Vai trò của thanh tra thể hiện trên những điểm sau: Thứ nhất, thanh tra có vai trò trong việc hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật Hoạt động thanh tra, theo quy định của Luậ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC `VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
THANH TRA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG -
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, kết quả nghiên cứu luận văn là độc lập Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm./
Hà Nội, tháng 01 năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Mạnh Dũng
Trang 4- Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Hữu Chí, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ, động
viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Nhân dịp này tôi xin được chân thành cảm ơn đến các đồng chí Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, cùng tất cả các thầy cô giáo giảng viên Viện Đại Học Mở Hà Nội, các cơ quan, doanh nghiệp đã hỗ trợ, đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp số liệu, tư liệu và nhiệt tình đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình nghiên cứu
- Cảm ơn các bạn đồng nghiệp, bạn bè, gia đình đã động viên, khích lệ và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót; tác giả rất mong nhận được sự thông cảm, chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của quý thầy cô, các cán bộ quản lý và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 01 năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Mạnh Dũng
Trang 5MỤC LỤC
2 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TRA VÀ
THANH TRA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG 5
8 1.1.5 Mục đích thanh tra, nguyên tắc hoạt động thanh tra 8
9 1.2 Khái quát về thanh tra thực hiện pháp luật lao động 9
10 1.2.1 Khái niệm thanh tra thực hiện pháp luật lao động 9
11 1.2.2 Đặc điểm thanh tra thực hiện pháp luật lao động 10
12 1.2.3 Tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động 11
13 1.3 Nội dung cơ bản của thanh tra thực hiện pháp luật lao động 14
14 1.4 Quan niệm của thế giới về thanh tra lao động 16
15 1.4.1 Thanh tra lao động theo quan niệm của ILO 16
16 1.4.2 Mô hình thanh tra lao động của một số quốc gia 18
17 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THANH TRA THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 24
18 2.1 Thanh tra về việc làm, đào tạo, tuyển dụng 24
19 2.1.1 Thanh tra thực hiện pháp luật lao động về việc làm, đào tạo,
20 2.1.2 Những hạn chế, bất cập trong thực hiện pháp luật lao động về
21 2.2 Thanh tra về hợp đồng lao động (HĐLĐ) 27
22 2.2.1.Thanh tra thực hiện pháp luật lao động về hợp đồng lao động 27
Trang 623 2.2.2 Một số vướng mắc, bất cập trong thực hiện pháp luật lao
24 2.3 Thanh tra về vai trò công đoàn và thỏa ước lao động tập thể 30
25 2.3.1 Thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động về đối thoại,
thương lượng tập thể và thỏa ước lao động tập thể 30
26 2.3.2 Một số vướng mắc trong thực hiện pháp luật về đối thoại,
thương lượng tập thể và thỏa ước lao động tập thể 33
27 2.4 Thanh tra thực hiện quy định về tiền lương 34
28 2.4.1 Thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động về tiền lương 34
29 2.4.2 Một số vướng mắc trong thực hiện pháp luật lao động về tiền
30 2.5 Thanh tra việc thực hiện quy định về thời giờ làm việc, thời
31 2.5.1 Thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động về thời giờ làm
32 2.5.2 Một số vướng mắc trong thực hiện pháp luật lao động về thời
33 2.6 Thanh tra thực hiện quy định về kỷ luật lao động và trách
34 2.6.1 Thực trạng việc thực hiện pháp luật lao động về kỷ luật lao
35 2.6.2 Một số vướng mắc trong thực hiện pháp luật lao động về kỷ
36 2.7 Thanh tra thực hiện quy định về công tác an toàn lao động
37 2.7.1 Thực trạng việc thực hiện pháp luật lao động về an toàn lao
38 2.7.2 Một số hạn chế vướng mắc trong thực hiện pháp luật lao
39 2.8 Nguyên nhân của những vi phạm pháp luật lao động trong
40 2.8.1 Nguyên nhân từ hệ thống văn bản pháp luật 45
Trang 741
2.8.2 Nguyễn nhân từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước và cơ
quan thanh tra lao động trong giám sát thực hiện pháp luật lao động
của các doanh nghiệp
45
42 2.8.3 Nguyên nhân từ phía các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện pháp
43
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THANH TRA THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT LAO ĐỘNG Ở DOANH NGHIỆP
50
44 3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 50
45 3.1.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động 50
46 3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về Thanh tra thực hiện pháp luật lao động 53
48 3.1.2.2 Hoàn thiện pháp luật về thanh tra lao động 55
49 3.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thanh tra thực hiện
50 3.2.1 Tăng cường hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về lao động 56
51 3.2.2 Nâng cao ý thức trách nhiệm của người sử dụng lao động 57
52 3.2.3 Nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động 58
53 3.2.4 Tăng cường năng lực đội ngũ Thanh tra lao động 58
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TBXH: Thương binh xã hội
BHXH: Bảo hiểm xã hội
BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp
BHYT: Bảo hiểm y tế
Trang 9MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất
và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước Vì vậy, các quy định về lao động - trong đó có pháp luật lao động - có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống
xã hội
Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và của người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất, vì vậy có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật của quốc gia
Hệ thống pháp luật lao động nước ta ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, tuy nhiên để đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống một cách sâu rộng đòi hỏi Thanh tra lao động phải đóng vai trò chủ chốt trong việc xây dựng ý thức về công bằng và gắn kết xã hội Trong quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động
sự yếu thế thuộc về người lao động; Người sử dụng lao động vì lợi ích kinh tế, luôn muốn tiết giảm chi phí, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của người lao động Một thực tế hiện nay khi quyền và nghĩa vụ của cả hai bên ngày càng được
mở rộng thì những dấu hiệu vi phạm lại có chiều hướng gia tăng dẫn đến tình trạng tranh chấp lao động, đình công, ngừng việc tập thể, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp có diễn biến phức tạp
Với 471 Thanh tra viên, công chức thanh tra lao động (số liệu báo cáo của Bộ
Lao động - TBXH tính đến 30/4/2013) có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ các hoạt động
thanh tra trong cả nước; với khoảng 365.000 doanh nghiệp đang hoạt động (Đề án nâng cao năng lực thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đến năm
2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2155/QĐ-TTg ngày 11/11/2013), năm 2013 toàn quốc xảy ra 6.695 vụ tai nạn lao động, làm 6.887 người bị nạn, số người chết là 672 người, 1.506 người bị thương nặng, gây thiệt hại
về vật chất là hơn 71 tỷ đồng, thiệt hại về tài sản là 6,27 tỷ đồng, tổng số ngày nghỉ
do tai nạn lao động là 153.658 ngày; năm 2013 toàn quốc cũng để xảy ra gần 2.700
Trang 10vụ cháy nổ, làm chết trên 100 người, bị thương gần 200 người, thiệt hại tài sản gần
1.700 tỷ đồng (số liệu do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội công bố tại cuộc
họp báo ngày 26/2/2014 hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia về An toàn- Vệ sinh lao động- Phòng chống cháy nổ lần thứ 16) là những con số biết nói làm bất cứ ai trong chúng
ta cũng phải sót xa, suy nghĩ
Với chức năng thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động Thời gian qua, Thanh tra lao động các cấp đã nỗ lực, tích cực tham mưu, giúp Thủ trưởng cơ quan cùng cấp thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước Hàng năm, thanh tra đã phát hiện, kiến nghị hàng ngàn hành vi sai phạm, xử
lý hàng trăm hành vi vi phạm pháp luật thu về cho ngân sách nhà nước gần trăm tỷ đồng, đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy phạm pháp luật liên quan đến cơ chế, chính sách đảm bảo phù hợp với thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước của ngành
Tuy đã đạt được một số kết quả nhất định, song từ hoạt động thực tiễn cho thấy công tác thanh tra pháp luật lao động của ngành Lao động- Thương binh và Xã hội đã và đang bộc lộ những hạn chế, bất cập trước xu thế phát triển nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là trước yêu cầu của nhiệm vụ chính trị được giao trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài, mục đích và kết quả đạt được còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình hiện nay Vì vậy câu hỏi đặt ra cho chúng ta là “Tại sao?” và phải “Làm gì?”
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trước sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt trước đòi hỏi của cơ chế thị trường
và hội nhập quốc tế, hệ thống cơ quan thanh tra lao động toàn quốc nói chung cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, trong đó việc hoàn thiện pháp luật lao động và củng cố tổ chức làm công tác thanh tra pháp luật lao động là vấn đề đặt ra cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
Vì vậy, nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong
lĩnh vực lao động, tôi xin chọn đề tài: “Thanh tra thực hiện pháp luật lao động -
Thực trạng và giải pháp”,làm Luận văn nghiên cứu của mình, đây là nhiệm vụ khó
khăn, phức tạp, nhưng có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc
Trang 112 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, công trình nghiên cứu, đề tài khoa học và bài viết liên quan đến thanh tra ngành Lao động
- Thương binh và Xã hội, trong đó đáng lưu ý là một số công trình sau: “Hoàn thiện
pháp luật thanh tra trong giai đoạn hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học của Nguyễn
Thị Thương Huyền (2009); “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động -
Thương binh và Xã hội, thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ Luật học của
Nguyễn Thị Hồng Diệp (2009); “Thanh tra lao động theo pháp luật lao động Việt
Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học của Đỗ Thị Thu Hiền (2011); “Các điều kiện và giải pháp để chuyển phương thức thanh tra theo đoàn sang Thanh tra viên phụ trách vùng”, Đề tài cấp Bộ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội do TS Bùi Sĩ
Lợi chủ nhiệm (2003); “ Nâng cao năng lực hệ thống thanh tra ngành Lao động -
Thương binh và Xã hội”, Đề án của Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã
hội (2005); “ Vai trò của thanh tra lao động trong việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp”, TS Bùi Sĩ Lợi (2006), Tạp chí Lao động và Xã hội và đặc biệt
là “ Đề án nâng cao năng lực thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
đến năm 2020” của Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2155/QĐ-TTg ngày 11/11/2013… Ngoài ra còn nhiều bài viết trên các báo, tạp chí và trang website cũng phản ánh về vấn đề này…
Tính đến nay, có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu Thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những kết quả đã đạt được của các công trình trước đó, luận văn này sẽ đưa ra những lý luận cơ bản nhất về thanh tra, thanh tra lao động, thương binh, xã hội và thực trạng hoạt động của thanh tra lao động trong thời gian gần đây, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động, hoạt động thanh tra lao động nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lao động trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là thông qua việc nghiên cứu thực tiễn công tác thanh tra lao động trong thời gian qua tìm ra những điểm còn hạn chế, yếu kém, từ đó đưa
Trang 12ra những đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực hiệu quả của hoạt động thanh tra pháp luật lao động trong các doanh nghiệp
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề về thanh tra và thanh tra thực hiện pháp luật lao động;
- Phân tích làm rõ thực tiễn hoạt động của thanh tra lao động tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc yếu kém trong thực tiễn hoạt động của thanh tra pháp luật lao động tại các doanh nghiệp;
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống thanh tra pháp luật lao động, về pháp luật lao động và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra pháp luật lao động
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về thanh tra thực hiện pháp luật lao động Luận văn đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật về thanh tra thực hiện pháp luật lao động
Do điều kiện thực hiện nghiên cứu hạn chế về thời gian và số liệu, Luận văn nghiên cứu về thực trạng thực thi pháp luật về thanh tra thực hiện pháp luật lao động trong giai đoạn từ khi có Bộ luật Lao động năm 2012 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mácxít; quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh đối chiếu và quy nạp, diễn dịch trong các nội dung phù hợp
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về thanh tra và thanh tra thực hiện pháp luật lao động Chương 2: Thực trạng thanh tra thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thanh tra thực
hiện pháp luật lao động
Trang 13CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNGVỀ THANH TRA VÀ THANH TRA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
1.1 Khái quát về thanh tra
1.1.1 Khái niệm thanh tra
Theo từ điển tiếng Việt: Thanh tra (người thuộc cơ quan có thẩm quyền) kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp) với nghĩa này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm “xem xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định” Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm vụ thanh tra”, “Đoàn thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”1
Hiện nay, cũng như trong lịch sử nước ta được thể hiện “thanh tra” với mức độ khác nhau qua mô hình các cơ quan nhà nước và các quy định của Hiến pháp và pháp luật:
Thời kỳ sau 2/9/1945
Sau khi giành độc lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, thuật ngữ “thanh tra” xuất hiện, quyền thanh tra được xác định và chính thức giao cho Chính phủ
Hiến pháp 1946 chưa sử dung thuật ngữ “thanh tra”, hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được giao cho một cơ quan chuyên trách nào, quyền kiểm soát đối với Chính phủ được giao cho Ban thường vụ của Nghị viện
Hiến pháp 1959 đã đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành các quyết định quản lý nhà nước.2
Hiến pháp 1980 sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với nội dung là một chức năng
của cơ quan quản lý nhà nước.3
Khoản 15 Điều 107 quy định thẩm quyền của Hội đồng bộ trưởng “Tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra
và kiểm tra của Nhà nước”
Trang 14Hiến pháp 1992: Khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ hơn tại các Điều 112,115,116 và 124; Khoản 7 Điều 112 quy định Chính phủ có nhiệm vụ: “Tổ
chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra,
kiểm tra nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác
giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân”
1.1.2 Đặc điểm của thanh tra
- Thanh tra lao động gắn liền với quản lý nhà nước, với tư cách là một chức
năng, là một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước, thanh tra gắn liền với quản
lý nhà nước; tất cả các giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước đều phải thông qua thanh tra, kiểm tra để có thông tin đầy đủ, chính xác
- Thanh tra luôn mang tính quyền lực nhà nước, là một chức năng của quản
lý nhà nước, thanh tra phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý Thanh tra là một hoạt động luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước Chủ thể tiến hành thanh tra luôn luôn là
cơ quan nhà nước Thanh tra luôn luôn áp dụng quyền năng của Nhà nước trong quá trình tiến hành hoạt động của mình và nó nhân danh Nhà nước khi áp dụng quyền năng đó
- Thanh tra có tính độc lập tương đối, đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ
bản chất của thanh tra, đặc điểm này phân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng khác của bộ máy quản lý nhà nước
1.1.3 Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra
Gồm: Cơ quan thanh tra nhà nước và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành;
Tại Điều 3 Luật thanh tra 2010, quy định:
- Thanh tra nhà nước
Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
- Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành
Trang 15Là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực, bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành
Các cơ quan thanh tra theo cấp hành chính chỉ thực hiện hoạt động thanh tra hành chính, còn các cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực thì vừa thực hiện thanh tra hành chính, vừa thực hiện thanh tra chuyên ngành
Như vậy, bộ máy thanh tra là hệ thống các cơ quan thanh tra từ trung ương đến địa phương, có mối liên hệ với nhau trong công tác thanh tra, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp, đồng thời chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Tổng Thanh tra về tổ chức và hoạt động thanh tra
1.1.4 Vị trí, vai trò của thanh tra
Nói tới vai trò của thanh tra là nói tới những tác động, ảnh hưởng của thanh tra đối với quản lý nhà nước, đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động của mình; đối với xã hội thông qua việc thực hiện chức năng thanh tra Vai trò của thanh tra thể hiện trên những điểm sau:
Thứ nhất, thanh tra có vai trò trong việc hoàn thiện cơ chế quản lý, chính
sách, pháp luật
Hoạt động thanh tra, theo quy định của Luật Thanh tra, nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Các thông tin cung cấp cho chủ thể quản lý qua hoạt động thanh tra càng chính xác, đúng đắn thì các chủ thể quản
lý nhà nước càng sửa chữa các khuyết điểm trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong tổ chức thực hiện pháp luật chính xác và có chất lượng Chính vì vậy, thanh tra cũng làm cho chu trình quản lý nhà nước khép kín, từ hoạt động ban hành, tổ chức thực hiện đến kiểm tra việc thực hiện các quyết định quản lý và phục
vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước
Thứ hai, thanh tra là phương thức đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ
luật nhà nước
Trang 16Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc quản lý nhà nước rất quan trọng, thiếu nó quản lý nhà nước sẽ rơi vào tình trạng rối loạn Pháp chế còn được hiểu là chế độ hoạt động của Nhà nước mà trong đó mọi quy định của pháp luật đều được mọi cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân thực hiện nghiêm túc Việc bảo đảm pháp chế sẽ không có ý nghĩa nếu kỷ luật nhà nước không được tuân thủ một cách nghiêm minh Thông qua công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, cơ quan thanh tra kịp thời phát hiện, kết luận và kiến nghị xử lý
cơ quan hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật Qua đó tạo ra cơ chế kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước trong hoạt động hành chính, khắc phục tình trạng thiếu trật tự, kỷ cương nhằm ngăn chặn và xử lý nghiêm minh mọi hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, nâng cao trách nhiệm của cơ quan,
tổ chức
Thứ ba, thanh tra góp phần phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức và công dân
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là một chức năng quan trọng của Nhà nước pháp quyền, một trong những tiêu chí đánh giá mức độ dân chủ Trong sự nghiệp đổi mới, Nhà nước đảm bảo duy trì trật tự kỷ cương trong quản lý nhà nước, tạo điều kiện quan trọng để thực hiện đầy đủ quyền con người, quyền công dân mà Hiến pháp ghi nhận thông qua hoạt động thanh tra thực hiện quyền lực nhà nước, trong hệ thống hành chính của cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức; thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo và thanh tra việc thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo Hoạt động thanh tra góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường với sự bùng nổ về số lượng doanh nghiệp và quy luật cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường Luật Thanh tra đã quy định nguyên tắc "không làm cản trở hoạt động bình thường, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật”
1.1.5 Mục đích thanh tra, nguyên tắc hoạt động thanh tra
- Mục đích thanh tra
Mục đích thanh tra là nội dung quan trọng đã được pháp luật thanh tra trước đây đề cập, song từ yêu cầu công tác quản lý cho nên trong mỗi giai đoạn cụ thể mục đích của thanh tra có sự thay đổi nhất định Nếu như Luật thanh tra năm 2004
Trang 17đề cao mục đích thanh tra là phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thì Luật thanh tra năm 2010 đã thể hiện rõ hơn mục đích thanh tra theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thanh tra là tai mắt của trên, là bạn của dưới” Hơn nữa, với vai trò là công cụ của quản lý nhà nước, mục đích chủ yếu của hoạt động thanh tra là giúp chủ thể quản lý nhà nước kiểm soát và bảo đảm cho các đối tượng quản lý chấp hành đúng chính sách, pháp luật, chứ không chỉ là tìm ra vi phạm để xử lý, cho nên Luật thanh tra năm 2010 đã xác định hoạt động thanh tra ngoài việc phát hiện, xử lý những sai phạm; kiến nghị việc khắc phục, hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật còn có mục đích là giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng các quy định của pháp luật, nhất là các doanh nghiệp, hộ kinh doanh Đây cũng là xu hướng chung của hoạt động thanh tra trên thế giới hiện nay
- Nguyên tắc hoạt động thanh tra
Nguyên tắc hoạt động thanh tra là cơ sở và tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình thực hiện hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra nhà nước Chính vì vậy pháp Luật thanh tra đã quy định nguyên tắc hoạt động thanh tra là: Tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không trùng lắp về phạm vi, đối tượng nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra
1.2 Khái quát về thanh tra thực hiện pháp luật lao động
1.2.1 Khái niệm thanh tra thực hiện pháp luật lao động
Như vậy, thanh tra là một nội dung của quản lý nhà nước Thanh tra nhà nước về lao động là một trong những dạng thanh tra chuyên ngành của cơ quan của Chính phủ, được sử dụng nhằm thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực luật lao động.4 Thanh tra nhà nước về lao động thực hiện công tác thanh tra với ba nội dung lớn là:
- Thanh tra chính sách lao động;
- Thanh tra an toàn lao động;
- Thanh tra vệ sinh lao động.5
Trang 18Thanh tra lao động đóng vai trò thiết yếu trong quản lý nhà nước về lao động Với mục đích của thanh tra lao động là phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật lao động; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật để kiến nghị nhà nước biện pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về lao động.Trong thanh tra lao động thì việc thanh tra thực hiện pháp luật lao động chiếm vị trí trung tâm, chủ yếu bởi liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Trên cơ sở khái niệm thanh tra nhà nước, có thể đưa ra khái niệm thanh tra lao động như sau:
Thanh tra lao động là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà
nước về lao động đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, chính sách, pháp luật lao động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý lao động theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật lao động và pháp luật khác liên quan quy định6
Còn thanh tra thực hiện pháp luật lao động có phạm vi hẹp hơn: Thanh tra
thực hiện pháp luật lao động là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý
nhà nước về lao động đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật lao động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý lao động theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật lao động và pháp luật khác liên quan quy định7
Như vậy, thanh tra thực hiện pháp luật lao động có phạm vi hẹp hơn thanh tra lao động nói chung
1.2.2 Đặc điểm của thanh tra thực hiện pháp luật lao động
Tìm hiểu đặc điểm của thanh tra pháp luậtlao động có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về thanh tra nói chung và thực hiện pháp luật lao động nói riêng Thanh tra thực hiện pháp luật lao động có những đặc điểm chung của thanh tra lao động Những đặc điểm này không chỉ giúp chúng ta nhận diện đúng đắn về vị trí của thanh tra thực hiện pháp luật lao động mà còn là cơ sở lý luận khoa học để đánh giá thực trạng pháp luật, từ đó có định hướng rõ ràng cho những
Trang 19giải pháp hoàn thiện pháp luật về Thanh tra lao động, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động nói riêng, pháp luật quốc gia nói chung
Thứ nhất: Pháp luật lao động là pháp luật chuyên ngành, do đó các quy định
về Thanh tra thực hiện pháp luật lao động vừa đảm bảo tính chuyên môn vừa phải phù hợp với các quy định của pháp luật về Thanh tra;
Thanh tra thực hiện pháp luật lao động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp Đối tượng Thanh tra lao động cũng là đối tượng quản lý, nội dung thanh tra phụ thuộc vào nội dung quản lý của Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Giám đốc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội Tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động vừa đảm bảo thực hiện đúng các quy định của pháp luật thanh tra, vừa đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật chuyên ngành
Thứ hai: Nội dung thanh tra chính là các nội dung được quy định trong Bộ luật
Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động (các quy định về tuyển dụng, đào tạo, hợp đồng lao động, tiền công, tiền lương, thời giờ làm việc nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động…);
Thứ ba: Pháp luật về Thanh tra lao động mang tính thủ tục chặt chẽ
Thanh tra nói chung và Thanh tra lao động nói riêng là hoạt động được thực hiện theo một trình tự, thủ tục rất chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả của hoạt động một cách chính xác, khách quan Để tiến hành một cuộc thanh tra lao động, pháp luật lao động quy định thủ tục hết sức chặt chẽ từ khâu ra quyết định thanh tra đến việc chỉ đạo, báo cáo ra kết luận và xử lý kết luận thanh tra
Thứ tư: Thanh tra về thực hiện pháp luật lao động gắn liền với pháp luật khiếu
nại, tố cáo và pháp luật phòng chống tham nhũng
Ngoài nhiệm vụ thanh tra, Thanh tra lao động có nhiệm vụ rất quan trọng là giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động.8
1.2.3 Tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động
Tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động được khái quát như sau:
Thứ nhất, Thanh tra lao động trước năm 2004 (1945- 2004)
8
Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Lao động, nxb Công an nhân dân, tr.153
Trang 20- Giai đoạn 1945- 1954:
Nhận thức sâu sắc vai trò của công tác thanh tra đối với hoạt động quản lý nhà nước, Hồ Chủ Tịch ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban thanh tra đặc biệt Trên cơ
sở đó, Bộ Lao động đã thành lập Ban Thanh tra lao động (Nha Thanh tra lao động),
có nhiệm vụ giúp Bộ lao động nghiên cứu xây dựng chính sách, hướng dẫn chỉ đạo thực hiện đồng thời tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thi hành các chính sách, luật lệ lao động, việc sử dụng lao động và chính sách người lao động
Ngày 12/3/1947, Hồ Chủ Tịch ký Sắc lệnh 29-SL trong đó có quy định về thành lập ngạch thanh tra và kiểm soát lao động trong Bộ Luật Lao động, Sắc lệnh
số 95-SL ngày 13/8/1949 chính thức đặt hai ngạch thanh tra và kiểm soát lao động, Sắc lệnh còn quy định rõ quyền và trách nhiệm của Thanh tra lao động, kiểm soát lao động
- Giai đoạn 1955- 1975:
Thanh tra được tổ chức thành các phòng thanh tra, pháp chế, bảo hộ lao động
và phòng lao tư Năm 1964, Thanh tra kỹ thuật an toàn chính thức được thành lập với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực
an toàn lao động theo Nghị định số 187-CP ngày 18/12/1964
- Giai đoạn 1976 - 2004:
Bộ Lao động và Bộ Thương binh- Xã hội sáp nhập thành Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội Ban thanh tra Lao động và Xã hội được thành lập trên cơ
sở sáp nhập Ban thanh tra Lao động và Ban thanh tra Thương binh và Xã hội của
Bộ Lao động và Bộ Thương binh- Xã hội Ngày 01/4/1991, Pháp lệnh thanh tra ra đời quy định rõ thanh tra của các Bộ, ngành nằm trong hệ thống Thanh tra nhà nước, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ, ngành Đây là văn bản mở đầu một giai đoạn phát triển mới của ngành thanh tra Giai đoạn này Thanh tra Bộ tách thành hai đơn vị độc lập là Thanh tra chính sách lao động- xã hội
và Thanh tra kỹ thuật an toàn và bảo hộ lao động Đến năm 2003, khi Nghị định số 29/CP ngày 31/3/2003 được ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
tổ chức bộ máy Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội thì Thanh tra Bộ mới trở thành một tổ chức thanh tra duy nhất gọi là Thanh tra Bộ Lao động- Thương binh và
Trang 21Xã hội với chức năng do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quy định tại Quyết định số 1118/2003/QĐ-BLĐTBXH ngày 10/9/2003 của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ
Thứ hai, Thanh tra lao động từ năm 2004 đến 2010
Luật Thanh tra 2004 được ban hành với tinh thần nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra, là công cụ pháp lý để kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan thanh tra, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo thực thi pháp luật trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, đặc biệt là công cuộc phòng chống tham nhũng Các quy định cơ bản về mục đích thanh tra, nguyên tắc thanh tra, hình thức thanh tra, phương thức thanh tra, trình tự, thủ tục thanh tra, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra, Thanh tra viên, cộng tác viên… đã được ghi nhận, là cơ
sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thanh tra Trên cơ sở Luật Thanh tra 2004, Nghị định số 31/2006/NĐ-CP ngày 29/3/2006 của Chính phủ quy định về tổ chức hoạt động của Thanh tra Lao động- Thương binh và Xã hội được ban hành Đây được coi là Nghị định về thanh tra chuyên ngành Lao động- Thương binh và Xã hội; Quyết định số 148/2008/QĐ-LĐTBXH ngày 22/01/2008 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ; Quyết định số 599/QĐ-BLĐTBXH ngày 29/4/2008 của Bộ trưởng về việc bổ nhiệm Chánh Thanh tra Bộ, Quyết định số 02/2006 ngày 16/02/2006 ban hành quy chế hoạt động Thanh tra Nhà nước về lao động theo phương thức Thanh tra viên phụ trách vùng; Quyết định số 01/2006 ngày 16/02/2006 ban hành quy chế sử dụng phiếu tự kiểm tra thực hiện pháp luật lao động…
Thứ ba, Thanh tra lao động từ năm 2010 đến nay
Luật thanh tra năm 2004 đã góp một phần rất quan trọng trong công tác quản
lý nhà nước, tuy nhiên trong quá trình thực hiện đã bộc lộ một số nhược điểm như chưa luật hóa chức năng đấu tranh phòng chống tham nhũng, tổ chức bộ máy chưa khoa học, còn chồng chéo; mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong hoạt động thanh tra chưa được quy định rõ Để đáp ứng tốt nhiệm vụ thanh tra trong thời kỳ mới, ngày 15/11/2010 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Thanh tra 2010 trong đó có quy định: về thanh tra viên, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành; người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên
Trang 22ngành; hai khái niệm cơ bản là “thanh tra hành chính” và “thanh tra chuyên ngành” cũng được sửa đổi, bổ sung nhằm phân biệt rõ hai loại hoạt động này Hoạt động thanh tra chuyên ngành có những đặc điểm đó là do các cơ quan có chức năng quản
lý nhà nước về ngành, lĩnh vực tiến hành (như Bộ, Sở, Thanh tra bộ, Thanh tra sở),
cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành (Tổng cục, Cục thuộc bộ, Chi cục thuộc sở); Đối tượng thanh tra chuyên ngành là mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành; Nội dung của thanh tra chuyên ngành là xem xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn, kỹ thuật, qui tắc quản lý của ngành Khi xem xét, các cơ quan tiến hành có quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm
Trên cơ sở Luật Thanh tra 2010, Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra; Nghị định
số 106/2012/NĐ-CP ngày 20/12/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Nghị định số 39/2013/NĐ-CP ngày 24/4/2013 của Chính phủ quy định về tổ chức hoạt động của Thanh tra ngành Lao động- Thương binh và Xã hội được ban hành Thanh tra lao động là một loại của thanh tra ngành Lao động - Thương binh và
Xã hội, một nội dung thanh tra chuyên sâu vào lĩnh vực lao động, bao gồm thanh tra
về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, vệ sinh lao động Do đó, Thanh tra lao động hoạt động không nằm ngoài mục đích thanh tra của Thanh tra Lao động- Thương binh và Xã hội, không vượt quá chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Thanh tra Lao động- Thương binh và Xã hội và hoạt động nhằm phát huy vai trò của thanh tra nói chung và Thanh tra lao động nói riêng
1.3 Nội dung cơ bản của thanh tra thực hiện pháp luật lao động
Thanh tra lao động là thanh tra chuyên ngành Lao động-Thương binh và Xã hội; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về lao động; điều tra tai nạn lao động và những vi phạm an toàn lao động,
vệ sinh lao động; tham gia hướng dẫn áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về điều kiện lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động; giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về lao động theo quy định của pháp luật;
Trang 23Để thực hiện quản lý nhà nước về lao động, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể tham gia quan hệ lao động, Bộ luật Lao động 1994 dành một chương (Chương XVI) quy định về Thanh tra nhà nước về lao động, xử phạt vi phạm pháp luật lao động với 07 điều quy định về Thanh tra lao động Một số quy định về Thanh tra lao động được sửa đổi, bổ sung trong Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Lao động năm 2002, các quy định này bao gồm: quy định chức năng của Thanh tra nhà nước về lao động (Điều 186), nhiệm vụ chủ yếu của Thanh tra nhà nước về lao động (Điều 187), quyền của Thanh tra viên (Điều 187), những việc Thanh tra viên không được làm (Điều 188 Bộ luật Lao động), cơ chế phối hợp thanh tra,…
Bộ luật Lao động 2012 cũng dành một chương (Chương XVI) quy định về nhiệm vụ thanh tra nhà nước về lao động (Điều 237 Bộ luật Lao động); Xử lý vi phạm trong lĩnh vực lao động (Điều 239 Bộ luật Lao động)
Trong nội dung thanh tra lao động thì thanh tra thực hiện pháp luật lao động chiếm vị trí quan trọng Để thực hiện vấn đề này, trước hết theo quy định tại Thông
tư số 17/2018/TT-BLĐTBXH do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành ngày 17/10/2018 Quy định về tự kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động của doanh nghiệp thì doanh nghiệp tự kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động, báo cáo kết quả tự kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động trực tuyến; trách nhiệm của người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và cơ quan Thanh tra nhà nước về lao động Theo đó, người sử dụng lao động phải tổ chức tự kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động tại cơ sở của mình ít nhất một lần trong năm nhằm đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật lao động và có giải pháp cải tiến việc tuân thủ Thời gian tự kiểm tra cụ thể do người sử dụng lao động quyết định Thời
kỳ tự kiểm tra: từ ngày đầu tiên tháng một dương lịch của năm trước đến thời điểm kiểm tra Các nội dung tự kiểm tra pháp luật lao động bao gồm:
- Việc thực hiện báo cáo định kỳ;
- Việc tuyển dụng và đào tạo lao động;
- Việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động;
- Việc đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể;
- Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi;
Trang 24- Việc trả lương cho người lao động;
- Việc tổ chức, thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động;
- Việc thực hiện các quy định đối với lao động nữ, lao động là người cao tuổi, lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, lao động là người nước ngoài;
- Việc xây dựng và đăng ký nội quy lao động; xử lý kỷ luật lao động, bồi thường trách nhiệm vật chất;
- Việc tham gia và trích đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế hàng tháng cho người lao động thuộc đối tượng phải tham gia;
- Việc giải quyết tranh chấp và khiếu nại về lao động;
- Nội dung khác mà người sử dụng lao động thấy cần thiết
Trên cơ sở kết quả tự kiểm tra này, cơ quan thanh tra lao động thực hiện các hoạt động thanh tra cần thiết
Với những quy định trên đây của pháp luật thì trong phạm vi thanh tra thực hiện pháp luật lao động, nội dung thanh tra bao gồm:
- Việc làm, tuyển dụng lao động và đào tạo;
- Hợp đồng lao động;
- Đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể;
- Tiền lương, thời giờ làm việc và nghỉ ngơi;
- An toàn, vệ sinh lao động;
- Thực hiện các quy định đối với lao động nữ, lao động là người cao tuổi, lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, lao động là người nước ngoài;
- Kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất trong quan hệ lao động
1.4 Quan niệm của thế giới về thanh tra lao động
1.4.1 Thanh tra lao động theo quan niệm của ILO
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) là cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc mưu cầu thúc đẩy sự công bằng xã hội, quyền lao động và quyền con người được công nhận trên bình diện quốc tế Với tư cách là thành viên của tổ chức này, Việt Nam đã phê chuẩn 16/187 Công ước, trong đó có Công ước số 81 về Thanh tra lao động trong công nghiệp và thương mại năm 1947 (Việt Nam phê chuẩn năm một 1994)
Trang 25Công ước 81 quy định về lĩnh vực Thanh tra lao động; chức năng của hệ thống Thanh tra lao động; quyền của Thanh tra viên lao động, những việc không được làm đối với Thanh tra viên lao động (Điều 15), về điều kiện tuyển dụng Thanh tra viên, điều kiện làm việc, về đào tạo… (Điều 7), về cơ chế đảm bảo cho hoạt động thanh tra (Điều 9), chế tài đối với việc vi phạm các quy định của pháp luật, cơ chế phối hợp hoạt động, cơ chế được thông tin, cơ chế báo cáo hàng năm về công tác thanh tra của cơ quan thanh tra…9
Công ước quy định mỗi nước thành viên của tổ chức lao động quốc tế mà tại
đó công ước này có hiệu lực, phải duy trì một hệ thống Thanh tra lao động trong các
cơ sở công nghiệp, cơ sở thương mại
Về chức năng của hệ thống Thanh tra lao động, Công ước quy định:
- Bảo đảm việc thi hành các quy định pháp luật về điều kiện lao động và về người lao động trong khi làm việc, như các quy định về thời giờ làm việc, tiền lương, an toàn, y tế và phúc lợi, việc sử dụng trẻ em và thiếu niên, và các mặt khác
có liên quan trong giới hạn trách nhiệm mà các Thanh tra viên lao động được giao
Về Thanh tra viên lao động, công ước quy định:
Các Thanh tra viên lao động mang theo những giấy tờ chứng minh về chức vụ của mình sẽ được quyền:
9
Công ước và khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế, NXB lao động-xã hội, 2012, tr 31
Trang 26- Tự do vào không phải báo trước, bất kể giờ nào, ngày cũng như đêm, bất cứ
cơ sở nào dưới quyền kiểm soát của thanh tra;
- Vào ban ngành tất cả các phòng ban mà họ có thể có lý do hợp lệ để cho rằng các phòng ban đó thuộc quyền kiểm soát của thanh tra
- Có quyền đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục những hư hỏng phát hiện thấy trong một thiết bị, một nhà xưởng hoặc những phương pháp làm việc mà Thanh tra viên có thể có lý do hợp lệ để coi là một mối đe dọa cho sức khỏe hay an toàn của người lao động
- Để đảm bảo thực hiện các biện pháp đó, Thanh tra viên có quyền ra lệnh hay
đề nghị ra lệnh về những sửa đổi cần thiết để bảo đảm việc tuân thủ những quy định pháp luật về vệ sinh và an toàn lao động; về việc phải có các biện pháp có hiệu lực tức thời trong các trường hợp có nguy cơ khẩn cấp đối với sức khỏe hay an toàn của người lao động; có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền ra lệnh hay ban hành những biện pháp có hiệu lực tức thời
Như vậy, công ước đã trao cho Thanh tra viên những quyền năng rất cụ thể và quy định cơ chế đảm bảo việc thực thi quyền năng đó nhằm mục đích cuối cùng là bảo vệ người lao động và cân bằng mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động
Là thành viên của Công ước, Việt Nam đã nội luật hóa các quy định của Công ước 81 thể hiện trong hệ thống pháp luật lao động nói chung và pháp luật về Thanh tra lao động nói riêng nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi và bảo vệ quyền lợi cho người lao động Các chính sách và các quy định của pháp luật lao động được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới, đồng thời cũng là để tương thích với các tiêu chuẩn lao động quy định trong các Công ước của ILO mà Việt Nam là thành viên
1.4.2 Mô hình thanh tra lao động của một số quốc gia
Trên thế giới, mô hình thanh tra chuyên ngành lao động được thiết lập khác nhau ở mỗi nước; Hệ thống thanh tra lao động thường được chia thành “thanh tra chung” và “thanh tra chuyên ngành” Các nước theo mô hình “thanh tra chung” như Pháp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha và các nước nói tiếng Pháp và tiếng Tây Ban
Trang 27Nha Mô hình này, thanh tra lao động có trách nhiệm rất rộng không chỉ đối với vấn
đề an toàn, vệ sinh lao động mà còn cả về các vấn đề về điều kiện lao động, tiền lương, lao động di cư, lao động bất hợp pháp,… Các nước theo mô hình Anglo-scăng đi na vi như Anh, Áo, các nước Bắc Âu, Ai len, Niu di lân, Thuỵ Điển có đặc điểm chung là các thanh tra lao động tập trung chủ yếu vào việc bắt buộc tuân thủ các quy định về sức khoẻ và an toàn lao động, phúc lợi và các điều kiện chung trong những quy định về lao động Có nước chỉ tập trung vào lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động, còn các vấn đề việc thực hiện chính sách lao động có một cơ chế giải quyết khác như Hoà giải, Trọng tài và Toà án
Một là, mô hình Thanh tra lao động ở Pháp
Cơ quan Thanh tra lao động từ trung ương đến địa phương chịu trách nhiệm thực hiện những chính sách do Ủy ban quan hệ lao động hoạt động dưới sự quản lý của Bộ trưởng soạn thảo, bao gồm:
- Tăng cường hệ thống phòng ngừa tai nạn nghề nghiệp;
- Củng cố đối thoại xã hội và đẩy mạnh thương lượng tập thể;
- Sự tiếp cận mới đối với các chính sách tiền lương;
- Đổi mới các dịch vụ sức khỏe nghề nghiệp;
Các lĩnh vực hoạt động chính của Thanh tra lao động Pháp là:
- Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc thực hiện pháp luật lao động;
- Hiểu và phòng ngừa kịp thời các hành động gây nguy hiểm trong lao động;
- Nâng cao kỹ năng các hoạt động phức tạp và bảo vệ các quan hệ lao động;
- Ngăn chặn các hình thức đối xử và phân biệt tại nơi làm việc
Nhiệm vụ của Thanh tra lao động Pháp là:
- Đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và các nguyên tắc liên quan đến điều kiện làm việc và bảo hộ lao động;
- Cung cấp thông tin, tư vấn kỹ thuật tới người lao động và người sử dụng lao động về các biện pháp hữu hiệu nhất để thực hiện các quy định có liên quan;
- Đối mặt với những yêu cầu của người sử dụng lao động;
- Ngăn ngừa các sự kiện có thể xảy ra như tai nạn lao động, tranh chấp tập thể…
Hiện nay, cả nước có khoảng 700 Thanh tra viên
Trang 28Hai là, mô hình Thanh tra lao động ở Áo
Về tổ chức Thanh tra lao động: gồm Thanh tra lao động ở Trung ương và Thanh tra lao động tiểu bang
Mỗi tiểu bang có ít nhất một cơ quan Thanh tra lao động Mỗi cơ quan Thanh tra lao động có một bộ phận thanh tra về vệ sinh lao động
Cơ quan Thanh tra lao động ở Trung ương là một bộ phận của Bộ kinh tế và lao động liên bang Cơ quan Thanh tra lao động này có 06 bộ phận được trao quyền thực hiện các hoạt động hợp tác và tổ chức tối cao gồm:
- Bộ phận xây dựng và mỏ, hành chính;
- Bộ phận các vấn đề kỹ thuật về an toàn, sức khỏe tại nơi làm việc;
- Bộ phận các vấn đề pháp lý;
- Bộ phận sức khỏe nghề nghiệp và vệ sinh nghề nghiệp;
- Bộ phận đổi mới Thanh tra lao động;
- Bộ phận các vấn đề quốc tế về an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc
Một khối lượng lớn các hoạt động đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn về kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp.Các Thanh tra viên, trong hai năm đầu tiên, phải tham gia khóa học về pháp luật, kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp và giao tiếp và phải đi thực tế sau kỳ thi cuối cùng
Ba là, mô hình Thanh tra lao động Liên bang Nga
Thanh tra lao động là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng, nhiệm vụ được quy định chi tiết tại Bộ luật Lao động Thanh tra viên được giải quyết mọi vấn đề pháp lý về lao động Cả nước có khoảng 4.000 Thanh tra viên
Bộ Luật Lao động quy định thẩm quyền của Thanh tra lao động như sau:
- Các quyền hạn được xác định trong Công ước số 81 của ILO và Hiệp ước năm 1995;
- Quyền thực hiện các biện pháp cưỡng chế bằng pháp luật như ban hành văn bản để phòng chống các vi phạm pháp luật;
- Áp dụng các biện pháp pháp luạt nhằm chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp trong trường hợp phát hiện nhiều vi phạm;
- Buộc chấp hành pháp luật hoặc phạt tiền trong trường hợp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng
Trang 29Những quy định liên quan đến hoạt động thanh tra:
- Thanh tra lao động phải báo cáo thường xuyên về hoạt động và liệt kê những thông số như số lượng các cuộc thanh tra và kết quả thanh tra, kết quả đánh giá những cuộc thanh tra;
- Thanh tra lao động phải tập hợp những người quản lý doanh nghiệp và tổ chức công đoàn nhằm thảo luận và phân tích những phát hiện trong cuộc thanh tra
và quyết định biện pháp nào sẽ được áp dụng
- Cứ hai tuần có 50 Thanh tra viên được huấn luyện;
- Báo cáo hàng quý bao gồm cả những thông tin về tất cả các cuộc Thanh tra lao động phải được gửi đến các doanh nghiệp, hiệp hội và người sử dụng lao động, công đoàn;
- Các dữ liệu được thu thập và các ấn phẩm được phát hành
Những kinh nghiệm có thể được áp dụng ở Việt Nam:
Tham khảo mô hình Thanh tra lao động ở một số nước kể trên có thể thấy rằng thanh tra chuyên ngành thực sự cần thiết và tồn tại không chỉ vì mục đích quản lý
mà còn vì những vấn đề gắn liền với con người và đời sống của người dân trong xã hội, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Tuy nhiên, do các nước này có xuất phát điểm về kinh tế - xã hội cao hơn Việt Nam nên Thanh tra lao động đã đạt đến trình độ phát triển nhất định cả về tổ chức
