Tuy nhiên, so với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian qua còn hạn chế như các doanh nghiệp hoạt động chưa bài bản, chưa chủ động tìm hiể
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI ĐỊA BÀN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thanh Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sỹ này được hoàn thiện trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Sau đại học Viện Đại học mở Hà Nội đã giảng dậy tận tâm, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn thạc sỹ Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo - tiến sĩ Nguyễn Thị Yến đã hướng dẫn tận tình, không quản thời gian, công sức chỉ bảo ân cần, tận tình cho tôi hoàn thành đề tài của mình Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các tác giả có những bài chuyên đề phân tích, báo cáo về các nội dung liên quan đến đề tài “Hỗ trợ pháp
lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” từ lý thuyết đến thực tiễn để tôi có thêm hiểu biết sâu sắc hơn về nội dung nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2018
Học viên
Vũ Thị Thanh Hương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 6
1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 6
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về doanh nghiệp nhỏ và vừa 6
1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 10
1.1.3 Ưu điểm và hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa 15
1.2 Khái quát về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa 18
1.2.1 Khái niệm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa 18
1.2.2 Đặc trưng của hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa 19
1.2.3 Mục tiêu, vai trò của hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa 19
1.3 Pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 21
1.3.1 Tổng quan về chế định hỗ trợ pháp lý cho DNNVV 21
1.3.2 Các hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhỏ và vừa 24
Chương 2: THỰC TIỄN CÔNG TÁC HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 31
2.1Thực trạng thi hành hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 31 2.1.1 Kết quả thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV 31
2.1.2 Những hạn chế, nguyên nhân trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa 41
2.2 Thực trạng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 48
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh 48
2.2.2 Thực tiễn áp dụng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Quảng Ninh 50
2.2.3 Những kết quả đạt được và những hạn chế của công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh 52
Trang 6Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA TẠI ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 67
3.1 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa 67
3.1.1 Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 67 3.1.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh 72
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa 76
3.2.1 Giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa 76 3.2.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cho tỉnh Quảng Ninh 80
KẾT LUẬN CHUNG 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNNVV UBND WTO
VCCI
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ủy ban nhân dân
Tổ chức Thương mại thế giới
Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đã và đang trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Với số lượng chiếm 97,43% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, hàng năm các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp khoảng 45% vào GDP cả nước và 31% tổng số thu ngân sách Nhà nước.Các doanh nghiệp này đóng góp đáng
kể vào tổng thu nhập quốc dân, tạo công ăn việc làm, huy động các nguồn vốn trong nước cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội Ngoài ra, trong quá trình vận hành, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tạo ra một đội ngũ doanh nhân và công nhân, với kiến thức và tay nghề dần được hoàn thiện, đáp ứng được các yêu cầu mới trong cạnh tranh Đảng và Nhà nước ta đã coi phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam
Tỉnh Quảng Ninh là tỉnh có số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa rất lớn Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò to lớn trong việc thu hút, tạo việc làm cho lao động là người địa phương, lao động nông thôn, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp, nông thôn sang khu vực công nghiệp, dịch vụ Tuy nhiên, so với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian qua còn hạn chế như các doanh nghiệp hoạt động chưa bài bản, chưa chủ động tìm hiểu pháp luật, ít quan tâm đến công tác
hỗ trợ pháp lý cho mình, phần lớn các doanh nghiệp chưa bố trí cán bộ phụ trách công tác pháp chế để giúp doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật, nhận thức pháp luật của một số chủ doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số nhìn chung còn hạn chế Với mục tiêu chung phấn đấu đến năm 2020 xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh có cơ cấu kinh tế dịch vụ, công nghiệp hiện đại; xây dựng đơn
vị kinh tế - hành chính đặc biệt Vân Đồn mang tính đột phá, do vậy tác giả đã chọn
đề tài “Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn thi hành tại địa
Trang 9bàn tỉnh Quảng Ninh” Thực hiện đề tài, tác giả mong muốn thúc đẩy việc trợ giúp
pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa địa bàn tỉnh Quảng Ninh một cách đồng bộ, thích ứng với xu thế hội nhập, phát triển của đất nước và các quốc gia trên thế giới
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chính sách Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận với các thông tin pháp lý kịp thời, nhanh chóng và toàn diện, nâng cao nhận thức, ý thực chấp hành, tuân thủ pháp luật Đây cũng là vấn đề mà nhiều nhà khoa học trong lĩnh pháp lý và kinh tế quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu đã được xuất bản và công bố Các đề tài, bài viết và các công trình nghiên cứu như:
- Bùi Huyền (2014), Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa bàn
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Hà Nội
- Dương Đăng Huệ (2014), Cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và việc xây dựng các chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam, Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật, Hà Nội
- Hội Luật gia thành phố Đà Nẵng (2013), Hoàn thiện các cơ quan trợ giúp pháp lý hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Tạp chí Phát triển
Kinh tế - Xã hội, Đà Nẵng
- Nguyễn Thị Ngọc Huyền (1999), Giáo trình “Chính sách kinh tế - xã hội” ,
Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
- Phạm Văn Hồng (2007), Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, Luận án Tiến sỹ, trường Đại học Kinh tế Quốc
Trang 10- Vũ Thanh Tùng (2016), Pháp luật về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam - Học viên Khoa học xã hội
Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đề cập tới nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa như chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, công nghệ, hỗ trợ tài chính… tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập tới công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh Vì vậy, đây vẫn là công trình có tính mới, gắn với địa phương nơi tác giả công tác
