Theo các quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam thì thuế SDĐPNN được hiểu như sau: “Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế trực thu, thu hàng năm đối với các tổ chức, hộ gia
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại Viện đại học Mở Hà Nội Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của các thầy cô giáo trong trường
Trường hết, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Vũ Văn Cương đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu Luận văn của mình
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ vô cùng có ích trong thời gian học vừa qua
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo Sau đại học Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn ở bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Đức Nhùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP 7
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 7
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 7
1.1.2 Vai trò của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 12
1.2 Khái quát về pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 13
1.2.1 Khái niệm pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 13
1.2.2 Cấu trúc của pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 14
1.2.3 Các yếu tố chi phối nội dung điều chỉnh của pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 15
1.2.4 Kinh nghiệm của các nước trong đánh thuế nhà đất và những bài học cần tham khảo cho Việt Nam 20
1.2.4.1 Kinh nghiệm của Trung quốc 20
1.2.4.2.Kinh nghiệm của Philippines 22
1.2.4.3.Kinh nghiệm của Đài loan 22
1.2.4.4 Kinh nghiệm của Indonesia 24
1.2.4.5.Kinh nghiệm của Thái lan 25
1.2.4.6.Kinh nghiệm của Nhật Bản 25
1.2.4.7 Kinh nghiệm của Hàn quốc 26
1.2.4.8.Kinh nghiệm của Anh 27
1.2.4.9 Kinh nghiệm của Cộng hòa Séc 27
1.2.4.10 Kinh nghiệm của Hy Lạp 29
Kết luận chương 1 ……….30
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY31 2.1.Thực trạng pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay 31
Trang 62.1.1 Những nội dung chủ yếu của pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
hiện hành ở Việt Nam 31
2.1.2 Những ưu điểm của pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay 45
2.1.3 Những nhược điểm của pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay 47
2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam 51
2.2.1 Những kết quả đã đạt được 51
2.2.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân 52
Kết luận chương 2 ……… 63
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 64
3.1 Những định hướng cơ bản trong hoàn thiện pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam 64
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam 65
3.3 Hoàn thiện các biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam 68
Kết luận chương 3……… ……70
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN và thuế là một trong những công cụ rất quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Chính sách thuế của Nhà nước luôn có quan hệ chặt chẽ đến việc giải quyết lợi ích kinh tế giữa các chủ thể trong
xã hội, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến các vấn đề vĩ mô như: tiết kiệm, đầu tư, tăng trưởng kinh tế Việc hoàn thiện chính sách thuế sao cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế -xã hội là sự quan tâm hàng đầu của Nhà nước Cùng với sự phát triển của đất nước, hệ thống thuế Việt Nam ngày càng đổi mới hoàn thiện, phù hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập với thế giới Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (SDĐPNN) được Quốc hội khóa 12 thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 17 tháng 6 năm
2010, thay thế Pháp lệnh thuế nhà đất và được áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm
2012 Đây là một trong những chính sách thuế quan trọng góp phần đảm bảo tăng nguồn thu cho NSNN đặc biệt là ngân sách xã, phường Thực hiện Luật thuế SDĐPNN nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với việc SDĐPNN, khuyến khích
tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, góp phần hạn chế đầu cơ đất và phát triển thị trường bất động sản; đồng thời động viên hợp lý sự đóng góp của người sử dụng đất, nhất là những đối tượng sử dụng đất vượt hạn mức quy định vào NSNN Luật thuế SDĐPNN là luật thuế mới, có số đối tượng nộp thuế rộng, liên quan hầu hết đến các tổ chức và cá nhân trong xã hội Triển khai thực hiện Luật thuế SDĐPNN có tác động rất lớn đến đời sống xã hội, vì vậy đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, chính sách miễn giảm thuế, quản lý thu nộp, quyết toán thuế Tăng cường quản lý thuế SDĐPNN sẽ tạo điều kiện tăng thu ngân sách, đồng thời quản lý tốt diện tích đất phi nông nghiệp trên địa bàn, đảm bảo công bằng giữa các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất
Cho đến nay, sau hơn 6 năm thực hiện Luật Thuế SDĐPNN bước đầu đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Ngành thuế và các cấp chính quyền địa phương
đã làm tốt công tác triển khai thực hiện có hiệu quả Luật thuế SDĐPNN Với phạm
Trang 8vi triển khai rộng (gần 700 quận huyện), khối lượng dữ liệu phải xử lý rất lớn, số lượng người nộp thuế (NNT) đến hơn 17 triệu người và số lượng thửa đất phải quản
lý lên đến gần 18 triệu thửa, tương ứng với tổng diện tích hơn hơn 46,2 tỷ m2 do cá nhân sở hữu và gần 80.000 thửa đất ứng với hơn 1,2 tỷ m2 đất do tổ chức kinh tế sử dụng, ứng dụng công nghệ thông tin đã góp phần không nhỏ cho việc triển khai luật thuế đúng thời hạn Ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ giúp quản lý được thông tin kê khai về các thửa đất, số thuế phải nộp, đã nộp mà còn hoàn thành khối lượng công việc lớn là cấp mã số thuế (MST) cho NNT sử dụng đất phi nông nghiệp (14,1 triệu MST cấp mới và 2,3 triệu MST xác nhận), hỗ trợ cho công tác kiểm soát kê khai tổng hợp[10,Tr.2]
Bên cạnh những kết quả đạt được trên, thực tiễn triển khai thực hiện thuế SDĐPNN cũng đã gặp phải một số vướng mắc, chẳng hạn: Trường hợp đất chưa được cấp Giấy chứng nhận không áp dụng hạn mức tính thuế là không công bằng giữa những người sử dụng đất, gây thắc mắc cho người dân Hơn nữa, trường hợp này nếu xét miễn giảm thì cũng được xét cho toàn bộ diện tích chứ không xét theo đất trong hạn mức như đối với NNT sử dụng đất đã có Giấy chứng nhận thì càng bất hợp lý, cần phải có sửa đổi; Trường hợp quy định hạn mức sử dụng đất ở được UBND cấp tỉnh điều chỉnh thì phải kê khai lại hồ sơ khai thuế của năm điều chỉnh là không phù hợp Vì đó là do chính sách thay đổi chứ không phải do NNT kê khai sai; Người thuê đất đã nộp tiền sử dụng đất thuê lại phải nộp thuế SDĐPNN (thu trùng 2 khoản nộp vào NSNN) về sử dụng đất, điều này gây phản ứng và thắc mắc của NNT; Trong trường hợp NNT có nhiều thửa đất phải kê khai tổng hợp thì cách tính thuế quá phức tạp NNT chưa nộp tờ khai tổng hợp mặc dù đã tuyền truyền, hướng dẫn nhiều và cơ quan thuế chưa kết nối được dữ liệu về nhà đất của NNT Việc tập huấn, hướng dẫn để NTT thực hiện kê khai, nộp tờ khai tổng hợp tốn rất nhiều thời gian, công sức giải thích, hướng dẫn NNT và Uỷ nhiệm thu nhưng thực
tế đạt được chưa cao, số thuế dự kiến thu thêm phát sinh không nhiều; Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND tỉnh tạm cấp chưa quy định hạn mức, đến khi đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng loạt thì có quy định hạn mức Do đó, khi tính thuế SDĐPNN theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới
Trang 9có hạn mức đất ở thì người dân khiếu nại; Có trường hợp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu là hạn mức công nhận Nhưng sau một thời gian, xin tách thửa thì địa phương lại có hạn mức gây nên cơ sở bất hợp lý; Luật Thuế SDĐPNN chưa hướng dẫn chi tiết việc miễn, giảm thuế đối tượng chính sách là con liệt sỹ không được hưởng trợ cấp; Việc xác định hoàn cảnh khó khăn cho người bị nhiễm chất độc màu da cam cũng gặp vướng mắc…
Qua 6 năm thực hiện Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên Luật cũng đã nảy sinh một số vướng mắc trong thực tiễn triển khai Để khắc phục những vấn đề còn tồn tại, cần có đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại, vướng mắc, từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về thuế SDĐPNN cho phù hợp với thực tiễn hiện
nay ở nước ta là cần thiết, cấp bách Chính vì vậy tôi chọn đề tài: “Pháp luật về thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
cao học chuyên ngành Luật kinh tế Việc nghiên cứu đề tài này trong giai đoạn hiện nay là có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn cao
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Hiện nay có rất ít các công trình khoa học pháp lý nghiên cứu riêng về pháp luật thuế SDĐPNN Qua khảo cứu chỉ thấy một số luận văn thạc sỹ kinh tế nghiên
cứu về thuế SDĐPNN, chẳng hạn: Luận văn Thạc sĩ kinh tế: “Giải pháp nâng cao
số thu thuế từ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của Việt Nam” của Trần Thị Thanh
Hảo, Trường Đại học Kinh tế TP HCM năm 2011; Luận văn Thạc sĩ kinh tế (2013):
“Một số giải pháp để nâng cao công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
trên địa bàn thành phố Nam Định” của Hoàng Thu Hiền, Khoa Quản trị kinh doanh
– Đại học Bách khoa Hà Nội; Luận văn Thạc sĩ Khoa học (2016): “Đánh giá thực
trạng thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tại một số quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội” của Giang Thị Hồng Hạnh, Chuyên ngành Quản lý đất đai – Trường
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội Trong tạp chí khoa học
pháp lý có bài viết: “Thực tiễn áp dụng luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm
2010 và một số kiến nghị” của Nguyễn Thị Thanh Tú, Trần Thị Thu Hà, Tạp chí
Luật học, số đặc biệt tháng thanh niên/2016, (tr.73 – 80) Bài viết tập trung nghiên
Trang 10cứu các vấn đề nổi cộm trong thực tiễn áp dụng như: hạn chế trong quy định về người nộp thuế, căn cứ tính thuế, trong quá trình kê khai diện tích đất tính thuế hay trong giải quyết miễn, giảm thuế từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả áp dụng…
Nhìn lại các công trình nghiên cứu luật học về pháp luật thuế SDĐPNN thời gian qua có thể khẳng định, cho đến nay ở Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu luật học nào ở cấp độ luận văn thạc sỹ nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật thuế SDĐPNN Bởi vậy, có nhiều vấn đề lý luận về pháp luật thuế SDĐPNN còn bỏ ngỏ Việc đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật thuế SDĐPNN chưa đầy đủ, toàn diện và có tính hệ thống Với cách nhìn nhận, đánh giá nêu trên, chúng tôi cho rằng: Công trình nghiên cứu khoa học pháp lý ở cấp độ luận văn thạc sĩ Luật
kinh tế về “Pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay”
sẽ là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực cả trên phương diện lý luận và thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng cơ sở lý luận về thuế và pháp luật thuế SDĐPNN làm cơ sở để đánh giá thực trạng pháp luật thuế SDĐPNN ở Việt Nam, từ đó đưa ra được những giải pháp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế SDĐPNN nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thuế SDĐPNN và pháp luật về thuế SDĐPNN như: Khái niệm, vai trò, mục tiêu của thuế SDĐPNN; Khái niệm, cấu trúc của pháp luật về thuế SDĐPNN và các yếu tố tác động tới nội dung điều chỉnh của pháp luật thuế SDĐPNN
- Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng các quy định của pháp luật về thuế SDĐPNN ở Việt Nam theo cấu trúc pháp luật đã xác định, trong đó có so sánh với kinh nghiệm pháp luật về thuế SDĐPNN ở một số nước trên thế giới để rút ra bài học cho Việt Nam
- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế SDĐPNN ở Việt Nam
Trang 114 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu bao gồm:
- Hệ thống quy định pháp luật về thuế SDĐPNN, bao gồm: Luật thuế SDĐPNN, các văn bản hướng dẫn thi hành; Và các văn bản pháp luật có liên quan khác như: Luật đất đai; Bộ luật Dân sự, Luật doanh nghiệp…
- Các quan điểm khoa học đã được các tác giả công bố trong các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn
* Phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là hệ thống các quy định pháp luật về thuế SDĐPNN
ở Việt Nam kể từ khi có Luật thuế SDĐPNN năm 2010 có hiệu lực thi hành cho đến nay, trong đó tác giả tập trung chủ yếu vào các quy định pháp luật hiện hành Các quy định pháp luật trước đó tuy không thuộc phạm vi nghiên cứu nhưng sẽ được đề cập để so sánh, đánh giá với quy định hiện hành
- Tập trung nghiên cứu theo hệ thống các nhóm quy định pháp luật điều chỉnh nội dụng chính sách thuế SDĐPNN và các nhóm quy định pháp luật về quản
lý thuế SDĐPNN
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên nền tảng phương pháp luận biện chứng duy vật
và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể là: Phương pháp tiếp cận lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê để giải quyết nội dung khoa học của đề tài
Phương pháp phân tích, so sánh được sử dụng nhiều trong chương 1 để làm rõ những khái niệm, phạm trù mà luận văn sử dụng từ đó rút ra những kết luận khoa học làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật thuế SDĐPNN và xác định định hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về thuế SDĐPNN ở Việt Nam
Phương pháp tiếp cận lịch sử, phân tích, so sánh, phương pháp thống kê được sử dụng trong chương 2 để luận giải cho nhận định, đánh giá về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về thuế SDĐPNN ở Việt Nam hiện nay
Trang 12Phương pháp tổng hợp được sử dụng cuối mỗi chương và một số mục chương 2 và 3 của luận văn để rút ra những kết luận và định ra được các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế SDĐPNN ở Việt Nam
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Đây là một công trình nghiên cứu có tính hệ thống về pháp luật thuế SDĐPNN ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về pháp luật về thuế SDĐPNN ở Việt Nam, làm rõ
cơ sở khoa học để nghiên cứu hoàn thiện trong một chỉnh thể thống nhất từng bộ phận pháp luật thuế, thuế SDĐPNN và cả hệ thống pháp luật thuế
Luận văn là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy khoa học pháp
lý phục vụ việc hoạch định chính sách; phục vụ quản lý hoạt động thực tiễn của chính quyền địa phương, trong các cơ quan thuế và các đối tượng thực hiện nghĩa
vụ thuế SDĐPNN ở Việt Nam
Các kết luận, các ý kiến được trình bày trong luận văn có thể giúp ích cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong xây dựng chính sách, xây dựng pháp luật thuế và trong tổ chức thực hiện pháp luật thuế SDĐPNN
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông
nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về thuế sử
dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế sử
dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Đất đai có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất và đời sống con người Đất
đai là tài sản vô cùng quý giá, là tài nguyên lớn nhất của mọi quốc gia, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, là cơ sở hàng đầu của môi trường sống, là nơi phân bổ dân cư, xây
dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh của mọi quốc gia Trong
kinh tế thị trường, đất đai là hàng hoá đặc biệt, trở thành yếu tố cơ bản không thể
thiếu trong quá trình sản xuất và đời sống Đặc biệt, đất đai còn mang giá trị lịch sử
- xã hội; khó có thể lấy thước đo nào để xác định được đầy đủ giá trị của đất đai [7,
Tr.13]
Trước khi trở thành hàng hoá đặc biệt thì đất đai đã là tài nguyên đặc biệt,
trước hết bởi đất đai có nguồn gốc tự nhiên, là tặng vật tự nhiên dành cho con
người; tiếp đến mới là thành quả do tác động cải tạo, khai phá của con người Tính
chất đặc biệt của đất đai thể hiện ở tính chất tự nhiên và tính chất kinh tế xã hội đan
quyện vào nhau; nếu không có nguồn gốc tự nhiên, thì con người dù có tài giỏi đến
đâu cũng không tự mình tạo ra đất đai được Con người có thể làm ra nhà máy, lâu
đài, công thức và sản xuất, chế tạo ra muôn nghìn thứ hàng hoá, sản phẩm, nhưng
không ai có thể sáng tạo ra đất đai Do đó, khi thực hiện quyền sở hữu, định đoạt, sử
dụng đất đai, dù Nhà nước hay người dân cũng cần phải hiểu đặc điểm, đặc thù hết
sức đặc biệt ấy
Đất đai là cơ sở hàng đầu, đóng vai trò quan trọng trong môi trường sống của
xã hội loài người Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các vật phẩm
phục vụ cho cuộc sống con người rất đa dạng và phong phú song nhu cầu về các sản
phẩm được tạo ra từ đất vẫn không hề giảm mà không ngừng tăng lên như nhu cầu
về sản phẩm nông, lâm nghiệp Đồng thời, cùng sự tăng lên của dân số, nhu cầu về
Trang 14chỗ ở ngày càng tăng lên nhanh chóng thì đất đai lại càng trở nên quan trọng trong đời sống con người
Đất đai là cơ sở để xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, cơ sở sản xuất kinh doanh, đảm bảo chính trị, an ninh, quốc phòng quốc gia Kinh tế, xã hội phát triển đặt ra yêu cầu quản lý ngày càng cao, công sở ngày càng được mở rộng Đồng thời, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ theo hướng từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, thương mại, từ quốc gia này chuyển dịch sang quốc gia khác một cách nhanh chóng với kết cấu hạ tầng ngày càng mở rộng Tất cả các yêu cầu này đều không thực hiện được nếu không có đất Đất đai là nền móng
để xây dựng công sở, đường xá, cầu cống, sân bay, bến cảng, nhà máy, xí nghiệp, các khu du lịch, trung tâm thương mại, các bệnh viện, trường học, công viên, trung tâm văn hóa, thể dục thể thao để phát triển kinh tế và phục vụ đời sống của con người Đất đai là yếu tố không thể thiếu trong việc bố trí các cơ sở an ninh, quốc phòng để bảo vệ tổ quốc
Chính vì đất đai có vai trò vô cùng quan trọng nên đất đai tại Việt Nam là tài sản quốc gia (sở hữu toàn dân) và vấn đề quản lý đất đai trở thành một nhiệm vụ không thể tách rời khỏi hoạt động quản lý Nhà nước [7, Tr.14]
