trình nghiên cứu của các tác giả: Hoàng Mạnh Hải: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải phóng mặt bằng Dự án xây dựng đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ BẮC GIANG,
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ BẮC GIANG,
Trang 3HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Sáng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Lời đầu tiên, tôi xin trân thành cảm ơn PGS TS Vũ Thu Hạnh đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và những góp ý chân thành của các thầy, cô giáo trong Khoa đào tạo sau đại học – Trường đại học Mở Hà Nội Tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện của: Phòng Tài nguyên và Môi trường; Trung tâm Phát triển quỹ đất; Phòng Thống kê thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang…đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian điều tra số liệu
và những đóng góp quý báu cho luận văn của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã khích lệ, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Sáng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 7
1.1 Một số vấn đề lý luận về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất 7
1.1.1 Khái niệm thu hồi đất 7
1.1.2 Khái niệm giải phóng mặt bằng 8
1.1.3 Khái niệm bồi thường 9
1.1.4 Khái niệm tái định cư 9
1.1.5 Khái niệm hỗ trợ 10
1.1.6 Vai trò của việc bồi thường giải phóng mặt bằng 11
1.2 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất 13
1.2.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật Đất đai năm 1993 13
1.2.2 Giai đoạn sau khi ban hành Luật Đất đai năm 1993 đến trước khi ban hành Luật Đất đai năm 2003 14
1.2.3 Giai đoạn từ Luật Đất đai năm 2003 đến khi ban hành Luật Đất đai năm 2013 15 1.2.4 Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai năm 2013 đến nay 16
1.3 Thực tiễn công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở một số nước trong khu vực - Những gợi mở cho Việt Nam 18
1.3.1 Thực tiễn công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở một số nước trong khu vực 18
1.3.2 Một số gợi mở đối với Việt Nam 21
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 23
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG 24
Trang 62.1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường, giải phóng mặt bằng khi
Nhà nước thu hồi đất 24
2.1.1 Sự cần thiết khách quan của pháp luật điều chỉnh về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất 24
2.1.2 Đặc điểm của pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất 25
2.1.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất 26
2.2 Thực trạng chính sách pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Bắc Giang 33
2.2.1 Quy định về những trường hợp Nhà nước thu hồi đất phải thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng 33
2.2.2 Quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 33
2.2.3 Quy định về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 36
2.2.4 Quy định về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 37
2.3 Tình hình kinh tế, xã hội; quản lý, sử dụng đất đai và bồi thường, giải phóng mặt bằng tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 39
2.3.1 Tình hình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của thành phố Bắc Giang, tỉnh 39
2.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất đai tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 41
2.3.3 Công tác triển khai công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trong thời gian qua tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 45
2.4 Những kết quả đạt được trong quá trình thi hành pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 46
2.4.1 Đối tượng và điều kiện được bồi thường 46
2.4.2 Bồi thường thiệt hại về đất 47
2.4.3 Bồi thường về tài sản trên đất 48
2.4.4 Các chính sách hỗ trợ 48
2.4.5 Chính sách tái định cư 49
2.5 Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 49
2.5.1 Ưu điểm 49 2.5.2 Một số tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về bồi thường giải
Trang 7TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHI NHÀ NƯỚC THU HÒI ĐẤT; NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT TẠI THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG 57 3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất 57 3.2 Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất 59 3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất 63
3.3.1 Hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất 633.3.2 Hoàn thiện các quy định về giá đất để tính bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất 643.3.3 Hoàn thiện pháp luật về bồi thường cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất66
3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 66 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 69 KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP: Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Quyết định số 869/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND tỉnh Bắc Giang: Quyết định số 869/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc ban hành Quy định một số điểm cụ thể về thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 43 Bảng 2.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp 44 Bảng 2.3 Kết quả diện tích đất đai nằm trong quy hoạch Nhà nước thu hồi bồi
thường giải phóng mặt bằng giai đoạn 2007 - 2017 trên địa bàn thành phố 45
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đất đai là tài sản quốc gia, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với đời sống của từng hộ gia đình, cá nhân, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện tối thiểu đảm bảo cho quá trình tái sản xuất giúp xã hội không ngừng phát triển Trong quá trình đổi mới nền kinh tế - xã hội ở nước ta, cơ chế kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế Quốc
tế đã từng bước được hình thành, các thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ và một
xu hướng tất yếu về nguồn lực đầu vào cho sản xuất và sản phẩm đầu ra đều phải trở thành hàng hoá, trong đó đất đai cũng không phải là ngoại lệ
Nước ta đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiều dự án như các khu công nghiệp, nhà máy, các khu đô thị mới, khu dân cư đang được triển khai xây dựng một cách mạnh mẽ Để thực hiện được các nhiệm vụ trên và mang tính khả thi thì mặt bằng đất đai là một trong những nhân tố quan trọng, nó quyết định đến hiệu quả trong công tác đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước và ảnh hưởng đến cả tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước trong những năm gần đây kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao với tốc độ ổn định, các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, khoa học, xã hội ngày càng được quan tâm phát triển Sự phát triển của nền kinh
tế xã hội của đất nước là do chúng ta đã xây dựng được hệ thống kết cấu hạ tầng kĩ thuật, hệ thống giao thông đường bộ, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống lưới điện quốc gia đồng bộ là điều kiện để phát triển các ngành như: nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch Đến nay cả nước ta đã có rất nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, nhiều công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia Để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, phát triển các ngành kinh tế, công nghiệp, giao thông, xây dựng, thương mại dịch vụ, giáo dục, y tế, xã hội, đào tạo.v.v Nhà nước phải thu hồi đất của người sử dụng đất và phải bồi thường cho người bị thu hồi Việc thực hiện bồi thường giữ vị trí hết sức quan trọng
