thôn Thượng 3, xã Đản Ván, Hoàng Su Phì, Hà Giang), đã có 87 người nhập viện nghi do ngộ độc thực phẩm.2 Trưa 8/3/2017, tại nhà ăn của Công ty TNHH May mặc Ecotank (đóng tại xã Nhị Quý, Thị xã Cai Lậy, Tiền Giang) đã xảy ra một vụ ngộ độc tập thể khiến 61 công nhân phải nhập viện cấp cứu

Thực phẩm bẩn gây nhiễm độc tiềm ẩn, lâu dần sẽ gây ung thư, rối loạn chức năng, vô sinh, quái thai…Thực phẩm bẩn gây các bệnh mãn tính, bệnh bán cấp (rối loạn tiêu hóa, ngộ độc thức ăn); rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần kinh,

Trang 10

thay đổi huyết áp và có thể dẫn đến tử vong.3Có thể nói, thực phẩm bẩn gây ra nhiều hệ lụy xấu cho xã hội Vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm hơn lúc nào hết đang trở nên cấp bách ở nước ta

Nằm ở trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng; tỉnh Nam Định có tiềm năng, lợi thế rất lớn chưa được khai thác hết cho đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là: Lợi thế về nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, được đào tạo cơ bản, có chất lượng cao Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông mới được đầu tư khá đồng bộ, giúp rút ngắn khoảng cách và thời gian đi đến thủ đô Hà Nội cũng như cảng biển cửa ngõ quốc tế Hải Phòng chỉ còn khoảng 1 giờ đồng hồ Hạ tầng điện lực có công suất nằm trong Top dẫn đầu cả nước, luôn sẵn sàng đáp ứng tốt cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Vùng kinh tế biển của tỉnh rất giàu tiềm năng về phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ và

hạ tầng đô thị Tỉnh luôn đảm bảo an ninh, an toàn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỉnh Nam Định cũng đang đối mặt với tình trạng vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Trong bối cảnh đó,

việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong

lĩnh vực an toàn thực phẩm từ thực tiễn tỉnh Nam Định” nhằm đánh giá thực

trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, phân tích những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định là vấn đề mang tính cấp thiết

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Liên quan đến đề tài nghiên cứu, có các công trình sau:

* Nhóm công trình là các Luận án tiến sỹ, luận văn cao học

3

Long Nguyễn, Những tác hại kinh hoàng của thực phẩm bẩn với sức khoẻ người dân, nguồn:

http://tieudungplus.vn/nhung-tac-hai-kinh-hoang-cua-thuc-pham-ban-voi-suc-khoe-nguoi-dan-9068.html

Trang 11

- Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt

Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Thư, Học viện Khoa học xã hội năm 2013

Trên cơ sở phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luận án nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách có hệ thống

và toàn diện thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam hiện hành Trên cơ sở đó, chỉ ra những bất cập, hạn chế làm cơ sở để kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

- Luận án tiến sỹ “Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với chất lượng sản phẩm,

hàng hóa” của Chu Đức Nhuận, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội năm 2012

Luận án làm rõ một số vấn đề lí luận về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa; làm rõ pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa Trên cơ sở đó, luận án phân tích thực trạng pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa Từ đó, luận án kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam

- Luận án tiến sỹ “Thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu

dùng ở Việt Nam” của Lê Thanh Bình, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia

- Luận văn cao học “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của một số nước

trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam” của tác giả Ngô Thị Út Quyên,

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2012

Trong công trình này, tác giả đã phân tích cơ sở pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của một số quốc gia trên thế giới, như pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của Hoa Kỳ,

Trang 12

pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của Cộng đồng Châu Âu, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của một số nước Châu Á, như Nhật Bản, Malaysia, Trung Quốc, Philippin

và Thái Lan Luận văn đã đánh giá được thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật

về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam trước và sau khi ban hành Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010.Từ đó, Luận văn đã kiến nghị phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

- Luận văn thạc sỹ “Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh

thực phẩm trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Lê Thị Linh, bảo vệ năm 2016 tại

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận văn đã nghiên cứu một số vấn đề lí luận về thực hiện pháp luật trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP); Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật VSATTP trên địa bàn Hà Nội; Từ đó, tác giả đưa ra 7 nhóm giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật trong lĩnh vực VSATTP

- Luận văn thạc sỹ “Pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm

trong hoạt động thương mại ở Việt Nam” của tác giả Đặng Công Hiển, bảo vệ

năm 2012 tại Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lí luận về pháp luật kiểm soát VSATTP trong hoạt động thương mại; Khảo cứu pháp luật kiểm soát VSATTP của một số nước trên thế giới, như Trung Quốc (tr.34), Liên minh Châu Âu (tr.39), Hoa Kỳ (tr.45); Từ đó, luận văn kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát VSATTP trong hoạt động thương mại

- Luận văn thạc sỹ “Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm

trong luật hình sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả

Hoàng Trí Ngọc, bảo vệ năm 2009 tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận văn đã phân tích làm rõ một số vấn đề về tội vi phạm quy định về VSATTP, Luận văn nghiên cứu làm rõ thực trạng vi phạm quy định về VSATTP

và thực tiễn xử lí dưới góc độ pháp luật hình sự; Luận văn kiến nghị được 2 nhóm giải pháp là: Hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự đối với tội vi

Trang 13

phạm quy định về VSATTP; Giải pháp phối hợp trong đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về VSATTP

* Nhóm các báo cáo nghiên cứu chuyên đề, Hội thảo liên quan đến vấn

đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Thuộc nhóm này, thời gian qua có một số tài liệu sau:

- Báo cáo nghiên cứu “So sánh Luật bảo vệ người tiêu dùng một số nước

trên thế giới – Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong dự thảo Luật bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam”, Báo cáo nghiên cứu

chuyên đề của Cục Quản lí cạnh tranh, Bộ Công thương thực hiện phục vụ việc xây dựng Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Tài liệu đã khảo cứu quy định của Châu Âu, của Anh, Pháp, Úc, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Canada, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc về các vấn đề như: Một số khái niệm cơ bản; Các quyền cơ bản của người tiêu dùng (NTD); Hành vi thương mại không công bằng; Hợp đồng tiêu dùng; Các biện pháp bảo vệ NTD; Cơ chế giải quyết khiếu nại của NTD; Chế tài đối với hành vi vi phạm quyền lợi NTD

- Báo cáo kết quả khảo sát người tiêu dùng của Cục quản lí cạnh tranh, Bộ công thương năm 2016

Báo cáo được thực hiện nhằm mục đích đánh giá nhận thức của người tiêu dùng về công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015, tạo cơ sở đề xuất, xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật BVQLNTD trong thời gian tới Báo cáo được thực hiện ở 12 tỉnh, thành, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Thọ, Đà Nẵng, Đắk Lắk, Tiền Giang, Hồ Chí Minh và Bình Dương

- Hội thảo “Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam và kinh nghiệm của Đức” do Trường Đại

học Luật Hà Nội phối hợp với Viện FES (Friedrich Ebert Stiftung) tổ chức tháng

3 năm 2014 Hội thảo bàn về vai trò của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam và CHLB Đức

