Việc nghiên cứu các quy định pháp luật giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án nhằm tiếp tục hoàn thiện thêm chế định pháp luậ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
TRANH CHẤP VỀ DI SẢN THỪA KẾ LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan việc nghiên cứu đề tài luận văn thạc sỹ luật kinh tế đề tài
“Tranh chấp về di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất từ thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang” là do tôi thực
hiện trên cơ sở hướng dẫn khoa học của
Các số liệu, kết quả, ví dụ trong Luận văn đảm bảo độ chính xác và tin cậy Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Phạm Văn Nam
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và nghiên cứu đề tài luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo – Viện Đại học Mở Hà Nội
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành đến cô giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS Vũ Thu Hạnh là người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết, tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, các bạn bè, đồng nghiệp nơi tôi công tác đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh, song
do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Phạm Văn Nam
Trang 4KẾ LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT, GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TẠI TÒA ÁN 6 1.1 Một số vấn đề lý luận về tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 6
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 6 1.1.2 Các dạng tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 11
1.2 Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án 13
1.2.1 Khái niệm, đặc trưng giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án 13 1.2.2 Cơ sở khoa học của việc giải quyết tranh chấp bằng pháp luật 14 1.2.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết tranh chấp di sản thừa
kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án 16 1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật giải quyết tranh chấp di sản thừa kế
là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án 23 1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tranh chấp di sản thừa kế
là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án 25 1.2.6 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 27
Chương 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ
LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG 33 2.1 Đặc điểm tình hình tỉnh Bắc Giang 33
2.1.1 Đặc điểm tình hình về địa lý, dân số, kinh tế, xã hội 33
Trang 52.1.2 Đặc điểm tình hình tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất 34
2.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án cấp sơ thẩm 36
2.2.1 Thụ lý vụ án 37
2.2.2 Chuẩn bị xét xử vụ án 38
2.2.3 Phiên tòa sơ thẩm 44
2.3 Thực tiễn giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án cấp phúc thẩm 48
2.3.1 Kiểm tra tính hợp lệ của kháng cáo, kháng nghị 48
2.3.2 Chuẩn bị xét xử phúc thẩm 49
2.3.3 Phiên tòa phúc thẩm 49
2.4 Những kết quả đạt được từ việc giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang 51
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TẠI TÒA ÁN 65
3.1 Những sai sót dẫn đến sửa án, hủy án tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 65
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án 73
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 73
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 77
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn lực
và là thành phần quan trọng của môi trường sống; có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội to lớn; liên quan đến mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân; được Nhà nước hết sức quan tâm, quản lý và bảo vệ Hiến pháp và Luật Đất đai qua các thời kỳ đều khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý; và quy định nhiều quyền năng của người sử dụng đất Chính vì ý nghĩa quan trọng của đất đai và các quyền của người sử dụng đất theo pháp luật nên trong đời sống xã hội đã phát sinh nhiều loại tranh chấp về đất đai, về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, trong đó nổi lên di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là một quyền cơ bản của người sử dụng đất pháp luật dân sự bảo vệ Đây là quyền thể hiện rất rõ tính tự
do ý chí, tự do định đoạt của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự về tài sản nói chung, quan hệ thừa kế nói riêng Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, các tranh chấp về di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất diễn ra ngày càng nhiều với tính chất phức tạp, kéo dài Chính vì thế tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là một vấn
đề thời sự liên quan đến từng cá nhân, từng gia đình Các vấn đề thừa kế chủ yếu là liên quan đến đất giữa những người có quan hệ gần gũi với nhau nên nếu không giải quyết dứt điểm, không phù hợp sẽ gây mất đoàn kết trong gia đình,
từ đó ảnh hưởng tới trật tự xã hội Việc giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án góp phần giải quyết, chấm dứt mâu thuẫn giữa các đồng thừa kế Việc nghiên cứu các quy định pháp luật giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án nhằm tiếp tục hoàn thiện thêm chế định pháp luật về thừa
kế di sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đồng thời nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án trong lĩnh vực này là một yêu cầu khách quan
Trang 7Vì các lý do trên nên việc chọn đề tài “Tranh chấp về di sản thừa kế là
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất từ thực tiễn giải quyết tại Tòa
án nhân dân tỉnh Bắc Giang” để thực hiện luận văn thạc sỹ luật kinh tế là thực
sự cần thiết, đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu vấn đề kể cả về lý luận và thực tiễn Nghiên cứu đề tài cũng nhằm làm rõ thực trạng giải quyết và những vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để rút ra bài học, đồng thời kiến nghị cơ quan lập pháp
có căn cứ sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự phù hợp với thực tiễn đời sống
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Tại Việt Nam đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Những công trình nghiên cứu và giáo trình giảng dạy liên quan đề cập đến như sau:
- Giáo trình Kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự Học viện Tư pháp - Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội năm 2014;
- Giáo trình Luật tố tụng dân sự Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung – Trường Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh năm 2017;
- “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay”
của Tiến sỹ Phùng Trung Tập, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội năm 2004;
- “Thừa kế theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng” của Tiến sỹ
Phạm Văn Tuyết, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2007;
- “Tuyển tập các bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam về quyền sử dụng đất” của Tiến sỹ Đỗ Văn Đại, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội năm 2010;
- “Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận bản án” Tập 1,2 của
Tiến sỹ Đỗ Văn Đại, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội năm 2013;
- “Một số vấn đề thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam”
của tác giả Nguyễn Thị Hồng Bắc năm 2013;
Trang 8- “Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án ở nước ta” của tác giả Mai Thị Tú Oanh, Luận án tiến sỹ luật học năm 2013;
- “Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp” của tác giả
Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội năm 2014;
- “Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất từ thực tiễn xét xử tại Tòa
án Việt Nam” của Tiến sỹ Trần Văn Hà, Luận án Tiến sỹ luật học, Hà Nội
năm 2017;
- Sổ tay Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao năm 2009
Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu những công trình trên mới chỉ tập trung những vấn đề cơ bản nhất về thừa kế và tố tụng Trong khi đó vấn đề giải quyết tranh chấp
di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án qua thực tiễn tại tỉnh Bắc Giang chưa từng được nghiên cứu dưới luận văn thạc sỹ Vì vậy, học viên chọn đề tài “Tranh chấp về di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất từ thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang”
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Từ những vấn đề lý luận về tranh chấp, tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và thực tiễn giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa
án nhân dân tỉnh Bắc Giang đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và nâng cao hiệu quả giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đối với dạng tranh chấp này