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó đánh giá thực trạng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh, những khó khăn, hạn chế, bất cập của chế định và các tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện Từ đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao và hoàn thiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa như nội dung, hình thức, ý nghĩa và cơ sở của
hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp Phân tích đánh giá những hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Nghiên cứu thực trạng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ đó tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong việc thi hành tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao công tác hỗ trợ pháp
lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; góp phần thực hiện tốt chính sách hỗ trợ pháp lý
Trang 11cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh phù hợp với mục tiêu đề
ra
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và thực tiễn thi hành tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu các quy định của pháp lý về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vừa tại Việt Nam, từ đó nghiên cứu thực tiễn việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; thực tiễn áp dụng và thi hành tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương quan điểm của Đảng, Nhà nước về trợ giúp pháp lý và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Luận văn cũng sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, suy luận logic, phương pháp Các phương pháp được sử dụng một cách linh hoạt để đảm bảo hiệu quả và tính thuyết phục của việc nghiên cứu
- Nguồn thông tin dữ liệu được lấy từ nhiều nguồn như từ các Báo cáo hàng năm về doanh nghiệp nhỏ và vừa, bài viết của các nhà nghiên cứu, thông tin trên web, dữ liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Phát triển doanh nghiệp, báo cáo của
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh, Sở Kế hoạch – Đầu tư tỉnh Quảng Ninh, Hiệp hội pháp chế tỉnh Quảng Ninh…
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Trang 12- Ý nghĩa lí luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về công tác hỗ trợ pháp
lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, làm sáng tỏ bản chất và nội dung về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá được thực tiễn thi hành chính sách hỗ trợ pháp
lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này trong thời gian tới, giúp cho việc tổ chức thực hiện và nhân rộng ra toàn quốc được hiệu quả, tránh lãng phí và sai sót trong quá trình thực hiện
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 03 chương:
Chương 1 Khái quát về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương 2 Thực tiễn công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh
Từ quy định trên, dựa vào những tiêu chí khác nhau mà doanh nghiệp có thể được chia thành nhiều loại khác nhau Theo ngành nghề thì doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp thương mại - dịch vụ; theo tính chất sở hữu thì có doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; theo quy mô (chủ yếu là quy mô
về vốn, doanh thu hoặc lao động) thì có doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một bộ phận đóng vai trò chiến lược đối với sự phát triển toàn diện của nền kinh tế Việc xác định khái niện DNNVV có
ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra các đối tượng được hưởng các chính sách của nhà nước
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa: "Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa”
Trang 14Tuy nhiên, hiện nay chưa có một định nghĩa chung và hoàn chỉnh về doanh nghiệp nhỏ và và mà chỉ dựa trên các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh
Tiêu chí xác định doanh nghiệp
- Định nghĩa về DNNVV theo tiêu chí được bắt đầu xác định từ Công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/1998 của Chính phủ, theo đó DNNVV là doanh nghiệp có
số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng Tiêu chí này đặt
ra nhằm xây dựng quy định chung về các DNNVV ở Việt Nam và chủ yếu đó là quy ước hành chính phục vụ cho việc hoạch định chính sách hỗ trợ cho các DNNVV Trên thực tế, các tiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh nghiệp nhỏ, vừa và cực nhỏ, nhưng đây là một mốc thời gian quan trọng ghi nhận là sự hướng dẫn đầu tiên với DNNVV ở Việt Nam, mặc dù đây không phải là một văn phản pháp luật chính thức
Đến ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP
về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Tại Điều 3 của Nghị định này đã định nghĩa "Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên”
Ngày 30/6/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp cho phát triển cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001, trong đó định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa lại như sau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân
Trang 15đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
I Nông, lâm
nghiệp và thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 200 người
từ trên 20
tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên
200 người đến 300 người
II Công nghiệp và
xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 200 người
từ trên 20
tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên
200 người đến 300 người III Thương mại và
dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 50 người
từ trên 10
tỷ đồng đến 50 tỷ đồng
từ trên
50 người đến 100 người
Ngày 12/6/2017, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật hỗ trợ doanh
nghiệp nhỏ và vừa, theo đó, tại Điều 4 Luật này quy định: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, tổng doanh
Trang 16thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng Các doanh nghiệp này được hỗ trợ nhiều nội dung liên quan đến quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh”
Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định căn cứ vào quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế và quy định của pháp luật chuyên ngành theo Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ, quy định chi tiết các loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:
+ Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
+ Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này
+ Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này
Trang 17Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này
Như vậy, có thể thấy khái niệm về DNNVV được hiểu khác nhau tùy thuộc vào chủ thể, mục đích nghiên cứu và đặc biệt là sự phát triển của kinh tế xã hội ở mỗi giai đoạn mà nó tồn tại Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và vừa là một khái niệm chỉ chung cho một khu vực cơ sở kinh doanh có quy mô hoạt động thường là nhỏ và gặp khó khăn trong quá trình cạnh tranh trên thị trường
1.1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu là doanh nghiệp có quy mô nhỏ Quy
mô của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào tiêu chí về số nhân công, vốn đăng ký, doanh thu các tiêu chí này luôn không đồng nhất giữa các quốc gia, từng chương trình và từng thời kỳ phát triển khác nhau trong một quốc gia
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh Với quy mô sản xuất nhỏ nên nhu cầu vốn đầu tư thấp (dưới 100 tỷ đồng), chu kỳ sản xuất kinh doanh thường ngắn nên khả năng thu hồi vốn rất nhanh góp phần làm tăng tốc độ vòng quay của vốn, giảm các chi phí vốn, mang lại hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp
DNNVV tồn tại ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế Nền kinh tế thị trường ở nước ta tồn tại và phát triển bao gồm nhiều thành phần với nhiều loại hình doanh nghiệp, từ các doanh nghiệp nhà nước, các công ty tư nhân tới các hợp tác xã DNNVV thường lựa chọn các ngành nghề kinh doanh trong các lĩnh vực nông – lâm – ngư, công nghiệp, xây dựng… phù hợp với quy định của Nhà nước Các doanh nghiệp nói chung và các DNNVV nói riêng được kinh doanh bình đẳng trước pháp luật trong các lĩnh vực của nền kinh tế trên mọi miền đất nước
Trang 18DNNVV có tính linh hoạt và thích ứng cao: trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải nắm bắt kịp thời các nhu cầu của thị trường Xuất phát từ đặc điểm có quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư ban đầu không lớn, cơ cấu tổ chức đơn giản, gọn nhẹ, doanh nghiệp dễ dàng điều chỉnh chuyển hướng sản xuất kinh doanh vào những ngành nghề khác khi cảm thấy lĩnh vực có lợi hơn Mặt khác, cơ cấu gọn nhẹ cũng giúp chủ doanh nghiệp dễ dàng trong việc quản lý, giám sát, tiết kiệm chi phí quản lý, hạn chế sai lệnh thông tin Hơn nữa, các DNNVV không gặp nhiều khó khăn như doanh nghiệp lớn trong việc chuyển đổi địa hình sản xuất kinh doanh, bởi vì các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay dùng chính những diện tích đất của mình để làm mặt bằng sản xuất Ngoài ra, DNNVV có thể nắm bắt được cả những nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực và địa phương Điều này giúp DNNVV khai thác hết năng lực của mình, đạt tới hiệu quả kinh doanh cao nhất
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi về quy mô, cơ cấu, lĩnh vực kinh doanh thì DNNVV cũng gặp một số khó khăn như:
Năng lực tài chính thấp là nhược điểm lớn nhất, dễ thấy nhất và đáng quan tâm nhất của các DNNVV Việc tiến hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu chỉ dựa vào nguồn vốn tự của của một hoặc một số cá nhân Nguồn vốn này không đủ để doanh nghiệp có thể đổi mới dây chuyền công nghệ, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm… mặt khác, việc tiếp cận nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng còn hạn chế Nguyên nhân là do ngoài sự yếu kém về quản lý kinh tế thì tài sản thế chấp không đủ điều kiện, báo cáo tài chính, sổ sách kế toán của doanh nghiệp không rõ ràng, minh bạch
Năng lực quản lý, điều hành của chủ DNNVV thấp, trình độ quản lý của doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế Chủ doanh nghiệp thành lập doanh nghiệp
do có sẵn mối quan hệ với các kênh cung ứng với thị trường Nhiều chủ doanh nghiệp còn có thói quen điều hành quản trị theo kiểu gia đình
Trang 19Khả năng cạnh tranh còn hạn chế: do quy mô nhỏ, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ yếu kém, lạc hậu nên chất lượng sản phẩm không cao, năng suất lao động thấp, trình độ tay nghề cũng như khả năng tiếp cận công nghệ mới của người lao động còn hạn chế Doanh nghiệp ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động có trình độ tay nghề cao do không có khả năng trả lương cao và những chính sách đãi ngộ hấp dẫn
Tiếp cận thông tin còn yếu kém và chưa kịp thời
Những điều này làm giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo ra rào cản làm sản phẩm của doanh nghiệp khó tiếp cận với thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu
1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng huy động mọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần ổn định xã hội; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh; làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn và là tiền đề hình thành các doanh nghiệp lớn; góp phần đào tạo, bồi dưỡng doanh nhân - nguồn nhân lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội Doang nghiệp nhỏ và vừa với những tính chất, đặc điểm và lợi thế nên các doanh nghiệp này có vai trò tác động kinh tế-xã hội rất lớn
Thứ nhất, các DNNVV có vị trí rất quan trọng ở chỗ, các doanh nghiệp này
chiếm đa số về mặt số lượng trong tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và ngày càng gia tăng mạnh Tốc độ gia tăng các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhanh hơn các doanh nghiệp lớn Hiện nay, theo số liệu thống kê về doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam cũng chiếm khoảng 98% tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động trong
cả nước, trong đó số doanh nghiệp vừa chỉ chiếm 2,2%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 29,6% và còn lại 68,2% là siêu nhỏ1
1
Bài “Vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhỏ và vừa thời hội nhập” Tác giả Đỗ Anh Tuấn - Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Đà Năng (2016) trên Báo Doanh nghiệp Việt Nam
Trang 20Thứ hai, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò quan trọng trong sự tăng
trưởng của nền kinh tế, đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân Theo số liệu thống kê hàng năm khối doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam đóng góp hàng năm đóng góp khoảng 45% vào GDP cả nước và 31% tổng số thu
Thứ ba, tác động lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ và vừa là giải quyết một số
lượng lớn chỗ làm việc cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm cho người lao động, thì khu vực này vượt trội hẳn so với khu vực khác, góp phần giải quyết nhiều vấn đề
xã hội bức xúc, ở hầu hết các nước doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo việc làm cho khoảng từ 50- 80% lao động trong các nghành công nghiệp và dịch vụ Đặc biệt trong nhiều thời kỳ các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân thì khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thu hút thêm nhiều lao động hoặc có tốc độ thu hút lao động mới cao hơn khu vực doanh nghiệp lớn ở Việt Nam cũng theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế TW, thì số lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực phi nông nghiệp có khoảng 7,8 triệu người, chiếm tới 72,9% tổng số lao động phi nông nghiệp và chiếm khoảng 22,5% lực lượng lao động của cả nước Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2017 là 1.161,3 nghìn người, giảm 8,4% so với năm 20163
Thứ tư, các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhỏ góp phần làm năng động nền kinh tế
trong cơ chế thị trường, do lợi thế quy mô nhỏ và vừa là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, hoà nhịp được với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
Thứ năm, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút được khá nhiều vốn ở
trong dân Do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào dân cư và yêu cầu về số lượng
2 Theo số liệu TS Cấn Văn Lực đưa ra tại hội thảo giải pháp tín dụng cho DNNVV
Trang 21vốn ban đầu không nhiều, cho nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tác dụng lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chúng tạo lập dần tập quán đầu tư vào sản xuất kinh doanh
và hình thành các khu vực để thực hiện có kết quả vấn đề huy động vốn của dân cư theo luật khuyến khích đầu tư trong nước
Thứ sáu, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò to lớn đối với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu vực nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại- dịch vụ phát triển Sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần làm tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn góp phần đa dạng hoá cơ cấu công nghiệp
Thứ bảy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần vào đô thị hoá phi tập trung
và thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương” Sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn sẻ thu hút những người lao động thiếu hoặc chưa có việc làm và có thể thu hút lượng lớn lao động thời vụ trong các kỳ nông nhàn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, rút dần lao động làm nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, nhưng vẫn sống tại quê hương bản quán, không phải di chuyển