* Sách chuyên khảo, tham khảo

Trang 14

- Sách chuyên khảo “An toàn thực phẩm nông sản – Một số hiểu biết về

sản phẩm, hệ thống sản xuất phân phối và chính sách nhà nước” của tác giả

Phạm Hải Vũ và Đào Thế Anh, Nxb Nông Nghiệp 2016 Cuốn sách trình bày những kiến thức về sản phẩm, hệ thống sản xuất nông nghiệp, tổ chức tiêu dùng

và chính sách ATTP của Việt Nam liên quan đến các nông sản

-Sách tham khảo: Những điều cần biết về pháp luật bảo vệ quyền lợi

người tiêu dùng, tác giả Nguyễn Văn Hiển, Chủ biên Nxb Tư pháp năm 2005

Cuốn sách đưa ra những kiến thức về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhằm giúp người tiêu dùng có thể bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình

* Nhóm các bài viết trên các tạp chí khoa học, các báo trong nước

- Bài viết “Chồng chéo trong quản lí an toàn thực phẩm” của tác giả Linh

Nhật đăng trên báo An ninh Thủ đô online

- Bài viết “Có nên lập Ủy ban quốc gia về an toàn thực phẩm?” của tác

giả Quỳnh Hoa, đăng trên báo Kinh doanh điện tử

- Bài viết “Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực

phẩm giai đoạn 2011-2016” của tác giả Đoàn Hải Yến đăng trên website của

Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu

tư, nguồn:http://ncif.gov.vn/Pages/NewsDetail.aspx?newid=19615

- Bài viết “Quyền được thông tin của người tiêu dùng và việc bảo đảm

thực thi hiện nay” của Trần Quốc Việt, đăng trên Tạp chí Thông tin khoa học và

công nghệ Quảng Bình, số 2/2017, trang 26-28

- Bài viết “Băn khoăn xử lí hình sự vi phạm về an toàn thực phẩm” của tác

giả Nguyễn Lê, đăng trên Thời báo kinh tế online Nguồn: http://vneconomy.vn/thoi-su/ban-khoan-xu-ly-hinh-su-vi-pham-ve-an-toan-thuc-pham-20170220040422347.htm

- Bài viết “Để nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm

về vệ sinh an toàn thực phẩm cần sửa đổi Điều 244 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)” của tác giả Nguyễn Minh Sơn, đăng trên Tạp chí

Kiểm sát online

Trang 15

- Bài viết “Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm trong năm BLHS

2015 và dự kiến sửa đổi, bổ sung năm 2017” của tác giả Đỗ Đức Hồng Hà, đăng

trên Tạp chí Kiểm sát online

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu chung của đề tài là hướng đến việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm cũng như tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ những vấn đề lí luận và pháp luật về an toàn thực phẩm

- Làm rõ thực tiễn thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định giai đoạn 2013-2017

- Kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lí luận và pháp luật về an toàn thực phẩm cũng như việc thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định

- Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dưới góc độ Luật kinh tế; dựa trên các quy định của Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến vấn đề an toàn thực phẩm Thực tiễn thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm được giới hạn nghiên cứu điển hình một số vụ việc trên địa bàn tỉnh Nam Định Những số liệu thống kê được thu thập trong giai đoạn 5 năm 2013-2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận

Trang 16

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như trong quá trình thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm

Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu trong đề tài bao gồm các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê,

so sánh, hệ thống hóa pháp luật, suy luận logic, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu bản án, quy nạp, diễn dịch…

Các phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, nghiên cứu quy phạm pháp luật … được vận dụng kết hợp trong việc làm rõ những vấn đề lí luận và pháp luật về an toàn thực phẩm

Các phương pháp thống kê, nghiên cứu quy phạm pháp luật, nghiên cứu điển hình, điều tra xã hội học, phỏng vấn, phương pháp phân tích, bình luận, quy nạp, diễn dịch… được sử dụng kết hợp với nhau để làm rõ thực trạng thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định Đặc biệt, các phương pháp, như phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phỏng vấn, phương pháp nghiên cứu điển hình được sử dụng để khảo sát nhận thức của các chủ thể có liên quan về vấn đề an toàn thực phẩm và việc thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định

Các phương pháp phân tích, luận giải logic, quy nạp, diễn dịch được sử dụng để kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

- Ý nghĩa lí luận

Luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện một số vấn đề lí luận và pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, qua

Trang 17

đó, góp phần bổ sung thêm những lí luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung

- Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích để các cơ quan nhà nước có liên quan tham khảo trong việc hoàn thiện pháp luật và trong việc triển khai các biện pháp nâng cao hiệu quả thực thipháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, qua đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cán bộ, giảng viên, sinh viên trong các cơ sở đào tạo luật trong quá trình học tập và nghiên cứu

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu làm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận và pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

Chương 2:Thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định

Trang 18

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ

QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC

AN TOÀN THỰC PHẨM 1.1 Một số vấn đề lí luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an

toàn thực phẩm

1.1.1 Khái niệm, phân loại thực phẩm

Thực phẩm là nguồn dinh dưỡng cần thiết cho cuộc sống của con người Theo nghĩa rộng, thực phẩm là toàn bộ những thức ăn, đồ uống của con người dưới dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến Luật An toàn thực phẩm năm

2010 định nghĩa:

"Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc

đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc

lá và các chất sử dụng như dược phẩm".4

Theo quy định này, thực phẩm có nội hàm tương đối rộng, bao gồm nhiều loại khác nhau, thể hiện dưới dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến.Thực tiễn đời sống, thực phẩm mà con người sử dụng rất đa dạng và phong phú Có nhiều cách phân loại thực phẩm tùy theo mục đích khác nhau

- Căn cứ vào mức độ tươi sống của thực phẩm, thực phẩm chia làm ba loại:

+ Thực phẩm tươi sống

“Thực phẩm tươi sống là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt,

trứng, cá, thuỷ hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến”.5

Trang 19

ra nguyên liệu thực phẩm hoặc bán thành phẩm cho khâu chế biến thực phẩm

Cần lưu ý, “mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm” không phải

là thực phẩm.6

+ Thực phẩm đã qua chế biến

Thực phẩm chế biến là tất cả những thực phẩm đã bị thay đổi trạng thái tự nhiên thông qua các kỹ thuật chế biến thực phẩm bao gồm: đông lạnh, đóng hộp, nướng, sấy khô và thanh trùng

Hầu hết các loại thực phẩm ăn liền mua ở siêu thị hoặc cửa hàng thực phẩm đều đã trải qua quá trình chế biến Một số loại thực phẩm chế biến dùng hàng ngày phổ biến bao gồm: Ngũ cốc ăn sáng, Phô mai, Rau quả đóng hộp, Bánh mì, Các loại thức ăn nhẹ như khoai tây chiên, bánh snack, Các loại thực phẩm tiện lợi (các thực phẩm đông lạnh ăn liền), Các loại thức uống ví dụ như sữa, nước ngọt, nước trái cây đóng hộp

- Căn cứ vào công dụng của thực phẩm chia thành 5 nhóm chính:

+ Thực phẩm thiết yếu

Đây là các loại thực phẩm phục vụ các nhu cầu thiết yếu nhằm duy trì cuộc sống hàng ngày của mỗi người Thuộc loại này là các loại thực phẩm thiết yếu thông dụng, như gạo, khoai, sắn, ngô, các sản phẩm trứng, thịt, sữa; các loại rau củ quả …

