1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn thi hành tại việt nam

111 107 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 3,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng như: “chính sách bảo đảm cho người nông dân có đất để sản xuất”, “chính sách

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Luật kinh tế

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN VÀ

THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI VIỆT NAM

PHẠM MẠNH CƯƠNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN VÀ

THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Mạnh Cương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Viện Đại Học Mở Hà Nội và sự

đồng ý của giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Thị Dung về đề tài luận văn: “Pháp

luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn thi hành tại Việt Nam” Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều

sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy, cô giáo trong trường

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Viện Đại học

Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại Viện

Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Thị Dung đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn của mình

Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học, Viện Đại Học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập Mặc

dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không thể tự nhận thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Mạnh Cương

Trang 5

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NỒNG NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN 8

1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp và pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình cá nhân 8

1.1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp 8

1.1.2 Khái niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

14

1.1.3 Khái niệm pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 17

1.2 Các yếu tố chi phối và cơ cấu pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 19

1.2.1 Các yếu tố chi phối pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 19

1.2.2 Cơ cấu pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 21

1.3 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình cá nhân 24

1.3.1 Giai đoạn sau cách mạng tháng tám đến trước năm 1975 24

1.3.2 Thời kỳ từ năm 1975 - 1992 25

1.3.3 Thời kỳ từ năm 1993 - năm 2003 26

1.3.4 Thời kỳ từ năm 2003 - hiện nay 28

Tiểu kết chương 1 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM 30

2.1 Nội dung các quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 30

Trang 6

2.1.1 Nội dung các quy định về quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng đất 30

2.1.2 Nội dung các quy định cụ thể về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 32

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam 55

2.2.1 Trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật 55

2.2.2 Trong lập, phê duyệt và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp hàng năm 59

2.2.3 Trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 62

2.2.4 Trong đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân 64

2.2.5 Trong thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo trong quản lý về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 68

2.2.6 Trong thu hồi đất nông nghiệp, bồi thường, hỗ trợ tái định cư 70

Tiểu kết chương 2 72

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN 74

3.1 Định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 74

3.2 Hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 80

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 80

3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 88

Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

: Hội đồng nhân dân : Nhà xuất bản : Ủy ban nhân dân : Trang

: Quyền sử dụng đất nông nghiệp : Vi phạm pháp luật

: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong lịch sử Việt Nam, sản xuất nông nghiệp luôn là lĩnh vực quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế đất nước Do vậy, chính sách, pháp luật về quản lý,

sử dụng đất nông nghiệp đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng như: “chính sách bảo đảm cho người nông dân có đất để sản xuất”, “chính sách tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối có đất để sản xuất”; “chính sách ưu đãi đầu tư, đào tạo nghề, tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá”… Cho thấy, vấn đề đặc biệt ưu tiên đất nông nghiệp và quyền lợi của người nông dân chính là nền tảng cho việc xác lập, bảo hộ và vận hành quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân Đó cũng là những tư tưởng xuyên suốt trong quá trình phát triển nền kinh tế nước nhà Trong bối cảnh hiện nay, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chính sách và pháp luật đất đai liên quan đến đất nông nghiệp cần phải được hoàn thiện, nhằm đáp ứng những yêu cầu tất yếu của đời sống người nông dân Khai thác và sử dụng hợp lý đất nông nghiệp đã trở thành vấn đề cốt tử đối với an ninh lương thực, sự phát triển bền vững

và thịnh vượng của đất nước

Thực tế trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn đặt sự quan tâm hàng đầu đến lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Với truyền thống của một quốc gia nông nghiệp, gần 70% dân số là nông dân như Việt Nam, nhiều chính sách, pháp luật về xây dựng, phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được ban hành như: Chỉ thị số 100/CT-TW ngày 13/10/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng công tác khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong Hợp tác xã nông nghiệp”, Nghị quyết số 10 NQ/TW ngày 05/04/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp Đó chính là những yếu tố

Trang 9

một nền kinh tế, vốn dĩ đã bị ràng buộc bởi cơ chế hành chính bao cấp Sau thời kì đổi mới, hộ gia đình trở thành một chủ thể độc lập trong nền kinh tế Thành công từ chủ trương khoán sản phẩm, Đảng và Nhà nước đã quyết định thực hiện cơ chế giao đất, cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân, đảm bảo cho chủ thể này

có quyền sử dụng đất ổn định lâu dài, được giao dịch về quyền sử dụng đất với tư cách là một loại quyền tài sản Đó chính là lời giải cho mối quan hệ gắn kết giữa lợi ích của người nông dân với đất đai đã tạo nên động lực cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Từ một nước phải nhập khẩu về lương thực, Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới, một số sản phẩm khác như cà phê, tiêu…đủ sức chi phối thị trường Rõ ràng, sự thay đổi trong phương thức điều tiết các quan hệ đất đai của Nhà nước và đặc biệt là tạo ra một quy chế pháp lý đảm bảo bảo lợi ích của hộ gia đình, cá nhân trong hoạt động sản xuất nông nghiệp chính là nguyên nhân quyết định cho những diện mạo nói trên Tuy nhiên, để tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được và tiến tới hiện đại hoá nền sản xuất nông nghiệp,

đủ sức hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta còn rất nhiều vấn đề cần phải được giải quyết hiện nay Đó là tình trạng đất nông nghiệp ngày càng suy giảm do biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, đặc biệt là phải thu hồi một số lượng lớn diện tích đất nông nghiệp để phục vụ cho sự phát triển đã và đang làm mất đi một số lượng lớn đất nông nghiệp và tác động không nhỏ đến cuộc sống của những người nông dân, đặc biệt là những cá nhân, hộ gia đình - chủ thể có số lượng lớn trong các chủ thể sử dụng đất nông nghiệp Do vậy, để đảm bảo đất nông nghiệp được khai thác, sử dụng

có hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hộ gia đình, cá nhân thì pháp luật

về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân cần phải được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá và hoàn thiện hơn nữa để khắc phục những tồn tại, đảm bảo sự công bằng, minh bạch trong việc thực thi, qua đó tạo nền tảng cho sự ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội

Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Pháp luật về quyền sử dụng

đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn thi hành tại Việt Nam”

làm luận văn thạc sĩ Luật học của mình

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyền sử dụng đất nông nghiệp (QSDĐNN) là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động quản lý đất đai của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa như hiện nay Vì vậy, vấn đề này đã và đang được các nhà nghiên cứu ở những lĩnh vực khác nhau quan tâm và xem xét dưới các góc nhìn như: Kinh tế học, Luật học, Chính trị học , nhưng cho đến thời điểm hiện tại vẫn còn một số khoảng trống cần được nghiên cứu, đặc biệt là pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Qua tìm hiểu, nghiên cứu chúng tôi nhận thấy hiện nay đã có một số công trình

đề cấp trực tiếp và gián tiếp đến các vấn đề luận văn đang quan tâm Tiêu biểu là các nhóm các công trình về đất nông nghiệp, nông thôn và cuộc sống của người nông dân

như: 1) Nguyễn Đình Hương (chủ biên) (1999): Sản xuất và đời sống của các hộ

nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở đồng bằng sông Cửu Long - Thực trạng và giải pháp [42] (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội); 2) Chính sách đất đai nông nghiệp ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Thực trạng và những vấn đề đặt ra của

Nguyễn Mạnh Tuân chủ trì (Đề tài Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, năm 20034 -