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tranh chấp, giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Đánh giá đúng thực trạng công tác giải quyết, xét xử về tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang
Trang 9- Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; nâng cao hiệu quả giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về thừa kế, giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án và một số vụ án cụ thể có nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Nội dung luận văn tập trung nghiên cứu về giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa
án 2 cấp tỉnh Bắc Giang từ năm 2014 đến năm 2017 Qua đó phân tích, đánh giá, đối chiếu với những quy định pháp luật có liên quan đến giải quyết tranh chấp thừa kế theo Bộ luật dân sự năm 2015, Luật đất đai năm 2013, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và việc giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án trong địa bàn tỉnh Bắc Giang
Luận văn nghiên cứu giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất bao gồm đất ở, đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu lăm là di sản thừa kế cùng với tài sản gắn liền với đất, đối tượng tài sản được giải quyết trong tranh chấp thừa kế
Luận văn tập trung nghiên cứu trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp thừa
kế quyền sử dụng đất tại Tòa án cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác -
Lê Nin; Lý luận nhà nước và pháp luật; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về cải cách tư pháp Bên cạnh đó luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học như: So sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê được sử dụng có chọn lọc trong mỗi hoạt động thực tiễn của mình để việc nghiên cứu đạt hiệu quả tốt nhất Phương pháp quan sát kết hợp với phương pháp phân tích khi trực tiếp tham dự những hoạt động tố tụng cụ thể;
Trang 10phương pháp thống kê tổng hợp; phương pháp so sánh được dùng trong quá trình xem xét sổ thụ lý, nghiên cứu các hồ sơ vụ án
Một số vụ án tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà Tòa án hai cấp thuộc hệ thống Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã giải quyết được sử dụng có chọn lọc để nghiên cứu Các số liệu của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang được tham khảo để việc nghiên cứu toàn diện và sâu sắc hơn
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn là công trình nghiên cứu đề cập một cách tương đối hệ thống và toàn diện vấn đề: Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm bằng các quy định của pháp luật Việt Nam Qua đó bổ sung thêm vào kho tàng lý luận của pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, luật kinh tế Góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
Về thực tiễn: Qua nghiên cứu đề tài, luận văn đã phân tích khái quát tình hình thực tiễn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng để rút ra những nhận xét, đánh giá và nguyên nhân cơ bản Từ đó kiến nghị hoàn thiện Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam, đồng thời đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo đem đến kiến thức bổ ích cho các nhà làm luật, nhà nghiên cứu, các cán bộ giải dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, các sinh viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành luật dân sự, luật kinh tế tại các cơ sở đào tạo luật
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu 03 chương, gồm:
Chương1: Một số vấn đề lý luận về tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT, GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
DI SẢN THỪA KẾ LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN
GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TẠI TÒA ÁN
1.1 Một số vấn đề lý luận về tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Về thừa kế: thừa kế tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người Thừa kế
luôn là một trong những vấn đề phức tạp, gây nhiều tranh cãi Các xung đột quyền lợi giữa các bên tham gia quan hệ thừa kế luôn là đề tài nóng của pháp luật khi xử
lý, giải quyết.Trong Bộ Luật Dân sự năm 2015 cũng như các văn bản pháp luật trước đây không đưa ra khái niệm về thừa kế
Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người Ở thời kỳ này, việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong tục, tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định
Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật, xuất hiện đồng thời với quan hệ
sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Mặt khác, quan hệ
sở hữu là quan hệ giữa người với người về việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội, trong quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối của cải vật chất Sở hữu là một yếu tố khách quan xuất hiện ngay từ khi có xã hội loài người và cùng với thừa kế, chúng phát triển cùng xã hội loài người [17,tr.297, 298]
Theo Từ điển luật học thì thừa kế là “sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật” [1,tr.486] Dựa trên khái niệm về quyền thừa kế quy định tại Điều 609 Bộ Luật Dân sự năm 2015: “Cá
Trang 12nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” thì tác
giả đồng tình với khái niệm về thừa kế nêu ra trong Từ điển luật Người thừa kế có thể
là cá nhân hoặc tổ chức có quyền được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật
- Về quyền thừa kế: theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là pháp luật về thừa kế,
là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trình tự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm
vi, quyền nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền nghĩa vụ của người thừa kế
Quyền thừa kế hiểu theo nghĩa chủ quan là quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản Quyền chủ quan này phải phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng
Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong đó các chủ thể có những quyền và nghĩa vụ nhất định Trong quan hệ này, người có tài sản, trước khi chết có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác Những người có quyền nhận di sản họ có thể nhận hoặc không nhận di sản (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) [6,tr 299]
Như vậy, có thể hiều, quyền thừa kế là quyền của người có tài sản, trước khi chết có quyền định đoạt tài sản của mình theo người khác và quyền của người nhận
di sản đồng ý hoặc không đồng ý nhận di sản theo quy định của pháp luật
- Về di sản thừa kế: Theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015: di
sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản
chung với người khác
Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình
thành trong tương lai
- Về quyền sử dụng đất: Quyền sử dụng đất là một thuật ngữ pháp lý lần đầu
tiên được ghi nhận trong Luật Đất đai năm 1987 Thuật ngữ này tiếp tục sử dụng trong
Trang 13Luật Đất đai năm 1993 Hơn thế nữa, Luật Đất đai năm 1993 đã chính thức ghi nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài của hộ gia đình, cá nhân và cho phép họ được chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng Với quy định này của Luật Đất đai năm 1993, quan hệ sở hữu đất đai ở nước ta được mang một ý nghĩa mới: Đất đai thuộc
sở hữu toàn dân, quyền sử dụng đất thuộc về người sử dụng đất Hay nói cách khác, kể
từ đây quyền sử dụng đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai và được chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho người sử dụng đất thực hiện hiện và trở thành một quyền tài sản thuộc
sở hữu của người sử dụng đất Từ đó đến nay, khái niệm quyền sử dụng đất vẫn tiếp tục được ghi nhận trong Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 nhưng hai văn
bản này vẫn chưa có quy định nào về khái niệm quyền sử dụng đất
Đất đai là một loại tài sản đặc biệt của Nhà nước Nhà nước công nhận các quyền của người sử dụng đất Quyền sử dụng đất được pháp luật quy định là một quyền dân sự và có thể được chuyển giao trong lưu thông dân sự, kinh tế Pháp luật đất đai quy định người sử dụng đất có quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, cho thuê lại, góp vốn, thế chấp, thừa kế quyền sử đụng đất Vì vậy quyền
sử dụng đất là đối tượng trong các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và là di sản trong việc thừa kế quyền sử dụng đất [17,tr 69]
Quyền sử dụng đất có các đặc điểm pháp lý như sau: chủ thể của quyền sử
dụng đất là người sử dụng đất; quyền sử dụng đất được tách ra từ quyền sở hữu đất đai và tồn tại độc lập với quyền sở hữu đất đai; là một hệ thống các quyền của người sử dụng đất; quyền sử dụng đất là quyền tài sản; là một hệ thống các quyền cho phép chủ thể tiếp cận, nắm giữ, khai thác năng lực sinh lợi và công dụng của
đất theo quy định của pháp luật; là một quyền có giới hạn