+ Thực phẩm bổ dưỡng (còn gọi là Thực phẩm chức năng (Health Supplement, Dietary Supplement)

Đây là những loại thực phẩm được dùng để bổ sung thêm các dưỡng chất vào chế độ ăn uống hàng ngày nhằm duy trì, tăng cường, cải thiện các chức năng của cơ thể con người, giảm nguy cơ mắc bệnh Thực phẩm bảo vệ sức khỏe chứa một hoặc nhiều chất hoặc hỗn hợp các chất sau: a) Vitamin, khoáng chất, axit amin, axit béo, enzyme, probiotic và chất có hoạt tính sinh học khác; b) Chất có nguồn gốc tự nhiên, bao gồm động vật, khoáng vật và thực vật dưới dạng chiết xuất, phân lập, cô đặc và chuyển hóa; c) Các nguồn tổng hợp của những thành

6

Khoản 20, Điều 2 Luật An toàn thực phẩm

Trang 20

phần đề cập tại điểm a và điểm b trên đây Thực phẩm bảo vệ sức khỏe có thể ở dạng chế biến như viên nang, viên hoàn, viên nén, hoặc chế phẩm dạng cốm, bột, lỏng và các dạng bào chế khác và được phân liều (để sử dụng) thành các đơn vị liều nhỏ (Khoản 2, Điều 3, Nghị đinh 15/2018/NĐ-CP)

+ Thực phẩm dinh dưỡng y học (Food for Special Medical Purposes, Medical Food): là loại thực phẩm có thể ăn bằng đường miệng hoặc bằng ống xông, được chỉ định để điều chỉnh chế độ ăn của người bệnh và chỉ được sử dụng dưới sự giám sát của nhân viên y tế (Khoản 2, Điều 3, Nghị đinh 15/2018/NĐ-CP);

+ Thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt (Food for Special Dietary Uses) dùng cho người ăn kiêng, người già và các đối tượng đặc biệt khác theo quy định của Ủy ban tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (CODEX) là những thực phẩm được chế biến hoặc được phối trộn theo công thức đặc biệt nhằm đáp ứng các yêu cầu

về chế độ ăn đặc thù theo thể trạng hoặc theo tình trạng bệnh lý và các rối loạn

cụ thể của người sử dụng Thành phần của thực phẩm này phải khác biệt rõ rệt với thành phần của những thực phẩm thông thường cùng bản chất, nếu có (Khoản 3, Điều 3, Nghị đinh 15/2018/NĐ-CP);

+ Thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng là thực phẩm được bổ sung vitamin, chất khoáng, chất vi lượng nhằm phòng ngừa, khắc phục sự thiếu hụt các chất đó đối với sức khỏe cộng đồng hay nhóm đối tượng cụ thể trong cộng đồng (Khoản 22, Điều 2, Luật An toàn thực phẩm năm 2010)

- Căn cứ vào nguồn gốc của thực phẩm, có thể chia thành:

+ Thực phẩm có nguồn gốc động vật

+ Thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật

+ Thực phẩm tổng hợp

+ Thực phẩm lên men tự nhiên

+ Thực phẩm biến đổi gen

Trang 21

1.1.2 Người tiêu dùng thực phẩm

Người tiêu dùng (NTD) là một bên trong quan hệ pháp luật dân sự, thương mại với tư cách là người sử dụng dịch vụ hoặc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của thương nhân - một bên chủ thể trong quan hệ pháp luật thương mại.Khác với người mua nguyên liệu hoặc mua hàng để bán lại, NTD là những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó.Trong nền kinh tế, NTD luôn giữ vai trò quan trọng, bởi họ là nhân tố định hướng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và làm cho hoạt động này phát triển hay tiêu vong.Thất bại của Nokia là bài học đắt giá cho

sự định hướng sai lầm đối với người tiêu dùng.7Dưới góc độ pháp lý, quan hệ tiêu dùng là một loại quan hệ pháp luật được thực hiện trên cơ sở các giao dịch hợp pháp được pháp luật bảo vệ.Trong quan hệ pháp luật này, tồn tại hai chủ thể

cơ bản là bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ (bên bán) và bên sử dụng hàng hóa, dịch vụ (bên mua) Nguyên tắc tự do thỏa thuận và nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể sẽ chi phối các giao dịch này Tuy nhiên, do tính chất xã hội của quan hệ tiêu dùng, mà NTD khó có cơ hội được tự do, bình đẳng với bên sản xuất, kinh doanh Nhằm hướng tới việc khắc phục thế yếu của NTD, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là loại pháp luật mang tính can thiệp vào quyền tự do của bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ, buộc họ phải tuân thủ các chuẩn mực theo hướng BVQLNTD theo góc độ quyền cơ bản của con người Như vậy, dưới góc

độ pháp lý, NTD là đối tượng được bảo vệ theo luật BVQLNTD với tư cách là bên yếu thế

Khái niệm NTD được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 3, Luật BVQLNTD năm 2010:

“NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”

Theo đó, người tiêu dùng bao gồm không chỉ cá nhân tiêu dùng riêng lẻ

7

Huy Thắng, Nokia – bài học về một tượng đài công nghệ bị sụp đổ, Báo Vnexpress.net, nguồn:

2908493.html , Đăng tải: Thứ hai ngày 11/11/2018

Trang 22

https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/quoc-te/nokia-bai-hoc-ve-mot-tuong-dai-cong-nghe-bi-sup-do-mà còn là tổ chức (như doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội, đoàn thể ) tiến hành mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình hoặc tổ chức đó Nói cách khác, các đối tượng này thực hiện việc mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích để bán lại hoặc mục đích sinh lời.8

Tiêu dùng thực phẩm khác với các trường hợp tiêu dùng khác, bởi thực phẩm chủ yếu được tiêu dùng thông qua cách thức ăn uống, và vì vậy nó trực tiếp liên quan đến tính mạng, sức khỏe của con người

NTDthực phẩm vì vậy có các đặc điểm cơ bản sau đây:

+ NTDthực phẩm là những người đã mua hoặcđã sử dụng thực phẩm NTD phải là những người mua và trực tiếp sử dụng thực phẩm đã mua hoặc là những người trực tiếp sử dụng các thực phẩm là các sản phẩm hàng hóa Đặc điểm này nhấn mạnh phạm vi bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm không chỉ bảo vệ những người mua và trực tiếp sử dụng các loại thực phẩm mà phải bảo vệ cả những người, tuy không tham gia các quan

hệ mua bán thực phẩm, nhưng lại là người tiêu thụ các sản phẩm thực phẩm đó

Ví dụ các trường hợp được tặng, cho, khuyến mại thực phẩm …

+NTD thực phẩm là những người đã trực tiếp sử dụng thực phẩm

NTD thực phẩm là những người đã mua và trực tiếp sử dụng thực phẩm hoặc những người tuy không tham gia quan hệ mua bán thực phẩm nhưng lại là người trực tiếp sử dụng thực phẩm thông qua các phương thức phổ biến là ăn, uống để đáp ứng nhu cầusinh sống của bản thân.Người tiêu dùng thực phẩm phải

là khâu cuối cùng trong chuỗi sản xuất – chế biến - tiêu dùng thực phẩm

+ NTD thực phẩm là những người tham gia các quan hệ mua bán thực phẩm hợp pháp

Pháp luật chỉ bảo vệ các quan hệ giao dịch hợp pháp Những trường hợp mua bán các loại thực phẩm bị cấm kinh doanh, như buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB

8

Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương, Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Hà Nội năm 2016, tr.11

Trang 23

hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang

dã nguy cấp là những giao dịch bất hợp pháp và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoan dã” (Điều 234 Bộ luật hình sự năm 2015), thì không thuộc phạm vi bảo vệ của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, trường hợp giao dịch mua bán thực phẩm là bất hợp pháp, nhưng NTD không có lỗi thì họ vẫn là đối tượng được bảo vệ Ví dụ: người mua phải hàng là thực phẩm giả; thực phẩm sử dụng chất cấm … mà không biết thì họ vẫn được pháp luật bảo vệ

Từ sự phân tích trên, có thể định nghĩa:

NTD thực phẩm là người đã mua và trực tiếp sử dụng hoặc những người trực tiếp sử dụng hàng hóa là các loại thực phẩm để phục vụ nhu cầu sinh sống của bản thân

1.1.3 Các yếu tố có tác động đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

BVQLNTD trong lĩnh vực an toàn thực phẩm là hoạt động phức tạp luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố Các yếu tố này có thể kể đến gồm:

Trang 24

phẩm bị biến chất và nguy hiểm cho sức khỏe của NTD Chính kiến thức tiêu dùng sẽ giúp NTD tăng cường khả năng tự bảo vệ mình

+ Kiến thức của NTD về bảo vệ quyền lợi của mình

Khi NTD có nhận thức đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình cũng như quyền, nghĩa vụ của nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm; hiểu biết rõ các quy định của pháp luật cũng như cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì họsẽ có khả năng tự bảo vệkhi quyền lợi của mình bị vi phạm Ngược lại, nếu NTD không hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình; không hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của người sản xuất, kinh doanh; không biết cơ chế bảo vệ người tiêu dùng thì sẽ không thể thực hiện được việc bảo vệ quyền lợi cho mình, cũng như không biết cách đòi bồi thường khi quyền lợi bị xâm phạm

+ Tâm lí, thói quen, sở thích của NTD

Tâm lí, thói quen, sở thích của NTD cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo vệ quyền lợi NTD thực phẩm Tâm lí, thói quen, sở thích tiêu dùng thường bị ảnh hưởng bởi các quan niệm, truyền thống, lối sống của gia đình và cộng đồng Đối với NTD Việt Nam, thường có tâm lí, thói quen tiêu dùng thực phẩm được giết mổ tươi sống, ít khi dùng thực phẩm giết mổ đông lạnh NTD cũng thường có tâm lý tiết kiệm chi tiêu, thích sự tiện lợi nên họ thường có tâm

lý, thói quen mua hàng hóa ở những điểm bán lẻ, chợ nhỏ lẻ mà ít khi mua sắm tại siêu thị hoặc các trung tâm thương mại Người tiêu dùng cũng thường quan niệm thực phẩm là động vật hoang dã, không có kiểm dịch là thực phẩm sạch, có giá trị dinh dưỡng cao, tốt cho sức khỏe.Đặc biệt, nhiều người NTD Việt Nam có

sở thích ăn các món ăn sống hoặc tái như: gỏi, nem, mắm tôm, tiết canh … Điều này có ảnh hưởng đáng kể đến việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng

+ Sự phát triển của nền kinh tế - xã hội

Sự phát triển của nền kinh tế - xã hội trước hết quyết định năng lực sản xuất, đầu tư, máy móc, trang thiết bị và công nghệ do đó ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng sản phẩm Nếu điều kiện kinh tế - xã hội kém phát triển thì chắc chắn công nghệ lạc hậu, dây chuyền thô sơ … sẽ làm cho sản phẩm kém chất lượng,

Trang 25

mức độ an toàn không cao Ngược lại, kinh tế - xã hội phát triển tạo thuận lợi cho việc đầu tư công nghệ máy móc hiện đại, trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, kiểm soát tốt chất lượng sản phẩm, sẽ tạo ra các sản phẩm bảo đảm chất lượng và an toàn cho người tiêu dùng

+ Ý thức đạo đức, trách nhiệm của chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm

Một yếu tố cũng vô cùng quan trọng là ý thức đạo đức, trách nhiệm của chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm Nếu ý thức, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thực phẩm yếu, kém, luôn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu thì chắc chắn không thể sản xuất ra những sản phẩm thực phẩm chất lượng tốt và an toàn được Ngược lại, nếu ý thức trách nhiệm, đạo đức, nhân cách của người sản xuất, kinh doanh tốt, luôn coi trọng chữ tín trong hoạt động sản xuất kinh doanh, luôn hết lòng vì sức khỏe cộng đồng thì chắc chắn sẽ không thể làm ăn gian dối mà luôn cho ra những sản phẩm chất lượng, bảo đảm an toàn

+ Năng lực quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực ATTP và BVQLNTD Năng lực quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực ATTP và BVQLNTD cũng

là một yếu tố quan trọngtrong việc bảo vệ quyền lợi NTD.Trình độ quản lý nhà nước tốt sẽ góp phần giảm thiểu các hành vi vi phạm; bảo đảm các hoạt động sản xuất kinh doanh thực phẩm tuân thủ đúng quy định của pháp luật và ngược lại, trình độ quản lý yếu kém sẽ là cơ hội thuận lợi cho doanh nghiệp, tổ chức sản xuất, kinh doanh gian dối, tạo ra những hàng hóa thực phẩm kém chất lượng, không an toàn Trình độ quản lí tốt sẽ giúp cho việc phát hiện kịp thời, xử lí nghiêm minh các hành vi vi phạm về an toàn thực phẩm Từ đó sẽ hạn chế việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm mất an toàn với NTD, qua đó quyền lợi của NTD được bảo vệ

Trang 26

1.2 Một số vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể

Hệ thống các quy tắc xử sự liên quan đến BVQLNTD trong lĩnh vực an toàn thực phẩm là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mọi hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm, từ các quy định

về an toàn vệ sinh thực phẩm trong nuôi trồng, sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm, đến các quy định liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm

Là một lĩnh vực chuyên sâu của pháp luật về BVQLNTD, bên cạnh các đặc điểm chung, thì pháp luật bảo quyền lợi NTD trong lĩnh vực ATTP có những đặc điểm riêng sau đây:

Thứ nhất, pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATTP điều chỉnh các

mối quan hệphát sinh trong hoạt động sản xuất, chế biến, kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm Luật BVQLNTD là văn bản pháp lý quan trọng bảo đảm các quyền chính đáng của NTD được bảo vệ Cùng với đó, hàng loạt các văn bản luật chuyên ngành mà quan trọng nhất là Luật an toàn thực phẩm và các văn bản hướng dẫn thi hành Như vậy, pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATTP bao gồm hai hệ thống: pháp luật về BVQLNTD và pháp luật về ATTP