là yếu tố có tính quyết định trong toàn bộ quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng
Trang 11Trong những năm qua công tác GPMB gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Để khắc phục những tồn tại đó trong những năm gần đây Nhà nước đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai và ban hành các văn bản pháp lý hướng dẫn thực hiện về công tác bồi thường GPMB và tái định
cư thực hiện một cách có hiệu quả
Thành phố Bắc Giang là tâm kinh tế, văn hóa và chính trị của tỉnh Bắc Giang, được sự quan tâm, tạo điều kiện của tỉnh cùng với sự nỗ lực phát triển kinh
tế - xã hội của thành phố và đã trở thành Đô thị loại 2 vào năm 2015 Trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển mở rộng đô thị, phát triển công nghiệp, dịch vụ, việc
hu hồi đất diễn ra thường xuyên, liên tục là điều tất yếu, tuy nhiên, do cơ chế chính sách thường xuyên thay đổi đã gây không ít khó khăn cho việc bồi thường, hỗ trợ cho người có đất khi Nhà nước thu hồi Một số người dân không đồng tình với phương án của Nhà nước, không chịu bàn giao đất dẫn đến làm chậm tiến độ thi công các công trình ảnh hưởng đến môi trường đầu tư ở địa phương Tình trạng một
bộ phận người dân khiếu nại kéo dài, khiếu kiện đông người gây mất ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội Để giải quyết những tồn tại nêu trên, Nhà nước đã thường xuyên rà soát, sửa đổi bổ sung các quy định về bồi thường GPMB Tuy hiệu quả chưa được như mong muốn, một số quy định ban hành dường như chưa đáp ứng được với thực tiễn (như về giá, tái định cư, giải quyết vấn đề việc làm cho người bị thu hồi đất…) Do vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu về cơ chế chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất nhằm hoàn thiện pháp luật về
vấn đề này Đây cũng là lý do mà tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về bồi thường,
giải phóng mặt bằng và thực tiễn thi hành tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang" để làm luận văn thạc sĩ luật học
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đặt ra những mục đích nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phân tích, tìm hiểu nội hàm của các khái niệm liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất; nhận diện những đặc trưng cơ bản của các khái niệm này;
Trang 12- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang;
- Xác lập định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật
về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất;
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế trong lĩnh vực đất đai nói chung và về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng
- Các quy phạm pháp luật về thu hồi bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất;
- Công tác thực thi pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang;
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Do tính chất phức tạp và rộng lớn của đề tài, luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở việc đi sâu phân tích, tìm hiểu các quy định pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất được ban hành từ năm
2007 đến năm 2017;
4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
- Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước và pháp quyền nói chung và về chính sách, pháp luật đất đai nói riêng trong điều kiện
Trang 13kinh tế thị trường;
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
4.1 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu
Sử dụng số liệu thực tế tại Trung tâm phát triển quỹ đất và Cụm công nghiệp thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, với những kinh nghiệm thực tế trong công việc của mình, tham khảo trên mạng Internet, số liệu tại: Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố để có số liệu so sánh với giá đất áp dụng để lập phương án bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và giá đất theo khung giá
do UBND tỉnh Bắc Giang quy định
4.2 Phương pháp thống kê
Sử dụng để thống kê các số liệu về giá đất bồi thường, nhà và tài sản trên đất,
số liệu về hỗ trợ và nhà tái định cư phục vụ cho mục đích nghiên cứu
4.3 Phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp
Để đánh giá thực trạng công tác thu hồi bồi thường, giải phóng mặt bằng của
dự án tại thành phố Bắc Giang và đề xuất các giải pháp sao cho phù hợp với thực tiễn, góp hoàn thiện chính sách về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng: Exels
Phương pháp minh họa sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh
Phương pháp chuyên gia
5 Tình hình nghiên cứu đề tài và những đóng góp mới của luận văn
Bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật đất đai Nội dung này khi đi vào cuộc sống trực tiếp đụng chạm đến lợi ích của người bị thu hồi đất, lợi ích của cộng đồng và lợi ích của nhà đầu tư nên đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của giới khoa học pháp lý nước ta;
Thời gian vừa qua đã có một số công trình, sách báo pháp lý nghiên cứu về lĩnh vực pháp luật này dưới khía cạnh lý luận và thực tiễn; tiêu biểu là các công
Trang 14trình nghiên cứu của các tác giả: Hoàng Mạnh Hải: Nghiên cứu thực trạng và đề
xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải phóng mặt bằng Dự án xây dựng đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (đoạn qua quận Dương Kinh, Hải Phòng),
Luận văn Thạc sĩ luật học, 2012; Trần Văn Thương, “Quản lý nhà về đất đai trên
địa bàn thị xã Gia Nghĩa tỉnh Đắk Nông”, Luận văn thạc sĩ, 2015; Đỗ Quang
Dương, “Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất giải phóng mặt bằng ở quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội”, Luận văn
thạc sĩ, 2013; Nguyễn Thị Phương Thảo, “Pháp luật về bồi thường về đất khi thực
hiện các dự án kinh tế và thực tiễn áp dụng tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”,
Luận văn thạc sĩ, 2012; Nguyễn Minh Tuấn, “Thu hồi đất vì mục đích kinh tế ở Việt
Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ, 2013; Phạm Phương Nam, Nguyễn Thanh Trà,
“Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng thực hiện một số dự án tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình”, Tạp chí Khoa học và Phát triển 2012 Tập 10, số:
350.356; Ts Nguyễn Thị Nga, “Pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi
thường và giải phóng mặt bằng và những vướng mắc nẩy sinh trong quá trình áp dụng”, Tạp chí Luật học, số 11/2010 vv… Các công trình này chủ yếu đi sâu
nghiên cứu về vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa tìm hiểu một cách thấu đáo khía cạnh hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất Tiếp tục kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình trên đây, luận văn đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất dưới góc độ của pháp luật đất đai;
Nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp mới về mặt khoa học trên những khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi
thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất;
Thứ hai, hệ thống hóa, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, giải
phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Trên cơ sở đó chỉ ra tồn tại, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế này trong các quy định hiện hành;
Trang 15Thứ ba, đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện
pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT TẠI THÀNH
PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT; NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT TẠI THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1 Một số vấn đề lý luận về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1 Khái niệm thu hồi đất