Từ các đặc điểm pháp lý của quyền sử dụng đất đã trên đây, tác giả đưa ra định nghĩa về quyền sử dụng đất như sau: Quyền sử dụng đất là quyền tài sản của người sử dụng đất, nó bao gồm hệ thống các quyền của người sử dụng đất, cho phép người sử dụng đất có thể tiếp cận, nắm giữ, khai thác năng lực sinh lợi của đất trong thời hạn sử dụng đất, tương ứng với phần diện diện tích đất và hình thức Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể
Trang 14- Về tài sản gắn liền với đất: khoản 1 Điều 104 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tài sản gắn liền với đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng và cây lâu năm có tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”
Như vậy, theo quy định của pháp luật, tài sản gắn liền với đất bao gồm nhà
ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng và cây lâu năm tại thời điểm cấp GCNQSDĐ và được chủ sử dụng đất đăng ký và được ghi trong GCNQSDĐ Quan điểm của tác giả, khi xem xét giải quyết vụ án tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, ngoài những tài sản đã quy định được ghi nhận trong GCNQSDĐ thì còn cần phải xem xét, giải quyết đối với những tài sản gắn liền trên đất hình thành sau và chưa được đăng ký trong GCNQSDĐ; cây trồng trên đất có thể là cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm và các cây lâu năm khác
- Về tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất: tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đang là tranh chấp ngày càng phổ
biến hiện nay Để hiểu một cách toàn diện và đúng khái niệm giải quyết tranh chấp thừa
kế quyền sử dụng đất theo thủ tục tố tụng dân sự thì cần phải nhìn nhận khái niệm này dưới nhiều góc độ khác nhau
Về khái niệm tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất,
nếu xem xét dưới một góc độ là một chế định pháp luật, thừa kế quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất được hiểu là tổng thể các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất từ người đã chết sang cho những người còn sống theo trình tự thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật Dưới góc độ là một quan hệ pháp luật dân sự, thừa kế quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất từ người chết sang cho người còn sống Người thừa kế sẽ trở thành chủ sở hữu hợp pháp đối
Trang 15với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do người chết để lại và được pháp luật bảo hộ Còn tranh chấp được hiểu là sự xung đột các quyền và lợi ích của các chủ thể trong xã hội Như vậy, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là những mâu thuẫn, xung đột về quyền và lợi ích của những đối tượng được nhận thừa kế liên quan đến di sản là quyền sử dụng đất
Luật Đất đai năm 2013 giải thích: tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai Điều 166, Điều 167 Luật đất đai năm 2013 quy định quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất gồm có: quyền được cấp GCNQSDĐ, quyền được hưởng thành quả lao động kết quả đầu tư trên đất; quyền được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi; quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất… Có thể nói tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất là tranh chấp về đất đai
Như vậy, tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là một dạng tranh chấp dân sự, là những mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng đối với đất đai và tài sản gắn liền trên đất khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đất đai, là những xung đột về quyền và lợi ích của những người được thừa kế, hoặc những người có liên quan đến di sản là quyền sử dụng đất cùng tài sản gắn liền với đất
Trường hợp yêu cầu công nhận thỏa thuận phân chia thừa kế quyền sử dụng đất thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân hoặc văn phòng công chứng Về mặt nội dung, giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất theo thủ tục
tố tụng dân sự là giải quyết những mẫu thuẫn về quyền thừa kế hay mâu thuẫn khi thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất được giải quyết theo một trình tự, thủ tục quy định tại BLTTDS năm 2015
Giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất theo thủ tục tố tụng dân sự là việc Tòa án có thẩm quyền áp dụng các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật đất đai để giải quyết mâu thuẫn về quyền thừa kế hoặc thực hiện vụ về tài sản do người
Trang 16chết để lại theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định
1.1.2 Các dạng tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Căn cứ vào chủ thể, đối tượng, tính chất của di sản để lại, tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có hai loại đó là:
- Tranh chấp về quyền thừa kế gồm: yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, yêu cầu xác nhận quyền thừa kế quyền
sử đụng đất và tài sản gắn liền trên đất của minh hoặc yêu cầu bác bỏ quyền của người khác Trong đó, tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất là mâu thuẫn, bất đồng ý kiến về quyền hưởng di sản thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc hoặc pháp luật giữa những người thừa kế tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất Theo đó, chủ thể có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất theo thủ tục tố tụng dân sự là Tòa án
- Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại là những nghĩa vụ về các khoản tiền người để lại di sản còn nợ, tiền thuế, tiền phạt, chi phí quản lý di sản, chi phí mai táng
Tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
có những đặc điểm chung của tranh chấp dân sự, có những đặc điểm giống với tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp chia di sản thừa kế khác Ngoài ra, tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có một
số đặc điểm đặc trưng như sau:
- Thứ nhất, tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là sự chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất nhưng khác biệt so với các hình thức chuyển quyền sử dụng đất khác: sự chuyển dịch quyền này là từ người chết sang cho người còn sống vào thời điểm mở thừa kế - tức là thời điểm người có quyền sử dụng đất chết hoặc bị tuyên bố là đã chết bằng quyết định có hiệu lực của Tòa án
- Thứ hai, thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có điểm khác biệt so với việc thừa kế các tài sản thông thường như sau:
Trang 17+ Đối với thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì người
để lại thừa kế không có quyền sở hữu tài sản (như các loại thừa kế tài sản khác)
mà chỉ có quyền sử dụng đất;
+ Đối với các tài sản thông thường khác, người lập di chúc có thể định đoạt tài sản của mình cho bất cứ cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức nào Nhưng đối với quyền sử dụng đất, nếu định đoạt di sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho người Việt Nam ở nước ngoài không thuộc diện mua nhà ở Việt Nam hoặc người nước ngoài thì những người đó chỉ được hưởng giá trị của quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất
+ Trong tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, di sản là quyền sử dụng đất phải có sự công nhận của Nhà nước thông qua việc cấp GCNQSDĐ
- Thứ ba, di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thường có giá trị lớn và rất khó trong việc xác định nguồn gốc
- Thứ tư, đất đai được phân thành loại sử dụng ổn định lâu dài và loại sử dụng có thời hạn Người thừa kế quyền sử dụng đất không phải lúc nào cũng được sử dụng ổn định lâu dài mà trong trường hợp di sản là quyền sử dụng đất
có thời hạn thì người thừa kế có thể chỉ được sử dụng trong thời hạn còn lại
- Thứ năm, người nhận di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có trường hợp phải đáp ứng một số điều kiện nhất định thì mới được hưởng thừa kế
- Thứ sáu, đối với hầu hết các tài sản thông thường khác, khi thực hiện việc thừa kế không phải tiến hành thủ tục đăng ký thừa kế mà chỉ làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế Nhưng đối với thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, ngoài việc khai nhận di sản thừa kế thì thủ tục đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là bắt buộc
- Thứ bảy, thủ tục tiền tố tụng khi giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất phần lớn được thông qua hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã
Trang 18Khi có tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì theo đề nghị của các bên liên quan, UBND xã, phường, thị trấn nơi
có di sản là đất đai tổ chức hòa giải theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai, khoản 1 Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ Nếu việc hòa giải tại UBND cấp xã không thành thì các bên liên quan có quyền
đề nghị Tòa án nhân dân là cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của BLTTDS giải quyết theo trình tự, thủ tụng do luật định
1.2 Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án
1.2.1 Khái niệm, đặc trưng giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án