2005) [79]; 3) PGS.TS Trần Thị Minh Châu (chủ biên) (2007): Về chính sách đất

nông nghiệp ở nước ta hiện nay [20] (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội); 4) Trung

tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế của Australia có dự án về “Phát triển nông

nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam”, Shally P.Marsh, T.Gordon MacAulay và

Phạm Văn Hùng biên tập, năm 2007 [66]; 5) Đặng Kim Sơn (2008): Kinh nghiệm

quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa [67]

(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); 6) Nhiều tác giả: “Vấn đề nông nghiệp, nông

dân, nông thôn - Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc” [50] (Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội); 7) Lê Du Phong (chủ biên) (2009): Chính sách phát

triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân của Hungari trong quá trình chuyển đổi kinh tế và vận dụng cho Việt Nam [54] (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội)

Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến các chế định của pháp luật đất

Trang 11

các giao dịch dân sự, thương mại về đất đai” của Nguyễn Quang Tuyến (Trường

Đại học Luật Hà Nội, năm 2003) [81]; Luận án tiến sĩ Luật học “Pháp luật về bồi

thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam” của Phạm Thu Thủy

(Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2014) [72]; Luận văn thạc sĩ “Chế định pháp

luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường

ở Việt Nam” của Thái Anh Hùng (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 1998) [41];

Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp

của hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn áp dụng tại Nghệ An” của Hoàng Thị Thu

Trang (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2012) [75]

Bên cạnh đó, trong những năm qua cũng có nhiều bài nghiên cứu, bài báo về vấn

đề đất nông nghiệp và quyền sử dụng đất nông nghiệp, tiêu biểu như bài viết“Chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam” [21] của tác giả Trần Thị Minh Châu đăng trên

Tạp chí Cộng sản, TW Đảng cộng sản Việt Nam, Số 824, năm 2011, tr.67-72;

“Hoàn thiện quy định của Luật đất đai năm 2003 về thời hạn sử dụng đất nông

nghiệp” [83] của Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Ngọc Minh trên Tạp chí Luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 09/2012, tr.54-60; “Pháp luật về hỗ trợ khi nhà

nước thu hồi đất nông nghiệp” [69] của Lê Ngọc Thạnh đăng trên Tạp chí Dân chủ

và pháp luật, Bộ Tư Pháp, Số 04/2013, tr.22-27; “Về hạn mức đất nông nghiệp đối

với hộ gia đình, cá nhân theo dự thảo Luật đất đai sửa đổi” [51] của Nguyễn Thị

Kiều Oanh trên Tạp chí Khoa học pháp lý, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí

Minh, Đặc san 01/2013, tr.53-58,80;…

Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu, bài viết được điểm ở trên

đã thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, phân tích khái niệm và đặc điểm của đất nông nghiệp; luận giải vai trò

và ý nghĩa của đất nông nghiệp ở Việt Nam

Hai là, đánh giá chính sách, pháp luật về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở

Việt Nam; đề cập kinh nghiệm của một số nước về phát triển nông nghiệp và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 12

Ba là, phân tích tác động của quá trình công nghiệp hóa đối với đời sống của

người nông dân, vấn đề nông nghiệp, nông thôn

Có thể thấy, các đề tài nghiên cứu thường đi sâu vào vấn đề cụ thể, liên quan đến chế định pháp lý về đất nông nghiệp, chưa thực sự nghiên cứu theo cách tiếp cận từ quyền của các chủ thể sử dụng đất đối với từng loại đất

Đó cũng chính là lý do để chúng tôi kế thừa những kết quả nghiên cứu kết quả

từ các công trình khoa học đã được công bố, và đi sâu vào khai thác vấn đề dưới góc độ QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa làm rõ các cơ sở lý luận về QSDĐNN và pháp lý về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân

- Phân tích, đánh giá và luận giải thực trạng thực thi pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam

- Chỉ ra phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật về QSDĐNN, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về QSDĐNN cho hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

- Các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Trang 13

- Các quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành

về đất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

- Thực tiễn thi hành pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá các quy định của pháp luật về QSDĐNN của

hộ gia đình, cá nhân của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành

- Đánh giá thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân tại Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử Mác - Lênin

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích, bình luận, so sánh… được sử dụng trong Chương 1 khi phân tích một số vấn đề lý luận về QSDĐNN, QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân, pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân

- Phương pháp đánh giá, đối chiếu, diễn giải, được sử dụng tại Chương 2, khi phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam

- Phương pháp tổng hợp, quy nạp được sử dụng ở chương 3 khi nghiên cứu,

đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

Luận văn góp phần làm rõ và hoàn thiện những vấn đề lý luận về QSDĐNN

và pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam Trên cơ sở nhận diện thực tiễn thi hành pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam, phân tích những bất cập của quy định trong Luật Đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan Từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật đất đai

về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân Nội dung luận văn sẽ là tư liệu tham khảo đối với các cơ quan chuyên môn trong việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật; làm tài

Trang 14

liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật học

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng các từ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất nông nghiệp và pháp

luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ

gia đình, cá nhân ở Việt Nam

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ

gia đình, cá nhân

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NỒNG NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN

1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp và pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình cá nhân

1.1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất

Theo Từ điển Luật học năm 2006 thì "Quyền sử dụng đất là quyền của các

chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho ” [18] Nhìn

chung, khái niệm quyền sử dụng đất được hiểu là quyền của chủ thể sử dụng đất trong việc khai thác, sử dụng đất để đem lại những lợi ích cho người sử dụng đất và phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam, Nhà nước giữ vai trò là người đại diện, song Nhà nước lại không thể trực tiếp sử dụng đất đai mà chủ yếu là chuyển giao quyền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng đất Bên cạnh việc khai thác, hưởng dụng các lợi ích từ đất, người sử dụng đất còn được Nhà nước cho phép thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất Đó là điều kiện quan trọng để quyền

sử dụng đất với tư cách là một loại quyền tài sản trở thành đối tượng giao dịch trên thị trường thông qua các quan hệ chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Bên cạnh tư cách là một trong ba quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản bao gồm gồm chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt thì thuật ngữ “quyền

sử dụng đất” còn là một khái niệm dùng để chỉ một loại tài sản đặc biệt trong xã

Trang 16

hội, có giá cả và được phép giao dịch trên thị trường - quyền sử dụng đất Do đó,

“quyền sử dụng đất” cần được xác định với tư cách là tổng thể của các quyền và

nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho các chủ thể trong quan hệ đất đai với tư cách

là người sử dụng đất Chính yếu tố này đã làm cho quyền sử dụng đất trở thành một

loại tài sản đặc biệt có thể chuyển dịch giữa những người sử dụng đất với nhau Là một tài được pháp luật sinh ra từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, quyền sử dụng đất đã thực hiện được một nhu cầu tất yếu trong quá trình phát triển, đó là sự đảm bảo cho sự vận hành của các quan hệ đất đai trong nền kinh tế thị trường Vì lý do

đó, tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng: “quyền sử dụng đất” là một khái niệm phức tạp - nó vừa là một khái niệm pháp lý, vừa là một khái niệm kinh tế [86, tr.40-49] Dưới khía cạnh là một loại quyền tài sản, giá trị của quyền sử dụng đất không chỉ dừng lại ở việc khai thác, sử dụng những thuộc tính có ích của đất mà còn bao gồm cả quyền được giao dịch đối với loại tài sản này như một tài sản hữu hình Với bản chất đó, quyền sử dụng đất ở Việt Nam cũng không có nhiều khác biệt với các

hệ thống pháp luật ở các quốc gia trên thế giới nếu xét dưới khía cạnh một loại quyền sở hữu thực tế