đi xa Đồng hành với nó là hình thành những khu vực khá tập trung các cơ sở công nghiêp và dịch vụ ngay tại nông thôn, tiến dần lên hình thành những thị xã, thị trấn,
là hình thành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng quê, là quá trình đô thị hoá phi tập trung
Thứ tám, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi ươm mầm các tài năng kinh
doanh, là nơi đào tạo các nhà doanh nghiệp Kinh doanh quy mô nhỏ sẽ là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp làm quen với môi trường kinh doanh Bắt đầu
từ kinh doanh quy mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh quy mô vừa
và nhỏ, một số nhà doanh nghiệp sẽ trưởng thành nên những nhà doanh nghiệp lớn
Trang 22tài ba, biết đưa doanh nghiệp của mình nhanh chóng phát triển Các tài năng kinh doanh sẻ được ươm mầm từ đây
1.1.3 Ưu điểm và hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.3.1 Ưu điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là bộ phận giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhóm doanh nghiệp này có những ưu điểm sau:
Tính linh hoạt trong chuyển đổi hoạt động kinh doanh: Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là có thể bắt đầu hoạt động Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có hoặc vay Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô hoạt động nhỏ, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện và thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng Từ đó, doanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế Lựa chọn kinh doanh các ngành kinh doanh có lợi nhuận cao: Do quy mô nhỏ nên tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ đó là lợi thế mà các doanh nghiệp lớn không có được Các DNNVV thường lựa chọn những ngành nghề kinh doanh thực phẩm, may mặc, nông sản là những ngành nghề có lợi nhuận cao, hầu như ít bị ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên sẵn sàng gánh chịu rủi ro trong kinh doanh nếu cần thiết Trong trường hợp thất bại cũng không bị thiệt hại nặng như các doanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này có động cơ để đi vào lĩnh vực mới bởi do tính chất quy mô nhỏ nên khó cạnh tranh với doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyển hàng loạt
Trang 23Khả năng sáng tạo cao là thành viên chính của ngành công nghiệp phụ trợ: Hầu như các doanh nghiệp lớn đều có đặc điểm chung là xuất phát từ những doanh nghiệp nhỏ Những ý tưởng kinh doanh luôn xuất phát từ những doanh nghiệp nhỏ
có tinh thần khởi nghiệp cao, biết tiếp cận thị trường và luôn đổi mới để phát triển Điều đặc biệt là các DNNVV hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ chiếm
đa số như các sản phẩm gia công phục vụ cho doanh nghiệp Honda, Canon tại Việt Nam
Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp: Doanh nghiệp có vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các DNNVV
có thể đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hóa
có chất lượng tốt và có sự cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế
1.1.3.2 Hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong kinh doanh
Một là, thiếu vốn và khó tiếp cận những nguồn vốn chính thức
Thông thường các doanh nghiêp vừa và nhỏ thường có nguồn tài chính hạn chế Do đặc điểm của DNNVV là số vốn ít và lượng lao động ít, vì vậy doanh nghiệp bị hạn chế trong việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng, nguồn vốn xã hội Điều này là ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp Vì không có tài sản cầm cố, thế chấp nên DNNVV rất khó vay được các khoản vay lớn từ các tổ chức tín dụng và các quỹ tín dụng
Hai là, ngoài vốn vay, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp khó khăn trong vấn
đề tiếp cận và triển khai những công nghệ sản xuất, cung ứng dịch vụ và quản lý hoạt động kinh doanh Ngoài nguyên nhân không đủ vốn để tiếp cận những công nghệ nói trên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thiếu thốn về chuyên môn và các chuyên gia hoặc nhân lực có hiểu biết phù hợp để lựa chọn và triển khai công nghệ
Trang 24Không ít trường hợp các doanh nghiệp có vốn để đầu tư vào công nghệ, nhưng lại lựa chọn công nghệ không phù hợp hoặc triển khai không hiệu quả gây trở ngại trong quá trình sử dụng và thực hiện về sau
Ba là, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp và tồn kho cao cũng là một khó
khăn lớn khác Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn thiếu năng lực nắm bắt thị trường, hiểu thị trường một cách tổng thể và xây dựng những kế hoạch đối phó với những kịch bản biến động gây khó khăn Điều này dẫn đến việc sản xuất bị thu hẹp, hoạt động cầm chừng, không có khả năng bán được hàng hóa đã sản xuất dẫn đến tồn kho tích tụ và phát sinh chi phí Đối với những ngành có tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu, các doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc dự báo doanh thu và lập kế hoạch tích hợp kinh doanh và vận hành phù hợp với những biến động của thị trường và kinh tế thế giới
Bốn là, còn nhiều hạn chế trong công tác quản lý và đào tạo lao động: Năng
lực quản lý, hiểu biết về pháp lý cũng như khan hiếm nguồn nhân lực tay nghề cao cũng là yếu tố khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong việc cạnh tranh và tồn tại, cũng như thực hiện những bước chuyển mình cần thiết
Năm là, chưa chú trọng đến cuộc cách mạng Công nghệ 4.0 Hiện nay, cuộc
cách mạng công nghệ 4.0 đã và đang được ứng dụng rộng rãi trên các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, do vậy việc ứng dụng công nghệ 4.0 trong DNNVV đang trở nên ngày càng bức thiết, một phần doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn hạn chế về tài chính cũng như thiếu nhân lực đủ trình độ
Ngoài những yếu tố trên, một trong những khó khăn ít được đề cập đến của doanh nghiệp vừa và nhỏ đó là khả năng tiếp cận với nguồn lực tư vấn kiến thức và những giải pháp về cải tiến vận hành và xây dựng chiến lược, vốn được coi là những “dịch vụ của nhà giàu” Thực trạng cho thấy quản lý chuỗi cung ứng hiện đang dần được các doanh nghiệp đa quốc gia và kể cả những doanh nghiệp quốc doanh quan tâm nhiều hơn Hầu như mọi doanh nghiệp đều có thể tìm thấy cơ hội cái tiến trên nhiều phương diện của chuỗi cung ứng và có thể đạt được hiệu quả
Trang 25ngay tức thì về mặt hiệu suất, chi phí và lợi nhuận Nhưng hiện nay những phương
án tiếp cận với nguồn kiến thức về chuỗi cung ứng và chiến lược chuỗi cung ứng vấn còn hạn hẹp đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2 Khái quát về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1 Khái niệm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thực hiện chủ trương đổi mới, chuyển đổi mô hình kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thời gian vừa qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các văn bản pháp luật này đã tạo nên một khung pháp lý tương đối đầy đủ và thuận tiện cho các doanh nghiệp hoạt động với nhiều hình thức, lĩnh vực kinh doanh Tuy nhiên, trong hoạt động của các doanh nghiệp vẫn còn nhiều yếu kém, trong đó có việc thực hiện pháp luật, do vậy nhà nước đã ban hành chính sách hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Theo quy định tại khoản 3, Điều 14 Luật hỗ trợ DNNVV: Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là việc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho DNNVV như xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu về pháp luật; Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình hỗ trợ pháp lý để cung cấp thông tin, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tư vấn pháp luật