Từ khái niệm và những đặc điểm riêng của tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, có thể xây dựng khái niệm giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án là việc Tòa án có thẩm quyền áp dụng các quy định của pháp luật (Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan như các Nghị định của Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao…) để giải quyết mâu thuẫn về quyền thừa kế hoặc thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định
So với việc giải quyết các loại tranh chấp khác, giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án có một số đặc trưng sau:
- Đặc trưng về thẩm quyền: Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất theo thủ tục tố tụng dân sự Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là một loại tranh chấp dân sự đặc thù bởi nó vừa chịu sự điều chỉnh của quan hệ pháp luật thừa kế nhưng đồng thời cũng chịu sự điều chỉnh của quan hệ pháp luật đất đai Theo quy định pháp luật hiện hành, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất căn cứ theo quy định
Trang 19của BLTTDS Theo đó, Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất theo thủ tục tố tụng dân sự
- Đặc trưng về đương sự: đương sự trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế
là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là những người cùng trong diện, hàng thừa kế có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng Những mối quan hệ này thường đa dạng, phức tạp và trải qua một khoảng thời gian rất dài Do vậy, việc xác định đương sự tham gia tố tụng trong
vụ án tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
là vấn đề rất phức tạp, cần được xem xét cẩn thận để không xảy ra việc đưa thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trong vụ án
- Đặc trưng về áp dụng pháp luật: để giải quyết một vụ án tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cần áp dụng nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố dụng dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật nuôi con nuôi… và các văn bản hướng dẫn khác
- Đặc trưng về việc xác định, xác minh các tài liệu, chứng cứ để giải quyết: đa phần các tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đều diện ra trong khoảng thời gian dài, do vậy việc xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án sẽ gặp không ít khó khăn Khi thu thập tài liệu, chứng
cứ trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì Thẩm phán, Thư ký cần vận dụng toàn bộ những kiến thức về chuyên môn cũng như kiến thức xã hội để xem xét, đánh giá chứng cứ, đảm bảo phương hướng giải quyết vụ án được đúng đắn
1.2.2 Cơ sở khoa học của việc giải quyết tranh chấp bằng pháp luật
Khi tiến hành xây dựng pháp luật, cơ quan lập pháp luôn xem xét và đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau như tính khả thi, tính phù hợp, hiệu lực của văn bản, tình hình kinh tế - xã hội Đó là những cơ sở khoa học để xây dựng các văn bản pháp luật đạt hiệu quả cao trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Việc xây dựng các quy định về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
Trang 20đất được dựa trên những cơ sở khoa học sau đây: thủ tục tố tụng dân sự bao gồm thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự Thủ tục giải quyết vụ
án dân sự là thủ tục giải quyết các tranh chấp phát sinh từ lĩnh vực dân sự theo nghĩa rộng (bao gồm các tranh chấp trong lĩnh vự dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động) Các tranh chấp này đều có cùng đặc điểm đó là:
Thứ nhất, chủ thể của các quan hệ này bình đẳng về quyền và lợi ích Họ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc tham gia tố tụng, đều có quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình Đi cùng với quyền lợi được hưởng là nghĩa vụ phải thực hiện, không có sự phân biệt chủ thể quyền và chủ thể thực hiện nghĩa vụ
Thứ hai, quan hệ tranh chấp dân sự được hình thành trên cơ sở mâu thuẫn về lợi ích giữa các đương sự với nhau, đặc điểm này hoàn toàn khác với quan hệ hình
sự là quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi phạm tội Do đó, các chủ thể trong mối quan hệ tranh chấp này đều có quyền tự thỏa thuận hòa giải với nhau, được công nhận nếu như sự thỏa thuận đó là tự nguyện và không trái pháp luật
Thứ ba, khi giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung, về mặt thủ tục tố tụng thì cơ quan có thẩm quyền đều áp dụng quy định chung của BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành để giải quyết, còn về mặt luật nội dung sẽ áp dụng các văn bản pháp luật nội dung của từng lĩnh vực riêng Tương tự như vậy, BLTTDS sẽ quy định
về mặt trình tự thủ tục để giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, còn luật nội dung áp dụng khi giải quyết các tranh chấp này sẽ là BLDS, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Nuôi con nuôi
Mối quan hệ đặc biệt (quan hệ dòng tộc, quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng) của các đương sự trong các vụ án tranh chấp di sản thừa
kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cũng là một cơ sở quan trọng để xây dựng các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Bên cạnh đó, di sản thừa kế trong những vụ án này lại là quyền sử dụng đất - tài sản đặc biệt có giá trị lớn, vì vậy đây cũng là một đặc điểm cần lưu ý đối với các nhà lập pháp khi ban hành văn bản pháp luật giải quyết loại tranh chấp này
Trang 21Từ những phân tích trên có thể thấy, cũng như các tranh chấp dân sự khác đều áp dụng thủ tục tố tụng dân sự chung quy định tại BLTTDS, tuy nhiên trình tự, thủ tục giải quyết vụ án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lại có những đặc trưng riêng Bởi tính chất đặc thù này mà cần thiết phải có những quy định về thủ tục giải quyết các vụ tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thủ tục tố tụng dân sự nói chung và thủ tục giải quyết các vụ tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nói riêng
1.2.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án
Pháp luật giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có những đặc điểm của pháp luật thừa kế nói chung Ngoài
ra pháp luật về giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất còn có những đặc điểm đặc thù sau:
Thứ nhất, pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất chỉ xuất hiện sau khi có quy định về quyền sử dụng đất
Thứ hai, thừa kế quyền sử dụng đất vừa tuân theo quy định của pháp luật dân sự, vừa tuân theo Luật Đất đai
Thứ ba, văn bản pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với tính chất là văn bản quy định về một loại thừa kế đặc biệt chỉ có ở Việt Nam, khác với thừa kế đất đai (thuộc sở hữu tư nhân) ở các nước trên thế giới nên có những nội dung khác với những quy định đối với pháp luật thừa kế tài sản thông thường
Thứ tư, pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất cũng có những quy định đặc biệt đối với chủ thể để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất
a Điều kiện để quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất được coi là
di sản thừa kế:
- Người sử dụng đất phải có GCNQSDĐ: khoản 9 Điều 3 Luật Đất đai
năm 2013 quy định: “Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn
Trang 22gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định” GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý xác lập mối quan
hệ hợp pháp giữa nhà nước với người sử dụng đất Thông qua GCNQSDĐ, Nhà nước xác lập mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đất đai với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được nhà nước chuyển giao quyền sử dụng đất Nhằm có đầy đủ các căn cứ pháp lý để thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai, tạo cơ sở pháp lý để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất Dù nhận quyền sử dụng đất dưới hình thức nào thì căn cứ rõ ràng nhất để xác định chủ thể có quyền sử dụng đất hợp pháp là chủ thể sử dụng phải đứng tên trên GCNQSDĐ
GCNQSDĐ là điều kiện hình thức vô cùng quan trọng, tuy nhiên, điều kiện này không mang tính tuyệt đối với thừa kế quyền sử dụng đất Về bản chất di sản có giá trị tài sản là quyền sử dụng đất chứ không phải GCNQSDĐ Do đó, nếu có chứng cứ chứng minh người quá cố là người có quyền sử dụng đất hợp lệ thì quyền
sử dụng đất đó vẫn được xác định là di sản thừa kế Vì vậy, pháp luật cho phép người sử dụng đất chưa có GCNQSDĐ vẫn có quyền để thừa kế trong trường hợp
họ có các giấy tờ thay thế như giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp; giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; GCNQSDĐ tạm thời hoặc
có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính…
- Quyền sử dụng đất để lại thừa kế không có tranh chấp: đất không có tranh chấp là đất mà tại thời điểm thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất, các chủ thể sử dụng đất không có sự bất đồng với nhau trong việc xác định ai là người
có quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đó và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp liên quan đến đất