Dưới góc độ là một trong ba quyền năng của chủ sở hữu thì “quyền sử dụng” là

quyền khai thác công dụng và được hưởng hoa lợi, lợi tức từ một tài sản Trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, thì quyền sử dụng là một trong ba quyền năng của quyền sở hữu [22, tr.46-49] Tuy nhiên, theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ thì quyền

sở hữu được nhận diện với một cách thức khác Ví dụ ở nước Anh, đất đai thuộc quyền sở hữu của Nữ hoàng và Nữ Hoàng cho người cho dân thuê đất, và họ cũng có các quyền năng đối với đất đai kể cả quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Có thể xem xét khái niệm quyền sử dụng đất với hai khía cạnh khác nhau:

Thứ nhất, về mặt chủ quan thì khái niệm “quyền sử dụng đất” được hiểu là

quyền của người sử dụng đất trong việc khai thác, sử dụng đất đai Theo Từ điển

Luật học do Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp)“Quyền sử dụng đất là quyền của

các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất

Trang 17

qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho từ những chủ thể có quyền sử dụng;…” [18] Như vậy, các chủ thể tham gia vào quan

hệ pháp luật đất đai với tư cách là “người sử dụng đất”, bao gồm tổ chức, cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân, các tổ chức nước ngoài thuê đất để xây dựng trụ sở các cơ quan đại diện ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước trao quyền theo phương thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc được phép nhận chuyển quyền sử dụng đất sẽ được khai thác các thuộc tính có ích của đất nhằm đạt được những lợi ích vật chất nhất định

Thứ hai, về mặt khách quan, “quyền sử dụng đất” quyền sử dụng đất là một

chế định pháp luật, gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất đai

Có thể hiểu, quyền sử dụng đất là những quyền năng sử dụng đất cụ thể, được

Nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện đối với các chủ thể sử dụng đất trong quá trình khai thác và sử dụng đất

1.1.1.2 Khái niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp

Theo Từ điển Oxford English Dictionary:“đất nông nghiệp” là: “một loại đất

dành cho ngành sản xuất nông nghiệp, sử dụng có hệ thống và kiểm soát các hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là chăn nuôi gia súc và sản xuất cây trồng Nó thường đồng nghĩa với đất canh tác hoặc đất trồng trọt…” [52]

Theo Từ điển Luật học xuất bản năm 1999, đất nông nghiệp được quan niệm

như sau: “Đất nông nghiệp: đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất

nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp

Đất nông nghiệp bao gồm: đất trồng cây hàng năm, đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất vườn, mặt nước nội địa, đất có mặt nước ven biển để sản xuất nông nghiệp, đất bãi bồi cửa sông, đất bãi bồi ven biển v.v” [71, tr.151]

Trang 18

Theo Sổ tay Thuật ngữ Pháp lý thông dụng: “Đất nông nghiệp: Đất sử dụng

vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp

Có 04 loại đất nông nghiệp:

- Đất trồng cây hàng năm như đất trồng lúa, trồng màu, đất trồng chuyên rau

- Đất trồng cây lâu năm như đất trồng cà phê, dừa, cam, chanh

- Đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi: đất đồng cỏ tự nhiên, đồng cỏ trồng, bãi

để chăn thả gia súc

- Đất có mặt nước dùng vào sản xuất nông nghiệp: ao, hồ, sông cụ thể nuôi trồng các loại thủy sản như tôm, cá, cua” [43, tr.125]

Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) xuất bản

năm 2006: “Đất nông nghiệp: Tổng thể các loại đất được xác định là tư liệu sản

xuất chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt và chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành công nghiệp và dịch vụ” [18, tr.237-238]

Luật đất đai năm 2003 [76] và Luật đất đai năm 2013 [49] ra đời, không đề

cập cụ thể về khái niệm đất nông nghiệp mà chỉ đưa ra thuật ngữ “Nhóm đất nông

nghiệp”; theo đó, nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: i) Đất trồng

cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; ii) Đất trồng cây lâu năm; iii) Đất rừng sản xuất; iv) Đất rừng phòng hộ; v) Đất rừng đặc dụng; vi) Đất nuôi trồng thủy sản; vii) Đất làm muối; viii) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh1

Trang 19

Tựu trung, có thể khái quát:

Đất nông nghiệp bao gồm tổng thể các loại đất, có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối, trồng rừng, khoang nuôi, tu bổ, bảo vệ và phát triển rừng; nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp

Mặc dù đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp, song việc sử dụng đất nông nghiệp cũng có những đặc thù nhất định:

Thứ nhất, cần quan tâm đến việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất nông nghiệp bởi

đó là điều kiện đặc biệt quan trọng để cây trồng hấp thụ nước và các chất hữu cơ trong đất để sinh trưởng thuận lợi

Thứ hai, việc sử dụng đất nông nghiệp có sự khác nhau theo các vùng lãnh

thổ do nhiều yếu tố tác động như: ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, sức gió, địa hình,

độ phì nhiêu của đất… từ đó tạo thành các vùng nông nghiệp nhiệt đới, ôn đới; các vùng chuyên canh Bên cạnh đó, do giới hạn về diện tích và sự phân bố không đồng đều đất nông nghiệp nên các chủ thể sản xuất nông nghiệp luôn cố gắng chiếm giữ những diện tích đất nông nghiệp nhất định Ban đầu việc chiếm giữ đất nông nghiệp diễn ra tự nhiên do dân số thưa thớt và diện tích đất còn nhiều Về sau kinh tế - xã hội phát triển với sự đa dạng của các loại hình sản xuất, dân số gia tăng nhanh chóng khiến người dân phải khai phá thêm diện tích nông nghiệp đồng thời dần chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp theo các hướng khác nhau

Chính những yếu tố trên là nguyên nhân dẫn đến sự hình thành hệ thống thể chế

về đất đai, quyền sở hữu đất nông nghiệp giữa các chủ thể sản xuất đất nông nghiệp Quyền sở hữu đất nông nghiệp là thể chế pháp lý điều tiết quan hệ đất đai giữa các chủ thể thông qua các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với từng thửa đất nông nghiệp Trong các chế độ xã hội - kinh tế khác nhau, quy định cụ thể về quyền sở hữu đất nông nghiệp cũng khác nhau theo phương diện chủ thể sở hữu và các quyền pháp lý của chủ thể sở hữu Theo xu thế phát triển của kinh tế, hệ thống thế chế đất đai của các quốc gia không ngừng hoàn thiện, theo đó chủ sở hữu đất

Trang 20

nông nghiệp không những được thừa nhận chính thức có quyền sử dụng mà còn có quyền thu nhập từ các hoạt động sản xuất trên đất và dần dần quyền sở hữu đất nông nghiệp được thừa nhận là quyền tài sản, được chi tiết hóa với những quyền lợi khác nhau

Sự phát triển của quan hệ sở hữu đất đai, trong đó có đất nông nghiệp trong quá trình sản xuất nông nghiệp cùng với xu thế tập trung đất nông nghiệp vào trong tay một bộ phận xã hội đã dần tạo tiền đề cơ sở cho sự tách biệt quyền sử dụng đất nông nghiệp khỏi quyền sở hữu Chủ sở hữu đất nông nghiệp có thể trực tiếp sử dụng đất, đồng thời có thể chuyển giao việc sử dụng đất đó cho người khác với những điều kiện nhất định trên cơ sở phân chia lợi ích thu được từ kinh doanh trên đất Việc phân chia quyền lợi giữa chủ sở hữu đất và chủ sử dụng đất được thực hiện khác nhau ở các chế độ kinh tế - xã hội khác nhau và được đảm bảo, củng cố bằng các thể chế khác nhau về đất nông nghiệp

Như vậy, khái niệm về QSDĐNN được hình thành dần dần trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp theo sự phát triển của nông nghiệp và sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế, pháp lý về đất nông nghiệp Sự hình thành QSDĐNN xuất phát

từ sự phát triển của các mối quan hệ giữa các chủ thể sản xuất nông nghiệp và yêu cầu phải thể chế hóa ngày càng cụ thể, rõ ràng quan hệ sử dụng đất nông nghiệp giữa các chủ thể sản xuất đất nông nghiệp nhằm trật tự hóa quan hệ sản xuất nông nghiệp trong từng giai đoạn phát triển Do đó, QSDĐNN là quan hệ kinh tế được củng cố, đảm bảo bằng thể chế pháp lý trong các chế độ sở hữu khác nhau về đất đai với tư cách là một bộ phận của quan hệ sở hữu đất nông nghiệp

Tựu trung, QSDĐNN có thể được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, quyền sử dụng đất nông nghiệp là một bộ phận của quyền sở hữu đất nông nghiệp, bao gồm quyền khai thác công dụng, hưởng lợi một phần thu nhập từ việc sử dụng đất nông nghiệp Quyền sở hữu đất nông nghiệp gồm ba quyền chính là: quyền chiếm giữ, quyền sử dụng và quyền định đoạt với một diện tích đất nông

nghiệp cụ thể Theo nghĩa rộng, QSDĐNN là khả năng mà pháp luật cho phép chủ

Trang 21

sử dụng đất nông nghiệp, có một số quyền định đoạt trong giới hạn như cấp quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế … đất nông nghiệp nhằm sử dụng đất đúng mục đích, hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao

Trong luận văn nay, chúng tôi sử dụng khái niệm QSDĐNN theo nghĩa rộng làm một trong những cơ sở lý luận để phân tích thực tiễn thi hành pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam hiện nay

1.1.2 Khái niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Trong Từ điển Tiếng Việt chỉ có khái niệm về gia đình Theo đó, gia đình

được hiểu được hiểu là “tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất

trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có

vợ chồng, cha mẹ và con cái” [53] Bởi vậy, khái niệm hộ gia đình ở Việt Nam

thường chỉ được đề cập tới dưới khía cạnh pháp lý Trong khoa học pháp lý về đất đai, hộ gia đình, cá nhân là chủ thể nằm trong nội hàm khái niệm người sử dụng đất

Theo Từ điển Giải thích Luật học thì: “Người sử dụng đất: tổ chức, hộ gia đình, cá

nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng” [77]

Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp): “Người

được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, hoặc nhận quyền sử dụng đất từ người khác

để sử dụng” [18]

Bắt đầu từ Luật Đất đai năm 1993, với chủ trương giao đất trực tiếp cho hộ gia đình cá nhân để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp thì hộ gia đình mới chính thức trở thành chủ thể độc lập trong quan hệ pháp luật Do đó, cần dựa trên những căn cứ xác lập quyền sử dụng đất cho hộ gia đình để nhận diện tư cách chủ thể của hộ gia đình Tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận quyền sử dụng đất mà những thành viên trong hộ gia đình

có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình và có quyền sử dụng đất chung Theo quy định tại Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013 thì:

“Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống,

nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung

Trang 22

và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất” [49]

Từ việc tiếp cận về quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân, có thể nhìn nhận QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân trên hai phương diện:

- Trên phương diện chủ quan: quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình,

cá nhân được hiểu là khả năng chiếm hữu, sử dụng một diện tích đất đai nhất định nhằm khai thác công năng của đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp

- Trên phương diện khách quan, QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân là một

chế định pháp luật, gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật đất đai do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp nhằm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm

Ngoài ra QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân còn có những đặc điểm sau:

nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Việc khai thác giá trị đất nông nghiệp được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau như: canh tác, chăn nuôi, trồng trọt, học tập, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp

trao quyền của Nhà nước như: hoạt động giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận chuyển quyền sử dụng đất từ các giao dich trên thị trường như: nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kể, nhận tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Khi được Nhà nước trao quyền

QSDĐNN, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp không phải nộp tiền

sử dụng đất đối với phần đất trong hạn mức, nhưng họ vẫn được đảm bảo quyền tài sản đối với QSDĐNN Đây chính là yếu tố khác biệt giữa QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân với QSDĐNN và các loại quyền sử dụng đất của các chủ thể khác, do chính sách đặc biệt của Nhà nước dành cho đối tượng này Có thể nhìn nhận sự tồn tại của yếu tố phi thị trường trong quan hệ giao dịch đặc biệt giữa Nhà nước và hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp cho mục đích sản xuất nông nghiệp

Trang 23

- Thứ ba, QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân là quyền phái sinh, phát sinh từ quyền đại diện cho chủ sở hữu của Nhà nước và phụ thuộc vào quyền sở hữu Nhà

nước Theo quy định tại Điều 4 Luật Đất đai 2013 thì: “Đất đai thuộc sở hữu toàn

dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền

sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” [49] Hộ gia đình,

cá nhân được Nhà nước trao quyền sử dụng đất như đầu tư, khai thác, hưởng thành quả, giá trị, công dụng của đất nông nghiệp; chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, để lại thừa kế quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất,…

Như vậy, QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân không chỉ là sự khai thác các thuộc tính có ích của đất trong sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra của cải, vật chất cho xã hội mà còn là một loại quyền tài sản được Nhà nước trao cho người sử dụng đất với một phương thức đặc biệt - giao đất không thu tiền sử dụng đất - song lại được phép giao dịch trên thị trường Tuy nhiên, loại đất nông nghiệp đươc Nhà nước cho các hộ gia đình, cá nhân thuê theo phương thức trả tiền một lần cho cả thời gian thuê cũng được thực hiện với tư cách là quyền tài sản Với ý nghĩa đó, QSDĐNN của hộ gia đình cá nhân được pháp luật ghi nhận là một loại quyền tài sản Họ được sử dụng loại quyền này để chuyển nhượng, để thừa kế, cho thuê, làm tài sản đảm bảo trong quan hệ thế chấp để đảm bảo đảm trong quan hệ vay vốn tại các tổ chức tín dụng, và được sử dụng như một loại tài sản góp vốn để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh

Từ những phân tích nói trên, có thể định nghĩa QSDĐNN của hộ gia đình, cá

nhân như sau:

QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân là khả năng của hộ gia đình, cá nhân được hưởng các quyền mà Nhà nước trao cho và đảm bảo thực hiện khi tham gia vào quan hệ sử dụng đất nông nghiệp, nhằm sử dụng đất một cách hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo lợi ích hợp pháp của hộ gia đình, cá nhân cũng như phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 24

1.1.3 Khái niệm pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Pháp luật về quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân là một thuật ngữ được dùng tương đối phổ biến trong các công trình nghiên cứu Tuy nhiên, dường như chưa có một khái niệm cụ thể đối với pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân Do vậy, để định nghĩa pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân, cần xác định phạm vi của nó gắn liền với khái niệm về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân như đã trình bày ở trên Bên cạnh đó, cần phải xác định được vấn đề mà nó điều chỉnh, bao gồm:

- Chế độ quản lý và sử dụng đất nông nghiệp với tư cách là một loại tư liệu sản xuất quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp, là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến

sự tồn tại và phát triển của hoạt động sản xuất nông nghiệp Do vậy viêc ưu tiên bảo

vệ đất nông nghiệp được thực hiện bằng các quy chế pháp lý đặc thù

- Hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp dưới góc độ pháp luật trong lĩnh vực đất đai có vị thế là một đơn vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế, gồm những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất Bên cạnh hộ gia đình thì cá nhân cũng là một chủ thể trong quan

hệ sử dụng đất nông nghiệp Khác với thành viên của hộ gia đình, chủ thể này có tư cách pháp lý độc lập, được Nhà nước trao quyền sử dụng đất và tự chịu trách nhiệm

về hành vi của mình Trong khi đó các thành viên trong hộ gia đình là người đồng

sử dụng đất nông nghiệp đối với đất Nhà nước giao cho hộ gia đình Họ liên đới chịu trách nhiệm đối với các giao dịch dân sự trong sử dụng đất nông nghiệp do chủ

hộ gia đình thực hiện Để tham gia quan hệ pháp luật về QSDĐNN, hộ gia đình, cá nhân phải đảm bảo những điều kiện mà pháp luật quy định

- Việc xác lập QSDĐNN đối với hộ gia đình, cá nhân - đối tượng sử dụng đất nông nghiệp chiếm số lượng lớn nhất trong các chủ thể sử dụng đất nông nghiệp -

Trang 25

nhận quyền sử dụng đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp từ các giao dịch trên thị trường

- Hộ gia đình, cá nhân thực hiện những quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, có các quyền cơ bản khi tham gia vào quan hệ sử dụng đất và các quyền giao dịch về quyền sử dụng đất như: quyền được cấp GCNQSDĐ; Quyền được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; Hưởng các lợi ích do công trình công cộng của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất mang lại; Quyền được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi xâm phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi vi phạm pháp luật đất đai

Xuất phát từ những phân tích về phạm vi của pháp luật về QSDĐNN của loại chủ thể này, có thể đưa ra định nghĩa sau về pháp luật QSDĐNN của hộ gia đình, cá

nhân như sau:

Pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân là hệ thống quy phạm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình xác lập và thực hiện quyền của hộ gia đình, cá nhân trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đảm bảo lợi của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

Từ định nghĩa trên có thể thấy, các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân gắn liền với mục tiêu tăng cường hiệu quả trong quá trình thực hiện QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân Các quan hệ xã hội được quy phạm của lĩnh vực pháp luật này điều chỉnh có thể phân loại theo các nhóm sau:

- Các quan hệ giữa một bên là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp với một bên là Nhà nước phát sinh trong hoạt động quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp Những quan hệ này chứa đựng những yếu tố của quan hệ pháp luật hành chính Ví dụ như:

Trang 26

+ Quan hệ phát sinh từ hoạt động xây dựng nguyên tắc trong việc quản lý và

1.2 Các yếu tố chi phối và cơ cấu pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

1.2.1 Các yếu tố chi phối pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Thứ nhất: Pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình cá nhân chịu sự chi phối

bởi quan điểm, đường lối của Đảng

Pháp luật là sự thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng Do đó, quan điểm, đường lối của Đảng chi phối mạnh mẽ đến hệ thống pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân nói riêng Có thể thấy rõ điều đó trong việc chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn được thể hiện trong các văn kiện của Đại hội Đảng và nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phát triển hợp tác xã nông nghiệp làm tiền đề để định hướng cải tạo xã hội chủ nghĩa Sự tác động mang tính chất quyết định đến những bước đi đầu tiên trong quá trình đổi mới phải kể tới Chỉ thị 100 của Ban bí thư năm 1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp [28] và Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp [4] đã khẳng định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp và tiến hành giao khoán ruộng đất sản xuất Bằng việc xác lập cơ chế khoán

Trang 27

của các hợp tác xã để sử dụng ổn định Đây là bước đột phá lớn nhất làm thay đổi

cơ bản hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp Trước yêu cầu đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm đời sống và nâng cao hiệu quả kinh tế, nhiều hợp tác xã đã dùng hình thức

“khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” đối với nhiều loại cây trồng (kể cả cây lúa), đối với chăn nuôi và đối với các ngành nghề khác Hình thức khoán mới này đã bước đầu phát huy tác dụng tích cực nhất định

Để khắc phục những điểm yếu trong cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp có thể sẽ cản trở sự phát triển của đất nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đặt ra mục tiêu thực hiện ba chương trình lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Để thực hiện các mục tiêu này, các hội nghị Trung ương tiếp theo đã từng bước khẳng định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp, từng bước thực hiện việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài Hàng loạt nghị quyết, chỉ thị của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp nói chung và xác định vai trò của hộ gia đình, cá nhân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp nói riêng đã lần lượt được ra đời với việc thực hiện giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; đồng thời

mở rộng các quyền năng của người sử dụng đất (trong đó có quyền thừa kế quyền

sử dụng đất) Để bảo vệ thành quả cách mạng về ruộng đất, Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhà nước đảm bảo quyền sử dụng đất ổn định cho người nông dân, thực hiện chính sách điều chuyển đất nông nghiệp thông qua thị trường, để đất đai có thể tìm đến những người sử dụng có hiệu quả cao nhất

Thứ hai: Pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân chịu sự chi phối bởi

chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước là người đại diện và thống nhất quản

lý Giữ vai trò đại diện cho chủ sở hữu nhưng Nhà nước không thể trực tiếp chiếm hữu, sử dụng đất đai mà chủ yếu là trao quyền cho các chủ thể sử dụng đất, đặc biệt

Trang 28

là các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp Thông qua việc giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn được giao đất, thuê đất Một vấn đề mang tính chiến lược cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ VII đã chỉ rõ: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Các hộ nông dân được Nhà

nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và cấp giấy chứng nhận…”[30, tr.343],

và “Người được giao quyền sử dụng đối với đất trồng cây hàng năm, nuôi trồng

thủy sản và đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, được thực hiện quyền thừa kế, quyền sử dụng đất theo pháp luật về thừa kế như các tài sản khác” [36,tr.58] Ruộng đất từng bước được giao cho người nông dân sử dụng ổn

định, lâu dài Bằng pháp luật Nhà nước đã quy định vấn đề chuyển quyền sử dụng đất và xác lập cơ chế pháp lý bảo đảm cho quyền của chủ thể này được thực hiện trên thực tế Đồng thời, thông qua quy hoạch, Nhà nước xác định mục đích sử dụng của từng loại đất nông nghiệp; quy định các điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất… Có thể thấy rõ, quá trình thực hiện thực hoá pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được thực hiện trên

cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, song lĩnh vực pháp luật này cũng có tính độc lập tương đối so với pháp luật về sở hữu đất đai

Thứ ba: Pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân không chỉ chiu sự

chi phối bởi đường lối, quan điểm của Đảng, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, cơ chế quản lý kinh tế, điều kiện, trình độ phát triển của nền kinh tế mà còn chịu sự ảnh hưởng của phong tục, tập quán, trình độ dân trí và sự tuân thủ pháp luật của các thành viên trong xã hội với đối tượng trực tiếp chịu sự điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật này là hộ gia đình, cá nhân

1.2.2 Cơ cấu pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình,

cá nhân

Pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình cá nhân gồm các quy phạm điều chỉnh các quan hệ trong quá trình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia

Trang 29

đình, cá nhân Để đạt được mục đích này, phạm vi điều chỉnh của pháp luật là rất rộng Tuy nhiên nội dung hướng đến cơ bản gồm:

* Nhóm các quy phạm về quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng đất

Cấu trúc của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất bao gồm hai nội dung: các quy định về quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng đất và các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của từng nhóm chủ thể Với tư cách là người sử dụng đất, cho dù là tổ chức, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay người Việt Nam định

cư ở nước ngoài… khi sử dụng các loại đất vào các mục đích khác nhau đều được hưởng các quyền và thực hiện những nghĩa vụ chung của người sử dụng đất Bởi vậy pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân sẽ bao hàm cả những quy định chung về quyền nghĩa vụ của người sử dụng đất và các quy định riêng mang tính đặc thù của loại chủ thể này trong quan hệ sử dụng đất nông nghiệp Điều này thể hiện sự bình đẳng giữa các chủ thể trong khuôn khổ mà pháp luật quy định, hướng tới yêu cầu của quá trình hội nhập

* Nhóm các quy định về đối tượng sử dụng đất nông nghiệp

Hộ gia đình, cá nhân là đối tượng chủ yếu sử dụng đất nông nghiệp Việc xác định tư cách pháp lý trong quan hệ đất đai cho loại chủ thể này xuất phát từ truyền thống lịch sử của đất nước, mà lực lượng nòng cốt trong xã hội luôn là những người nông dân với sự đóng góp to lớn của đối tượng này trong cuộc chiến bảo vệ và gìn giữ độc lập dân tộc cũng như trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đó cũng là

lý do để Nhà nước thực thi chính sách ưu đãi đối với người nông dân Dưới khía cạnh pháp lý, chính sách này được cụ thể hoá bằng việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp

* Nhóm các quy định về hạn mức giao đất, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp

Với tỷ lệ lớn dân số Việt Nam sống bằng phương thức sản xuất nông nghiệp, thì vấn đề đảm bảo việc làm cho người dân là hết sức quan trọng thông qua quá trình tích tụ và tập trung đất đai Bên cạnh việc giao đất trong hạn mức, pháp luật

Trang 30

còn giới hạn việc tích tụ đất đai bằng quy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất, nhằm thực hiện chủ trương khuyến khích mô hình kinh tế trang trại, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động

* Nhóm các quy định về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp

Thời hạn sử dụng đất nông nghiệp là khoảng thời gian mà hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất Việc quy định thời hạn sử dụng đất nông nghiệp có ý nghĩa trong việc khẳng định và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước tiến hành phân bổ và điều chỉnh đất đai, đồng thời cũng giá đảm bảo quyền chủ động cho hộ gia đình, cá nhân chủ động trong quá trình khai thác, sử dụng đất đai của mình

* Nhóm các quy định về quyền chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Chuyển QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân được pháp luật quy định đối với các hành vi chuyển giao QSDĐNN từ chủ thể này sang chủ thể khác như: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, góp vốn quyền sử dụng đất Thực chất, đó là những phương thức khác nhau mà Nhà nước trao cho hộ gia đình,

cá nhân nhằm đảm bảo tối đa những lợi ích của họ trong quá trình khai thác và sử dụng đất nông nghiệp Đó cũng là con đường vận hành của các quan hệ đất đai phù hợp với nhu cầu trao đổi và chuyển dịch đất đai phù hợp với nền kinh tế thị trường

* Nhóm các quy định của pháp luật về quyền được bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Sự thay đổi lớn trong cách thức thực hiện quyền sử dụng đất nói chung và QSDĐNN nói riêng đối với người sử dụng đất trong Luật Đất đai hiện hành, đó là việc chính thức quy định vấn đề được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với tư cách là một loại quyền được pháp luật trao cho người sử dụng đất Quy định này thể hiện sự tôn trọng và bảo hộ QSDĐNN với ý nghĩa là quyền tài sản Đó cũng chính là căn cứ quan trọng nhằm giải quyết sự công bằng về lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân nhằm bù đắp những tổn thất đối với QSDĐNN bị Nhà nước thu hồi do nhu cầu phục vụ cho quá

Trang 31

trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội hoặc cần sử dụng đất nông nghiệp cho mục đích

an ninh quốc phòng

1.3 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình cá nhân

1.3.1 Giai đoạn sau cách mạng tháng tám đến trước năm 1975

Trong giai đoạn này, các chính sách đất đai được ban hành (chủ yếu là các Sắc lệnh) quy định về ruộng đất đối với nông dân; về thuế nông nghiệp, tăng gia phát triển sản xuất nông nghiệp; tịch thu và chia cấp ruộng đất Những quyết sách này đã trở thành động lực quan trọng, hết sức to lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, góp phần tăng cường khối liên minh công nông, là cơ sở cho quá trình phát triển cách mạng Việt Nam

Sau Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập Ngay sau khi giành độc lập, các quy định về ruộng đất trước đây đều bị bãi bỏ Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh giảm tô và ra chỉ thị chia ruộng đất các đồn điền, trại ấp vắng chủ cho nông dân Năm 1953, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Luật Cải cách ruộng đất Nhà nước chủ trương tịch thu ruộng đất của địa chủ, cường hào trao cho dân cày, đồng thời xác định quyền sở hữu của họ trên những diện tích đất đó

Năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đất nước ta tạm thời chia cắt thành hai miền Năm 1955 đến năm 1957, nhiều làng xã ở miền Bắc, miền Trung còn tồn tại phần lớn ruộng đất công bao gồm quan điền thuộc sở hữu Nhà nước và các loại ruộng công của làng.Từ năm 1954 -1957, Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh và phấn đấu hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ Với khẩu hiệu “người cày có ruộng”, Đảng và Nhà nước ta đã hoàn thành Cải cách ruộng đất với một loạt các biện pháp để khôi phục nền kinh tế nông nghiệp, tiêu biểu là thực hiện chia ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác cho người nông dân để họ chủ động sản xuất nông nghiệp Từ quy định quyền

sở hữu về tư liệu sản xuất của nông dân, của những người làm nghề thủ công và những người làm nghề riêng lẻ và các nhà tư sản dân tộc, Nhà nước đã bảo hộ

Trang 32

quyền sở hữu về đất đai Cụ thể, Điều 12 Hiến pháp 1959 đã quy định “những rừng

cây, những đất hoang mà pháp luật quy định là của Nhà nước thì đều thuộc sở hữu toàn dân” [57] Khi Nhà nước cần lấy ruộng đất để kiến thiết thành phố thì sẽ

thu xếp công ăn việc làm cho người bị lấy ruộng đất hoặc bù cho một số ruộng đất ở nơi khác để họ làm ăn sinh sống và sẽ bồi thường thích đáng cho họ về những ruộng đất đã bị lấy Pháp luật trong thời kỳ này đã có những quy định về bảo vệ quyền sử

dụng đất Điều 14 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật

bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân” [57]

Trong giai đoạn này các quy định về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân còn rất mờ nhạt

Để tăng cường quản lý ruộng đất, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số TTg ngày 24/4/1974 tạm thời đình chỉ việc lấy ruộng đất trồng trọt để xây dựng Nếu có nhu cầu cấp bách phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép Việc sử dụng ruộng đất trái với những quy định của pháp luật sẽ bị thu hồi và trả lại cho sản xuất

231-1.3.2 Thời kỳ từ năm 1975 - 1992

Ở miền Bắc, đã tiến hành cuộc vận động tổ chức lại sản xuất trong nông

nghiệp, cải tiến một bước quản lý từ cơ sở theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Chỉ thị 208 CT/TW ngày 16/9/1974 của Ban Bí thư và Nghị quyết 61/CP ngày 5/4/1976 của Hội đồng Bộ trưởng, nhận được kết quả không mong muốn là người lao động nông dân và công nhân nông nghiệp mất quyền người chủ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, không quan tâm đến mọi hoạt động sản xuất của hợp tác xã và nông, lâm trường mà chỉ để tâm đến kinh tế phụ gia đình

trên đất 5% và trong các hoạt động lao động khác Khắc phục tình trạng này, Chỉ thị

100/CT của Ban Bí thư về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động [28] ngày 13/1/1981 đã bước đầu giải phóng lao động nông dân, gắn trách nhiệm và lợi ích của họ với sản phẩm cuối cùng trên ruộng khoán nhưng chưa thiết lập được quyền làm chủ đầy đủ các hộ nông dân Từ sau năm 1987, trong các Nghị quyết đại hội VI, VII, VIII, IX, Đảng ta thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển

Trang 33

theo định hướng xã hội chủ nghĩa Chính sách đó trong nông nghiệp được cụ thể và hoàn thiện trong các văn bản quan trọng mang tính lịch sử như: Nghị quyết 10 của

Bộ Chính trị khoá VI (5/4/1988), Nghị quyết 6 Trung ương khoá VI (3/1989), Luật đất đai (1993), Nghị quyết V của khoá VII (6/1993), Luật hợp tác xã (4/1996) v.v… Những nội dung cơ bản về đổi mới nông nghiệp theo tinh thần xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, giao đất sử dụng ổn định, lâu dài Sau 15 năm đổi mới, hơn 10 triệu nông hộ được khôi phục và phát triển khẳng định là những đơn vị kinh

tế tự chủ đang dần chuyển sang sản xuất hàng hoá Như vậy, sự phát triển của kinh

tế hộ và kinh tế trang trại trong thời gian qua nói lên tính đúng đắn về đường lối đổi mới nông nghiệp của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Với chính sách giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài manh nha hình thành từ cơ chế khoán hộ được thử nghiệm tại một số địa phương trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp trước đây như ở tỉnh Vĩnh Phú (cũ), huyện Vĩnh Bảo (thành phố Hải Phòng)… và đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, năng suất lao động được nâng cao, tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất trong nông nghiệp do có sự gắn kết giữa người nông dân với đất đai

1.3.3 Thời kỳ từ năm 1993 - năm 2003

Năm 1993, Luật Đất đai mới (Luật Đất đai 1993) [59] thay thế cho Luật Đất đai năm 1987 [58] đã mở rộng nội hàm của khái niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, quyền sở dụng đất thuộc về người sử dụng đất” Đạo luật này đã quy định cụ thể: “Người sử dụng đất có các quyền sau đây: 1- Được cấp Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, 2 - Hưởng thành quả lao động và kết quả đầu tư trên đất được giao, 3 - Được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật , 8 - Được quyền khiếu nại, tố cáo về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai” (Điều 73); đến Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 [60] đã cụ thể hóa thành 5 quyền:

“Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất” (Điều 3); Luật Đất đai năm 2003 phát triển thành 9 quyền: “Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo

Trang 34

lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất” (Điều 106); Luật Đất đai năm 2013 điều chỉnh còn 8 quyền (bỏ quyền bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất)

Để bảo đảm sự ổn định, đoàn kết, bình đẳng trong nội bộ nhân dân và tạo tâm

lý yên tâm cho người nông dân trong sử dụng ổn định đất nông nghiệp, Nghị định 64/CP đã xác lập các nguyên tắc cơ bản trong việc Nhà nước giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, bao gồm: 1) Giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất, điều chỉnh đất nông nghiệp bằng việc rút bớt diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình,

cá nhân sử dụng nhiều đất sang giao cho hộ gia đình, cá nhân không có đất hoặc thiếu đất nông nghiệp để sản xuất; 2) Đảm bảo sự công bằng trong việc giao đất (mỗi hộ gia đình, cá nhân được giao các loại đất nông nghiệp khác nhau dựa trên nguyên tắc “có gần có xa, có tốt, có xấu”), ổn định, tránh xáo trộn và duy trì sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân; 3) Giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân

sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp là giao chính thức và người sử dụng đất nông nghiệp ổn định lâu dài được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 4) Đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp được xác định thời hạn sử dụng cụ thể, theo đó thời hạn giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là 20 năm, thời hạn giao đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là 50 năm

Chính sách giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài mang tính bình quân theo Nghị định 64/CP đảm bảo được sự bình đẳng, ổn định, đoàn kết trong nội bộ nhân dân, song khiến cho ruộng đất sử dụng phân tán, manh mún (đặc biệt là ở khu vực đồng bằng sông Hồng và Khu IV cũ), làm cản trở việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp đất nước Khắc phục tình trạng này, chính sách dồn điền đổi thửa được ban hành Để khuyến khích hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp tự nguyện chuyển đổi ruộng đất cho nhau nhằm tích tụ, tập trung đất đai,

Trang 35

Nhà nước giao trong hạn mức có quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác”

1.3.4 Thời kỳ từ năm 2003 - hiện nay

Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 31-10 - 2012, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI Về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời

kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ

bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, xác định: Tiếp tục giao đất,

cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất Đồng thời, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, từng giai đoạn để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ, tập trung đất đai, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn trong nông nghiệp Sớm có giải pháp đáp ứng nhu cầu đất sản xuất

và việc làm cho bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đang không có đất sản xuất

Qua các đạo luật đất đai như: Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung hai lần vào năm 1998 và 2001), Luật Đất đai 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Luật Đất đai 2013 có thể thấy, pháp luật đất đai luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm bổ sung, hoàn thiện, đồng thời Nhà nước Việt Nam đã ngày càng mở rộng quyền cho người sử dụng đất nông nghiệp nói chung và hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Cơ chế quản lý đất đai cũng được đổi mới, đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế, chính sách đất đai đã được thể chế hóa Ngưới sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, được hưởng thành quả và kết quả đầu tư trên đất được giao, được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, được góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh Đồng thời, NSDĐ có nghĩa vụ sử dụng đúng mục đích, bảo vệ đất đai, bảo vệ môi trường, nộp thuế, lệ phí, tiền sử dụng đất, được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và NSDĐ trả lại đất cho Nhà nước khi có quyết định thu hồi đất

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Với khoảng 70% dân số là nông dân, từ xưa đến nay nông nghiệp luôn là ngành sản xuất đặc biệt quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế Việt Nam Đất nông nghiệp là nguồn tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân Vì vậy, việc sử dụng đất nông nghiệp hợp lý để thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước luôn được Đảng

và Nhà nước quan tâm, là nội dung quan trọng, mang tính tất yếu trong pháp luật đất đai, được Hiếp pháp Việt Nam quy định Tất cả được thể hiện trong pháp luật về QSDĐNN của người nông dân nói chung và hộ gia đình, cá nhân nói riêng

Nghiên cứu pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam là một vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn, bởi trong bối cảnh biến đổi khí hậu, công nghiệp hóa, đô thị hóa với những chính sách thu hồi đất nông nghiệp ở nhiều địa phương như hiện nay đã tác động lớn đến quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân - những chủ thể chủ yếu sử dụng đất nông nghiệp

Trên cơ sở như vậy, Chương 1 đã làm rõ nội hàm các khái niệm cơ bản về sử dụng đất nông nghiệp, QSDĐNN, QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân, pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân Bên cạnh đó, Luận văn còn phân tích bao quát, thấu đáo những đặc điểm về QSDĐNN của hộ gia đình, cá nhân với ba đặc điểm; yếu tố chi phối (ba yếu tố chính) và cơ cấu pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình,

cá nhân gồm: 1) Nhóm các quy phạm về quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng đất, 2) Nhóm các quy định về đối tượng sử dụng đất nông nghiệp, 3) Nhóm các quy định về hạn mức giao đất, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp, 4) Nhóm các quy định về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp, 5) Nhóm các quy định về quyền chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân, 6) Nhóm các quy định của pháp luật về quyền được bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân; lược sử hình thành và phát triển của pháp luật về QSDĐNN của hộ gia đình cá nhân (bốn thời kỳ) Đây sẽ là

những vấn đề mang lý luận mang tính nền tảng cho toàn bộ nội dung của Luận văn

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN

Ở VIỆT NAM 2.1 Nội dung các quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

2.1.1 Nội dung các quy định về quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng đất

2.1.1.1 Nội dung các quy định về quyền chung của người sử dụng đất

Các quyền chung của người sử dụng đất được quy định tại Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013, bao gồm; i) Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các tài sản khác gắn liền với đất; ii) Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; iii) Hưởng các lợi ích do các công trình công của Nhà nước phục vụ cho việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; iv) Được Nhà nước hướng dẫn, giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; v) Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình; vi) Được bồi thường khi bị Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật; vii) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật (VPPL) đất đai

Như vậy, quy định về những quyền chung của người sử dụng đất được tập hợp trên ba nhóm quyền:

Thứ nhất: các quyền liên quan đến việc xác lập và đảm bảo tư cách chủ thể

cho người sử dụng đất Với tư cách đại diện cho chủ sở hữu, Nhà nước thưc hiện quyền của mình thông qua các phương thức trao quyền và xác lập những bằng chứng pháp lý đảm bảo cho các chủ thể thực hiện được các quyền của mình trong quá trình sử đụng đất Ví dụ quyền được Nhà nước giao đất, cho thuê đất; quyền được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất…

Trang 38

Thứ hai: nhóm các quyền cho phép người sử dụng đất được hưởng thành quả

lao động, kết quả đầu tư có trên đất Đó là những lợi ích chính đáng trong quá trình

sử dụng đất, kể cả quyền được nhận những sự giúp đỡ từ phía Nhà nước trong quá trình sử dụng đất, trong việc bồi bổ, cải tạo đất

Thứ ba: nhóm các quyền bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp thông qua hoạt

động khiếu nại, tố cáo, khởi kiện những hành vi vi phạm hoặc yêu cầu được Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích bị xâm hại; được bồi thường khi bị Nhà nước thu hồi đất Bên cạnh đó, tuỳ theo từng mục đích sử dụng, hình thức sử dụng, phương thức thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, các chủ thể sử dụng đất còn được thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất

2.1.1.2 Nội dung các quy định về nghĩa vụ chung của người sử dụng đất

Nghĩa vụ chung của người sử dụng đất được quy định tại Điều 170 Luật Đất đai, bao gồm:

Thứ nhất: nhóm các quy định nhằm đảm bảo trật tự quản lý và sử dụng đất

Ví dụ như sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới, đúng quy định về chiều sâu trong lòng đất, chiều cao trên không…tuân theo các quy định khác của pháp luật, tuân theo những quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của những người sử dụng đất có liên quan; giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, khi hết thời hạn sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân phản ánh đầy

đủ, chính xác, kịp thời, khách quan các thông tin về quản lý, sử dụng đất đai cho cơ quan quản lý đất đai, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp để cập nhật vào hệ thống theo dõi và đánh giá

Thực chất các quy định này đã đưa ra các yêu cầu, các quy định mà người sử dụng đất phải tuân thủ; những giới hạn mà người sử dụng đất không được vượt qua

Đó chính là những yếu tố tạo nên văn hoá pháp lý trong cách ứng xử giữa Nhà nước với người sử dụng đất và giữa những người sử dụng đất với nhau

Thứ hai: nhóm các quy định về việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính của

Trang 39

nhập từ việc chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí, phí trong quá trình sử dụng đất… Đây là nhóm nghĩa vụ hết sức quan trọng mà người sử dụng đất phải thực hiện đối với Nhà nước Nếu có những phương thức khai thác phù hợp, các nguồn thu từ nghĩa vụ tài chinh sẽ đảm bảo khả năng điều tiết thu nhập xã hội, điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không phải do người sử dụng đất mang lại Không những thế, nguồn thu một cách công khai minh bạch các nghĩa vụ tài chính từ những người

sử dụng đất còn trở thành cơ sở đảm bảo sự công bằng trong xã hội và đủ cơ sở để phục vụ cho sự phát triển

2.1.2 Nội dung các quy định cụ thể về quyền sử dụng đất nông nghiệp của

hộ gia đình, cá nhân

2.1.2.1.Các quy định về quyền được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp

Thứ nhất: hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,

nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai, được Nhà nước giao đất theo hình thức không thu tiền sử dụng đất Để trở thành đối tượng được Nhà nước thực hiện các chính sách

ưu đãi thông qua việc trao quyền sử dụng đất dưới hình thức giao đất Hộ gia đình,

cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được phải đáp ứng được điều kiện, đó là “có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó”2 UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm xác nhận hộ gia đình, cá nhân có thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp theo quy định sau đây: UBND cấp xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn thu nhập

ổn định từ sản xuất nông nghiệp; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không cùng nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thì UBND cấp xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp sau khi có văn bản xác nhận về việc sử dụng đất nông nghiệp của UBND cấp xã nơi có đất

2

Khoản 30 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013

Trang 40

Đây là hình thức giao đất mà người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước Hình thức này nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của người trực tiếp lao động sản xuất, bảo vệ tốt quỹ đất nông nghiệp đồng thời phục vụ chương trình an ninh lương thực quốc gia Mặc dù Luật Đất đai năm 2013 có thu hẹp các đối tượng được giao đất không thu tiền sử dụng đất tuy nhiên vẫn ghi nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thuộc đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất Điều này cho thấy sự ưu tiên của Nhà nước, ghi nhận họ là đối tượng có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp đồng thời có khả năng bảo

vệ và sử dụng hợp lý đất nông nghiệp nên cần tạo điều kiện tối đa khi giao quyền sử dụng đất Bắt đầu từ Luật Đất đai năm 1993, các quan hệ đất đai ở Việt Nam đều chịu chi phối bởi yếu tố thị trường, thì hình thức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân theo hình thức không thu tiền sử dụng đất, nhưng vẫn đảm bảo quyền tài sản cho họ đối với diện tích đã trao cần được nhìn nhận như một phương thức ưu tiên đặc biệt cho đối tượng này Đây thực sự là một giải pháp nhất quán trong chính sách đất đai của Nhà nước đối với người nông dân, nhằm đảm bảo hoặc tạo điều kiện cho họ có đất để sản xuất Điều đáng ghi nhận ở đây là, ngoại trừ những chủ thể sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh hoặc sử dụng đất cho các nhu cầu của Nhà nước, của xã hội xã hội, thì hộ gia đình, cá nhân là chủ thể duy nhất được cho phép sử dụng đất dưới hình thức không thu tiền sử dụng đất

Thứ hai: hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất nông nghiệp bao gồm:

- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi

trồng thủy sản, làm muối

- Hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức được giao theo quy định tại Điều 129 Luật Đất đai năm 2013 Trong quan hệ cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân Nhà nước đảm bảo cho chủ thể này được quyền lựa chọn giữa phương thức trả tiền thuê đất hàng năm hoặc trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, nhằm đảm bảo cho các chủ thể sử dụng đất chủ động quyết định lựa chọn phương thức thanh toán trên cơ sở năng lực tài chính và điều

Ngày đăng: 24/04/2020, 10:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w