Thứ hai,pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATTP mang tính tổng

hợp, bao gồm nhiều quy phạm pháp luật của các ngành luật khác nhau, trong đó,

có hai hệ thống pháp luật cơ bản là pháp luật về BVQLNTD và pháp luật ATTP Ngoài ra còn có các văn bản luật khác, như Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật

Tố tụng dân sự … Trong đó, pháp luật BVQLNTD chứa đựng các nguyên tắc, quy phạm xác định khuôn khổ quyền và nghĩa vụ của NTD thực phẩm cũng như của thương nhân nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm trong mối quan hệ hài hòa với lợi ích của doanh nghiệp, của người nuôi trồng,

Trang 27

sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm Những quy định của pháp luật BVQLNTD vì vậy rất đa dạng và phong phú, bao gồm các quy định về quyền cơ bản của NTD thực phẩm; trách nhiệm sản phẩm của người cung cấp thực phẩm; giải quyết tranh chấp trong tiêu dùng thực phẩm; các hành vi bị cấm trong nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm… Cùng với đó là các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật hành chính, pháp luật cạnh tranh, pháp luật về nông nghiệp, pháp luật về vệ sinh dịch tễ, pháp luật về xuất nhập khẩu, pháp luật về ATTP… Mối quan hệ giữa pháp luật về BVQLNTD và pháp luật vềBVQLNTD trong lĩnh vực ATTP là mối quan hệ giữa cái chung và cái cụ thể Trong đó, pháp luật về BVQLNTD là cái chung; còn pháp luật về ATTP là cái cụ thể Pháp luật về ATTP tác động trực tiến đến hành vi của thương nhân, còn pháp luật về BVQLNTD bảo đảm quyền lợi cho NTD

Thứ ba,pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATTP có cơ chế bảo vệ

kép đối với NTD Trong đó, vòng bảo vệ thứ nhất là hệ thống quy định pháp luật ràng buộc tránh nhiệm của các chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải tuân thủ nhằm tạo ra các thực phẩm an toàn Đồng thời, xác định trách nhiệm, quyền hạn, cơ chế giám sát và xử lý vi phạm với các chủ thể quản lý Chính các quy định pháp luật này đã bảo đảm cơ hội để NTD được sử dụng thực phẩm an toàn qua đó, quyền lợi của NTD được bảo vệ Vòng bảo vệ thứ hai là hệ thống các quy phạm pháp luật ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện của NTD và các hình thức trách nhiệm pháp lý mà chủ thể vi phạm có thể phải gánh chịu Do vậy, nếu NTD sử dụng thực phẩm không an toàn hoặc không được bảo đảm đầy

đủ các quyền, lợi ích hợp pháp, thì vòng thứ hai sẽ được áp dụng bằng việc áp dụng các biện pháp mà Luật BVQLNTD ghi nhận nhằm khôi phục quyền lợi của NTD thực phẩm

Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa:

Pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATTP làhệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan

hệ phát sinh trong lĩnh vực nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh và tiêu

Trang 28

dùng thực phẩm nhằm bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của NTD trong các quan hệ tiêu dùng thực phẩm

1.2.2 Các nguyên tắc của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

1.2.2.1 Nguyên tắc bảo đảm tính kịp thời, công bằng, hiệu quả của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm

Hành vi tiêu dùng thực phẩm có quan liên quan trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của NTD thực phẩm Tính mạng, sức khỏe của con người có diễn biến rất nhanh chóng.Mặt khác, thực phẩm, với vai trò là tác nhân gây ảnh hưởng đến sức khỏe NTD lại cũng có sự biến đổi nhanh chóng về tình trạng sinh hóa Do vậy, pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực ATTP phải xây dựng được một cơ chế phản ứng nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo đảm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của người tiêu dùng, nhất là trong bối cảnh cả tâm lý, thói quen và hiểu biết của người tiêu dùng chưa cao trong việc bảo vệ quyền lợi của mình Mặt khác, pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực ATTPphải đặt việc BVQLNTD trong mối quan

hệ hài hòa với lợi ích của thương nhân tồn tại trong mối liên hệ phổ biến của xã hội.Trong đó, lợi ích của nhóm chủ thể yếu thế cần phải được tính đến để pháp luật như một công cụ khắc phục sự bất cân xứng về thông tin và khả năng tự bảo

vệ giữa NTD thực phẩm và thương nhân trong quan hệ tiêu dùng.Để bảo đảm vấn đề này, bên cạnh việc quy định quyền và nghĩa vụ của các bên thì cũng cần thiết lập một cơ chế bảo vệ hữu hiệu nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của người tiêu dùng Bên cạnh đó, một nguyên tắc của pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực ATTPlà phải bảo đảm hiệu quả điều chỉnh của pháp luật Tính hiệu quả của pháp luật là kết quả của sự tác động của nó đến các quan hệ xã hội so với các yêu cầu, mục tiêu khi ban hành Xét cho cùng, việc ban hành pháp luật và thực hiện pháp luật mà quyền lợi của NTD vẫn không được bảo vệ trên thực tế thì pháp luật đã không đạt được yêu cầu của tính hiệu quả Do đó, các quy định

Trang 29

pháp luật phải phù hợp với thực tiễn, phải mang lại được khả năng bảo vệ tốt nhất với các quyền của NTD; phải bảo đảm tính hiệu lực, có nội dung thống nhất trong một hệ thống; việc áp dụng pháp luật phải giảm thiểu được chi phí mà vẫn mang lại kết quả như mong muốn

1.2.2.2 Nguyên tắc đề cao tính phòng ngừa

Để hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, như cạnh tranh không lành mạnh, tình trạng gian dối, thiếu đạo đức trong nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực ATTP phải tạo được cơ chế phòng ngừa, giúp NTD

có thể nhận biết được những nguy cơ tiềm tàng trong thị trường thực phẩm, từ đó ngăn ngừa tiêu thụ những thực phẩm “bẩn”, thực phẩm kém chất lượng, thực phẩm nguy hại Muốn vậy, pháp luật phải tạo được cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ các nguồn chế phẩm độc hại, nguy hại thường được sử dụng trong nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm; nâng cao hiểu biết của NTD trong lĩnh vực ANTP; nâng cao đạo đức, nhân cách của giới doanh nhân; đặc biệt là cần tăng cường các chế tài xử phạt, đủ sức răn đe, phòng ngừa đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực ATTP

1.2.2.3 Nguyên tắc đề cao trách nhiệm, đạo đức của chủ thể nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm

Chủ thể nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm là các chủ thể kinh doanh đặc biệt vì đối tượng hàng hóa là thực phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, giống nòi.Vì vậy, trách nhiệm, đạo đức của người nuôi trồng, sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải được coi trọng đặc biệt Cơ chế quản lý, giám sát có chặt chẽ đến mấy, nhưng lương tâm, trách nhiệm, đạo đức của người nuôi trồng, sản xuất, kinh doanh mà không cao thì không thể có những sản phẩm có chất lượng Chỉ khi các chủ thể này, tự họ có trách nhiệm với cộng đồng, trách nhiệm với sức khỏe của người dân, có đạo đức, nhân cách tốt thì mới tạo ra các sản phẩm có lợi cho sức khỏe của người tiêu dùng Do vậy, pháp luật