đó Khi tiến hành phân chia, khai nhận di sản thừa kế thì bản thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế, khai nhận di sản thừa kế phải niêm yết công khai 15 ngày tại trụ sở
Ủy ban nhân dân cấp xã nhằm xác định quyền sử dụng đất để thừa kế có tranh chấp hay không Khi phát hiện tình trạng đất có tranh chấp cơ quan có thẩm quyền sẽ
Trang 23ngừng ngay việc tiến hành các thủ tục cho nhận thừa kế quyền sử dụng đất và chỉ tiếp tục khi tranh chấp đã được giải quyết xong
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án: đây là quy định mới được ghi nhận trong Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 Kê biên là một hoạt động cưỡng chế nhằm đảm bảo việc thi hành án trong lĩnh vực tư pháp khi chủ thể có nghĩa vụ tài sản không tự nguyện thực hiện Quyền sử dụng đất
bị kê biên vẫn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người sử dụng đất nhưng quyền của họ đã bị hạn chế vì hành vi vi phạm pháp luật của mình Lúc này, người sử dụng đất không thể tự mình thực hiện quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất nữa, bởi tài sản này đã đặt dưới sự giám sát cơ quan thi hành án, nhằm tiến hành hoạt động bán đấu giá để hoàn thành nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với người được thi hành án Khi một người chết đi thì nghĩa vụ tài sản của họ để lại vẫn phải được thực hiện bằng chính tài sản do họ tạo lập khi còn sống Như vậy, quyền sử dụng đất bị kê biên vẫn sẽ phải bán đấu giá để hoàn thành nghĩa vụ tài sản cho người được thi hành án
- Người để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất thì đất đó phải còn trong thời hạn sử dụng: trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu nên khi thực hiện quyền đại diện sở hữu của mình Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng ổn định, lâu dài hoặc trong một thời hạn nhất định chứ không trao vĩnh viễn Thời hạn sử dụng đất được hiểu là khoảng thời gian mà người sử dụng đất được phép sử dụng đất Trong thời hạn này, người sử dụng đất chính là chủ thể chiếm hữu và có tác động trực tiếp lên đất đai Khi hết thời hạn sử dụng mà người sử dụng đất không được gia hạn thì quyền sử dụng đất sẽ bị Nhà nước thu hồi, lúc này, quyền sử dụng đất của người sử dụng đất chấm dứt Và đương nhiên khi đó họ không còn là chủ thể có quyền sử dụng đất để có thể thực hiện được quyền thừa kế quyền sử dụng đất
- Chủ thể để thừa kế quyền sử dụng đất phải là thực thể có sự sống chết về mặt sinh học và có quyền sử dụng đất một cách hợp lệ, hợp pháp Quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất chỉ phát sinh khi người để thừa kế chết, nghĩa là, chủ thể có
Trang 24quyền phải là những thực thể có sự sống chết Vì vậy, trong quan hệ này chủ thể có quyền được pháp luật quy định chỉ có thể là cá nhân, hoặc thành viên hộ gia đình, không có chủ thể là pháp nhân như các giao dịch khác Bên cạnh đó, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam cũng có quyền để thừa kế nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở
Khi một người đã tặng cho quyền sử dụng đất của mình thì quyền sử dụng đất này không còn thuộc về người đó nữa nên khi người đó chết quyền sử dụng đất không là di sản Trên thực tế, việc xác định khi nào một người đã tặng cho quyền sử dụng đất của mình cho người khác khá khó khăn Trong quan hệ gia đình, cha mẹ
đã già thường rất ngại phải thực hiện các thủ tục hành chính phức tạp, con cái khi được tặng cho quyền sử dụng đất cũng không thể yêu cầu cha mẹ phải làm đúng theo các thủ tục luật định
b Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất:
- Chủ thể để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải là cá nhân: Luật Đất đai năm 2013 quy định cá nhân sử dụng đất có
quyền để thừa kế Quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật
- Chủ thể nhận di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là cá nhân, tổ chức thỏa mãn quy định của Luật Đất đai năm 2013 và BLDS
năm 2015 Điểm d, khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai 2013 quy định “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được nhận chuyển nhượng Quyền sử dụng đất thông qua nhận thừa kế Quyền sử dụng đất”
Như vậy, theo quy định của pháp luật, chủ thể để thừa kế Quyền sử dụng đất
là cá nhân, thành viên trong hộ gia đình trong trường hợp Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao cho hộ gia đình, chủ thể nhận thừa kế có thể là cá nhân, tổ chức
c Các hình thức thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất :
- Thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo di chúc: thừa
kế theo di chúc là sự thể hiện ý chí của người sử dụng đất nhằm chuyển quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của mình cho người khác sau khi chết
Trang 25Người lập di chúc có quyền tự định đoạt quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất bằng việc chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế Tuy nhiên quyền này của người có di sản bị pháp luật hạn chế trong các trường hợp quy định tại điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc)
Người lập di chúc có quyền dành một phần di sản để di tặng: người lập di chúc có thể dành một phần di sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để tặng cho người khác Pháp luật không giới hạn phần di sản quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất dùng vào việc di tặng là bao nhiêu vì thế người để lại thừa kế có thể dành một phần hoặc toàn bộ di sản quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của mình để di tặng
Người thừa kế quyền sử dụng đất chỉ phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất được nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác Ở đây pháp luật đề cao quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự: các bên có quyền thoả thuận về việc trả nợ miễn là thoả thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội
- Thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo pháp luật: trong trường hợp không có di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc vì các lý do khác mà không thể phân chia di sản theo di chúc thì khi đó di sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được chia theo quy định của pháp luật Trong trường hợp thừa kế theo pháp luật, diện và hàng thừa kế được xác định dựa trên các mối quan hệ: huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất bằng nhau, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản
d Thời điểm mở thừa kế và địa điểm mở thừa kế:
- Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết
Khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thời điểm mở thừa
kế là thời điểm người có tài sản chết…” Quy định này đã xác định cái chết của một
Trang 26người theo hai nghĩa: chết về mặt sinh học (cái chết thực tế) và chết về mặt pháp lý (tuyên bố chết)
Thời điểm người có tài sản chết: theo quy định của pháp luật về hộ tịch,
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức,
cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử
Ngày chết được Tòa án xác định trong bản án, quyết định tuyên bố một
người là đã chết có hiệu lực pháp luật: tuyên bố chết trong pháp luật dân sự có ý
nghĩa quan trọng, vì trong quan hệ dân sự, mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các cá nhân gắn bó chặt chẽ với nhau, việc một người vắng mặt ở nơi cư trú trong một thời gian dài mà không có tin tức xác thực rằng người đó còn sống hay đã chết có thể ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích của các chủ thể liên quan Do đó, việc xác định một người còn sống hay đã chết là cơ sở cho việc xác định thời điểm phát sinh, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của người đó trong các quan hệ pháp luật
Việc xác định chính xác thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền lợi, nghĩa vụ của người thừa kế và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cụ thể:
+ Thời điểm mở thừa kế là mốc thời gian để xác định người thừa kế của người chết Người thừa kế nếu là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế; nếu người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; nếu người thừa kế là cá nhân sinh ra và còn sống sau thời điểm
mở thừa kế thì phải đã thành thai trước khi người để lại di sản chết
+ Xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc: khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân
sự năm 2015 đã quy định rõ: “Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế”
+ Xác định khối di sản của người chết để lại Thời điểm mở thừa kế là mốc thời gian để xác định khối di sản hiện còn của người chết Chỉ những tài sản nào thuộc sở hữu của người đã chết hiện còn vào thời điểm mở thừa kế mới được coi là
di sản của người chết để lại cho những người thừa kế
Trang 27+ Xác định thời điểm mở thừa kế là căn cứ để xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế Những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