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, có vai trò đặc biệt trong đời sống kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia Đất đai nước ta có cơ cấu rất phong phú và đa dạng như: Đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng
hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất ở, đất xây dựng trụ sở
cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng… tất cả các loại đất trên đều được quản lý, sử dụng, khai thác hợp lý khoa học sẽ trở thành nguồn lực lớn mạnh Điều 53 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Tính nhất quán trong quan niệm xây dựng chế độ sở hữu toàn dân tiếp tục được khẳng định tại Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 “Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Trên tinh thần đó, Nhà nước ta trong quá trình quản lý đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để phân phối và phân phối lại quyền sở dụng đất Một trong các biện pháp chính
là thu hồi đất, thu hồi đất không chỉ hiểu theo một cách thuần túy là Nhà nước tước đi quyền sở dụng của các chủ sở dụng đất mà qua đó xác lập một quan hệ sở dụng đất mới phù hợp với lợi ích Nhà nước, xã hội Giáo trình Luật đất đai năm 2008 - Trường Đại học Luật Hà Nội đã định nghĩa “Thu hồi đất là văn bản hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất” [20, tr.141] Mặt khác theo Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 “Thu
Trang 17hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật
về đất đai”
Như vậy, có thể hiểu thu hồi đất là tổng hợp những hành vi của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được tiến hành theo một trình tự, thủ tục theo luật định, nhằm chấm dứt một quan hệ về đất đai Nhà nước thu hồi đất vì lí do đương nhiên; vì lí do phục vụ quốc phòng an ninh; do lỗi của người sử dụng đất
1.1.2 Khái niệm giải phóng mặt bằng
Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới
Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu giao cho tổ chức dịch
vụ công về đất đai, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới Đây là một quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện
sự khác nhau giữa các dự án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia và
cả của xã hội
Công tác giải phóng mặt bằng mang tính quyết định đến tiến độ của các dự án,
là khâu đầu tiên thực hiện dự án Trong đó đền bù thiệt hại là khâu quan trọng quyết định tiến độ giải phóng mặt bằng
Theo từ điển tiếng Việt thì đền bù có nghĩa là “trả lại đầy đủ hoặc tương xứng với mất mát hoặc sự vất vả” điều đó có nghĩa là:
- Không phải mọi khoản đền bù đều bằng tiền;
- Sự mất mát của người bị thu hồi đất không chỉ là về mặt vật chất mà nhiều trường hợp còn mất mát cả về tinh thần nhất là khi phải tái định cư;
- Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế và vẫn đòi hỏi sự “hy sinh” không chỉ là một sự đền bù ngang giá tuyệt đối
Từ những nhận thức trên có thể hiểu bản chất của công tác đền bù giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc
Trang 18gia, lợi ích công cộng trong quá trình hiện nay không chỉ đơn thuần là sự đền bù về mặt vật chất mà còn phải đảm bảo lợi ích của người dân phải di chuyển Đó là họ phải có được chỗ ở ổn định, điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi cũ, nhưng chắc chắn phải tốt hơn nơi cũ về mọi mặt thì mới tạo điều kiện cho người dân sống và ổn định
1.1.3 Khái niệm bồi thường
Trong đời sống hàng ngày, bồi thường là một thuật ngữ được sử dụng trong trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng “Bồi thường: đền bù những tổn hại đã gây ra” [1, tr 79] Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thể
có hành vi gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội Trách nhiệm này được rất nhiều các ngành luật đề cập như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực pháp luật dân sự; trách nhiệm bồi thường oan, sai do hành vi của các
cơ quan tố tụng gây ra trong lĩnh vực pháp luật hình sự; trách nhiệm vật chất do hành vi của người lao động gây ra trong lĩnh vực pháp luật lao động v.v
Trong lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật ngữ bồi thường để thực hiện giải phóng mặt bằng ở Việt Nam đã được đặt ra từ rất sớm Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) “Quy định thể lệ tạm thời
về trưng dụng ruộng đất”, tại Chương II đã đề cập đến việc “Bồi thường cho người
có ruộng đất bị trưng dụng” Tiếp đến Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ về “Quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lưu niên, các hoa mầu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế
mở rộng thành phố” cũng đề cập đến vấn đề bồi thường
1.1.4 Khái niệm tái định cư
Hiến pháp năm 2013 quy định quyền có nơi ở là một trong những quyền cơ bản của công dân Do đó, khi Nhà nước thu hồi đất ở của người sử dụng đất thì Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện việc tái định cư cho họ Vậy tái định cư là gì? Theo Từ điển Tiếng Việt, tái định cư được hiểu là: Đến một nơi nhất định để sinh sống lần thứ hai (lại một lần nữa)
Trang 19Thuật ngữ tái định cư được pháp luật đất đai đề cập nhưng lại chưa có quy định nào giải thích cụ thể nội hàm của khái niệm này Luật Đất đai qua các thời kỳ
và các văn bản hướng dẫn thi hành không có điều luật nào đề cập cụ thể về khái niệm tái định cư Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định
cư trước khi thu hồi đất; Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng
bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư [2, Điều 85]
Từ quy định trên của pháp luật đất đai hiện hành, chúng ta có thể tạm đưa ra quan niệm về tái định cư như sau: Tái định cư là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chuẩn bị nơi ở mới đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định cho người bị Nhà nước thu hồi đất ở để giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống
1.1.5 Khái niệm hỗ trợ
Trong thực tiễn đời sống, cộng đồng thường thể hiện tinh thần đoàn kết
"tương thân, tương ái" thông qua sự hỗ trợ về vật chất và tinh thần để giúp một thành viên hoặc một nhóm người trong xã hội có thể vượt qua những khó khăn hay những rủi ro mà họ gặp phải để sớm ổn định cuộc sống (thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn ) Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt Nam thể hiện sự nhân văn "tương thân, tương ái" với đồng loại Hoạt động này được gọi là hỗ trợ, theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: "Hỗ trợ: Giúp thêm, góp thêm vào" [1, tr 332] Như vậy dưới góc độ ngôn ngữ, hỗ trợ là sự trợ giúp, giúp đỡ của cộng đồng nhằm san sẻ hoặc chia sẻ bớt một phần khó khăn, rủi ro mà một thành viên hoặc một nhóm người gặp phải trong cuộc sống Hoạt động này bao gồm hai hình thức:
hỗ trợ về vật chất (tiền của hoặc các hiện vật) và hỗ trợ về tinh thần (động viên, thăm hỏi, an ủi);
Thuật ngữ hỗ trợ không chỉ được sử dụng trong đời sống xã hội mà còn được
sử dụng trong lĩnh vực pháp luật nói chung và pháp luật đất đai nói riêng Sở dĩ pháp luật đất đai đề cập đến việc hỗ trợ là vì đất đai vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt trong
Trang 20sản xuất nông, lâm nghiệp; vừa là tư liệu tiêu dùng đối với con người Do vậy, khi Nhà nước thu hồi đất thì người sử dụng đất bị mất tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng nên họ lâm vào hoàn cảnh khó khăn như mất công ăn, việc làm hoặc mất nơi ở v.v Để giúp họ vượt qua khó khăn ổn định sản xuất và đời sống thì bên cạnh việc bồi thường, Nhà nước phải thực hiện việc hỗ trợ Với ý nghĩa đó, Luật Đất đai năm
2013 quan niệm: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển” (khoản 14 Điều 3)