Ở mỗi quốc gia, đất đai có thể thuộc quyền sở hữu nhà nước hoặc quyền sử hữu tư nhân Tuy nhiên bất kể thừa nhận hình thức sở hữu nào về đất đai, để bảo đảm quản lý khai thác sử dụng đất đai có hiệu quả, các quốc gia thường sử dụng nhiều công cụ và biện pháp quản lý khác nhau, trong đó có việc đánh thuế hoạt động sử dụng đất và hoạt động chuyển nhượng đất đai Trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia thường có một hoặc một số sắc thuế có liên quan đến việc sở hữu, sử dụng đất và việc chuyển nhượng đất Những sắc thuế này có thể có tên gọi và cơ sở đánh thuế khác nhau [17, Tr.301]
- Thuế đánh vào đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp (Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế ruộng vườn );
- Thuế đánh vào đất sử dụng vào mục đích để ở hoặc để kinh doanh (Thuế SDĐPNN hoặc Thuế nhà đất hoặc Thuế tài sản hoặc Thuế bất động sản );
Trang 15- Thuế đánh vào hành vi mua bán, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho đất đai (Thuế chuyển quyền sử dụng đất hoặc Thuế thu nhập từ chuyển nhượng, tặng, cho thừa kế bất động sản )
Ở Việt Nam cho đến năm 2008 vẫn còn áp dụng ba sắc thuế có liên quan đến đất đai là: Thuế SDĐPNN; Thuế nhà, đất và Thuế chuyển quyền sử dụng đất Hiện nay các sắc thuế này đã có thay đổi, Thuế nhà, đất được thay bằng thuế SDĐPNN; Thuế chuyển quyền sử dụng đất được bãi bỏ chuyển sang đánh thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản trong thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu cá nhân Thuế sử dụng đất nông nghiệp vẫn giữ nguyên
Theo các quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam thì thuế SDĐPNN được hiểu như sau:
“Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế trực thu, thu hàng năm đối
với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất hoặc trực tiếp sử dụng đất phi nông nghiệp vào mục đích để ở hoặc để kinh doanh, nhằm góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với sử dụng đất phi nông nghiệp; khuyến khích các tổ chức, cá nhân sử dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả, góp phần hạn chế đầu cơ đất, bảo đảm công bằng giữa các đối tượng sử dụng đất Đồng thời, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương”
* Đặc điểm của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Thứ nhất, Thuế SDĐPNN là các sắc thuế tài sản và có tính trực thu, đánh vào
quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản (đất đai) Mục đích của việc thu các khoản thu từ đất chính là điều tiết một phần thu nhập của các đối tượng có quyền sử dụng đất vào NSNN Vì vậy, người có quyền sử dụng đất là người nộp thuế sử dụng đất
và cũng chính là người chịu khoản thuế này Người nộp thuế sử dụng đất khó có khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế cho người khác
Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập Hơn thế nữa, thuế trực thu còn cho phép xem xét đến các yếu tố tương đối độc lập đến khả năng nộp thuế của người nộp thuế như: hoàn cảnh bản thân, gia đình Do đó có tác dụng rất lớn trong việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đảm bảo được tính công bằng trong xã hội Tuy nhiên, thuế trực
Trang 16thu có nhược điểm là dễ gây phản ứng từ phía người nộp thuế khi Nhà nước điều chỉnh tăng thuế Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán số thuế phải nộp và thủ tục thu, nộp thuế khá phức tạp Số thu động viên vào NSNN thường chậm và chi phí quản lý thu thuế khá tốn kém
Thứ hai, Đối tượng chịu thuế là đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp
bao gồm: Đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp như: đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm gốm và đất phi nông nghiệp khác sử dụng vào mục đích kinh doanh
Thuế sử đất phi nông nghiệp không áp dụng đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc đất phi nông nghiệp sử dụng không vào mục đích kinh doanh hoặc để ở bao gồm: Đất sử dụng vào mục đích công cộng (đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ); Đất
do cơ sở tôn giáo sử dụng; Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa; Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, đất
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của pháp luật1
Thứ ba, Thuế SDĐPNN được thu thường xuyên hàng năm căn cứ vào giá trị
đất thể hiện ở diện tích, giá đất và mức thuế suất, được thu trong suốt quá trình chiếm giữ tài sản của các chủ thể nộp thuế chứ không phải vào thời điểm mua, bán hay chuyển nhượng đất không giống các khoản thu được thu theo từng lần như tiền sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lệ phí trước
bạ
Thứ tư, Mục đích của việc đánh thuế SDĐPNN bên cạnh việc tăng cường
quản lý nhà nước về đất đai, động viên một phần thu nhập của người sử dụng đất
1
Xem điều 2 Nghị định số 53/2011/NĐ-CP ngày 01/7/2011 của Chính phủ hướng dẫn Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp;
Trang 17nhằm tăng thu cho NSNN còn thực hiện khuyến khích sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả quỹ đất ở, đất xây dựng công trình, hạn chế việc đầu cơ đất, góp phần ổn định phát triển thị trường bất động sản
Về mặt lý luận, thuế nhà, đất ở một số quốc gia được sử dụng như một công cụ
đa nhiệm để thực hiện một số hoặc tất cả các mục tiêu: i) Tạo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách địa phương; ii) Làm tăng hiệu quả sử dụng đất và đầu tư trên đất; iii) Là cách thức để điều tiết một phần chi phí của người giàu trong sử dụng đất để góp vào giải quyết nhà ở cho người nghèo, tạo công bằng về quyền sử dụng đất vốn là tài sản của toàn dân; iv) Thuế nhà đất có khả năng điều chỉnh quy hoạch đô thị, bố trí lại dân
cư bằng cách đánh thuế cao vào nơi cần giảm dân, cần giảm giá đất và ngược lại; v)
Là công cụ hữu hiệu làm giảm tình trạng đầu cơ bất động sản và tích trữ tiền tiết kiệm của dân vào bất động sản bằng cách đánh thuế cao trường hợp có bất động sản nhưng không sử dụng hay sử dụng lãng phí, hiệu quả thấp [24]
Ở Việt Nam trước đây có sắc thuế nhà đất, trên thực tế thuế này chỉ đánh vào đất ở, đất xây dựng công trình, nhà nước tạm thời chưa đánh thuế vào nhà ở và tài sản trên đất Do vậy, năm 2010, thuế nhà, đất được thay thế bằng sắc thuế SDĐPNN2 cho phù hợp giữa tên gọi với đối tượng áp dụng của thuế này Do vậy để thuế SDĐPNN phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay chỉ cần tập trung vào một số mục tiêu chính cho thuế SDĐPNN như: tạo công bằng về quyền và nghĩa vụ đối với người sử dụng đất, người có quyền sử dụng đất phải chia sẻ một phần lợi ích
từ sử dụng đất cho những người không được quyền sử dụng đất; Điều tiết mạnh vào lợi ích của những trường hợp thu lợi nhuận cao từ sử dụng đất, sử dụng hoặc sử dụng lãng phí, sử dụng không hiệu quả đất đai Những mục đích khác sẽ được xem xét, điều chỉnh vào những giai đoạn tiếp theo [12,Tr.1]
Thứ năm, Thuế SDĐPNN là một sắc thuế điều chỉnh một vấn đề rất phức tạp,
quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến túi tiền của hàng chục triệu người nộp thuế Tuy không phải là loại thuế có số thu lớn nhưng nó có phạm vi tác động rộng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, tâm lý xã hội của hầu hết các tổ chức kinh tế,
2
Quốc hội ban hành Luật thuế SDĐPNN năm 2010 thay thế cho pháp lệnh thuế nhà đất ban hành năm 1992
Trang 18hộ gia đình và cá nhân Thuế SDĐPNN đang được triển khai áp dụng thực hiện trên phạm vi toàn lãnh thổ với gần 700 quận, huyện; 10.500 xã, phường, thị trấn với số lượng người nộp thuế đến hơn 17 triệu người và số lượng thửa đất phải quản lý lên đến gần 18 triệu thửa, tương ứng với tổng diện tích hơn hơn 46,2 tỷ m2 do cá nhân,
hộ gia đình quản lý sử dụng và gần 80.000 thửa đất ứng với hơn 1,2 tỷ m2 đất do tổ chức kinh tế sử dụng[10, Tr.2]
1.1.2 Vai trò của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
- Thứ nhất, Thuế SDĐPNN góp phần đảm bảo nguồn thu cho NSNN, là nguồn thu ổn định bền vững của ngân sách địa phương
Cũng như các sắc thuế khác, khoản thu từ thuế SDĐPNN huy động nguồn lực tài chính góp phần đảm bảo nguồn thu cho NSNN, là nguồn thu ổn định bền vững của ngân sách xã, phường, thị trấn Thuế thu từ đất thường là nguồn thu quan trọng cho ngân sách địa phương Vì đất đai là một loại tài sản cố định về vị trí và không thể di chuyển được nên ở hầu hết các quốc gia đều áp dụng hình thức thuế này Thuế thu từ đất gắn liền với việc quản lý đất đai và xây dựng của chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp cơ sở Do đó, chính quyền địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức, triển khai thu thuế Việc quản lý thu thường được gắn với trách nhiệm của chính quyền địa phương và thường được điều tiết với tỷ lệ cao cho ngân sách địa phương Địa phương được hưởng phần lớn nguồn thu từ thuế thu từ đất tạo điều kiện chủ động, tích cực trong thu thuế, tạo động lực quản lý thu tốt hơn
- Thứ hai, Thuế SDĐPNN là công cụ quan trọng của Nhà nước góp phần thực hiện quản lý đất đai, quản lý thị trường bất động sản
Trên cơ sở hệ thống thuế hiện hành, các chính sách thuế tài sản và thu khác
đã bảo đảm là công cụ quan trọng của Nhà nước thực hiện quản lý tài sản, tài nguyên quốc gia và tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực quản lý Nhà nước khác có liên quan, góp phần giảm chi phí đầu vào, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng cường xuất khẩu hàng hoá và mở rộng giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế
Thông qua chính sách thuế thu từ đất sẽ giúp cho Nhà nước nắm được quỹ đất thực tế mà người sử dụng đất đã sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh
Trang 19hay để ở, xây dựng công trình giúp cho Nhà nước nắm được quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và có biện pháp quản lý thị trường bất động sản để từ đó thực hiện điều tiết công bằng và quản lý của Nhà nước đối với đất đai
- Thứ ba, Thuế SDĐPNN tác động tới sản xuất kinh doanh
Chính sách thu các khoản thu từ đất thu phân biệt đối với từng loại hành vi trong quá trình từ khi giao đất đến quá trình sử dụng đất và tiền thuê đất đã góp phần thu hút đầu tư trong và ngoài nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Chính sách giao đất có thu tiền sử dụng đất đã huy động được nguồn vốn không nhỏ phục vụ cho mục đích đầu tư phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đồng thời giải phóng sức sản xuất của đất đai, nâng cao khả năng sử dụng đất
- Thứ tư, Thuế SDĐPNN góp phần thực hiện chính sách công bằng xã hội
Các khoản thu từ đất góp phần thực hiện chính sách công bằng xã hội, điều tiết một phần thu nhập của người sử dụng đất Công bằng xã hội thể hiện trong chính sách thu thông qua việc người sử dụng nhiều đất sẽ phải nộp nhiều thuế hơn
và người sử dụng ít đất phải nộp thuế ít hơn; người sử dụng đất có vị trí tốt hơn, mức sinh lợi của đất cao hơn thì phải nộp thuế nhiều hơn Đồng thời thông qua việc miễn giảm thuế các khoản thu từ đất để thực hiện điều tiết mục đích khác như giải quyết vấn đề nhà ở cho người thuộc chính sách, những người có thu nhập thấp
1.2 Khái quát về pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Quan hệ thuế khóa nói chung và thuế SDĐPNN nói riêng bao giờ là quan hệ pháp luật Để thu một loại thuế nào đó Nhà nước phải ban hành ra hệ thống các quy phạm pháp luật quy định rõ nội dung sắc thuế đó và quy định về thủ tục quản lý thu, nộp thuế
Ở Việt Nam thuế SDĐPNN có tiền thân là thuế nhà, đất lần đầu tiên được ban hành vào năm 1992 dưới hình thức pháp lệnh, nó được sửa đổi, bổ sung vào năm 1994; Luật thuế SDĐPNN số 48/2010/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 17/06/2010 có hiệu thi hành từ 01/01/2012 để thay thế Pháp lệnh thuế nhà, đất năm
Trang 201992 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà, đất năm
1994 Cùng với Luật thuế SDĐPNN 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 53/2011/NĐ-CP ngày 01/07/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế SDĐPNN Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn về thuế SDĐPNN…
Bên cạnh quy định về nội dung sắc thuế SDĐPNN, để quản lý thu nộp các loại thuế nói chung và thuế SDĐPNN nói riêng thì Nhà nước đã ban hành Luật quản
lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật quản lý thuế Như vậy có thể hiểu:
Pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là bộ phận trong hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ thu nộp thuế phát sinh giữa nhà nước và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế hoặc người đang sử dụng đất là người nộp thuế nhằm: Tăng cường quản lý nhà nước đối với đất đai; Khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả; Góp phần hạn chế đầu cơ nhà, đất; Khuyến khích thị trường bất động sản phát triển lành mạnh; Động viên hợp lý
sự đóng góp của người sử dụng đất vào NSNN, nhất là người có nhiều nhà, đất
1.2.2 Cấu trúc của pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Xét về cấu trúc tổng quát, hệ thống pháp luật thuế nói chung đều được cấu thành bởi hai bộ phận chính, bao gồm các quy định về nội dung của các sắc thuế trong hệ thống thuế; các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện (quy trình hành thu) hệ thống thuế Những quy định về nội dung của hệ thống thuế thực chất là những quy định nhằm xác định người nộp thuế, số thuế mà họ phải nộp, các
ưu đãi về thuế (trường hợp hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế…) Những quy định này liên quan đến đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế và thường được quy định rất đầy đủ, chi tiết trong Luật Thuế
Hiện nay, việc xác định cấu trúc pháp luật thuế SDĐPNN có nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên cách tiếp cận phổ biến hiện nay là căn cứ vào nội dung quy phạm pháp luật điều chỉnh thì cấu trúc pháp luật thuế SDĐPNN bao gồm hai bộ
phận cơ bản sau:
Trang 21- Bộ phận pháp luật quy định về nội dung sắc thuế Bộ phận pháp luật này
quy định các vấn đề như: Đối tượng nộp thuế; đối tượng chịu thuế; đối tượng không
thuộc diện chịu thuế; căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế; các trường hợp miễn, giảm thuế …
- Bộ phận pháp luật quy định về quản lý thuế: gồm các quy định về đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế và các biện pháp quản lý thuế…Các quy phạm thuộc nhóm này có trong Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành
1.2.3 Các yếu tố chi phối nội dung điều chỉnh của pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Pháp luật thuế SDĐPNN chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau trong
đó có những yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và định hướng của nhà nước
Đường lối chính sách của Đảng đề ra mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong mọt giai đoạn nhất định, định ra những phương pháp cách thức cơ bản để có thể thực hiện những mục tiêu và phương hướng đó Những mục tiêu, phương hướng, phương pháp và cách thức đó sẽ được Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện trên thực tế Vì thế đường lối chính sách của Đảng là một trong những yếu tố có sức ảnh hưởng nhất tới nội dung của điều chỉnh của pháp luật nói chung và pháp luật thuế SDĐPNN
Pháp luật là công cụ thể hiện ý chí của nhà nước, do đó, trong bất kỳ nhà nước nào, những chủ trương định hướng của nhà nước đều được thể hiện trong các quy định pháp luật được ban hành và thực hiện Nếu những chủ trương định hướng của nhà nước phù hợp với quy luật phát triển, phù hợp với thực tiễn thì chắc chắn sẽ thúc đẩy các hoạt động phát triển, còn ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của các hoạt động này
Luật Thuế SDĐPNN năm 2010 ra đời với nhiều nội dung thay đổi so với pháp lệnh thuế nhà, đất trước đây xuất phát từ nhiều căn cứ khác nhau trong có có
Trang 22căn cứ là: Quán triệt chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng về nội dung tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới chính sách pháp luật về đất đai Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 30/01/2008 của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã yêu cầu: “Hoàn thiện chính sách thuế
đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, đất được giao nhưng không đưa vào sử dụng theo cam kết và các trường hợp sở hữu, sử dụng nhà, đất vượt quá hạn mức quy định, ngăn chặn những cơn sốt giá do đầu cơ bất động sản, đặc biệt là đất đai”
Thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, Quốc hội khoá 12 đã đưa Luật thuế SDĐPNN vào chương trình xây dựng Luật của Quốc hội [5,Tr.4] Trong chương trình cải cách
hệ thống thuế đến năm 2010 của chính phủ đã chính sách thuế liên quan đến tài sản
là nhà, đất sẽ được hoàn thiện theo hướng mở rộng đối tượng chịu thuế để bảo đảm công bằng giữa các tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu, sử dụng tài sản là nhà, đất3 Như vậy, để xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp với chủ trương của Đảng, chiến lược cải cách thuế của Nhà nước, yêu cầu thực tiễn và các Luật có liên quan, cần thiết phải ban hành Luật thuế SDĐPNN
Thứ hai, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước
Pháp luật là sự phản ánh dưới hình thức pháp lý các quan hệ xã hội, một sự phản ánh lệ thuộc vào những biến đổi của xã hội Do đó, việc nghiên cứu đánh giá không chính xác, không đầy đủ những yếu tố khách quan khi ban hành pháp luật cũng dẫn đến pháp luật không phù hợp với những đòi hỏi của cuộc sống và pháp luật không thể phát huy được tác dụng Để pháp luật phản ánh đúng, đầy đủ thực tiễn khách quan, những tiến trình đang diễn ra trong đời sống xã hội thì phải thường xuyên hoàn thiện pháp luật trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế xã hội, thực trạng pháp luật hiện hành Từ thực trạng đó phát hiện ra những điểm không phù hợp trong các quy định của pháp luật để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn khách quan Đồng thời, trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng kinh tế - xã hội mà
3
Quyết định số 201/2004/QĐ-TTg ngày 06/12/2004 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010
Trang 23phát hiện ra những nhu cầu điều chỉnh mới của pháp luật để kịp thời xây dựng và ban hành pháp luật Nếu không có những khảo sát, đánh giá thực trạng kinh tế xã hội thì không thể có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn xác đáng để xây dựng và thực hiện pháp luật, pháp luật không thể phát huy vai trò của nó trong đời sống, thậm chí pháp luật chỉ nằm trên giấy
Để pháp luật đi vào cuộc sống, việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về thuế SDĐPNN cần xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn để đặt ra các quy định pháp luật cho phù hợp Hiện nay, số lượng người nộp thuế SDĐPNN ở Việt Nam khá lớn Chính vì vậy, việc ban hành các quy định pháp luật về SDĐPNN cần phải xuất phát từ thực trạng nền kinh tế, qua đó góp phần giúp cho việc thu thuế được thuận lợi hơn, tránh tình trạng thất thu thuế, không gây khó khăn phiền hà cho người nộp thuế, điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, tăng nguồn thu cho NSNN và cũng là đảm bảo được tính công bằng cho các đối tượng nộp thuế Giải pháp mà quy định pháp luật SDĐPNN phải tính đến là quy định về thủ tục hành chính thuế phải đơn giản, rõ ràng, dễ thực hiện, tiết giảm tối đa chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi tối đa cho người nộp thuế tự thực hiện đầy
đủ, đúng nghĩa vụ thuế Đồng thời, cần có quy định nhằm khuyến khích, mở rộng các hoạt động tư vấn, cung cấp dịch vụ về thuế giúp cho người nộp thuế hiểu rõ quy định của Luật thuế SDĐPNN, đó là cơ sở của việc tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước
Yếu tố kinh tế cho phép thực hiện quyền bình đẳng giữa các đối tượng sử dụng đất và kết hợp hài hòa giữa các lợi ích, do vậy các đối tượng sử dụng đất đều phải có trách nhiệm và nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Chính sách thuế luôn gắn với bối cảnh kinh tế nhất định, nó được nhìn nhận thông qua hàng loạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như chỉ số giá cả, hay tốc độ tăng trưởng Mỗi sự thay đổi của yếu tố này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến chính sách thu trong đó có các chính sách thu liên quan đến đất đai
Thứ ba, văn hoá tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế
Văn hoá tuân thủ pháp luật thuế thể hiện ở nhận thức về trách nhiệm của người nộp thuế về nghĩa vụ thuế, ở ý thức chấp hành pháp luật thuế Văn hoá tuân
Trang 24thủ pháp luật thuế là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nội dung điều chỉnh của pháp luật Khi người nộp thuế có kiến thức, hiểu biết đầy đủ về pháp luật thuế
có tinh thần đạo đức thuế tốt thì khi đó mới đảm bảo rằng họ tự giác thực hiện được đúng, đầy đủ nghĩa vụ thuế của mình, họ thấy trách nhiệm của mình phải tham gia vào công tác quản lý thuế và mới giám sát quá trình thực hiện pháp luật thuế Trái lại, sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế còn thấp thì tình trạng trốn thuế, lậu thuế còn diễn ra Do vậy, việc quy định trong pháp luật thuế SDĐPNN đối với người dân phải tính đến yếu tố này, bởi vì, hiện nay, ý thức trách nhiệm về nghĩa vụ thuế, sự hiểu biết về các quy định thuế và quy trình thủ tục thực hiện các nghĩa vụ thuế của người nộp thuế còn hạn chế
Thuế SDĐPNN do tổ chức, cá nhân tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp thuế,
cơ quan thuế thực hiện kiểm tra, kiểm soát Chính vì vậy, việc tuân thủ các quy định của người nộp thuế đối với nhiều thửa đất vẫn còn đạt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, cho dù cơ quan thuế có thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát nhưng cũng không thể đảm bảo có đủ điều kiện để kiểm soát hết các đối tượng chịu thuế, qua đó, có thể tạo điều kiện cho các đối tượng này thực hiện việc gian lận thuế, trốn thuế…Từ thực tế trên cho thấy, công tác tuyên truyền, tư vấn giải đáp thắc mắc về chính sách, pháp luật SDĐPNN cần được coi trọng Bên cạnh đó, cần hoàn thiện pháp luật về giám sát và bảo đảm tuân thủ pháp luật thuế, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát để phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm khắc, kịp thời các hành vi gian lận, trốn lậu thuế của nhà nước Có như vậy, mới tăng cường tính giáo dục, răn
đe và phòng ngừa những hành vi tiêu cực, bảo đảm cho quy định pháp luật thuế SDĐPNN được tôn trọng và thực thi nghiêm túc trên thực tế
Thứ tư, trình độ quản lí của cơ quan nhà nước về thuế, cán bộ ngành thuế
Trình độ năng lực quản lí của cơ quan nhà nước về thuế, cán bộ ngành thuế
là một yếu tố quan trọng chi phối pháp luật thuế SDĐPNN Trình độ năng lực quản
lí thuế của Nhà nước được thể hiện thông qua việc phân công, phân cấp quản lý, sự phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương, bảo đảm điều kiện cơ
sở vật chất phục vụ cho công tác kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu mà người dân tự
kê khai và thước đo là kết quả đạt được trong hoạt động thực tiễn Trình độ, năng
Trang 25lực của đội ngũ cán bộ công chức ngành thuế thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng ứng dụng công nghệ tin học trong công việc, tính chuyên nghiệp hoá, chuyên môn hoá quản lí, thái độ và phong cách làm việc Bên cạnh đó còn là việc hướng dẫn, giải thích các quy định pháp luật cho đối tượng nộp thuế để
họ chấp hành việc kê khai nộp thuế đúng thời gian, đúng quy định
Khoa học công nghệ là công cụ quan trọng trong việc quản lý thuế nói chung và quản lý các khoản thu về đất nói riêng Khoa học công nghệ làm tăng tính hiệu quả trong giao dịch giữa cơ quan Thuế và Người nộp thuế, giảm chi phí thực hiện nghĩa vụ thuế Với sự hỗ trợ của Khoa học - Công nghệ hiện đại, các
dữ liệu được quản lý trên máy tính đối chiếu và xử lý tự động, giảm tối đa việc quản lý bằng thủ công trong quản lý thuế Bên cạnh đó yếu tố khoa học - công nghệ giúp cho cơ quan thuế quản lý được hệ thống thông tin thu, nộp thuế, có sự phối kết hợp giữa các ban ngành trong việc kiểm soát, giám sát tới NNT và kịp thời xử lý những sai phạm nếu có
Thứ năm, tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
Pháp luật thuế nói chung và quy định pháp luật thuế SDĐPNN nói riêng đều được xây dựng trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của chính quốc gia đó Tuy nhiên, do tác động của xu thế phát triển là cần mở cửa hợp tác và hội nhập kinh tế toàn cầu, các quốc gia muốn phát triển không thể đóng cửa, biệt lập với thế giới bên ngoài Để mở rộng hợp tác kinh tế với quốc gia và hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, các nước đều phải nỗ lực điều chỉnh chính sách, pháp luật của quốc gia mình cho phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực của luật pháp quốc tế Khi tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, các quốc gia đều đưa ra cam kết của mình với các tổ chức kinh tế quốc tế mà mình là thành viên Để thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế, các quốc gia đều phải sửa đổi hoàn thiện pháp luật để tạo cơ sở pháp lư cho việc thực hiện cam kết đó Hơn nữa, pháp luật thuế SDĐPNN là một trong những yếu
tố quan trọng tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn để thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, thu hút các nguồn nhân lực có trình độ cao phục vụ cho quá trình nghiên cứu, sản xuất Với yêu cầu này, pháp luật thuế SDĐPNN ở nước ta cần hoàn thiện để
đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 26Trong điều kiện nước ta đang xây dựng và hoàn thiện các thể chế của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật thuế SDĐPNN cần thiết phải tham khảo, tiếp thu có chọn lọc pháp luật thuế SDĐPNN của các nước tiên tiến trên thế giới nhằm bảo đảm pháp luật thuế SDĐPNN của Việt Nam nhanh chóng tiếp cận được chuẩn mực quản lý thuế của quốc tế, đồng thời bảo đảm phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam
Thứ sáu, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước Nhà nước dùng pháp luật tác động vào ý chí con người để điều chỉnh hành vi của con người, qua đó Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa những người sử dụng đất Trong hệ thống pháp luật của nước ta có bộ phận pháp luật liên quan gián tiếp hoặc trực tiếp đến quản lý đất đai, có sự gắn bó chặt chẽ, tác động trực tiếp đến chính sách thu liên quan đến đất đai, Luật thuế SDĐPNN được ban hành, được sửa đổi bổ sung nhằm bảo đảm phù hợp các luật có liên quan như: Luật quản lý thuế; của Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Đầu tư và các chính sách thu khác liên quan đến đất đai
Những yếu tố nói trên là những yếu tố chính ảnh hưởng, tác động chi phối đến pháp luật thuế SDĐPNN ở nước ta, giữa chúng có mối liên hệ tác động qua lại với nhau rất lớn Để xây dựng và hoàn thiện pháp luật thuế SDĐPNN ở Việt Nam thì không thể không chú trọng đến các yếu tố này
1.2.4 Kinh nghiệm của các nước trong đánh thuế nhà đất và những bài học cần tham khảo cho Việt Nam
1.2.4.1 Kinh nghiệm của Trung quốc [1]
Thuế sử dụng đất đô thị và thị trấn:
- Đối tượng tính thuế: là đất ở, đất sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân sử dụng đất tại khu vực đô thị, nông thôn, thị trấn và khu mỏ Miễn thuế cho đất của các cơ quan nhà nước, quân đội, các cơ sở tôn giáo, chùa, công viên và các điểm di tích lịch sử, công trình phúc lợi, các công trình (tưới tiêu, đường xá…) phục
vụ hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
Trang 27- Thuế suất: Áp dụng khung mức thuế suất tuyệt đối hàng năm theo diện tích đất thực tế sử dụng và từng khu vực: Từ 0,5 đến 10 ND tệ/m² đối với đô thị lớn; Từ 0,4 đến 8 ND tệ/m² đối với đô thị trung bình; Từ 0,3 đến 6 ND tệ/m² đối với đô thị nhỏ; Từ 0,2 đến 4 ND tệ/m² đối với thị trấn và khu mỏ
Căn cứ theo khung thuế suất tuyệt đối nêu trên, Chính quyền địa phương quy định cụ thể
Thuế phải nộp = Diện tích đất thực tế sử dụng (x) mức thuế tuyệt đối
Thuế sở hữu đất nông trại:
Đánh vào đất nông nghiệp được sử dụng để xây dựng nhà hoặc không sử dụng cho mục đích nông nghiệp
- Thuế suất: Áp dụng khung mức thuế suất tuyệt đối hàng năm theo diện tích
thực tế chiếm hữu: Từ 2 đến 10 ND tệ/m² đối với vùng có ít hơn 1 mẫu (1ha = 15 mẫu) /người; Từ 1,6 đến 8 ND tệ/m² đối với vùng có từ 1 đến 2 mẫu/ người; Từ 1,3 đến 6,5 ND tệ/m² đối với vùng có từ 2 đến 3 mẫu/ người; Từ 1 đến 5 ND tệ/m² đối với vùng có trên 3 mẫu/ người
Đối với Khu kinh tế đặc biệt, khu công nghệ và kinh tế, những vùng kinh tế phát triển và diện tích đất trên đầu người thấp thì số thuế phải nộp cao hơn Ngoài
ra, để tránh sự chênh lệch quá lớn giữa các vùng lân cận, Bộ Tài chính quy định mức thuế suất trung bình từ 2,5 đến 9 ND tệ
Thuế nhà:
- Đối tượng chịu thuế là nhà ở, nhà sử dụng cho kinh doanh tại các thành phố, thị xã, thị trấn, vùng công nghiệp và khai khoáng Không thu thuế nhà đối với nhà sử dụng cho các cơ quan nhà nước, quân đội; nhà cho các mục đích tôn giáo; nhà quản lý trong các công viên và các khu di tích lịch sử
- Thuế suất: Đối với nhà chính chủ sở hữu và sử dụng: Thuế suất 1,2% trên phần giá trị của ngôi nhà sau khi trừ 10% đến 30% giá trị ban đầu Đối với nhà thuê: Thuế suất 12% trên tiền thuê nhà
Giá nhà sẽ do các địa phương quy định cụ thể trên cơ sở chi phí xây dựng nhà tại địa phương
Trang 28Thuế phải nộp = Thuế suất x Giá trị nhà hoặc Tiền thuê nhà
1.2.4.2.Kinh nghiệm của Philippines
Nhà nước Philippines quy định đối tượng chịu thuế sử dụng đất (thuế tài sản)
là đất ở, đất xây dựng công trình, đất nông nghiệp do các tổ chức, cá nhân sử dụng
Số thuế phải nộp được xác định như sau:
Thuế phải nộp = Giá FMV x AR x Thuế suất
Giá tính thuế là giá đất do cơ quan định giá của địa phương (tỉnh, thành phố) quy định Nguyên tắc xác định giá đất tính thuế căn cứ vào hai yếu tố: giá FMV và
AR Giá FMV (Fair Market Value, được điều tra, số liệu thống kê), là giá cao nhất
mà một tài sản đất có thể được mua bán trên thị trường mở, có đủ thời gian cho người mua và bán tìm hiểu, gặp gỡ để thoả thuận mua bán Sau khi xác định giá FMV kết hợp với tỷ lệ định giá % (gọi tắt là AR – Assessment Ratio) đánh thuế SDĐ theo giá FMV để xác định giá trị đất để tính thuế: 20% giá FMV đối với đất ở; 50% đất thương mại, công nghiệp, khai khoáng; 40% đối với đất nông nghiệp; 20% đối với đất khai thác gỗ; 15% đất cho khoa học, văn hoá, bệnh viện
Khung thuế suất phân biệt: dưới 1% đối với các tỉnh; dưới 2% đối với các thành phố lớn và thủ đô Malina Các địa phương quy định mức thuế suất cụ thể áp dụng tại địa phương đó Philippines quy định phân biệt về chính sách thu của khu vực nông thôn (các tỉnh) chỉ bằng một phần hai khu vực thành thị (các thành phố và Thủ đô) về thuế suất, điều này hạn chế nạn đầu cơ đất ở của khu vực thành thị
Giá tính thuế sử dụng đất của Philippines cũng rất cao bằng 20% giá giao dịch trên thị trường (giá Fair Market Value) Quy định như vậy làm cho khoản thuế phải đóng của những người sử dụng đất là rất lớn, điều này có tác động làm giảm nạn đầu cơ đất trên thị trường bất động sản của Philipine, góp phần làm cho thị trường bất động sản Philippines minh bạch và lành mạnh [9,Tr.17,18]
1.2.4.3.Kinh nghiệm của Đài loan
*Về thuế đất:
- Đối tượng tính thuế: là đất ở, đất xây dựng công trình do các tổ chức, cá nhân sử dụng Miễn thuế đối với đất của cơ quan nhà nước, quân đội, các cơ sở tôn giáo, chùa, công viên và các điểm di tích lịch sử
Trang 29+ Đất ở (sử dụng đúng mục đích) với diện tích dưới 300 m2 đối với đất ở đô thị và 700 m2 đối với đất ở tại các vùng khác: Thuế suất 0,2% (tương đương với
thuế suất 0,06% đến 0,08% so với giá đất thực tế);
- Đất sử dụng cho mục đích công nghiệp, hầm mỏ, công viên tư nhân, vườn bách thú, sân vận động, đền miếu, nhà thờ, sân khấu, trạm gaz, bãi đỗ xe được sự
cho phép của nhà nước: Thuế suất 1% (tương đương với thuế suất 0,3% đến 0,4%
(Mức thuế suất nêu trên chỉ tương đương với mức từ 0,3% đến 2,2% so với
giá đất thực tế)
- Giá đất tính thuế: Theo giá công bố chính thức của cơ quan địa phương và được định giá 3 năm/lần Giá đất tính thuế chỉ bằng từ khoảng 30% đến 40% giá đất thực tế
Thuế phải nộp = Diện tích đất x giá đất tính thuế x mức thuế suất
Thuế nhà (nhà ở, nhà sử dụng cho kinh doanh)
Không thu thuế nhà đối với nhà sử dụng cho mục đích công cộng: bệnh viện, trường học, cơ quan nhà nước,
- Thuế suất áp dụng: Từ 1,2% đến 2,0% đối với nhà chung cư; 1,37% đối với nhà riêng (biệt thự); Từ 3,0% đến 5,0% đối với nhà, công trình xây dựng cho mục
Trang 30đích thương mại; Từ 1,5% đến 2,5% đối với nhà sử dụng cho các mục đích như bệnh viện, trường học các tổ chức dân sự
Cơ quan chính quyền địa phương có trách nhiệm xác định giá nhà và thuế suất cụ thể của thuế nhà để áp dụng tại địa phương [1]
1.2.4.4 Kinh nghiệm của Indonesia
Thuế nhà, đất (thuế tài sản)
- Đối tượng tính thuế là nhà ở, đất ở, đất kinh doanh do các tổ chức, cá nhân
sử dụng Không tách riêng nhà và đất khi đánh thuế (vì giá trị của ngôi nhà ngoài
chi phí làm ra nhà đó còn phục thuộc vào vị trí, loại thành phố mà nhà đó được xây dựng lên)
- Không đánh thuế tài sản đối với tài sản của tổ chức tôn giáo, xã hội, văn hoá, giáo dục hoạt động vì mục đích phi lợi nhuận, tổ chức quốc tế, ngoại giao, rừng phòng hộ, công viên quốc gia Trường học, bệnh viện tư nhân được giảm 50% số thuế phải nộp
- Thuế suất 0,5%, được quy định bởi Trung ương và thống nhất áp dụng trong cả nước
Gía trị tính thuế = Giá trị đất + Giá trị nhà – Gía trị được giảm trừ
Giá trị được giảm trừ là 8.000.000Rp cho mỗi đối tượng nộp thuế, do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định
Giá thị trường là giá trung bình từ việc mua bán thông thường trên thị trường Trường hợp không có giao dịch trên thị trường thì áp dụng giá thị trường của bất động sản tương đương hoặc thay thế bằng giá của bất động sản mới
Cơ quan thuế (thuộc Bộ Tài chính) có xây dựng bảng giá tối thiểu (gọi
là giá thị trường chỉ định) để tính thuế đối với các trường hợp kê khai muộn hoặc khai báo không trung thực Gía tối thiểu được sử dụng ổn định trong 3 năm, trừ những khu vực phát triển nhanh chóng là 1 năm Gía tối thiểu đối với đất có 50 hàng (phân loại theo giá trị) và công trình xây dựng có 20 loại (phân loại theo giá trị)
Trang 31Tỷ lệ % chịu thuế: Tối thiểu là 20% và tối đa là 100% do Chính phủ quyết định Hiện hành có 2 mức: 20% nếu giá trị tính thuế nhỏ hơn 1 tỷ Rp; 40% nếu giá trị tính thuế từ 1 tỷ Rp trở lên [9,Tr.18]
1.2.4.5.Kinh nghiệm của Thái lan
Ở Thái lan có thuế nhà, đất, với nội dung chủ yếu sau:
- Đối tượng chịu thuế là nhà và đất (để ở, thương mại) do các tổ chức, cá nhân sử dụng và thuộc đối tượng tính thuế của Thuế tài sản Không tách riêng nhà
Giá nhà đất được các địa phương xác định và công bố 3 năm/lần [1]
1.2.4.6.Kinh nghiệm của Nhật Bản
Theo quy định của pháp luật về Thuế sử dụng đất của Nhật Bản thì đối tượng
chịu thuế sử dụng đất là các loại đất Các đối tượng sử dụng đất hàng năm phải nộp một tiền thuế sử dụng đất Và khoản tiền thuế này được tính như sau:
Thuế SDĐ phải nộp = Diện tích đất x Giá đất tính thuế x Thuế suất
Trong đó, giá đất tính thuế được xác định phù hợp với giá thị trường Nhưng Nhà nước Nhật bản cũng ban hành khung giá đất tính thuế tối thiểu, yêu cầu người nộp thuế sử dụng đất khi kê khai nộp thuế sử dụng đất không được kê khai giá tính thuế thấp hơn giá quy định của Nhà nước và quy định cứ 3 năm điều chỉnh một lần khung giá tối thiểu
Thuế suất áp dụng là 1,4%, nhưng không quá 2,1% tùy theo khu vực, với các quy định này, Nhật Bản đã phân biệt về chính sách thu tiền sử dụng đất ở khu vực
Trang 32nông thôn và khu vực thành thị trong một khoảng dung sai khá lớn Giá đất ở khu vực nông thôn thấp hơn giá khu vực thành thị, thuế suất tính thuế ở khu vực thành thị cao hơn thuế suất tính thuế ở khu vực nông thôn, như vậy tiền thuế sử dụng đất ở khu vực thành thị phải nộp cao hơn ở khu vực nông thôn (nếu cùng sử dụng một diện tích đất) Điều này có tác động hạn chế đối tượng sử dụng đất ở thành phố, khuyến khích người dân đầu tư mua đất ở nông thôn
Ngoài ra, Chính sách thu tiền sử dụng đất của Nhật Bản cũng khác với các nước nhất là so với Việt Nam, đó là thuế suất rất cao từ 1,4% đến 2,1 % trong khi thuế suất của Việt Nam cũng chỉ từ 0,03% đến 0,15% Và điều này tương ứng với
số thuế mà người sử dụng đất của Nhật Bản hàng năm phải nộp là rất lớn, nhưng người chỉ thực sự có nhu cầu về đất ở để xây dựng nhà để ở thì họ mời mua đất, họ không bỏ một số tiền rất lớn ra để mua đất để không rồi hàng năm phải đóng một khoản tiền thuế khá lớn Điều này có tác dụng rất lớn đối với thị trường bất động sản Nhật Bản, không xảy ra hiện tượng đầu cơ đất, không có hiện tượng đất để hoang, không có hiện tượng nhà, biệt thự xây rồi không có người dân đến ở [1]
1.2.4.7 Kinh nghiệm của Hàn quốc
Hàn quốc có thuế nhà, đất với nội dung chủ yếu sau:
- Đối tượng chịu thuế là nhà và đất do các tổ chức, cá nhân sử dụng và thuộc đối tượng tính thuế của Thuế tài sản
- Đối với đất: Từ 0,2% đến 0,5% đối với các loại đất; 4% đối với đất cho sân golf
- Đối với nhà: 0,15% đến 0,5% đối với nhà riêng; 0,25% đối với nhà chung cư; 4% đối với nhà trong khu sân golf, biệt thự, các khu vui chơi giải trí; 5% đối với nhà tại các khu đô thị lớn
Cơ sở tính thuế nhà đất đối với một đối tượng nộp thuế là: trên tổng giá trị nhà và đất của một chủ sở hữu có trên phạm vi cả nước (áp dụng vi tính hoá cơ sở
dữ liệu về nhà đất, đối tượng sở hữu và đối tượng nộp thuế trên phạm vi cả nước)
Cơ quan định giá của địa phương xây dựng khung giá hàng năm chuẩn cho tính thuế SVT- Standard Value for Taxation Trong thực tế SVT chỉ xấp xỉ
Trang 33bằng 15% đến 20% giá thị trường (vì lý do chính trị, cần sự ủng hộ của nhân dân bầu cử tại địa phương và tâm lý các địa phương trông chờ nguồn kinh phí ngân sách từ TW
Giá tính thuế thấp làm cho giảm hiệu quả việc thực hiện mục đích sử dụng thuế nhà đất để chống đầu cơ nhà đất
Thuế nhà đất phải nộp = (Diện tích đất x giá đất tính thuế x thuế suất) +
(Diện tích nhà x giá nhà tính thuế x thuế nhà) [1]
1.2.4.8.Kinh nghiệm của Anh
Thuế bất động sản: đánh vào giá trị đất theo tiền thuê danh nghĩa, áp dụng với cả bất động sản cư trú và không cư trú
Miễn thuế chủ yếu như sau: Nhà và đất nông nghiệp; Nhà thờ, nhà thờ nhỏ, hội trường nhà thờ sử dụng cho các cuộc họp công cộng, văn phòng quản lý và tổ chức tôn giáo; Hải đăng, đèn hiệu và phao cứu đắm; Các tòa nhà cấp thoát nước; Khu công viên và các khu giải trí; Bất động sản cho chăm sóc người tật nguyền; Các khu nhà máy phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Nhà đất được chia làm 8 nhóm tính thuế: Nhóm A= Dưới 40.000 Bảng; Nhóm B= 40,001-52,000 Bảng; Nhóm C= 52,001-68,000 Bảng; Nhóm D= 68,001-88,000 Bảng; Nhóm E= 88,001-120,000 Bảng; Nhóm F= 120,001-160,000 Bảng; Nhóm G= 160,001-320,000 Bảng; Nhóm H= Trên 320,000 Bảng
Thuế suất với nhóm cao nhất không quá 5% [1]
1.2.4.9 Kinh nghiệm của Cộng hòa Séc
Ở Cộng hòa Séc có thuế bất động sản với nội dung chủ yếu:
- Đối tượng chịu thuế: Đất được đăng ký tại phòng địa chính và ở trong lãnh thổ Cộng hoà Séc là đối tượng chịu thuế đất; Nhà và các công trình được xây dựng theo Luật xây dựng (Luật nhà) và ở trong Lãnh thổ Cộng hoà Séc là đối tượng chịu thuế nhà Các căn hộ và nhà không phải để ở thuộc đối tượng chịu thuế nhà được đăng ký tại phòng địa chính
- Đối tượng không chịu thuế: Các thửa đất và toà nhà/ công trình xây dựng không phải chịu thuế nhà đất: Phần còn lại của thửa đất để xây nhà; Đất trồng rừng;
Trang 34Mặt nước không sử dụng cho việc nuôi cá để bán; Nhà bao gồm căn hộ để ở hoặc không để ở đã chịu thuế bất động sản; Công trình phục vụ giao thông công cộng; Công trình thuỷ lợi; Công trình phân phối năng lượng; Hệ thống cống rãnh;
- Miễn thuế: Nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước và không dùng để kinh doanh; Nhà, đất ở thành phố, thị xã thuộc khi vực hành chính của chính quyền thành phố, thị xã; Nhà và các công trình xây dựng để phục vụ/ thuộc sở hữu của trường học, nhà thờ, bảo tàng, tổ chức phi lợi nhuận , bao gồm cả đất dùng cho hoạt động của các toà nhà, công trình này; Đất nông nghiệp với điều kiện việc miễn thuế được quy định bởi văn bản của chính quyền nơi có đất
- Thuế suất:
Đối với đất: 0,75% đối với đất trồng, vườn cây, vườn nho; 0,25% đối với bãi
cỏ, rừng để khai thác, ao hồ nuôi cá; CZK 1/ m2 đối với đất xây dựng; đất xây dựng
là đất có nhà nhưng các toà nhà/ công trình được xây dựng hợp pháp với điều kiện phải chịu thuế bất động sản khi hoàn thành; CZK 0,1/m2 đối với đất xây dựng, sân nhỏ và các loại đất chưa được đề cập ở trên
Đối với nhà: CZK 1/m2 diện tích xây dựng hoặc sàn nhà đối với nhà/ công
trình xây dựng để sản xuất nông nghiệp hoặc thuỷ lợi; CZK 5/m2 diện tích xây dựng hoặc sàn nhà đối với nhà/ công trình xây dựng để sản xuất công nghiệp , giao thông cá nhân, phát điện, hoặc sản xuất nông nghiệp khác; CZK 10/m2 diện tích xây dựng hoặc sàn nhà đối với nhà/ công trình xây dựng dùng kinh doanh (trừ loại nêu trên); CZK 1/m2 diện tích xây dựng đối với nhà ở diện tích sàn nhà đối với nhà không dùng để ở nhưng không dùng để kinh doanh; CZK 3/m2 diện tích xây dựng đối với nhà/ công trình xây dựng dùng cho mục đích cá nhân; CZK 4/m2 diện tích xây dựng hoặc sàn nhà đối với gara được xây dựng tách riêng khỏi nhà ở hoặc đối với nhà không dùng để ở, được sử dụng làm gara; CZK 1/m2 diện tích xây dựng (trên 16 m2) đối công trình xây dựng với điều kiện có các phương tiện để ở hoặc phần tăng thêm của nhà riêng/ công trình dùng cho mục đích giải trí của cá nhân;
Thuế suất đối với nhà sẽ tăng CZK 0,75/năm phần diện tích đất tăng thêm nếu diện tích đất tăng thêm trên 2/3 diện tích xây dựng của nhà/ công trình xây dựng
Trang 35Thuế suất đối với nhà, đất nêu trên được tính theo hệ số dựa trên số dân cư trú tại nơi có đất, nhà hoặc công trình xây dựng như sau: Hệ số 1 nếu có 1000 người; Hệ số 1,4 nếu có 1001 đến 6000 người; Hệ số 1,6 nếu có 6001 đến 10000 người; Hệ số 2 nếu có 10.001 đến 25.000 người; Hệ số 2,5 nếu có từ 25.001 đến 50.000 người; Hệ số 3,5 nếu có trên 50.001 người và ở thành phố nổi tiếng, khu nghỉ dưỡng; Hệ số 4,5 tại Prahue
Giá nhà, đất do cơ quan thuế xác định 3 năm 1 lần.(đối với trường hợp áp
dụng thuế suất %) [1]
1.2.4.10 Kinh nghiệm của Hy Lạp
Thuế bất động sản: Áp dụng đối với bất động sản có giá trị trên một mức
nhất định theo quy định của Luật
Thuế suất: Từ 0,3% đến 0,8% trên giá trị bất động sản [1]
* Một số nhận xét về chính sách pháp luật thuế nhà, đất của các nước
- Các nước đều có chính thuế thu vào nhà, đất và được chia ra nhiều loại thuế khác nhau để đảm bảo mục đích công bằng trong động viên thuế, quản lý và hạn chế đầu cơ về nhà, đất;
- Về giá tính thuế: Giá trị nhà, đất được xác định theo giá thị trường hoặc giá
do cơ quan quản lý nhà nước quy định Giá tính thuế được ổn định từ 3 đến 5 năm
- Về thuế suất có 2 hình thức: Áp dụng mức thuế tuyệt đối trên 1 m² nhà hoặc đất: Trung Quốc, Anh, Séc; Áp dụng thuế suất theo tỷ lệ phần trăm trên trị giá nhà hoặc đất: Đa số các nước áp dụng thuế suất theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị nhà
và đất Nhà, đất sử dụng vào các mục đích khác nhau sẽ có mức thuế suất khác nhau Riêng, có Đài Loan áp dụng mức thuế suất theo biểu thuế suất luỹ tiến từng phần đối với đất với hạn mức đất chịu thuế là 700 m2 đối với đất ở nông thôn và 300m2 đối với đất ở đô thị
- Các nước đều miễn hoặc không đánh thuế nhà, đất là công trình công cộng, bệnh viện, trường học, công viên, cơ quan nhà nước, quân đội, các cơ sở tôn giáo, chùa và các điểm di tích lịch sử, công trình phúc lợi
Trang 36Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
và pháp luật về thuế SDĐPNN có thể rút ra một những kết luận sau:
1/ Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế tài sản đánh vào chủ thể sử dụng đất phi nông nghiệp vào mục đích làm nhà ở, hoặc kinh doanh Sắc thuế này được áp dụng ở hầu hết các quốc gia kết hợp với thuế đánh tài sản là nhà ở, công trình trên đất với tên gọi khác nhau như thuế nhà đất, thuế đối với bất động sản… Loại thuế này được tính và thu hàng năm căn cứ vào giá trị đất, trong suốt quá trình chiếm giữ tài sản của các chủ thể nộp thuế chứ không phải vào thời điểm mua, bán hay chuyển nhượng đất không giống các khoản thu được thu theo từng lần như tiền
sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ
2/ Thuế SDĐPNN (Thuế nhà, đất) ở mỗi quốc gia được sử dụng để thực hiện một số hoặc tất cả các mục tiêu: Tạo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách địa phương; Làm tăng hiệu quả sử dụng đất và đầu tư trên đất; Là cách thức để điều tiết một phần chi phí của người giàu trong sử dụng đất để góp vào giải quyết nhà ở cho người nghèo, tạo công bằng về quyền sử dụng đất vốn là tài sản của toàn dân; Sắc thuế này