và hoạt động Thanh tra lao động được tổ chức thống nhất từ cơ quan Trung ương nằm trong Chính phủ chỉ đảm nhiệm chức năng thanh tra chuyên ngành về an toàn,
vệ sinh lao động và những vấn đề liên quan đến quan hệ lao động Số lượng Thanh tra viên cũng được tuyển dụng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Việt Nam có thể tham khảo những nội dung sau để áp dụng vào tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động:
- Thanh tra lao động được tổ chức từ trung ương đến địa phương dưới sự quản
lý thống nhất của một cơ quan Thanh tra lao động ở Trung ương Ở địa phương có thể tổ chức theo vùng hoặc theo địa giới hành chính tùy thuộc vào điều kiện kinh tế
- xã hội tại thời điểm nhất định (mô hình ở Áo) Ưu điểm của mô hình này là Thanh tra lao động được tổ chức thống nhất, việc chỉ đạo và báo cáo công tác có hệ thống, không bị chồng chéo chức năng, nhiệm vụ hoạt động giữa cơ quan thanh tra địa
Trang 30phương, vùng, trung ương Cơ quan thanh tra Trung ương làm đầu mối thực hiện việc tổng kết các kiến nghị sửa đổi bổ sung chính sách pháp luật và cơ quan này có trách nhiệm kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước về lao động có thẩm quyền giải quyết cao nhất
- Cơ quan Thanh tra lao động ở Trung ương chỉ thực hiện chức năng quản lý, hướng dẫn nghiệp vụ, cung cấp thông tin, kỹ thuật, tổng hợp báo cáo và nghiên cứu các vấn đề chuyên sâu về Thanh tra lao động nhằm nâng cao kỹ năng, hoạt động cho cả hệ thống thanh tra Việc thanh tra cụ thể tới các doanh nghiệp và xử phạt vi phạm trao quyền cho thanh tra địa phương (hoặc vùng) thực hiện (mô hình ở Áo)
- Hoạt động thanh tra không phải tổ chức theo đoàn hay bằng một quyết định của cơ quan có thẩm quyền, thay vào đó, Thanh tra viên lao động được vào bất kỳ đâu, bất kỳ nơi nào không phụ thuộc vào ngày hay đêm, miễn là trình thẻ Thanh tra viên theo quy định của Công ước số 81 (mô hình ở Nga)
- Thanh tra lao động Việt Nam đang được tổ chức theo “mô hình chung” là thực hiện những vấn đề liên quan đến an toàn, sức khỏe nơi làm việc, lao động trẻ
em hoặc lao động di cư hoặc tổ chức theo những lĩnh vực nhất định như Thanh tra lao động ngành xây dựng, ngành than, ngành khai thác mỏ (mô hình Pháp)
Tóm lại: Từ Chủ nghĩa Mác - Lê nin đến tư tưởng Hồ Chí Minh, từ các Văn
kiện của Đảng đến pháp luật của Nhà nước đều khẳng định vị trí, vai trò của thanh tra trong hoạt động quản lý nhà nước Hoạt động thanh tra không những có mục đích phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật mà còn phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục, đồng thời phát huy nhân tố tích cực, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Nằm trong hệ thống tổ chức thanh tra của ngành lao động, thương binh và xã hội, Thanh tra lao động đã thực sự là chiếc cầu nối giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp và người dân, xứng đáng “là tai mắt của trên, là người bạn của dưới” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huấn thị Với vị thế của mình, Thanh tra laođộng là công cụ không thể thiếu nhằm phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước của ngành lao động, thương binh và xã hội; góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương, tăng
Trang 31cường pháp chế và củng cố nguyên tắc quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Thanh tra lao động đã có những đóng góp quan trọng trong việc hoạch định chính sách và đảm bảo cho các chính sách, pháp luật của nhà nước, của ngành trong lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội được thi hành nghiêm chỉnh trên thực tế, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của ngành
Trang 32và phát triển bền vững, điều đó cũng giúp người lao động ổn định cuộc sống, yên tâm và gắn bó công việc;
Tuy vậy, quy mô hoạt động sản xuất, kinh doanh mỗi đơn vị, doanh nghiệp khác nhau, trình độ, năng lực quản lý của mỗi doanh nghiệp không giống nhau, vì thế việc chấp hành pháp luật lao động cũng khác nhau Trong khi phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tập đoàn, tổng công ty, các doanh nghiệp tiền thân là doanh nghiệp nhà nước luôn có ý thức chấp hành tốt pháp luật lao động, thì không ít các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có quy mô vừa và nhỏ việc chấp hành pháp luật pháp lao động còn nhiều hạn chế
Thực hiện công tác thanh tra trong lĩnh vực lao động trong những năm qua cho thấy tình hình chấp hành pháp luật lao động tại các doanh nghiệp như sau:
2.1 Thanh tra về việc làm, đào tạo, tuyển dụng
2.1.1 Thanh tra thực hiện pháp luật lao động về việc làm, đào tạo, tuyển dụng
Người lao động hiện nay luôn phát huy tốt quyền tự do tìm kiếm và lựa chọn việc làm Họ thường trực tiếp liên hệ với đơn vị, doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm để đăng ký tuyển dụng theo nguyện vọng, khả năng và trình độ nghề nghiệp, theo số liệu báo cáo của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội cho thấy trong năm 2017 cả nước giải quyết việc làm cho hơn 1,63 triệu người, đạt 102,48% kế hoạch, trong đó riêng tạo việc làm trong nước
Trang 33cho trên 1,5 triệu người, đạt 100,7% kế hoạch.Từ đầu năm 2018 đến nay, qua tahnh tra cho thấy, cả nước có khoảng 280.000 lao động được giải quyết việc làm, tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 56,5%, trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng chứng/chứng chỉ là 22%, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị ước tính là 3,12%10 Công tác đào tạo sau tuyển dụng cũng luôn được các công ty quan tâm, nhằm thích ứng yêu cầu công việc, các công ty thường tổ chức các khóa đào tạo hoặc tổ chức kèm cặp trực tiếp người lao động trên các phương tiện, dây chuyền sản xuất, cá biệt người lao động được tổ chức đào tạo ngoài nước Điển hình trong công tác này là các công ty nước ngoài nằm trong các khu kinh tế, họ tổ chức tuyển dụng trực tiếp theo hình thức công khai, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua giới thiệu của các trung tâm giới thiệu việc làm, quá trình làm việc nhiều lao động còn được các doanh nghiệp tổ chức cho đi đào tạo ở nước ngoài, như các công ty TNHH Yazaky, công ty TNHH Pioner (Nhật Bản); công ty TNHH Doosan (Hàn quốc) của Thành phố Hải Phòng11… Tuy nhiên, qua thanh tra cho thấy trong công tác này nhiều doanh nghiệp vẫn có những biểu hiện vi phạm là:
Thường xuyên đăng tuyển lao động để vào dạy nghề theo hình thức kèm cặp tại dây chuyền sản xuất trong một thời gian dài với mức tiền lương mang tính hỗ trợ, trong khi với công việc đó người lao động chỉ mất vài ngày để thuần thục công việc nhưng họ lại không được trả lương tương xứng như các công nhân chính thức khác, không được ký hợp đồng lao động và tất nhiên không được tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Điển hình cho tình trạng này là các doanh nghiệp làm hàng gia công cho người Trung Quốc, Đài Loan sản xuất giầy xuất khẩu như: công
ty TNHH Phúc Thuận (huyện Tiên Lãng); Công ty TNHH Phong Mậu (huyện Thủy Nguyên)12, Công ty May Lợi Tân (Khu Công nghiệp Tân Tạo – TPHCM), Công ty Vương Trần (quận 10-TPHCM), Công ty TNHH Hoàn Mỹ (quận Bình Thạnh –TPHCM13…
Nhiều doanh nghiệp muốn giữ chân người lao động, do đó ngay sau khi tuyển dụng đã giữ toàn bộ hồ sơ, giấy tờ, văn bằng, chứng chỉ gốc của người lao động làm
Trang 34ảnh hưởng đến cơ hội tìm kiếm, lựa chọn việc làm và ký kết hợp đồng lao động với những người sử dụng lao động khác như các công ty hoạt động trong lĩnh vực vận tải: công ty tacxi Trung Kiên (quận Ngô Quyền), công ty vận tải Vũ Gia (quận Kiến An) hay các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cơ khí đóng tàu: Công ty TNHH MTV Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Nam Triệu (Thủy Nguyên), công
ty đóng tàu Phương Việt (quận Hải An)14.Ngày 10/2/2015, Thanh tra Sở TB&XH Hà Nội đã ra văn bản kết luận số 87/LĐ-TB&XH-TTr về việc Thông báo kết quả thanh tra liên quan đến nội dung đơn khiếu nại về việc gữ bằng gốc của người lao động Theo đó, tại thời điểm thanh kiểm tra với hai nội dung (về tiền lương và thu giữ bằng gốc) công ty đã không đưa ra được minh chứng hợp pháp cho hành vi của mình15
LĐ-Phần lớn các doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất da giầy, dệt may, xây dựng thường vi phạm về thời gian và tiền lương trong khi thử việc, thậm chí hết thời gian thử việc lần đầu, qua nhận xét đánh giá họ lại tiếp tục thử việc lần hai nhằm lợi dụng sức lao động của người lao động để trục lợi cho doanh nghiệp;
2.1.2 Những hạn chế, bất cập trong thực hiện pháp luật lao động về việc làm, đào
tạo, tuyển dụng hiện nay
Qua công tác thanh tra thực hiện pháp luật lao động về việc làm cho thấy một
số hạn chế, bất cập sau đây: Bộ luật Lao động năm 2012 đã có hiệu lực từ 1/5/2013, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết những quy định về việc làm Các quy định về việc làm trong Bộ luật Lao động chỉ mang tính định hướng, chủ trương, quy định khung mà không thể hiện rõ quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, các tổ chức và cá nhân tham gia tạo việc làm
Một số chính sách hỗ trợ việc làm chưa được hướng dẫn cụ thể như: chính sách miễn giảm thuế để khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị và cá nhân tạo việc làm cho nhiều người lao động; chính sách cho các doanh nghiệp sử dụng đông lao động nữ vay vốn với lãi suất thấp để đào tạo và đào tạo lại lao động nữ; chính sách khuyến khích đưa nhiều lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đi
14
Nguồn: Sở Lao động thương binh xã hội Hải Phòng
15
Trang 35làm việc ở nước ngoài có thu nhập cao; đi làm việc tại các công trình, dự án do doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ở nước ngoài…
Quỹ quốc gia giải quyết việc làm ngày càng tập trung nhiều cho hộ gia đình vay vốn, ít hỗ trợ các doanh nghiệp để tạo thêm nhiều việc làm mới Các quy định
về Quỹ giải quyết việc làm chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời gây khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện
2.2 Thanh tra về hợp đồng lao động
2.2.1 Thanh tra thực hiện pháp luật lao động về hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động có vị trí quan trọng trong việc thiết lập và vận hành quan
hệ lao động, bảo đảm quyền lợi cho người lao động, giải quyết tranh chấp lao động
cá nhân và là công cụ pháp lý hữu hiệu để quản lý nhà nước
Kết quả thanh tra cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp và người lao động nhận thức được vai trò quan trọng của việc giao kết hợp đồng; số lao động giao kết hợp đồng lao động đạt khoảng 97,2%, trong đó công ty nhà nước đạt khoảng 98,8%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 96,4%; các doanh nghiệp khác đạt khoảng 96,7% Về hình thức hợp đồng lao động: hợp đồng không xác định thời hạn chiếm tỷ lệ khoảng 36,6%; hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng chiếm khoảng 46,8%; số còn lại là hợp đồng lao động mùa vụ chiếm khoảng 16,6% trong tổng số lao động giao kết hợp đồng lao động
Về cơ bản các doanh nghiệp đều thực hiện đúng cam kết ghi trong hợp đồng lao động và giải quyết các chế độ cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện người sử dụng lao động còn vi phạm một số hành vi liên quan đến công tác này như sau:
Không giao bản hợp đồng lao động cho người lao động sau khi ký; giao kết sai loại hợp đồng lao động còn diễn ra nhiều Tỷ lệ lao động ký loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân có tỷ lệ thấp, chiếm khoảng 20%; ký HĐLĐ xác định thời hạn nhiều hơn 2 lần liên tiếp; chỉ
ký HĐLĐ có thời hạn dưới 3 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên để trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
Trang 36tế16;áp dụng thời gian thử việc người lao động vượt quá thời gian quy định và hưởng tiền lương thấp hơn 85% mức tiền lương của người lao động làm việc chính thức; vi phạm các quy định về thanh toán khi chấm dứt hợp đồng như: không trả trợ cấp thôi việc, thanh toán tiền lương tương ứng với số ngày đã làm việc, thanh toán bằng tiền số ngày phép chưa nghỉ…
2.2.2 Một số vướng mắc, bất cập trong thực hiện pháp luật lao động về hợp đồng lao động
Qua công tác thanh tra thực hiện pháp luật hợp đồng lao động cho thấy một số vướng mắc, bất cập sau đây:
Thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động: Khoản 1 Điều 18 Bộ luật Lao động
quy định “Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và
người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động” Theo khoản 2 Điều 3
Bộ luật Lao động thì “Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức,
hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”
Với khái niệm người sử dụng lao động chung như vậy đã không chỉ rõ được ai
là người đại diện cho doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã làm “Người sử dụng lao động” Trong điều kiện có nhiều loại hình doanh nghiệp, trong đó có nhiều doanh nghiệp mà Giám đốc cũng được thuê mướn, có khá nhiều doanh nghiệp FDI mà ông chủ đích thực lại không ở Việt Nam Thì việc xác định ai là người sử dụng lao động để ký kết hợp đồng lao động với người lao động là rất cần thiết
Vấn đề hợp đồng lao động hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc:
Khoản 2 Điều 22 Bộ luật Lao động quy định “ Khi hợp đồng lao động quy định tại
điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng
đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1
16
Trang 37Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.”
Vấn đề này hiện đang có nhiều cách hiểu khác nhau:
Ý kiến thứ nhất cho rằng: Khi hợp đồng lao động hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 22 Bộ luật Lao động trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 22 Bộ luật Lao động trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn
24 tháng
Ý kiến thứ hai lại cho rằng: Phải sau 30 ngày khi hợp đồng lao động hết hạn
mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà không ký kết hợp đồng lao động mới thì khi đó hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 22 Bộ luật Lao động trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 22 Bộ luật Lao động trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn 24 tháng
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động: Điểm d
Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Lao động quy định: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp: “Bản thân hoặc gia đình có
hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động” Tuy nhiên,
Bộ luật Lao động 2012 không quy định cụ thể trường hợp nào, lý do gì thì được coi
là bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động khi người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc: Điểm a, Khoản 1
Điều 38 Bộ luật Lao động 2012 quy định người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động: Vấn đề này trước đây Nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 đã hướng dẫn rõ: “người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc là không hoàn thành định mức lao động hoặc nhiệm vụ