1.1.6 Vai trò của việc bồi thường giải phóng mặt bằng
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, việc đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế - xã hội là việc làm tất yếu khách quan của bất kỳ quốc gia nào Đặc biệt đối với nước ta sau nhiều năm chiến tranh, chúng ta đang nỗ lực chấn hưng đất nước, thu hẹp khoảng cách và sớm đuổi kịp các nước trong khu vực Để đạt được mục tiêu này, chúng ta phải đầu tư xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống các cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội Muốn vậy, Nhà nước phải có một quỹ đất cần thiết, phù hợp Tuy nhiên, Nhà nước không thể có đủ quỹ đất này nếu không thực hiện việc thu hồi đất của người đang sử dụng Song việc thu hồi đất chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước giải quyết tốt "bài toán" bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người sử dụng đất
Thứ nhất: Nhằm bảo đảm lợi ích công cộng
Thu hồi đất là biện pháp của Nhà nước nhằm chấm dứt quan hệ pháp luật về SDĐ giữa một bên là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao đất, cho thuê đất và một bên là Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu về đất đai Thông qua việc thu hồi đất, Nhà nước có được một quỹ đất cần thiết đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; phát triển các cơ sở kinh tế, công nghiệp, các cơ sở sản xuất - kinh doanh, khu đô thị v.v Qua đó, làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư; kêu gọi sự đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đồng thời, ở một mức độ nhất định, việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất cũng góp phần gián tiếp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
Trang 21giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp, dịch vụ Khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, Nhà nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho người nông dân bị mất đất sản xuất trong việc đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm mới Qua đó, góp phần rút bớt một lực lượng lao động ở nông thôn chuyển sang làm việc trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ
Thứ hai: Nhằm bảo đảm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người bị thu hồi đất
Vì lợi ích chung, lợi ích của cả cộng đồng, Nhà nước thực hiện thu hồi đất của người sử dụng đất để sử dụng cho các mục đích khác nhau Điều này sẽ gây ra những thiệt hại và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của những người bị thu hồi đất Nếu không thực hiện tốt việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất sẽ dẫn đến tình trạng là trong khi các công trình phúc lợi được xây dựng trên những diện tích đất bị thu hồi mang lại lợi ích cho số đông dân chúng trong xã hội thì ở thái cực ngược lại người bị thu hồi đất lại rơi vào tình trạng khó khăn về sản xuất và đời sống do bị mất đất sản xuất hoặc bị mất nhà ở Do đó, vấn
đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích của người bị thu hồi đất với lợi ích của Nhà nước, của xã hội để vừa bảo đảm nhu cầu sử dụng đất đai phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, bồi hoàn cho họ những thành quả lao động, kết quả đầu tư bị thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra
Thứ ba: Góp phần vào việc duy trì ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội
Cho dù thu hồi đất để sử dụng vào bất kỳ mục đích gì thì đây cũng là hành vi
"đụng chạm" trực tiếp đến quyền lợi vật chất của người sử dụng đất Chính vì vậy, thu hồi đất luôn luôn là vấn đề nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và người được hưởng lợi từ việc thu hồi đất (chủ đầu tư, các doanh nghiệp hoặc cộng đồng xã hội) Thực tế giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện từ việc thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi
Trang 22đất cho thấy nếu không giải quyết tốt việc bồi thường tổn thất, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất nhằm giúp họ vượt qua khó khăn nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất thì sẽ phát sinh nhiều tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, vượt cấp với
số đông người dân tham gia Đây là nguyên nhân cơ bản làm phát sinh những "điểm nóng" gây mất ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội và dễ bị kẻ xấu lợi dụng kích động, lôi kéo nhân dân không đồng thuận với chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư, các công trình hạ tầng công cộng v.v phục vụ lợi ích của cộng đồng Do đó, thực hiện tốt bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có vai trò quan trọng góp phần duy trì ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; tránh nguy cơ nảy sinh các xung đột xã hội
1.2 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật Đất đai năm 1993
Lịch sử phát triển pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được đánh dấu với sự ra đời của Hiến pháp năm 1959; trong đó ghi nhận một nguyên tắc hết sức cơ bản là: "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải, thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác" (Điều 18) và
"chỉ khi nào thật cần thiết vì lợi ích chung, Nhà nước mới trưng mua hoặc trưng dụng, trưng thu có bồi thường thích đáng các tư liệu sản xuất ở thành thị và nông thôn trong phạm vi và điều kiện do pháp luật quy định" (Điều 20)
Tiếp đó, Hiến pháp năm 1980 ra đời tiếp tục khẳng định việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Hiến pháp năm 1980 quy định toàn bộ đất đai và tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý; tuy nhiên: "Khi thật cần thiết vì lợi ích chung, Nhà nước có thể trưng mua, trưng dụng hoặc trưng thu có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc của tập thể" (Điều 28)
Ngày 29/12/1987, lần đầu tiên Luật Đất đai được ban hành Tuy chưa đề cập trực tiếp, cụ thể việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, song Luật Đất đai năm 1987 đã có quy định về việc Nhà nước thu hồi đất khi "cần sử dụng cho nhu cầu của Nhà nước và xã hội" (Điều 14, khoản 8) và "người bị thu hồi đất được
Trang 23bồi thường thiệt hại thực tế, được bồi hoàn thành quả lao động, kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất" (Điều 49); "người được Nhà nước giao đất có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại thực tế cho người bị thu hồi đất" (Điều 48)
Nguyên tắc Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp về tài sản của công dân tiếp tục được Hiến pháp năm 1992 khẳng định: "Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường" (Điều 23) Như vậy, mặc dù không đề cập trực tiếp đến việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất song Hiến pháp năm 1992 vẫn ghi nhận và bảo hộ quyền lợi hợp pháp của công dân đối với tài sản của mình khi bị Nhà nước trưng mua, trưng dụng vì lợi ích chung thông qua việc bồi thường
1.2.2 Giai đoạn sau khi ban hành Luật Đất đai năm 1993 đến trước khi ban hành Luật Đất đai năm 2003
Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, ngày 14/7/1993, Quốc hội khóa
IX đã thông qua Luật Đất đai mới thay thế Luật Đất đai năm 1987 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/10/1993 Luật Đất đai năm 1993 đã đề cập trực tiếp đến việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: "Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại" (Điều 28) Như vậy vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất lần đầu tiên được Luật Đất đai ghi nhận đã xác lập cơ sở pháp lý rất quan trọng cho việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị thu hồi đất Thể chế hóa quy định này của Luật Đất đai năm 1993, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật nhằm hình thành hệ thống pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất như: Ban hành quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (Nghị định số 90-CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ; Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 thay thế Nghị định số 90-CP); quy định về việc giao đất nông nghiệp