có khả năng điều chỉnh quy hoạch đô thị, bố trí lại dân cư bằng cách đánh thuế cao vào nơi cần giảm dân, cần giảm giá đất và ngược lại; Ngoài ra nó còn là công cụ hữu hiệu làm giảm tình trạng đầu cơ bất động sản và tích trữ tiền tiết kiệm của dân vào bất động sản bằng cách đánh thuế cao trường hợp có bất động sản nhưng không sử dụng hay sử dụng lãng phí, hiệu quả thấp
3/ Thuế SDĐPNN là một sắc thuế có số thu lớn nhưng nó có phạm vi tác
động rộng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, tâm lý xã hội của hầu hết các
tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cá nhân và nó nguồn thu quan trọng đối với ngân sách của các địa phương gắn liền với nhiệm vụ quản lý đất đai ở các địa phương
4/ Pháp luật thuế SDĐPNN chịu sự ảnh hưởng chi phối của nhiều yếu Để xây dựng và hoàn thiện pháp luật thuế SDĐPNN ở Việt Nam thì không thể không chú trọng đến các yếu tố chi phối đó
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng pháp luật về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Những nội dung chủ yếu của pháp luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành ở Việt Nam
Pháp lệnh Thuế nhà, đất được Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH)
thông qua ngày 3/7/1992, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 1994, quy định về điều tiết nguồn thu đối với đất phi nông nghiệp, chưa thu thuế đối với nhà ở Pháp lệnh này bước đầu đặt cơ sở cho việc động viên đóng góp của người sử dụng đất vào NSNN, tăng cường nguồn lực cho ngân sách địa phương; góp phần tạo công cụ
vĩ mô cho công tác quản lý đất đai trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới
Tuy nhiên, qua hơn 15 năm thực hiện, đến nay, với nhiều vấn đề bất cập phát sinh trong quản lý, điều tiết việc sử dụng đất đai, nhiều quy định của Pháp lệnh thuế nhà, đất chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra, nguồn thu NSNN từ thuế đất không tương xứng với giá trị đất đai; chưa bảo đảm sử dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả; [21, Tr.4] đặc biệt chưa thể hiện rõ vai trò điều tiết và quản lý của Nhà nước trong quá trình vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Mặt khác, một số quy định về quản lý thuế nhà, đất đã thể hiện trong Luật quản lý thuế Trước thực trạng này, ngày 17/06/2010 Quốc hội ban hành Luật thuế SDĐPNN số 48/2010/QH12, Luật này có hiệu thi hành từ 01/01/2012 để thay thế Pháp lệnh Thuế nhà, đất năm
1992, nhằm hoàn thiện một bước khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng đất đai theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, công bằng; bảo đảm hài hòa quyền, lợi ích giữa người sử dụng đất với Nhà nước trong điều tiết nguồn thu; góp phần khuyến khích thị trường bất động sản phát triển lành mạnh; bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp và thông lệ quốc tế
Trang 38Cùng với Luật thuế SDĐPNN năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 53/2011/NĐ-CP ngày 01/07/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế SDĐPNN Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn về thuế SDĐPNN… Trên cơ sở hệ thống các văn bản pháp luật về thuế SDĐPNN được các cơ quan nhà nước có thẩm ban hành các nội dung chủ yếu của pháp luật thuế SDĐPNN được thể hiện cụ thể, như sau:
Về đối tượng chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Pháp luật thuế SDĐPNN hiện hành ở Việt Nam có quy định ba loại đất thuộc đối tượng chịu thuế SDĐPNN, đó là:
- Đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;
- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, gồm: Đất xây dựng khu công nghiệp; Đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; Đất để khai thác khoáng sản, đất làm mặt bằng chế biến khoáng sản, trừ trường hợp khai thác khoáng sản mà không ảnh hưởng đến lớp đất mặt hoặc mặt đất; Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;
- Đất phi nông nghiệp không thuộc đối tượng nộp thuế nhưng được sử dụng vào mục đích kinh doanh
Như vậy, Pháp lệnh thuế nhà, đất điều chỉnh đối với đất ở và đất xây dựng
công trình, do đó, việc phân loại đất xây dựng công trình không còn phù hợp với việc phân loại đất của Luật đất đai, vì vậy, cần phải thay đổi đối tượng đất chịu thuế
là đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp Ngoài ra, pháp luật thuế SDĐPNN hiện hành (áp dụng từ 01/01/2012): Đối tượng được thuê đất trước đây (Theo Pháp lệnh thuế Nhà, đất) chỉ nộp tiền thuê đất, hàng năm không nộp thuế nhà
đất Hiện nay đối tượng này vẫn phải nộp thuế SDĐPNN
Về đối tượng không chịu thuế: Gồm 8 đối tượng sau:
- Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm: Đất giao thông, thủy lợi bao
gồm đất sử dụng vào mục đích xây dựng công trình đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, đường sắt, đất xây dựng kết cấu hạ tầng cảng hàng không, sân bay, bao gồm
cả đất nằm trong quy hoạch xây dựng cảng hàng không, sân bay nhưng chưa xây dựng do được phân kỳ đầu tư theo từng giai đoạn phát triển được cơ quan nhà nước
Trang 39có thẩm quyền phê duyệt, đất xây dựng các hệ thống cấp nước (không bao gồm nhà máy sản xuất nước), hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thủy lợi, đê, đập và đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn giao thông, an toàn thủy lợi; Đất xây dựng công trình văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng bao gồm đất sử dụng làm nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, công viên, vườn hoa, khu vui chơi cho trẻ em, quảng trường, công trình văn hóa, điểm bưu điện - văn hóa
xã, phường, thị trấn, tượng đài, bia tưởng niệm, bảo tàng, cơ sở phục hồi chức năng cho người khuyết tật, cơ sở dạy nghề, cơ sở cai nghiện ma túy, trại giáo dưỡng, trại phục hồi nhân phẩm; khu nuôi dưỡng người già và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; Đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc được
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định bảo vệ; Đất xây dựng công trình công cộng khác như: đất sử dụng cho mục đích công cộng trong khu đô thị, khu dân cư nông thôn; đất xây dựng kết cấu hạ tầng sử dụng chung trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đất xây dựng công trình hệ thống đường dây tải điện, hệ thống mạng truyền thông, hệ thống dẫn xăng, dầu, khí và đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn các công trình trên; đất trạm điện; đất hồ, đập thủy điện; đất xây dựng nhà tang lễ, nhà hỏa táng; đất để chất thải, bãi rác, khu xử lý chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép
- Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng bao gồm đất thuộc nhà chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động
- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa
- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng
- Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ bao gồm diện tích đất xây dựng công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ theo khuôn viên của thửa đất có các công trình này
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp gồm: Đất xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, trụ sở tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức sự nghiệp công lập; trụ sở các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự
Trang 40nước ngoài tại Việt Nam và các tổ chức quốc tế liên chính phủ được hưởng ưu đãi, miễn trừ tương đương cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam; Đất xây dựng các công trình sự nghiệp thuộc các ngành và lĩnh vực về kinh tế, văn hóa,
xã hội, khoa học và công nghệ, ngoại giao của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức sự nghiệp công lập
- Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh gồm: Đất thuộc doanh trại, trụ sở đóng quân; Đất làm căn cứ quân sự; Đất làm các công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và các công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh; Đất làm ga, cảng quân sự; Đất làm các công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh; Đất làm kho tàng của các đơn vị vũ trang nhân dân; Đất làm trường bắn, thao trường, bãi tập, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí; Đất làm nhà khách, nhà công vụ, nhà thi đấu, nhà tập luyện thể dục, thể thao và các cơ sở khác thuộc khuôn viên doanh trại, trụ sở đóng quân của các đơn vị vũ trang nhân dân; Đất làm trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý; Đất xây dựng các công trình chiến đấu, công trình nghiệp vụ quốc phòng, an ninh khác do Chính phủ quy định
- Đất phi nông nghiệp để xây dựng các công trình của hợp tác xã phục vụ trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất tại đô thị sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp
Như vậy, trên cơ sở kế thừa các quy định của Pháp lệnh thuế nhà, đất, Luật thuế SDĐPNN cũng đưa các loại đất này vào đối tượng không thuộc diện chịu thuế
và bổ sung thêm một số loại đất như đất làm nghĩa trang, nghĩa địa không vì mục đích kinh doanh; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối không vì mục đích kinh doanh cho phù hợp với quy định về phân loại đất của Luật đất đai Ngoài ra, Luật cũng đưa