Hiểu theo nghĩa rộng, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là việc thực hiện các hoạt động của các tổ chức được Nhà nước giao chức năng thực hiện
hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp dưới nhiều hình thức nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho doanh nghiệp, hình thành ở họ ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật trong kinh doanh, góp phần bảo vệ pháp chế, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật
Hiểu theo nghĩa hẹp, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như xây dựng chương trình, kế hoạch; triển khai
Trang 26chương trình, kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thông qua việc áp dụng các hình thức, nội dung hỗ trợ; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
1.2.2 Đặc trưng của hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hỗ trợ pháp lý là việc thực hiện các hoạt động mang tính chất hỗ trợ về mặt pháp lý miễn phí, không cung cấp trực tiếp bằng vốn hay bằng các công cụ tài chính
mà tập trung vào lĩnh vực pháp luật có liên quan trực tiếp đến những vướng mắc của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình sản suất, kinh doanh, quá trình điều hành, quản lý doanh nghiệp Nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao hiểu biết pháp luật,
có ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật
Đồng thời, hoạt động hỗ trợ pháp lý là hoạt động hoàn toàn miễn phí, doanh nghiệp nhỏ và vừa không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí hay thù lao gì dưới bất kỳ hình thức nào Kinh phí của hoạt động này do ngân sách Nhà nước cấp , nguồn vốn tín dụng có hỗ trợ, bảo lãnh của Nhà nước, nguồn vốn hỗ trợ từ miễn giảm thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất và các khoản khác phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật và nguồn vốn hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước
1.2.3 Mục tiêu, vai trò của hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Mục tiêu cụ thể là nhằm khắc phục cơ bản tình trạng doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong việc tiếp cận với thông tin pháp luật; hình thành mạng lưới
tư vấn pháp luật gồm luật gia, luật sư, tư vấn viên pháp luật và cộng tác viên tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; đáp ứng cơ bản yêu cầu bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp và kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ pháp chế doanh nghiệp Nâng cao năng lực của các cơ quan, tổ chức thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; bảo đảm phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được hỗ trợ tư vấn về các nội dung cơ bản của pháp luật kinh doanh
Trang 27Pháp luật là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền kinh tế nói riêng Pháp luật không chỉ
là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh trong xu hướng hội nhập hóa toàn cầu
Vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính bảo vệ thành quả kinh doanh của doanh nghiệp, hạn chế các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Do vậy, công tác
hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có những vai trò như sau:
Trước hết, phải nhận thức đúng đắn về công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV coi đây là trách nhiệm của toàn xã hội không chỉ riêng cơ quan nhà nước mà nó cần phải nằm trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nhận thức đầy đủ vấn đề này là một quá trình khó khăn, lâu dài Bởi vậy đây là vấn đề không những góp phần tăng cường cơ sở pháp lý để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và nuôi dưỡng ý thức đạo đức kinh doanh
Đồng thời, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và hệ thống: Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật, đây là vấn đề có liên quan chặt chẽ với việc nghiên cứu các quy định và thông lệ của pháp luật kinh doanh các nước trên thế giới, các quy định của WTO, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), qua đó có thể lựa chọn các chuẩn mực, giá trị phù hợp để luật hóa, biến thành những quy phạm chung của xã hội mà mỗi doanh nghiệp, tổ chức đều có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa phải được xác định rõ nội dung các biện pháp cần đảm bảo nguyên tắc Nhà nước chỉ hỗ trợ về mặt chính sách, các doanh nghiệp cần chủ động, đảm bảo việc hỗ trợ của nhà nước không làm hạn chế sự phát triển của thị trường dịch vụ tư vấn pháp luật nói chung
Trang 28và thị trường dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp nói riêng Trên cơ sở nhu cầu
hỗ trợ về pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, nội dung của các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được quy định trên cơ sở có tính đến điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của từng ngành, từng địa phương trong từng thời kỳ, bảo đảm sự hài hòa giữa trách nhiệm hỗ trợ với nguồn nhân lực về tài chính, nhân sự của các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương
1.3 Pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 1.3.1 Tổng quan về chế định hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Với đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam có quy mô nhỏ và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, việc tiếp cận pháp lý gặp rất nhiều vướng mắc, doanh nghiệp khó khăn trong việc thuê chuyên gia tư vấn về pháp lý do quy mô nhỏ, hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp Để tạo điều kiện hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển trong nhiều năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có các văn bản:
Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Đây là văn bản pháp lý đầu tiên đưa ra định nghĩa chính thức về DNNVV và các chính sách trợ giúp của Nhà nước đối với DNNVV Nghị định đã quy định khái niệm, tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam, khẳng định tầm quan trọng của DNNVV trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, các biện pháp, chính sách hỗ trợ DNNVV
Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (đây là Nghị định thay thế cho Nghị định 90/2001/NĐ-CP) Nghị định này quy định hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa như: hỗ trợ tài chính; mặt bằng sản xuất; đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật; xúc tiến mở rộng thị trường; tham gia kế hoạch mua sắm, cưng ứng dịch vụ công; về thông tin và tư vấn; trợ giúp phát triển nguồn nhân lực; vườn ươm doanh nghiệp; tuy nhiên không
Trang 29có điều khoản nào quy định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và giải quyết kiến nghị khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp
Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 05/5/2010 về việc triển khai thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP nhằm triển khai thực hiện tích cực, đồng bộ các chính sách trợ giúp phát triển và phát huy mọi khả năng và nguồn lực đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV
Đến ngày 07/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1231/QĐ-TTg về phê duyệt Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2011-2015, xác định quan điểm, mục tiêu, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về hoàn thiện khung pháp lý về gia nhập, hoạt động và rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp;