+ Xác định người quản lý di sản, quyền và nghĩa vụ của họ Chỉ khi một người chết đi thì mới đặt ra yêu cầu xác định khối di sản để lại và phát sinh chủ thể người quản lý di sản Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế và người quản lý
di sản theo di chúc cũng chính thức có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
+ Xác định thời hiệu thừa kế: theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm
2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản,
10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế
+ Xác định văn bản pháp luật áp dụng trong từng thời kỳ
- Địa điểm mở thừa kế được xác định theo nơi cư trú cuối cùng của người
để lại di sản hoặc nơi có toàn bộ di sản: khoản 2 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm
2015 quy định: “Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi
có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản”
Có thể xác định địa điểm mở thừa kế như sau:
+ Đối với cá nhân chỉ sống và sau đó chết tại một nơi cố định thì địa điểm
mở thừa kế của người đó là nơi họ đã sống
+ Đối với cá nhân có hộ khẩu thường trú ở một nơi nhưng đồng thời có đăng
ký tạm trú ở nhiều nơi thì địa điểm mở thừa kế vẫn được xác định tại nơi người đó
đã đăng ký hộ khẩu thường trú dù họ đã chết tại nơi đang tạm trú hoặc ở nơi khác
+ Đối với cá nhân không có hộ khẩu thường trú nhưng họ có đăng ký tạm trú
ở nhiều nơi khác nhau thì địa điểm mở thừa kế được xác định tại nơi họ đang tạm trú mà chết
+ Đối với cá nhân đã từng đăng ký hộ khẩu thường trú ở nhiều nơi khác nhau thì địa điểm mở thừa kế được xác định tại nơi họ đăng ký thường trú cuối cùng
Trang 28Khi không thể xác định được nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản thì địa điểm mở thừa kế được căn cứ theo nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản của người chết Việc xác định địa điểm mở thừa kế theo nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản sẽ có nhiều thuận lợi trong việc xác định di sản, kê khai, quản lý di sản và việc phân chia di sản
Ý nghĩa của việc xác định địa điểm mở thừa kế:
+ Xác định địa điểm mở thừa kế để thực hiện các thủ tục liên quan đến di sản thừa kế như khai báo, thống kê các tài sản thuộc di sản của người chết
+ Là nơi thực hiện việc quản lý di sản, xác định cơ quan có thẩm quyền quản
lý di sản của người chết trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý
+ Là nơi để xác định Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết khi có tranh chấp thừa kế xảy ra Đây là thẩm quyền xét xử của Tòa án theo lãnh thổ
đ Đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất: quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là một tài sản đặc biệt, chính vì thế người thừa kế khi nhận thừa kế phải làm thủ tục đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
e Giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất: tranh chấp di sản thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Để giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tùy từng loại vụ việc cụ thể, cần áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân gia đình và các văn bản pháp luật
có liên quan như các Nghị định của Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao
Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo thủ tục tố tụng dân sự
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật giải quyết tranh chấp di sản thừa
kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án
Với tình hình tranh chấp dân sự nói chung, tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nói riêng ngày càng trở nên phức
Trang 29tạp thì những yếu tố ảnh hưởng đến quy định của pháp luật dân sự cũng cần được quan tâm, xem xét nhiều hơn nữa để có thể thống nhất về mặt cơ sở pháp luật, góp phần giải quyết tranh chấp nhanh chóng, đúng đăn, hợp tình, hợp lý
- Đường lối chính sách của Đảng: đường lối chính sách của Đảng định ra
mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định, định ra những phương pháp cách thức cơ bản để có thể thực hiện những mục tiêu và phương hướng đó Những mục tiêu, phương hướng, phương pháp và cách thức đó sẽ được nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tế Vì thế đường lối chính sách của Đảng là một trong những yếu tố
có sức ảnh hưởng lớn nhất đến nội dung của pháp luật
- Nhu cầu quản lý kinh tế - xã hội của đất nước: để thực hiện một cách hiệu
quả hoạt động quản lý xã hội, một điều tất yếu là Nhà nước phải ban hành các quy định pháp luật phù hợp với nhu cầu quản lý kinh tế, xã hội của đất nước Những vấn
đề cần phải chú trọng trong quá trình xây dựng pháp luật đó là vấn đề xây dựng đồng bộ các loại thị trường trong xã hội hiện nay nhằm mục đích cuối cùng là đưa
ra các loại quy phạm pháp luật phù hợp với nhu cầu, sự phát triển cũng như các quy luật khách quan của xã hội
- Các tư tưởng, học thuyết pháp lý: ngoài các yếu tố như chủ trương chính
sách mang tính chất định hướng của Đảng và nhu cầu quản lý Kinh tế - xã hội của đất nước thì các tư tưởng học thuyết pháp lý cũng là một yếu tố ảnh hưởng khá lớn đến nội dung của pháp luật Các tư tưởng học thuyết pháp lý chủ yếu cần nói đến là:
tư tưởng nhà nước pháp quyền, tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…
- Phong tục tập quán: ở Việt Nam chúng ta - nơi sinh sống của rất nhiều các
dân tộc khác nhau thì phong tục tập quán là một bộ phận quan trọng trong vốn văn hóa truyền thống, nó không chỉ ẩn chứa những triết lí sâu xa về triết học, mà còn có
ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xây dựng pháp luật
Phong tục, tập quán được hiểu là những cách ứng xử hay những thói quen ứng xử hay những quy tắc xử sự chung được hình thành một cách tự phát trong một
Trang 30cộng đồng dân cư nhất định, được đảm bảo thực hiện bằng thói quen, bằng sức thuyết phục của chúng, bằng dư luận xã hội và có thể bằng cả một số biện pháp cưỡng chế phi Nhà nước Với đặc trưng của các đương sự trong vụ án tranh chấp thừa kế là những người cùng trong diện, hàng thừa kế có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng thì phong tục, tập quán là yếu tố có ảnh hưởng rất quan trọng đến pháp luật giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tranh chấp di sản thừa
kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án
- Tính đồng bộ, thống nhất và phù hợp của hệ thống pháp luật: tranh chấp
di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là một tranh chấp
về thừa kế Vì vậy pháp luật nội dung được áp dụng tại thời điểm mở thừa kế có thể theo Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 hoặc Bộ luật Dân sự năm 2015 Do di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nên loại tranh chấp này còn phải chịu sự điều chỉnh của Luật Đất đai có hiệu lực tại thời điểm mở thừa kế Tranh chấp về thừa
kế là tranh chấp của những người liên quan về quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng; ngoài ra còn có yếu tố tạo lập, duy trì, bảo dưỡng tài sản gắn liền trên đất nên phải xác định quan hệ hôn nhân, lý lịch cá nhân của người để lại di sản thì cần áp dụng Luật Hôn nhân gia đình để xem xét, xác định những người được hưởng di sản Việc xác định chính xác văn bản pháp luật nội dung không chỉ có
ý nghĩa quyết định về đường lối giải quyết vụ án mà còn ảnh hưởng đến việc xác định quan hệ pháp luật phải xem xét, giải quyết
- Trình độ năng lực, đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán: trình độ năng lực, đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng giải quyết vụ án Đây là yếu tố mang tính chất chủ quan nhưng lại ảnh hưởng đến chất lượng kết quả giải quyết vụ án Sau khi được lãnh đạo phân công, Thẩm phán phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của BLTTDS Thẩm phán phải
Trang 31nghiên cứu đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, quyết định việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, hòa giải, đối chất, ra các quyết định tố tụng, xét
xử vụ án trong trường hợp không hòa giải thành
- Trình độ hiểu biết pháp luật của người tham gia tố tụng: những vụ án
về thừa kế đa số là các tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nên thường là vụ án hết sức phức tạp Những người tham gia tố tụng thường muốn được lợi hơn trong việc phân chia tài sản hoặc cũng có thể vì những mâu thuẫn căng cẳng, kéo dài trong cuộc sống hàng ngày không thể hóa
giải dẫn đến việc giải quyết vụ án gặp nhiều khó khăn
Thực tế giải quyết cho thấy các vụ án tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thường có đương sự hiểu biết hạn chế về pháp luật, thái độ khi tham gia tố tụng không tích cực, không hợp tác, phần lớn đương sự này là bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có quyền lợi bị ảnh hưởng theo hướng bất lợi Biểu hiện của việc không hợp tác như: không cung cấp lời khai, ý kiến của mình về việc giải quyết tranh chấp hoặc khai không trung thực; không nhận các văn bản tố tụng của Tòa án; không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án; không cung cấp tài liệu, chứng cứ; cản trở việc thẩm định, định giá tài sản… Những hành động không hợp tác của đương sự gây khó khăn trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến thời hạn, chất lượng giải quyết
thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Trang 321.2.6 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1980:
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra đời Nhiệm vụ của Nhà nước là bảo vệ, củng cố thành quả cách mạng, trong
đó có các vấn đề liên quan đến quan hệ dân sự trong xã hội Do điều kiện lịch
sử tại thời điểm này, Nhà nước chưa xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật Hiến pháp năm 1946 ra đời đã ghi nhận những thành tích vẻ vang của cách mạng xây dựng đất nước xóa bỏ chế độ cũ
Ngày 17/4/1946, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 144/SL ấn định thẩm quyền của các Tòa án Việc giải quyết tranh chấp thừa kế trong giai đoạn này chủ yếu vẫn áp dụng bộ luật theo miền, như ở Miền Nam là
Bộ luật dân sự Nam kỳ giản yếu năm 1883, ở miền Bắc là Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và tại Trung Kỳ là Bộ dân luật Trung Kỳ năm 1939 Cuối năm 1953, Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất và triển khai cải cách ruộng đất, miền Bắc từ năm 1953 đến trước khi có Luật Đất đai năm 1988 ra đời thì trong thời kỳ này chưa có khái niệm về quyền sử dụng đất và tranh chấp về quyền sử dụng đất rất ít xảy ra
- Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 2003:
Ngày 18/12/1980, Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 1980 Trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản về quyền thừa kế của công dân được quy định tại Điều 27 Hiến pháp năm 1980 là tư tưởng chỉ đạo Tòa án nhân dân tối cao đã xây dựng, ban hành Thông tư số 81 ngày 24/7/1981 hướng dẫn đường lối áp dụng thống nhất và hướng dẫn cho Tòa án các cấp trong công tác xét xử, giải quyết tranh chấp thừa kế Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định chi tiết về thừa kế từ sau Cách mạng tháng
8 đến trước khi có Pháp lệnh thừa kế năm 1990
Ngày 08/01/1988, Luật đất đai đầu tiên được ban hành với chế độ sở hữu đất đai mới ở Việt Nam có 03 quyền cơ bản: quyền sở hữu, quyền quản lý và quyền sử dụng Quyền thừa kế tài sản là đất chưa được đề cập đến
Trang 33Ngày 07/12/1989, Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự bao gồm 15 chương, 88 điều Đây là văn bản quy định một cách có hệ thống về thủ tục khởi kiện, điều tra, hòa giải các vụ án dân sự Việc bản hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Ngày 30/8/1990, Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua pháp lệnh thừa kế có hiệu lực từ ngày 10/9/1990 bao gồm 5 chương,
38 điều Ngày 19/10/1990, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghi quyết số 02/HĐTP-TANDTC hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất các quy định của pháp lệnh thừa kế 1990 khi xét xử các tranh chấp về thừa kế
Luật đất đai năm 1993 được ban hành là cơ sở pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời của các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất Lần đầu tiên thừa kế
quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 3 Điều 76: “… cá nhân, thành viên hộ gia đình được giao đất nông nghiệp, trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, sau khi chết, quyền sử dụng đất của họ được để lại cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế”
Bộ luật Dân sự năm 1995 đã dành một chương riêng quy định về thừa kế quyền sử dụng đất là chương 6, từ Điều 738 đến Điều 744 Luật Đất đai năm 2003 quy định về quyền thừa kế quyền sử dụng đất tại khoản 1 Điều 106
- Giai đoạn từ năm 2004 đến nay:
Để hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự cho phù hợp với đời sống, điều chỉnh tốt các quan hệ dân sự trong thời kỳ đổi mới thì Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự cũng chưa thực sự đáp ứng được các yêu cầu về tính mềm dẻo, linh hoạt
mà công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra Nhận thức được đều này, Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã nêu rõ cần phải cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, đảm bảo sự tham gia và
Trang 34giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; đảm bảo chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại Tòa án làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đội phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp… Tiếp theo đó, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ: xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định, tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự
Ngày 15/6/2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 đã thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh
tế năm 1994, Pháp lệnh giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 BLTTDS năm 2004 gồm 36 chương, 418 Điều luật quy định cụ thể về trình tự thủ tục giải quyết các loại tranh chấp dân sự, trong đó có tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Sau đó Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004 được thông qua vào ngày 29/3/2011 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 Luật Đất đai 2013 được thông qua ngày 29/11/2013, có hiệu lực từ này 01/7/2014 Cùng với sự ra đời của BLTTDS, nhiều nghị quyết của Hội đồng thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao, thông tư được ban hành hướng dẫn thi hành cụ thể, chi tiết các quy định của BLTTDS Đây là những văn bản pháp luật đã thể chế hóa trình tự thủ tục giải quyết các vụ án dân sự nói chung, tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nói riêng, hạn chế tối đa tình trạng văn bản quy định chồng chéo của các văn bản tố tụng dân sự trước đây
Ngày 21/11/2014, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/6/2015 Luật quy định nhiều nội dung quan trọng về
vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc hoạt động của Tòa án nhân dân;
về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền của từng cấp Tòa án; về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, Hội thẩm đã có những thay đổi căn bản
BLTTDS năm 2004 và Bộ luật Dân sự 2005 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật dân sự Việt Nam, kinh nghiệm gần 20 năm đổi mới, xây dựng nền
Trang 35kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức, cá nhân; bảo đảm trình tự và thủ tục tố tụng dân sự dân chủ, công khai, đơn giản, thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của mình; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động tố tụng dân sự Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới của đất nước, hai bộ luật trên đã bộc lộ không ít hạn chế, bất cập
Nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý để Tòa án nhân dân thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong công tác giải quyết, xét xử các vụ việc dân, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Bộ luật Dân sự và BLTTDS năm 2015
Ngày 24/11/2015 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 Bộ luật Dân sự năm
2015 gồm 06 phần, 27 chương, 689 Điều được xây dựng thống nhất, bảo đảm về tính minh bạch, ổn định và hội nhập, qua đó góp phần hoàn thiện hơn khung pháp
lý của nền kinh tế thị trường Bộ luật Dân sự đã có nhiều đột phá trong tư duy pháp
lý và trong tạo lập cơ chế pháp lý đồng bộ, thống nhất về điều chỉnh quan hệ dân
sự, về địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân trong đời sống dân sự; ghi nhận, bảo vệ tốt hơn các quyền, nghĩa vụ về nhân thân
và tài sản của người dân; qua đó bảo đảm hướng tới sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước
Ngày 25/11/2015, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 gồm 10 phần, 42 chương, 517 Điều Mục tiêu, quan điểm xây dựng BLTTDS năm 2015 là hoàn toàn phù hợp với
sự phát triển của đất nước ta hiện nay Bộ luật tố tụng đã có nhiều đột phá quan trọng, góp phần triển khai thi hành các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, đặc biệt thể hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013, các cam kết quốc tế của Việt Nam về tôn trọng, công nhận, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân
Trang 36trong lĩnh vực dân sự, xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế Qua đó, phát huy được vị trí, vai trò của BLDS thực sự trở thành luật chung, luật nền của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta
Như vậy, giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất theo thủ tục tố tụng dân sự là việc Tòa án có thẩm quyền áp dụng các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật đất đai để giải quyết mâu thuẫn về quyền thừa kế hoặc thực hiện vụ về tài sản do người chết để lại theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định Ngoài những đặc điểm giống như các loại tranh chấp dân sự khác, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất còn có những đặc trưng riêng Điểm đặc thù nhất của loại tranh chấp này là đương sự trong vụ án thường là những người có mối quan hệ dòng tộc, quan huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng Nguyên đơn và bị đơn trong vụ án là những người từng có sự gắn kết về tình cảm nên những mâu thuẫn của họ thường căng thẳng và phức tạp, không thể thống nhất và tự thỏa thuận nên họ phải lựa chọn phương án yêu cầu Tòa án giải quyết Bên cạnh đó, sự đan xen các quan hệ pháp luật khác nhau cũng là đặc trưng của tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Trang 37TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất tại Tòa án có thể nhận thấy:
1 Tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đang nảy sinh ngày càng nhiều trong đời sống xã hội, và tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau tùy thuộc vào chủ thể tranh chấp, đối tượng tranh chấp và tính chất của di sản thừa kế
Bên cạnh những đặc điểm chung của mọi loại tranh chấp, tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất còn có những đặc điểm riêng và thường được nhận biết qua các dấu hiệu về giá trị di sản, nguồn gốc của di sản, quyền đối với di sản, thời gian hưởng quyền di sản và vai trò, trách nhiệm của bên thứ ba (Nhà nước) trong việc công nhận quyền đối với di sản…
2 Cũng như việc giải quyết các tranh chấp dân sự khác, giải quyết tranh chấp thừa kế di sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cũng phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, như quy định về thẩm quyền giải quyết, trình tự, thủ tục giải quyết, việc xác minh các chứng cứ để giải quyết… Bên cạnh đó, do những đặc trưng riêng của loại tranh chấp này mà việc giải quyết còn phải căn cứ vào các quy định khác của pháp luật, như quy định về các điều kiện để quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất được coi là di sản thừa kế; điều kiện về chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; các hình thức thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất… Ngoài ra, hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp còn phụ thuộc
vào tính đồng bộ, thống nhất và phù hợp của hệ thống pháp luật, trình độ năng lực, đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán; trình độ hiểu biết pháp luật của người tham gia tố tụng; sự phối hợp giữa Tòa án với các cơ quan liên quan…
3 Những vấn đề lý luận nêu trên sẽ được soi rọi và kiểm chứng bởi thực tiễn giải tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Tòa
án nhân dân tỉnh Bắc Giang, thể hiện ở Chương 2 của luận văn
Trang 38Chương 2:
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ
LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
2.1 Đặc điểm tình hình tỉnh Bắc Giang
2.1.1 Đặc điểm tình hình về địa lý, dân số, kinh tế, xã hội
- Vị trí địa lý: Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam Bắc
giang có vị trí địa lý thuận lợi cho việc phát triển kinh tế với các lợi thế như: nằm gần Thủ đô Hà Nội (50km), cửa Khẩu Hữu nghị (110km), có đường sông, đường
bộ, đường sắt đi qua; nằm cạnh các trung tâm kinh tế phát triển như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh; điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng
- Dân số: Theo điều tra dân số 2016, dân số Bắc Giang có 1.653.397 người,
với mật độ dân số 424 người/km², gấp 1,5 lần mật độ dân số bình quân của cả nước, 11% dân số sống ở đô thị và 89% dân số sống ở nông thôn Trên địa bàn Bắc Giang
có 6 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất là người Kinh, chiếm 88,1% dân số toàn tỉnh, tiếp đến là người Nùng chiếm 4,5%; người Tày 2,6%; người Sán Chay và người Sán Dìu, mỗi dân tộc 1,6%; người Hoa 1,2%; người Dao 0,5% Tỷ lệ nam giới chiếm khoảng 49,92% dân số, nữ giới khoảng 50,08% dân số Số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 62,15% dân số, trong đó lao động được đào tạo nghề chiếm 26%; số hộ nghèo chiếm 8,88%
- Kinh tế, xã hội: Bắc Giang là tỉnh miền núi, diện tích tự nhiên là 3.822km2, có
9 huyện và 1 thành phố (6 huyện miền núi, 1 vùng cao), toàn tỉnh có 230 xã, phường, thị trấn Trung tâm hành chính, kinh tế của tỉnh đặt tại thành phố Bắc Giang
Năm 1997, Bắc Giang được tái lập với điểm xuất phát về kinh tế thấp, GDP bình quân đầu người 170USD, nền kinh tế thuần nông, cơ cầu kinh tế lạc hậu, tỷ trọng nông, lâm nghiệp chiếm 55%, công nghiệp còn nhỏ bé; cơ sở hạ tầng kinh tế-
xã hội yếu kém; lao động trong nông nghiệp chiếm tới gần 90%, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo lớn
Trang 39Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10,2% Trong đó, nông lâm nghiệp tăng 3,2%, công nghiệp xây dựng tăng 23%, dịch vụ tăng 9,5% GDP bình quân đầu người đạt 410USD Trong đó cơ cấu sản phẩm, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp chiếm 37%; công nghiệp- xây dựng chiếm 29%; dịch vụ chiếm 34%
Năm 2017, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang đã đạt được nhiều thành tựu khởi sắc; 13/17 chỉ tiêu chủ yếu đã hoàn thành và vượt kế hoạch đề ra Điểm sáng nổi bật là tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP) đạt 13,2%, tăng cao nhất từ trước đến nay (gần gấp đôi bình quân cả nước) Quy mô GRDP của tỉnh ước đạt trên 67,2 nghìn tỷ đồng (tương đương gần 3 tỷ USD); GRDP bình quân/người ước đạt 1.800 USD, tăng 124 USD so với năm 2016
2.1.2 Đặc điểm tình hình tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Hiện nay hệ thống Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang cấp tỉnh gồm có 05 Tòa chuyên trách đó là: Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa lao động giải quyết các loại án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế và lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng Tòa án nhân dân cấp huyện gồm có 10 Tòa án
Tình hình giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ngành Tòa án nói chung cũng như của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang nói riêng những năm gần đây diễn ra tương đối phức tạp, công tác giải quyết gặp nhiều khó khăn Trong thực tiễn giải quyết những năm qua, Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở Bắc Giang đã tiến hành thụ lý vụ án tranh chấp thừa kế nói chung, tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nói riêng với số lượng khá lớn, với xu hướng tăng dần qua từng năm Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc khởi kiện tranh chấp di sản thừa
kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đó là do sự biến động của thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giá trị quyền sử dụng đất cũng như
Trang 40những bất động sản gắn liền trên đất đều có xu hướng năm sau tăng cao hơn năm trước Vì giá trị quyền sử dụng đất tăng như vậy, những người được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật bắt đầu tính đến quyền lợi của mình mà họ không thể tự thỏa thuận, thống nhất được với nhau và phải khởi kiện ra Tòa án nhân dân
Các vụ án tranh chấp thừa kế được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết đúng và hiệu quả hơn đã giảm thiểu việc kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát và việc giải quyết ở Tòa án cấp phúc thẩm theo đó cũng giảm đi Mặc dù số lượng các vụ tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất trong những năm qua đang có xu hướng tăng lên, nhưng do chủ động nắm bắt tình hình, đề ra nhiều biện pháp và tổ chức thực hiện nghiêm túc, quyết liệt trong toàn ngành, trong đó chú trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm và kỷ luật công vụ cho cán bộ, công chức; tăng cường công tác kiểm tra; phát động các phong trào thi đua gắn với việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn , nên công tác xét xử trong năm qua tiếp tục có sự chuyển biến tích cực Chỉ tiêu xét xử các loại vụ tranh chấp thừa kế nói chung cũng như những tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nói riêng tiếp tục được bảo đảm; hầu hết các vụ án đều được giải quyết, xét xử trong thời hạn luật định Chất lượng xét xử các loại vụ án tiếp tục được đảm bảo và nâng lên
Mặt khác, việc giải quyết các vụ việc tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất về cơ bản đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng và áp dụng đúng các quy định của pháp luật nội dung, nên đã bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự Công tác hòa giải tại Tòa án trong quá trình giải quyết các tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã có nhiều tiến bộ, về cơ bản đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa các bên đương sự, củng cố đoàn kết trong nội bộ gia đình, họ hàng, những người có quyền lợi liên quan trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội, làm đơn giản thủ tục, tiết kiệm thời gian và công sức cho các đương
sự và cơ quan nhà nước Lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang cũng nhưng