Trang 24cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp (Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993); Quy định về khung giá các loại đất (Nghị định
số 87/CP ngày 17/8/1994)…
Những văn bản pháp luật này ra đời đã từng bước tạo lập một khung pháp lý đồng bộ cho việc thực thi bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tạo hành lang pháp lý cho việc thu hồi đất phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời góp phần quan trọng vào việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất ở nước ta
1.2.3 Giai đoạn từ Luật Đất đai năm 2003 đến khi ban hành Luật Đất đai năm 2013
Đặt trong mối quan hệ so sánh với sự phát triển nhanh chóng của tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và xu hướng hội nhập quốc tế, quy định của Luật Đất đai năm 1993 về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất không còn phù hợp: giá đất bồi thường còn có một khoảng cách khá xa so với giá chuyển nhượng quyền SDĐ trên thị trường; các vấn đề về tái định cư cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở, giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp… chưa quy định rõ ràng cơ chế thực hiện v.v Điều này đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về đất đai nói chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng Phúc đáp đòi hỏi của thực tiễn, ngày 26/11/2003, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật Đất đai mới (gọi là Luật Đất đai năm 2003) thay thế cho Luật Đất đai năm 1993 Luật Đất đai 2003 đã dành hẳn Mục 4, Chương II để quy định về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng như: Quy định Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) sau khi có quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt (Khoản 1, Điều 39); quy định về thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế (Điều 40); Nhà nước ra quyết định thu hồi đất và giao cho Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, GPMB và trực tiếp
Trang 25quản lý quỹ đất đã thu hồi đối với trường hợp sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư (khoản 1 Điều 41); quy định về các vấn đề: xây dựng khu tái định cư cho người bị thu hồi đất ở; hỗ trợ ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi nghề, bố trí việc làm mới cho người trực tiếp sản xuất bị mất đất sản xuất; quy định về việc thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch trong việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất v.v Để nhanh chóng triển khai đưa các quy định mới này của Luật Đất đai năm 2003 đi vào cuộc sống, hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành Các văn bản quy phạm pháp luật ra đời trên
cơ sở kế thừa các quy định đã được ban hành trước đây về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; đồng thời bổ sung các quy định mới nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; bảo đảm lợi ích cho người bị thu hồi đất và lợi ích của Nhà nước, của xã hội;
1.2.4 Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai năm 2013 đến nay
Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 (sau đây được gọi tắt là Luật Đất đai 2013) ra đời đã thể chế hoá đúng và đầy đủ những quan điểm, định hướng của Nghị quyết số 19/NQ-TƯ tại Hội nghị lần 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng thời khắc phục, giải quyết những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật Đất đai năm 2003
Luật Đất đai 2013 đã cụ thể hóa các quyền của Nhà nước đối với đất đai như: quyền của đại diện chủ sở hữu; quyền quyết định mục đích sử dụng đất; quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất; quyền quyết định thu hồi, trưng dụng đất đai; quyền quyết định giá đất; quyết định chính sách tài chính về đất đai… Đã
bổ sung những nội dung cơ bản trong việc điều tra, đánh giá về tài nguyên đất đai, nhằm khắc phục bất cập hiện nay mà Luật Đất đai năm 2003 chưa có quy định cụ thể; bổ sung những quy định quan trọng trong nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất, nhằm khắc phục khó khăn khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Luật quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định
cư đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi nhằm khắc phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến
Trang 26quyền và lợi ích của người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các
dư luận xấu trong xã hội
Luật quy định khung giá đất do Chính phủ ban hành, định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng; bỏ quy định việc công bố bảng giá đất vào ngày 01/01 hàng năm, thay vào đó, bảng giá đất được xây dựng định kỳ 5 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01/01 của năm đầu kỳ Bảng giá đất chỉ áp dụng đối với một số trường hợp thay cho việc áp dụng cho tất cả các mục đích như quy định hiện hành
Luật quy định hoàn chỉnh hơn các chính sách đất đai đối với khu vực nông nghiệp; hoàn thiện hơn quy định về chế độ sử dụng đất đối với sử dụng cho khu công nghiệp, khu công nghệ cao và khu kinh tế; bổ sung quy định việc sử dụng đất
để xây dựng công trình ngầm, đáp ứng yêu cầu đặt ra của thực tiễn phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước Mở rộng thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình,
cá nhân sản suất nông nghiệp; mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đáp ứng yêu cầu tích tụ đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại phù hợp với đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn Cụ thể: Nâng thời hạn giao đất nông nghiệp trong hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân từ 20 năm lên 50 năm, thống nhất cho các loại đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp); cho phép hộ gia đình, cá nhân tích tụ với diện tích lớn hơn (không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp)
Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua là sự kiện quan trọng đánh dấu những đổi mới về chính sách đất đai, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân Để các quy định đổi mới của Luật sớm đi vào cuộc sống, các bộ, ngành và địa phương vẫn đang khẩn trương phối hợp triển khai xây dựng các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai
Trang 27Tóm lại, nghiên cứu quá trình phát triển của pháp Luật về đất đai qua các thời
kỳ cho thấy rằng, Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện mảng hệ thống pháp luật về lĩnh vực này nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất và lợi ích chung của cộng đồng trong việc sử dụng đất vào các mục đích công cộng, phát triển kinh tế v.v
1.3 Thực tiễn công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở một số nước trong khu vực - Những gợi mở cho Việt Nam
1.3.1 Thực tiễn công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở một số nước trong khu vực
* Ở Trung Quốc, có thể nói Trung Quốc là một quốc gia láng giềng, có chung đường biên giới với Việt Nam Giữa hai nước có nhiều điểm tương đồng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội: cả hai nước đều đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; vì vậy, việc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc trong phát triển kinh tế nói chung và trong việc giải quyết "bài toán" bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng là rất cần thiết nhằm góp phần hoàn thể thể chế kinh tế thị trường và hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta
Pháp luật Trung Quốc thừa nhận hai hình thức sở hữu về đất đai, đó là:
sở hữu Nhà nước (đối với đất đai trong khu vực đô thị) và sở hữu tập thể (đối với đất ở nông thôn và ngoại đô thị) đồng thời cũng có quy định việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện trên các nguyên tắc
cơ bản sau:
- Việc bồi thường phải thỏa đáng theo quy định của pháp luật Nếu thu hồi đất dẫn đến việc mất nhà ở thì phải bồi thường đồng bộ Việc tái định cư, xây dựng cuộc sống mới cho người bị thu hồi đất theo nguyên tắc nơi ở mới phải ngang bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ;
- Giá đất làm căn cứ bồi thường theo giá do Tổ chức định giá xác định Tổ chức định giá và giá do tổ chức này đưa ra được kiểm tra chặt chẽ;
Trang 28- Việc thực hiện bồi thường không mặc cả với dân nhưng Nhà nước có lắng nghe ý kiến của dân
- Về thẩm quyền thu hồi đất: Pháp luật Trung Quốc quy định chỉ có hai cấp có thẩm quyền thu hồi đất là Chính phủ Trung ương và Chính quyền cấp tỉnh Quốc vụ viện (Chính phủ) quyết định thu hồi từ 35 ha trở lên đối với đất canh tác và 70 ha trở lên đối với đất khác Đối với đất nông nghiệp cơ bản thì thu hồi 01 mẫu trở lên phải được sự đồng ý của Quốc vụ viện, đối với 01 mẫu giao cho chính quyền cấp tỉnh thực hiện việc thu hồi [6, tr 29]
- Việc bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật Trung Quốc quy định cụ thể như sau:
+ Người được thụ hưởng quyền sử dụng đất sau khi thu hồi thực hiện việc bồi thường cho chủ sở hữu; sau đó, chủ sở hữu bồi thường cho người đang thực hiện hợp đồng quyền sử dụng đất nhưng bị thu hồi;
+ Đối với đất dùng làm mặt bằng sản xuất - kinh doanh, trước năm 1998, các doanh nghiệp được giao đất thực hiện việc bồi thường Hiện nay, theo Luật Quản
lý đất đai, Nhà nước sẽ bồi thường sau đó giao đất cho doanh nghiệp và thu tiền (còn gọi là "xuất nhượng đất") [5, tr 56]
+ Đối với loại đất khác, tiêu chuẩn bồi thường đất và hỗ trợ tái định cư do chính quyền cấp tỉnh quy định căn cứ vào tiêu chuẩn bồi thường đất đai và hỗ trợ tái định cư đối với đất canh tác Tiêu chuẩn bồi thường đối với cây trồng và tài sản trên đất cũng do chính quyền cấp tỉnh quy định;
Nếu tiền bồi thường đất và hỗ trợ tái định cư không đủ để đảm bảo cho nông dân duy trì cuộc sống tương đương với trước khi thu hồi đất thì mức bồi thường và
hỗ trợ có thể được tăng sau khi được chính quyền cấp tỉnh phê chuẩn Số tiền được tăng không vượt quá 30 lần sản lượng bình quân hàng năm của 3 năm trước khi thu hồi Đối với đất canh tác bị trưng dụng, trong trường hợp đặc biệt, Quốc vụ viện quyết định tăng mức bồi thường căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội; + Đối với những người trong độ tuổi lao động thì được trả một lần từ 100-120 NDT để họ tự đi tìm việc làm [6, tr 31]
Trang 29- Về quản lý nhà nước đối với đất sau thu hồi: Pháp luật Trung Quốc quy định rất chặt chẽ việc quản lý đối với đất được giao mà không sử dụng (còn gọi là đất nhàn rỗi) nhằm đảm bảo cho đất đai được sử dụng hiệu quả, tránh lãng phí Đất được coi là "nhàn rỗi" khi:
- Những hợp đồng sử dụng đất của Nhà nước có bồi thường hoặc trong giấy phép sử dụng đất để xây dựng nhưng không quy định ngày, tháng khởi công thì sau một năm đất bỏ trống kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực hoặc sau một năm kể từ ngày cấp giấy phép;
- Đã khởi công xây dựng nhưng chỉ sử dụng 1/3 diện tích hoặc chưa đầy 25% tổng mức đầu tư mà để trống một năm mà chưa được cơ quan cấp đất hoặc cấp giấy phép xây dựng đồng ý
Để xử lý đất "nhàn rỗi", pháp luật Trung Quốc đưa ra các biện pháp sau đây:
- Bố trí sử dụng tạm thời chờ khi dự án trước đây có đủ điều kiện quay trở lại Lúc này, nếu giá trị đất tăng thì Chính phủ sẽ thu phần giá trị tăng đó;
- Bố trí khôi phục canh tác;
- Chính phủ đổi cho người sử dụng đất mảnh đất khác tương đương;
- Chính quyền cho đấu thầu hoặc phát mại và bồi thường cho người SDĐ trước đây, bao gồm cả công trình đang tiếp tục xây dựng;
- Đối với đất canh tác được giao để xây dựng công trình phi nông nghiệp, quá
2 năm không sử dụng thì bị thu hồi và không bồi thường
Bên cạnh đó, Nhà nước còn áp dụng các biện pháp mang tính kinh tế như: Chính quyền có thể thu phí do không đảm bảo thời hạn sử dụng hoặc người SDĐ phải trả tiền chuyển mục đích sử dụng Đối với đất canh tác bị thu hồi cho việc xây dựng các công trình phi nông nghiệp mà quá một năm chưa khởi công xây dựng thì phải nộp phí (phạt) theo quy định của chính quyền cấp tỉnh Trong phạm vi quy hoạch thành phố, đất dùng xây dựng nhà ở để bán (nhà kinh doanh), nhưng nếu để "nhàn rỗi" quá một năm thì phải nộp phí để đất "nhàn rỗi" có thể đến 20% tổng giá trị chuyển nhượng quyền SDĐ; nếu để quá 2 năm thì bị thu hồi mà không được bồi thường
Tuy nhiên, các biện pháp này có thể được loại trừ nếu vì lý do bất khả kháng hoặc do lỗi của chính quyền [5, tr 62]
Trang 30*Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường
*Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ
ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5 km Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc
1.3.2 Một số gợi mở đối với Việt Nam
Nghiên cứu pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở một số nước trong khu vực có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với nước ta như sau:
Thứ nhất, các quy định trong pháp luật của một số nước về thu hồi đất và bồi
thường thiệt hại khi thu hồi đất có nhiều điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam Mặc dù vậy chúng ta có thể tham khảo được rất nhiều kinh nghiệm từ việc thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhất là ở Trung Quốc:
Pháp luật Trung Quốc quy định cụ thể về các trường hợp thu hồi đất, về bồi thường thiệt hại cho người có đất bị thu hồi, quản lý Nhà nước đối với đất sau khi thu hồi Đặc biệt là các quy định về tiền hỗ trợ mất việc làm, chuyển đổi nghề, cách thức quản lý và sử dụng khoản tiền hỗ trợ này, chính sách quản lý đối với đất nhàn
Trang 31rỗi v.v là những kinh nghiệm hay mà Việt Nam có thể tham khảo và áp dụng để hoàn thiện mảng quy định của pháp luật về lĩnh vực này;
Thứ hai, trong 2 thập kỷ qua, các nước trên có tốc độ phát triển kinh tế cao
nhất thế giới Quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế đã tác động mạnh mẽ đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân bố lại lực lượng lao động trong xã hội; một số lượng không nhỏ diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng thành đất phi nông nghiệp đã kéo theo hàng loạt các vấn đề mà các Chính phủ phải giải quyết như: ổn định đời sống, chuyển đổi nghề nghiệp, công ăn, việc làm cho người nông dân bị mất đất v.v Đây cũng chính là những vấn đề mà Việt Nam đã
và đang gặp phải trong quá trình chuyển đổi với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Chính vì vậy, kinh nghiệm giải quyết các vấn đề nói trên là những bài học rất có giá trị để Việt Nam tham khảo, tìm ra được giải pháp phù hợp nhất để giải quyết "bài toán" đất đai cho nhu cầu phát triển và đảm bảo quyền lợi cho người nông dân bị mất đất sản xuất;
Thứ ba, việc bồi thường cho người có đất bị thu hồi dựa trên cơ sở lắng nghe
tâm tư, nguyện vọng của người dân nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho
họ Đồng thời, các Chính phủ cũng rất chú trọng đến việc quản lý chặt chẽ đất nông nghiệp, tránh việc sử dụng lãng phí quỹ đất này thông qua việc xác lập các quy định
về xử lý đất "nhàn rỗi" Đây là những nội dung mà nước ta cần lưu tâm tìm hiểu nhằm góp phần tìm ra một giải pháp hợp lý để giải quyết có hiệu quả công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng
Trang 32TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất có thể nhận thấy:
1 Trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc thu hồi đất còn có liên quan đến các công việc như di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới…
Trong phát triển kinh - xã hội bồi thường, giải phóng mặt bằng có vai trò rất quan trọng, một mặt nhằm bảo đảm lợi ích công cộng, giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người bị thu hồi đất; mặt khác, góp phần vào việc duy trì ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội
Có nhiều lý do để Nhà nước thu hồi đất nhưng không phải trường hợp nào thu hồi đất Nhà nước cũng phải bồi thường giải phóng mặt bằng mà việc làm đó phải tuân theo các quy định của pháp luật
2 Pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
có có nội hàm rất rộng, bao gồm các nhóm quy định về bồi thường, về tái định cư
và về hỗ trợ đối với người có đất bị thu hồi
Tại Việt Nam, pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất có đặc trưng rõ nét là chịu sự ảnh hưởng và chi phối bởi hình thức sở hữu toàn dân về đất đai; đồng thời mang đậm yếu tố xã hội, nhân văn trong nội dung pháp luật Cụ thể là pháp luật không chỉ điều chỉnh những lợi ích vật chất ở tại thời điểm đất bị thu hồi mà còn tính đến cả những giá trị phi vật chất trong tương lai của người bị thu hồi đất, cũng như pháp luật luôn tính đến việc giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, xã hội và của người sử dụng đất trong thu hồi đất
3 Những vấn đề lý luận nêu trên sẽ được soi rọi và kiểm chứng bởi thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang và được thể hiện ở Chương 2 của luận văn
Trang 33Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ BẮC GIANG,
là vì:
Thứ nhất, pháp luật mang tính đặc trưng mà các biện pháp quản lý khác
không có được: đó là tính quy phạm, tính bắt buộc chung, tính cưỡng chế và tính thích ứng
Thứ hai, xuất phát từ chế độ sử hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là
người đại diện Nhà nước thay mặt cho nhân dân thực hiện quyền của chủ sử hữu Trên cơ sở đó Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất…
Thứ ba, thu hồi đất là lĩnh vực rất khó khăn, phức tạp và nhạy cảm: bởi nó
trược tiếp đụng chạm đến quyền và lợi ích thiết thực của các bên liên quan mà trước hết là người sử dụng đất, vì vậy cần phải điều chỉnh một cách hiệu quả pháp luật
Thứ tư, pháp luật quy định cụ thể các trường hợp thu hồi đất, mục đích thu
hồi đất, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thu hồi và phương thức giải quyết hậu quả do việc thu hòi đất gây ra…Những quy định này giúp cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện một cách tường minh, công bằng và đúng pháp luật
Trang 342.1.2 Đặc điểm của pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
Từ những khái niệm cơ bản về thu hồi đất về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất nêu trên và từ những thuộc tính khái niệm của pháp luật nói chung, có thể xây dựng khái niệm pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của chủ đầu tư và lợi ích của người bị thu hồi đất”
So với các chế định khác của pháp luật đất đai, pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất là một chế định quan trọng, vì có liên quan đến lợi ích của nhiều chủ thể Thêm nữa, việc thực hiện hay không thực hiện nghiêm chỉnh chế định này còn tác động lớn đến việc thực hiện các dự án phát triển nói riêng, hoạt động phát triển kinh tế, xã hội của từng vùng hay của cả nước nói chung
Tại Việt Nam, pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất là một chế định đặc thù trong quản lý của Nhà nước về đất đai, mang một số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu
hồi đất chịu sự ảnh hưởng và chi phối bởi hình thức sở hữu toàn dân về đất đai
Thứ hai, cơ sở để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất không chỉ dựa trên
những thiệt hại vật chất thực tế mà người sử dụng đất phải gánh chịu khi Nhà nước thu hồi đất mà còn phải tính đến tổn hại phi vật chất ở thời điểm thu hồi và trong tương lai người bị mất đất phải đối mặt
Thứ ba, pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi
đất phải giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa lợi ích công của Nhà nước, xã hội và lợi ích tư của người sử dụng đất trong thu hồi đất
Trang 352.1.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
Từ khái niệm pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất nêu trên cho thấy nội dung cơ bản của chế định này gồm các nhóm quy định sau:
2.1.3.1 Quy định về những trường hợp Nhà nước thu hồi đất phải thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng
Như trên đã phân tích, có rất nhiều lý do để Nhà nước thu hồi đất (có nhiều căn cứ thu hồi đất), nhưng không phải lý do nào cũng được Nhà nước bồi thường, giải phóng mặt bằng mà chỉ đối với những trường hợp được pháp luật quy định Cụ thể là:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận)
- Có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai mà chưa được cấp
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở
gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai mà chưa được cấp
Ngoài những trường hợp nếu trên còn quy định trường hợp đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước 01/7/2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang
sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp Đây cũng là một hướng mở theo hướng có lợi cho người bị thu hồi đất mặc dù không đủ điều kiện được bồi thường nhưng khi xét một khía cạnh nào đó người bị
Trang 36thu hồi đã sử dụng đất ổn định thể hiện sự ưu việt của chế độ chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa của nước ta
Có thể nói, pháp luật hiện hành đã quy định rất rõ ràng các trường hợp được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Điều này khẳng định ràng, Nhà nước ta ngày càng quan tâm đến việc ban hành các quy định về bồi thường, giải phóng mặt bằng, qua đó tạo thuận lợi cho người tổ chức thực được chính xác, hiệu quả
2.1.3.2 Quy định pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
- Nguyên tắc, điều kiện được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
(i) Nguyên tắc được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Việc bồi cho người có đất bị thu hồi được thực hiện như sau:
Thứ nhất, thực hiện bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất bị
Nhà nước thu hồi;
Khi Nhà nước thu hồi đất thì toàn bộ diện tích đất bị thu hồi của người bị thu hồi đất có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được bồi thường Trong trường hợp toàn bộ hoặc một phần diện tích đất bị thu hồi không đủ điều kiện được bồi thường thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là UBND cấp tỉnh) xem xét để hỗ trợ;
Xuất phát từ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và từ thực tế sử dụng đất ở nước ta trong trường hợp không đủ điều kiện để được bồi thường nhưng khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích chung, Nhà nước vẫn thực hiện
hỗ trợ để bù đắp một phần những thiệt hại, rủi ro mà người bị thu hồi đất phải gánh chịu và giúp họ nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất;
Thứ hai, người bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi
thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tại thời điểm có quyết định thu hồi; Trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ
để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu (Khoản 4, Điều 86 Luật Đất đai năm 2013)