hỗ trợ tiếp cận tài chính, tín dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ đổi mới công nghệ và áp dụng công nghệ mới trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa; phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tập trung vào nâng cao năng lực quản trị cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; đẩy mạnh hình thành các cụm liên kết, cụm ngành công nghiệp, tăng cường tiếp cận đất đai cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; cung cấp thông tin hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ
và vừa và xúc tiến mở rộng thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; xây dựng hệ thống tổ chức trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; quản lý thực hiện Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Tuy điểm danh nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng văn bản này chưa nêu giải pháp về hỗ trợ pháp lý cho DNNVV
Với công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng được Chính phủ quy định tại Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong đó quy định cụ thể nội dung, hình thức và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong triển khai thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Triển khai Nghị định 66/2008/NĐ-CP được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp kèm theo Quyết
Trang 30định số 585/QĐ-TTg ngày 05/5/2010 (giai đoạn 2010-2014) và Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 28/11/2014 (giai đoạn 2015-2020), trong đó có 03 dự án gồm:
Dự án 1 Nâng cao chất lượng hoạt động thông tin pháp lý cho doanh nghiệp; Dự án
2 Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên một số hoạt động cụ thể; Dự án 3 Tăng cường năng lực cho cơ quan tổ chức thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Để tiếp tục triển khai Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ và Quyết định số 585/QĐ-TTg ngày 05/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã ban hành nhiều văn bản như Chỉ thị, Quyết định,
Kế hoạch triển khai các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như Thông tư liên tịch số 157/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 12/10/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫn lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 2746/QĐ-BTP ngày 22/11/2010 về Quy chế quản lý thực hiện Chương trình 585; Quyết định
số 354/QĐ-BTP ngày 22/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về kế hoạch tổng thể triển khai Chương trình 585 (giai đoạn 2010-2014)
Mới đây nhất, Luật hỗ trợ DNNVV ngày 12 tháng 6 năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 đã quy định, hỗ trợ DNNVV trên các mặt như tiếp cận tín dụng; thuế - kế toán; mặt bằng sản xuất kinh doanh; công nghệ, hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ
sở kỹ thuật, khu làm việc chung; mở rộng thị trường; phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ các DNNVV được chuyển đổi từ hộ kinh doanh, DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị… Ngoài những hỗ trợ trên trong Luật hỗ trợ DNNVV đã bổ sung những thiếu sót trong công tác hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa bằng việc đã quy định rõ về hỗ trợ pháp lý cho DNNVV
trong Luật Cụ thể, tại Khoản 3, Điều 14, Luật hỗ trợ DNNVV quy định: “Các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện các hoạt động sau đây để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa:
Trang 31a) Xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu về pháp luật;
b) Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình hỗ trợ pháp lý để cung cấp thông tin, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tư vấn pháp luật.”
Với mục tiêu hướng đến các DNNVV được hỗ trợ pháp lý bằng nhiều hình thức như cung cấp thông tin, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tư vấn pháp luật hay xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu về pháp luật… Luật hỗ DNNVV năm
2017 đã đặt ra các quy định cụ thể cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện các hoạt động trên để hỗ trợ pháp lý cho DNNVV Giúp các DNNVV có thể tiếp cận thông tin về chủ trương, chính sách, các kế hoạch, chương trình, dự án về hoạt động hỗ trợ cho DNNVV Qua đó, nhằm nâng cao nhận thức pháp lý, ý thức pháp luật của các DNNVV chấp hành đúng các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Đồng thời, khuyến khích các tổ chức đại diện của doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân có chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý tham gia thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ vừa vừa
1.3.2 Các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Với mục tiêu hướng đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ pháp lý trong hoạt động kinh doanh đảm bảo quyền, lợi ích, thúc đẩy phát triển, Chính phủ
đã quy định tại khoản 3 Điều 14 Luật hỗ trợ DNNVV trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa với các hình thức như sau:
1.3.2.1 Xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu
về pháp luật
Cơ sở dữ liệu về pháp luật là cơ sở dữ liệu về văn bản quy phạm pháp luật và
cơ sở dữ liệu về vụ việc, vướng mắc pháp lý được các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương cấp tỉnh xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật để hỗ trợ pháp
Trang 32lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật dưới dạng văn bản điện tử do Chính phủ thống nhất quản lý, bao gồm các cơ sở dữ liệu thành phần: Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật Trung ương và Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật địa phương theo Khoản 2 Nghị định số 52/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật quy định
Theo đó, Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng các dữ liệu về các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản giải đáp pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực, phạm vi do mình phụ trách và đăng tải trên trang thông tin chính thức của Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy mô được quyền tiếp cận, sử dụng, khai thác miễn phí thông tin đăng tải trên cơ sở dữ liệu và có quyền yêu cầu Bộ, ngành,
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cập nhật toàn văn nội dung văn bản quy phạm pháp luật,
có hiệu lực pháp luật mà chưa được đăng tải trên trang thông tin chính thức của Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp luật mà chưa được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì doanh nghiệp có quyền đề nghị cập nhật văn bản đó
Với hình thức hỗ trợ này rất phù hợp với mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành đất nước Đồng thời khắc phục được những bất cập cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc tiếp cận thông tin pháp lý, các văn bản hướng dẫn thi hành luật do các Bộ, ngành, địa phương ban hành Quy định này cũng góp phần thực hiện nội dung mà Việt Nam cam kết về bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
1.3.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình hỗ trợ pháp lý để cung cấp thông tin, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tư vấn pháp luật
Trang 33Với mục tiêu của chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ nói riêng là nhằm cung cấp thông tin pháp lý cho doanh nghiệp, bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ pháp chế doanh nghiệp sẽ tạo ra bước chuyển biến trong việc thực thi pháp luật của doanh nghiệp, bảo đảm thực hiện tốt các Luật đã và sẽ ban hành trong thời gian sắp tới và đáp ứng nhu cầu hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp Trong đó tùy vào từng thời gian cụ thể, chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp sẽ tập trung giải quyết các vấn đề ưu tiên trong thông tin pháp lý mà doanh nghiệp nhỏ và vừa ở địa phương gặp khó khăn
Căn cứ vào tình hình thực tiễn ban hành và triển khai văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và nhu cầu hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong từng thời kỳ, tại các ngành, lĩnh vực kinh doanh mà Chương trình hỗ trợ cho doanh nghiệp sẽ được xây dựng và thực hiện các cấp Với Chương trình hỗ trợ pháp
lý trong phạm vi ngành, địa phương thì Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức xây dựng về phê duyệt Chương trình hỗ trợ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi ngành, lĩnh vực hoặc địa phương do mình quản lý; với chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành các Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi ngành, lĩnh vực hoặc địa phương do mình quản lý gửi Bộ Tư pháp tổng hợp vào chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành
Sau khi chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện chương trình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình Các tổ chức đại diện của doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân có chức năng cung cấp dịch
vụ pháp lý được khuyến khích tham gia thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo các chương trình hỗ trợ
Thứ nhất, cung cấp thông tin, xây dựng tài liệu giới thiệu, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật Tại Điều 8 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP quy định: "các
Trang 34Bộ biên soạn tài liệu giới thiệu, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành trong phạm vi ngành, lĩnh vực do mình quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh biên soạn tài liệu giới thiệu, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương ban hành có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp" Với quy định này các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức biên soạn, xuất bản tài liệu, giới thiệu, tuyên truyền triển khai thực hiện các văn bản quy phạm mới ban hành có liên quan đến ngành, lĩnh vực, phạm vi quản lý cho các doanh nghiệp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo xây dựng kế hoạch
và phối hợp với các tổ chức đại diện của doanh nghiệp phổ biến các tài liệu giới thiệu, tổ chức, triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật cho doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp nhận các tài liệu giới thiệu, phổ biến theo chương trình hỗ trợ đồng thời các tổ chức đại diện doanh nghiệp hoặc trực tiếp dùng kinh phí của doanh nghiệp xây dựng tủ sách pháp luật tại doanh nghiệp
Thứ hai, bồi dưỡng kiến thức pháp luật
Để đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp trong
điều kiện hiện nay, tại Điều 9 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP quy định "Các Bộ tổ chức biên soạn tài liệu bồi dưỡng kiến thức pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực
do mình quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp và phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, các tổ chức đại diện của doanh nghiệp thực hiện việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với các tổ chức đại diện của doanh nghiệp xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp tại địa phương"
Các Bộ có trách nhiệm tổ chức biên soạn tài liệu bồi dưỡng kiến thức pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực do mình quản lý và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức đại diện của doanh
Trang 35nghiệp thực hiện việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, xây dựng kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hàng năm trên địa bàn mình quản lý, tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng kỹ năng nghiệp
vụ cho cán bộ pháp chế các sở, ngành làm công tác có liên quan đồng thời bối dưỡng kiến thức pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa được quyền tham dự các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật do Bộ, ngành và địa phương tổ chức
Đồng thời, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho người làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho mạng lưới tư vấn viên pháp luật
Thứ ba, tư vấn pháp luật
Tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể là cung cấp các nội dung của pháp luật để tháo gỡ, thực hiện những hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến những vướng mắc mà doanh nghiệp đang gặp và cần xử lý Tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp cũng có thể là đưa ra những phương hướng giải quyết vướng mắc trên
cơ sở quy định của pháp luật và kinh nghiệm của người tư vấn nhằm giúp đỡ giải quyết những vướng mắc của doanh nghiệp để doanh nghiệp tự lựa chọn cách thức giải quyết Tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể là tư vấn về việc thành lập, thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, tài chính, các quy định về thuế, quy định về quản trị doanh nghiệp, cũng có thể là thực hiện việc xây dựng các quy định, văn bản nội bộ của doanh nghiệp
Hoạt động tư vấn pháp luật, bao gồm đối thoại, giải quyết các vướng mắc pháp lý cho doanh nghiệp và các hoạt động tư vấn pháp luật khác phù hợp với các quy định của pháp luật trên cơ sở nhu cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đối thoại là một trong những phương thức để tăng cường sự gắn bó giữa doanh nghiệp với chính quyền, giúp cho các chủ trương, chính sách của Trung ương, địa phương bám sát hoạt động của doanh nghiệp Qua các buổi đối thoại
Trang 36doanh nghiệp nhỏ và vừa đã bày tỏ suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng của mình một cách dân chủ, thẳng thắn trước các vấn đề bức xúc, lo lắng liên quan đến lợi ích chính đáng mình: trình tự, thủ tục thực hiện các quyền liên quan đến đất đai, tiếp cận vốn ưu đãi hỗ trợ khởi nghiệp…
Giải đáp các vướng mắc pháp luật được quy định tại Điều 10 Nghị định
66/2008/NĐ-CP quy định "Doanh nghiệp có quyền yêu cầu các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải đáp pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực do mình quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Trong trường hợp việc giải đáp pháp luật của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nêu tại khoản 1 Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có quyền yêu cầu các Bộ có liên quan giải đáp
Việc giải đáp pháp luật được thực hiện thông qua các hình thức sau đây: a) Giải đáp bằng văn bản;
b) Giải đáp thông qua mạng điện tử;
c) Giải đáp trực tiếp hoặc thông qua điện thoại;
d) Các hình thức khác theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, Luật hỗ trợ DNNVV cũng quy định về hỗ trợ của Nhà nước đối với DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh, DNNVV khởi nghiệp đổi với sáng tạo, doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị
Để khuyến khích các hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp tại Điều 16 Luật hỗ trợ DNNVV đã quy định về tư vấn, hướng dẫn miễn phí về hồ sơ, thủ tục thành lập doanh nghiệp; tư vấn, hướng dẫn miễn phí về các thủ tục hành chính thuế
và chế độ kế toán trong thời hạn 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp lần đầu
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo tại Điều 17 Luật hỗ trợ DNNVV cũng quy định tự vấn về sở hữu trí tuệ; hỗ trợ thông tin, truyền thông
Trang 37Với DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị tại Điều 18 Luật hỗ trợ DNNVV đã quy định một số nội dung hỗ trợ pháp lý như tư vấn về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng, chất lượng phát triển sản phẩm theo cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; cung cấp thông tin về nhu cầu kết nối, sản xuất, kinh doanh
Nhằm hỗ trợ kịp thời những vướng mắc về pháp luật, Nhà nước ban hành các quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Bộ liên quan giải đáp, hình thức giải đáp, thời hạn trả lời yêu cầu cho doanh nghiệp Cụ thể các doanh nghiệp
có quyền yêu cầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh giải đáp pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực do mình quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp bằng các hình thức giải đáp bằng văn bản, giải đáp thông qua mạng điện tử, giải đáp trực tiếp hoặc thông qua điện thoại và các hình thức khác theo quy định của pháp luật Trong trường hợp phức tạp việc giải đáp chưa thỏa đáng yêu cầu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có quyền yêu cầu Bộ, ngành có liên quan giải đáp thêm
Tiểu kết Chương 1
Qua những khái niệm, đặc điểm và phân tích trên cho thấy DNNVV luôn có vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước Đồng thời, có thể thấy Đảng, Nhà nước rất chú trọng đến công tác phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đó rất chú trọng công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV theo từ thời kỳ phát triển của đất nước
Với công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV, Nhà nước đã quy định và thực hiện các hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý cụ thể; các điều kiện bảo đảm hoạt động
hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã giúp các DNNVV ngày càng phát triển
Trang 38Chương 2 THỰC TIỄN CÔNG TÁC HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI ĐỊA BÀN TỈNH
QUẢNG NINH 2.1 Thực trạng thi hành hỗ trợ pháp lý cho DNNVV tại Việt Nam
2.1.1 Kết quả thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là việc Nhà nước quy định và thực hiện các hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý; các điều kiện bảo đảm hoạt động
hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ chức, cá nhân kinh doanh; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
2.1.1.1 Tại Bộ Tư pháp và Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014, giai đoạn 2015-2020
Trên cơ sở Nghị định số 66/2008/NĐ-CP, Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014 cũng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 585/QĐ-TTg ngày 5/5/2010 đã đi vào thực hiện từ năm 2010 đến 2014 (gọi là Chương trình 585), năm 2014, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định phê duyệt tiếp tục thực hiện và điều chỉnh các dự án trong Chương trình trên đến năm 2020, Chương trình 585 đã triển khai đồng bộ các hoạt động với 3 Dự án: thông tin pháp luật cho doanh nghiệp; tăng cường năng lực cho các cơ quan, tổ chức thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên một số hoạt động cụ thể
Bộ Tư pháp được giao chủ trì phối hợp các các Bộ, ngành, địa phương tổ chức các hoạt động để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp gồm thông tin pháp lý doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau; xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình phổ biến kiến thức cơ bản về pháp luật kinh doanh trên các phương
Trang 39tiện thông tin đại chúng cho doanh nghiệp; tổ chức thực hiện các chương trình bồi dưỡng kiến thức cơ bản về pháp luật kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp;
tổ chức bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ pháp chế cho cán bộ pháp chế của doanh nghiệp; xây dựng mạng lưới tư vấn pháp luật cho các doanh nghiệp tại các địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án điểm về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại một số địa phương; xây dựng
và thực hiện các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực cho các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện công tác trợ giúp pháp lý theo quy định Bên cạnh đó Bộ Tư pháp cũng là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp
lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên phạm vi cả nước
Trong những năm qua Bộ Tư pháp đã xây dựng, ban hành và triển khai các
kế hoạch về công tác trợ giúp pháp lý cho doanh nghiệp với các nhiệm vụ chủ yếu
là tổ chức tọa đàm trao đổi kinh nghiệm trong công tác hỗ trợ pháp lý, giải đáp pháp luật Kế quả thực hiện từ năm 2010-20174 như sau:
Tổ chức thành công 120 đối thoại, hội thảo, tọa đàm, diễn đàn về các chuyên
đề pháp luật kinh doanh, thu hút sự tham gia của 13.000 đại biểu là các chủ sở hữu doanh nghiệp, cán bộ thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, luật sư, luật gia, cố vấn pháp lý tại các doanh nghiệp
Tổ chức thành công 153 lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phố, thu hút gần 16.000 đại biểu là lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ các phòng ban, cán bộ pháp chế, kế toán doanh nghiệp tham dự
Tổ chức thành công 90 lớp bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ pháp chế doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phố trong cả nước, thu hút gần 10.000 lượt cán bộ pháp chế, luật sư, luật gia, cố vấn pháp luật cho doanh nghiệp tham dự Các lớp bồi dưỡng này
đã cung cấp các kiến thức cơ bản và chuyên sâu trong công tác pháp chế doanh nghiệp đối với các cán bộ làm công tác pháp chế tại các Bộ, ngành và địa phương, qua đó, góp
4Tính đến ngày 15/10/2017 theo số liệu của Ban Quản lý Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2015-2020
Trang 40phần tăng cường năng lực chuyên môn cho đội ngũ này trong triển khai thực hiện nhiệm
vụ
Xây dựng và phát sóng thường xuyên Chương trình Kinh doanh và Pháp luật trên Đài truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam từ tháng 7/2012 đến nay
(800 chuyên đề “Kinh doanh và pháp luật” trên Đài tiếng nói Việt Nam và 200
chuyên đề trên Đài truyền hình Việt Nam); thực hiện xây dựng và duy trình mạng lưới tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp tại 30 tỉnh, thành phố trên cả nước
Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn
2010-2014 đã xây dựng và phát hành “Cẩm nang công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp”;
“Cẩm nang pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp Tập 1, Tập 2” với số lượng 6.000
bản phát hành miễn phí cho các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp doanh nghiệp
Hoạt động hội thảo, tọa đàm, diễn đàn về các chuyên đề pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng đã hỗ trợ các doanh nghiệp kịp thời tiếp cận thông tin, cập nhật các chính sách, văn bản, các vấn đề pháp lý mang tính thời sự, kiến thức pháp luật kinh doanh, đồng thời được trao đổi kinh nghiệm thực tiễn với các nhà quản lý, chuyên gia, góp phần phòng tránh rủi ro pháp lý, hoạch định các chiến lược đầu tư, kinh doanh phù hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác, hoạt động này cũng đã thiết lập được diễn đàn trao đổi đa chiều, tạo điều kiện để cơ quan quản lý nhà nước lắng nghe, tiếp thu ý kiến phản hồi từ phía doanh nghiệp, qua đó, có những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện chính sách, khắc phục những lỗ hổng trong hệ thống pháp luật kinh doanh của Việt Nam
Việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cũng đã cung cấp các thông tin pháp lý cơ bản liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó chú trọng việc tuyên truyền những thay đổi của pháp luật kinh doanh hiện hành, phân tích tác động của sự thay đổi pháp luật đó đối với hoạt động của doanh nghiệp Đồng thời, Chương trình đã cung cấp thực tiễn pháp lý trong kinh doanh (dưới hình thức phóng