Trang 30

BVQLNTD trong lĩnh vực ATTP phải đề cao trách nhiệm, đạo đức của người nuôi trồng, sản xuất, chế biến kinh doanh thực phẩm bên cạnh các chế tài nghiêm khắc Cần tạo cơ chế tẩy chay các chủ thể nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh những sản phẩm “bẩn”, sản phẩm kém chất lượng, sản phẩm độc hại… Bên cạnh đó, cần tăng cường trách nhiệm của các chủ thể quản lý nhà nước về ATTP và BVQLNTD trong việc giám sát và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVQLNTD

Kết luận chương 1

Chương 1 tác giả đã tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, như khái niệm,

phân loại thực phẩm; khái niệm người tiêu dùng thực phẩm được định nghĩaNTD

thực phẩm là người đã mua và trực tiếp sử dụng hoặc những người trực tiếp sử dụng hàng hóa là các loại thực phẩm để phục vụ nhu cầu sinh sống của bản

thân Luận văn cũng phân tích làm rõ một số yếu tố có tác động đến việc bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, như kiến thức của NTD về thực phẩm; Kiến thức của NTD về bảo vệ quyền lợi của mình; Tâm lí, thói quen, sở thích của NTD thực phẩm; Sự phát triển của nền kinh tế - xã hội; Ý thức đạo đức, trách nhiệm của chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Năng lực quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực ATTP và BVQLNTD Phần hai của chương

1, luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, như khái niệm, đặc điểm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Các nguyên tắc của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, như Nguyên tắc bảo đảm tính kịp thời, công bằng, hiệu quả của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm; Nguyên tắc đề cao tính phòng ngừa; Nguyên tắc đề cao trách nhiệm, đạo đức của chủ thể nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm

Những vấn đề lý luận và pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trang 31

trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm là những cơ sở quan trọng để đánh giá thực trạng pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định tại chương 2 của luận văn

Trang 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN

THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 2.1 Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

2.1.1 Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng và của chủ thể sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm

2.1.1.1 Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ghi nhận rất cụ thể các nhóm quyền của NTD tại Điều 8 bao gồm:

“- Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp

- Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất

xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch

và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng

- Lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

- Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

- Tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

- Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu

Trang 33

chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công

bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết

- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo

vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

- Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ.”

Bên cạnh đó, Luật An toàn thực phẩm cũng ghi nhận tại Điều 9 các quyền của NTD thực phẩm bao gồm 5 nhóm quyền sau đây:

“- Được cung cấp thông tin trung thực về an toàn thực phẩm, hướng dẫn

sử dụng, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, lựa chọn, sử dụng thực phẩm phù hợp; được cung cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn, cách phòng ngừa khi nhận được thông tin cảnh báo đối với thực phẩm;

- Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật;

- Yêu cầu tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

-Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật;

- Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra.”

Như vậy, so với các nhóm quyền trong Luật Bảo vệ quyền lợi NTD thì số nhóm quyền của NTD trong Luật An toàn thực phẩm ít hơn, trong đó, chỉ có 3 nhóm quyền khá tương đồng với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là nhóm

quyền “Được tư vấn, cung cấp thông tin về tiêu dùng”; nhóm quyền “Khiếu nại,

tố cáo, khởi kiện” và nhóm quyền “Được bồi thường thiệt hại” Có hai nhóm

quyền quy định riêng cho NTD thực phẩm là nhóm quyền “Yêu cầu tổ chức, cá

nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật” và nhóm quyền “Yêu cầu tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu

Trang 34

dùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”

Tương ứng với các nhóm quyền này, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD cũng quy định hai nhóm nghĩa vụ của NTD là:

“- Kiểm tra hàng hóa trước khi nhận; lựa chọn tiêu dùng hàng hóa, dịch

vụ có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không làm tổn hại đến môi trường, trái với thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội, không gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của mình và của người khác; thực hiện chính xác, đầy đủ hướng dẫn sử dụng hàng hóa, dịch vụ

- Thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan khi phát hiện hàng hóa, dịch vụ lưu hành trên thị trường không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng; hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.”

Luật An toàn thực phẩm cũng ghi nhận các nhóm nghĩa vụ của NTD là:

“- Tuân thủ đầy đủ các quy định, hướng dẫn về an toàn thực phẩm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trong vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm;

- Kịp thời cung cấp thông tin khi phát hiện nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm, khai báo ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm với Ủy ban nhân dân nơi gần nhất, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm;

- Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong quá trình

Trang 35

đủ điều kiện ATTPtheo quy định tại Điều 19, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm không có giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm hoặc có nhưng không bảo đảm theo quy định thì tuỳ theo đối tượng, mức độ sai phạm sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo khoản 2, khoản

3, Điều 24 và một số điều của Nghị định số 178/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về ATVSTP Để quản lý và cấp chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATVSTP, Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đều ban hành các văn bản quy định về các điều kiện cụ thể và thủ tục cấp giấy chứng nhận

Bộ Y tế cũng đã ban hành Thông tư số 15/2012/TT-BYT quy định về điều kiện chung bảo đảm ATVSTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Thông tư số 16/2012/TT-BYT quy định về điều kiện ATVSTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 57/2015/TT-BCT quy định về điều kiện bảo đảm ATVSTP với các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm nhỏ, lẻ thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương Nghị định số 38/2012/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm năm 2010 cũng quy định bắt buộc các sản phẩm thực phẩm trước khi đến tay NTD phải công bố tiêu chuẩn chất lượng và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận đạt tiêu chuẩn ATVSTP thì mới được phép lưu thông trên thị trường

Nghiên cứu pháp luật về tiêu chuẩn và điều kiện bảo đảm an toàn, vệ sinh thực phẩm có thể nhận thấy, hệ thống tiêu chuẩn và điều kiện bảo đảm ATVSTPđã tương đối đầy đủ Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tiêu chuẩn chưa hài hòa với qui định quốc tế, đặc biệt là đối với những thực phẩm truyền thống (các loại mắm, nem chua, tương, cà, riềng xay, măng, miến, mộc nhĩ, nấm khô, rau hữu cơ ) Danh mục các chất được phép sử dụng trong thực phẩm chưa cập nhật kịp thời tại các văn bản quy phạm pháp luật, điển hình là chất sodium nitrate - 251

(Xem Phụ lục số 14) Pháp luật chưa quy định rõ ràng về chất kích thích trái chín

(chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc) là chất cấm hay được phép sử dụng; dư

Trang 36

lượng được phép có trong thực phẩm; thiếu các quy định về giới hạn nhập khẩu

và trách nhiệm quản lý, báo cáo hoạt động phân phối, sử dụng các chất cấm dùng trong sản xuất thực phẩm nhưng được dùng trong sản xuất dược phẩm và các ngành công nghiệp phi thực phẩm (điển hình là chất salbutamol hoặc chất systeamine tương tự salbutamol, Borac - hàn the và Auramine O-vàng O) Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số 20/2013/TTLT-BYT-BCT-BNNPTNT quy định

về điều kiện, trình tự thủ tục chỉ định cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước áp dụng Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025: 2007 nhưng chưa có quy định cụ thể danh mục trang thiết bị kiểm nghiệm thực phẩm

cụ thể

2.1.3 Quy định về kiểm soát các hoạt động sản xuất và kinh doanh thực phẩm nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

- Về chủ thể kiểm soát các hoạt động sản xuất và kinh doanh thực phẩm

Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định trách nhiệm giám sát ATTP được phân công cho ba cơ quan là: Bộ Y tế, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo Điều 62, Điều 63, Điều 64 Những trường hợp thực phẩm liên quan đến nhiều ngành, cơ chế giám sát được phân công theo Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 2/2/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm Đối với sản phẩm nông lâm thủy sản thuộc phạm vi quản lý của ngành Nông nghiệp, việc phân công giám sát thực hiện theo theo Quyết định số 1290/QĐ-BNN-TCCB ngày 17/4/2015 của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn

Ở địa phương, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về BVQLNTD tại địa phương được quy định tại Điều 34 và Điều 35, Nghị định 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật BVQLNTD UBND cấp tỉnh tại địa phương là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở địa phương Trong lĩnh vực ATVSTP, Điều 65, Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 2/2/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm ghi nhận trách nhiệm quản lý nhà nước của UBND các cấp Từ khi Luật An toàn thực phẩm

Trang 37

năm 2010 ra đời, việc quản lý nhà nước về ATTP theo chuỗi sản phẩm và nhóm ngành nghề, từ khâu trồng trọt, chế biến, lưu thông, kinh doanh được áp dụng Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 2/2/2018 đã xác định nguyên tắc một cửa, một sản phẩm, một cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ chịu sự quản lý của một cơ quan quản lý nhà nước về ATTP Trách nhiệm của các Bộ cụ thể như sau:

- Bộ Y tế quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh và cơ sở sản xuất, kinh doanh đối với sản phẩm thực phẩm quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định Nghị định số 15/2018/NĐ-CP

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quản lý và phân cấp quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với sản phẩm và cơ

sở sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thực phẩm quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định số 15/2018/NĐ-CP Quản lý và phân cấp quản lý an toàn thực phẩm đối với sản xuất ban đầu nông, lâm, thủy sản, muối bao gồm: Quá trình trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác nông, lâm, thủy sản; sản xuất muối

- Bộ Công Thương Quản lý và phân cấp quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với các sản phẩm và cơ sở sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thực phẩm quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định nàysố 15/2018/NĐ-CP Quản lý an toàn thực phẩm đối với siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích, các cơ sở thuộc hệ thống dự trữ, phân phối và các loại hình kinh doanh khác

Nhìn chung, các quy định pháp luật về phân công, phân cấp quản lý về ATVSTP đã rõ ràng và cụ thể hơn, theo hướng kiểm soát thực phẩm theo chuỗi, theo nhóm hàng hóa; bảo đảm nguyên tắc mỗi sản phẩm thực phẩm chỉ chịu sự quản lý của một Bộ Tuy nhiên, các cơ quan đầu mối quản lý nhà nước và kiểm soát về ATVSTP đang dàn trải ở nhiều bộ ngành, phân tán giữa các cấp, với 11

Trang 38

đơn vị đầu mối, chưa thành hệ thống kiểm soát toàn diện các mối nguy theo chuỗi, dựa trên nguyên tắc của HACCP; chưa tách biệt rõ 2 nguyên tắc quản lý ATVSTP đang được áp dụng trên thế giới: “sàng lọc” là yếu tố thực hiện bắt buộc theo Luật An toàn thực phẩm và “khuyến khích” là các yếu tố tự nguyện quản lý theo cơ chế thị trường như: GAP, GMP… Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ATVSTP do ba Bộ ban hành độc lập Do đó, khi thực thi công vụ, mỗi cơ quan sẽ dựa vào một văn bản quy định nhiệm vụ có lợi cho cơ quan mình Điều này dẫn đến sự mâu thuẫn, chồng chéo, cục bộ trong xây dựng và triển khai các quy định pháp luật Các cơ quan quản lý nhà nước về BVQLNTD cũng chưa có sự thống nhất đầu mối và chưa gắn với nhiệm vụ của các cơ quan quản lý về ATVSTP Chính vì tồn tại cùng lúc nhiều cơ quan tham gia BVQLNTD và quản lý ATVSTP nên thiếu thống nhất trong chỉ đạo, điều hành,

tổ chức thực hiện, gây lãng phí nguồn lực và kém hiệu quả

2.1.4 Quy định về xử lý hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực ATTP

Theo pháp luật Việt Nam, việc xử lý hành vi vi phạm có thể bằng chế tài hành chính hoặc hình sự

Thứ nhất, chế tài xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Luật xử lý

vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản chuyên ngành thuộc lĩnh vực ATTP và BVQLNTD Nội dung xử phạt vi phạm hành chính được cụ thể hoá tại Nghị định số 185/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và BVQLNTD và Nghị định

số 124/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP; Nghị định số 178/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về ATTP ghi nhận mức phạt cao nhất với cá nhân là 100 triệu đồng và tổ chức là 200 triệu đồng.9 Trường hợp Trường hợp áp dụng mức phạt cao nhất của khung tiền phạt theo quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 5; Khoản 6 Điều 6; Khoản 3 Điều 7; Điểm d và Điểm đ Khoản 5, các điểm b, c và d Khoản 6 Điều 16;

9

Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm

Trang 39

Khoản 4 Điều 26 Nghị định này mà vẫn còn thấp hơn 3,5 lần tổng giá trị thực phẩm

vi phạm (đối với cá nhân vi phạm) hoặc thấp hơn 07 lần tổng giá trị thực phẩm vi phạm (đối với tổ chức vi phạm) thì mức phạt được áp dụng bằng 3,5 lần tổng giá trị thực phẩm vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với cá nhân hoặc 07 lần tổng giá trị thực phẩm vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với tổ chức.10

Mặc dù đã có nhiều điểm tiến bộ, song các quy định pháp luật về chế tài

xử lý hành chính trong lĩnh vực này cũng còn một số điểm bất cập Hiện nay, mức phạt tiền trong nhiều lĩnh vực quy định quá thấp, không bảo đảm được tính răn đe và phòng ngừa, dẫn đến tình trạng người sản xuất, kinh doanh thực phẩm chấp nhận nộp phạt thay cho việc tuân thủ pháp luật Trong khi, những thiệt hại cho sức khoẻ NTD là không thể so sánh và lợi nhuận mà người sản xuất thu được cũng là rất lớn

Thứ hai, các hành vi vi phạm của thương nhân sản xuất, kinh doanh thực

phẩm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 tại Điều 317 - Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với tội danh này là 20 năm tù Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 cũng quy định một số tội danh liên quan đến lĩnh vực sức khoẻ như: Điều 190 - Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm; Điều 191 - Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; Điều 193 - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; Điều 195 - Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc BVTV, giống cây trồng, vật nuôi; Điều 311 - Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc; Điều 312 - Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc Đây có thể coi là khung pháp lý quan trọng để tạo áp lực với người bán, trong quá trình giải quyết khiếu nại giữa NTD và thương nhân Những điều chỉnh trong BLHS năm 2015 đã nâng cao tính

10

Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm

Trang 40

khả thi của việc xử lý hình sự với hành vi vi phạm trong lĩnh vực ATVSTP; nâng cao khả năng răn đe, phòng ngừa vi phạm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm, qua đó góp phần bảo vệ quyền lợi của NTD

2.1.5 Quy định về giáo dục, trợ giúp người tiêu dùng bảo vệ quyền lợi của mình

Khoản 8, Điều 8, Luật BVQLNTD ghi nhận quyền của NTD: "Được tư

vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ" Theo đó, nội

dung giáo dục về tiêu dùng bao gồm cả việc giáo dục thông tin về cách thức sử dụng sản phẩm an toàn; các quyền và nghĩa vụ của NTD, thương nhân; cơ chế, cách thức bảo vệ quyền của NTD Ngoài ra, NTD còn được trang bị kiến thức về tiêu dùng, về kỹ năng tiêu dùng, về phong cách tiêu dùng lành mạnh và hợp lý để

có thể chủ động, sáng suốt lựa chọn nhằm có tiêu dùng hợp lý và có thể tự bảo

vệ mình, góp phần phát triển xã hội Thực hiện hoạt động giáo dục tiêu dùng có thể thông qua vai trò của các tổ chức hội hoặc chính các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa Luật An toàn thực phẩm năm 2010 dành Chương 9 để quy định

về thông tin, giáo dục, truyền thông về ATVSTP Trong đó, mục đích nhằm nâng cao nhận thức về an toàn thực phẩm, thay đổi hành vi, phong tục, tập quán sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, ăn uống lạc hậu, gây mất an toàn thực phẩm, góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng con người; đạo đức kinh doanh, ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh với sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng thực phẩm Điều 57, Luật An toàn thực phẩm cũng xác định rõ nội dung thông tin, giáo dục, truyền thông về ATVSTP gồm:

“-Thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về an toàn thực phẩm;

- Nguyên nhân, cách nhận biết nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm và các biện pháp phòng, chống sự cố về an toàn thực phẩm;

- Thông tin về các điển hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo đảm an toàn; việc thu hồi thực phẩm không bảo đảm an toàn, xử lý đối với cơ sở vi phạm nghiêm trọng pháp luật về an toàn thực phẩm.”11

Luật cũng xác định trách nhiệm của các chủ thể trong việc thực hiện hoạt

11

Điều 57 Luật An toàn thực phẩm

Ngày đăng: 24/04/2020, 11:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Lê Thanh Bình, Luận án tiến sỹ “Thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam”, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam
10. Đỗ Đức Hồng Hà, “Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm trong năm BLHS 2015 và dự kiến sửa đổi, bổ sung năm 2017”, Tạp chí Kiểm sát online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm trong năm BLHS 2015 và dự kiến sửa đổi, bổ sung năm 2017
11. Đặng Công Hiển, “Pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam” luận văn thạc sỹ bảo vệ năm 2012 tại Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam
12. Nguyễn Văn Hiển, Những điều cần biết về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nxb Tư pháp năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Nhà XB: Nxb Tư pháp năm 2005
13. Quỳnh Hoa, “Có nên lập Ủy ban quốc gia về an toàn thực phẩm?”, báo Kinh doanh điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có nên lập Ủy ban quốc gia về an toàn thực phẩm
17. Lê Anh Tiến, Bệnh tật từ thực phẩm “bẩn”, Báo Sức khỏe và đời sống online, nguồn: https://suckhoedoisong.vn/benh-tat-tu-thuc-pham-ban-n141974.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: bẩn
18. Nguyễn Lê, “Băn khoăn xử lí hình sự vi phạm về an toàn thực phẩm”, Thời báo kinh tế online. Nguồn: http://vneconomy.vn/thoi-su/ban-khoan-xu-ly-hinh-su-vi-pham-ve-an-toan-thuc-pham-20170220040422347.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Băn khoăn xử lí hình sự vi phạm về an toàn thực phẩm
19. Lê Thị Linh “Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội” luận văn thạc sỹ bảo vệ năm 2016 tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội
25. Hoàng Trí Ngọc “Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong luật hình sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” luận văn thạc sỹ bảo vệ năm 2009 tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong luật hình sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
26. Linh Nhật “Chồng chéo trong quản lí an toàn thực phẩm”, báo An ninh Thủ đô online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chồng chéo trong quản lí an toàn thực phẩm
27. Chu Đức Nhuận, Luận án tiến sỹ “Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa”, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa
28. Ngô Thị Út Quyên “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam” luận văn thạc sỹ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam
7. Chi cục An toàn, vệ sinh thực phẩm tỉnh Nam Định, Nam định tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm cho Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố, nguồn: http://vfa.gov.vn/hoat-dong-chi-cuc/nam-dinh-tap-huan-kien-thuc-an-toan-thuc-pham-cho-phong-giao-duc-va-dao-tao-thanh-pho.html Link
8. Chi cục An toàn, vệ sinh thực phẩm tỉnh Nam Định, Nam Định: Tổ chức Hội nghị triển khai công tác đảm bảo an toàn thực phẩm Tháng hành động năm 2018, nguồn: http://vfa.gov.vn/hoat-dong-chi-cuc/nam-dinh-to-chuc-hoi-nghi-trien-khai-cong-tac-dam-bao-an-toan-thuc-pham-thang-hanh-dong-nam-2018.html Link
15. hương Nguyễn Hương, Nỗ lực vì quyền lợi người tiêu dùng, Báo Nam Định online, nguồn: http://baonamdinh.com.vn/channel/5105/201703/nhan-ngay-quyen-cua-nguoi-tieu-dung-viet-nam-15-3-no-luc-vi-quyen-loi-nguoi-tieu-dung-2517338/; Cập nhật ngày 16/3/2017 Link
16. Thanh Lâm, Tin mới nhất vụ hơn 200 học sinh nghi ngộ độc tại Vĩnh Long, http://www.nguoiduatin.vn/tin-moi-nhat-vu-hon-200-hoc-sinh-nghi-ngo-doc-tai-vinh-long-a315102.html Link
20. Long Nguyễn, Những tác hại kinh hoàng của thực phẩm bẩn với sức khoẻ người dân, nguồn: http://tieudungplus.vn/nhung-tac-hai-kinh-hoang-cua-thuc-pham-ban-voi-suc-khoe-nguoi-dan-9068.html Link
30. Huy Thắng, Nokia – bài học về một tượng đài công nghệ bị sụp đổ, Báo Vnexpress.net, nguồn: https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/quoc-te/nokia-bai-hoc-ve-mot-tuong-dai-cong-nghe-bi-sup-do-2908493.html,Đăng tải: Thứ hai ngày 11/11/2018 Link
32. Võ Thu, Thêm vụ nghi ngộ độc nghiêm trọng sau khi ăn cỗ, 87 người nhập viện, nguồn: http://giadinh.net.vn/xa-hoi/them-vu-nghi-ngo-doc-nghiem-trong-sau-khi-an-co-87-nguoi-nhap-vien-20170216123036984.htm Link
33. Minh Thuận, Tăng cường xử lý vi phạm an toàn thực phẩm, Báo Nam Định online, nguồn: http://baonamdinh.com.vn/channel/5086/201809/tang-cuong-xu-ly-vi-pham-an-toan-thuc-pham-2526397/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w