Trang 37(ii) Điều kiện được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Các trường hợp đã có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc có đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Ngoài ra, các đối tượng được bồi thường cũng được Luật Đất đai 2013 quy định đó là hộ gia đình, cá nhân; cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức; Luật cũng quy định về trường hợp đang sử dụng đất ổn định mà không phải do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì loại đất được xác định theo hiện trạng đang sử dụng thì cũng được bồi thường; Điều 20, Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định “việc sử dụng đất và xây dựng các công trình trên đất từ trước ngày 01/7/2004, nay được xác nhận là đất
sử dụng ổn định, không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương thì được công nhận quyền sử dụng đất” Trường hợp việc gia đình bạn sử dụng đất ổn định từ trước năm 1993, không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương thì có quyền thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng đăng ký đất đai
Bên cạnh đó, luật hiện hành cũng quy định một số trường hợp cá biệt nhưng được hoặc không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể:
Đối với một số trường hợp thửa đất sử dụng hình thành từ trước thời điểm quy định của địa phương có hiệu lực mà diện tích đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của UBND cấp tỉnh nhưng có đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận thì người đang sử dụng sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trong trường hợp tự chia tách thửa đất đã đăng ký, đã được cấp giấy chứng nhận thành hai hoặc nhiều thừa đất mà trong đó có ít nhất một thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu thì sẽ không được cấp giấy chứng nhận cũng như không được công chứng, chứng thực Trường hợp người sử dụng đất xin tách thửa thành thửa có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu đồng thời với việc xin được hợp thửa
đó với thửa đất khác liền kề có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa mới
Trang 38Như vậy có thể nói, pháp luật hiện hành đã có những quy định chi tiết các điều kiện được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Điều này thể hiện Nhà nước ta ngày càng quan tâm đến lợi ích của nhân dân đặc biệt là người bị thu hồi đất, là cơ
sở pháp lý để các cơ quan, địa phương tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả và chính xác
- Những quy định cụ thể của pháp luật về bồi thường Khi nhà nước thu hồi đất
Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người sử dụng đất Đặc điểm của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất bao giờ cũng gắn với một sự kiện pháp lý là Nhà nước ra quyết định thu hồi đất Hiến pháp quy định đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân,
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Trên tinh thần đó, Luật Đất đai năm 2013 đã cụ thể hóa chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, trong đó đặc biệt
là quy định về quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai Vì vậy, khi Nhà nước thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì Nhà nước lấy lại đất đã giao thông qua việc thu hồi đất Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai
Trong trường hợp bị thu hồi đất ở, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trực tiếp bị xâm hại Họ không chỉ mất quyền sử dụng đất ở mà còn buộc phải di chuyển chỗ ở Đời sống của họ bị ảnh hưởng rất lớn Để giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định đời sống thì Nhà nước phải thực hiện việc bồi thường Hơn nữa, xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người sử dụng đất là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra Vì vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ
Trong điều kiện kinh tế thị trường, quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt Do đó, khi Nhà nước thu hồi đất ở của người sử dụng đất để sử
Trang 39dụng vào bất kể mục đích gì mà làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của
họ thì Nhà nước phải có bổn phận và nghĩa vụ bồi thường
Theo quy định của pháp luật có thể thấy là có nhiều lý do dẫn tới việc Nhà nước thu hồi đất Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” Các Điều 61, 62, 64, 65 Luật Đất đai năm 2013 quy định rõ những trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; do vi phạm pháp luật đất đai; do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người
Mặc dù vậy, để tránh việc lạm dụng chính sách thu hồi đất, Nhà nước cũng có quy định hạn chế đối với hoạt động này Tại Khoản 3, Điều 54 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật” Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở cần tuân thủ các nguyên tắc
cơ bản được quy định tại Điều 74, Điều 88 Luật Đất đai năm 2013, Nghị định
số 47/2014/NĐ-CP
Đối với trình tự, thủ tục bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định theo hướng tăng cường hơn sự tham gia trực tiếp của nhân dân trong việc đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; trách nhiệm đối thoại và giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người dân chưa có ý kiến đồng thuận
2.2.3.3 Quy định pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Theo quy định pháp luật, khi Nhà nước thu hồi đất người có đất bị thu hồi được bố trí tái định cư nếu đủ các điều kiện Dự án tái định cư được lập và phê duyệt độc lập với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhưng phải bảo đảm
Trang 40có đất ở, nhà ở tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất Về chính sách này, trong những năm qua cho thấy, việc xây dựng các khu tái định cư của các dự án rất bị động, thiếu đồng bộ nhất là các dự án thuộc nguồn vốn Trung ương, trong đó tồn tại lớn nhất là cơ sở hạ tầng khu tái định cư không được đầu tư theo quy định hoặc đầu tư nửa vời Các dự án thiếu biện pháp khôi phục nguồn thu nhập tại nơi ở mới cho người được bố trí tái định cư Các công trình xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất phương án bồi thường, tái định cư do chủ dự án lập, Hội đồng GPMB chỉ tham gia với tư cách tư vấn vì vậy, trách nhiệm của chính quyền địa phương thường không cao và là nguyên nhân làm giảm hiệu lực pháp luật của các chính sách bồi thường và tái định cư ảnh hưởng đến tiến độ GPMB
Nguồn đất xây dựng các khu tái định cư ở các đô thị rất hiếm, có sự chênh lệch lớn về các dịch vụ xã hội, những hộ sống bằng nghề buôn bán thì hầu hết không lựa chọn phương án “đổi đất lấy đất” Còn ở khu dân cư nông thôn, việc thu hồi đất ảnh hưởng đến tập quán sinh hoạt của người dân, đất giao mới có quy mô diện tích như hiện nay không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân như: Nhà phải có sân chơi, gần gũi với họ hàng, đi lại thuận tiện…
2.1.3.4 Quy định pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển Theo nghĩa thông thường, hỗ trợ
là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào, nhìn chung đó là các quy định và các chính sách của Nhà nước nhằm thể hiện sự nhân đạo, biểu hiện bản chất của dân, do dân và vì dân của Nhà nước ta nhằm hỗ trợ, chia sẻ khó khăn của người dân bị thu hồi đất, thông qua việc đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới… giúp đỡ một phần nào rủi ro mà họ phải gánh chịu khi Nhà nước thu hồi đất, đồng thời giúp cho người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định đời sống, sản xuất và kinh doanh Để cụ thể hóa các vấn đề vừa nêu trên, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các quy định hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để giúp người bị thu hồi đất giảm bớt các khó khăn trong cuộc sống Cụ thể là: