1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở việt nam hiện nay

96 122 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dịch vụ kế toán đã đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp, tư vấn cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp về luật pháp, chế độ kế toán tài chính của Nhà nước, cũng như thiết lập hệ thố

Trang 1

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ KẾ TOÁN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được thực hiện tại Viện đại học Mở Hà Nội Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của các thầy cô giáo trong trường

Trường hết, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Vũ Văn Cương đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu Luận văn của mình

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ vô cùng có ích trong thời gian học vừa qua

Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Khoa đào tạo Sau đại học Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Do kiến thức và thời gian nghiên cứu còn hạn chế, mặc dù đã cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình, nhưng Luận văn của tôi không tránh khỏi thiếu sót, hạn chế Tôi mong nhận được sự đóng góp của các Thầy, Cô

và bạn bè

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Hoa

Trang 4

ACRA Cơ quan quản lý kế toán viên và DN

(Accounting and Coporate Regulatory Authority) PAOC Uỷ ban Giám sát các kế toán viên công chứng

(The Public Accountants Oversight Committee)

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ KẾ TOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ KẾ TOÁN 8

1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về kinh doanh dịch vụ kế toán 8

1.1.1 Khái niệm kế toán 8

1.1.2 Phân loại kế toán 10

1.1.3.Vai trò của kế toán doanh nghiệp 12

1.1.4 Khái quát về kinh doanh dịch vụ kế toán 14

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán 22

1.2.1 Khái niệm pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán 22

1.2.2 Cấu trúc của pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán 23

1.2.2.1 Căn cứ vào nội dung điều chỉnh của các QPPL thì pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán chia thành các bộ phận: 23

1.2.2.2 Căn cứ vào nguồn pháp luật điều chỉnh, pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán có thể chia thành 2 bộ phận: 24

1.3 Pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 25

1.3.1 Về tiêu chuẩn của CPA (Certified Public Accountants ) 25

1.3.2 Về các loại hình doanh nghiệp kế toán 26

1.3.3 Về quy định số lượng kế toán viên công chứng (CPA) tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp kế toán 27

1.3.4 Về quy định mức vốn tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp kế toán 27

1.3.5 Về tiêu chuẩn, điều kiện thành lập doanh nghiệp kế toán 28

1.3.6 Về cơ quan cấp phép thành lập và hoạt động doanh nghiệp kế toán 29

Kết luận chương 1 31

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT KINH DOANH DỊCH VỤ KẾ TOÁN TẠI VIỆT NAM 32

2.1 Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam 32

Trang 6

2.1.1 Khái quát về thực trạng hệ thống pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán ở

Việt Nam hiện nay 32

2.1.2 Thực trạng pháp luật về chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán 34

2.1.3 Thực trạng pháp luật về kế toán viên hành nghề: 52

2.1.4 Thực trạng pháp luật về hợp đồng dịch vụ kế toán; 55

2.1.5 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ kế toán 58

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam 60

2.2.1.Những kết quả đạt được trong thi hành pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam hiện nay 60

2.2.2 Những hạn chế vướng mắc trong thực thi pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân 65

Kết luận chương 2 71

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ KẾ TOÁN Ở VIỆT NAM 72

3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam 72

3.2 Những định hướng và yêu cầu cơ bản trong hoàn thiện pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam 74

3.3 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam 76

3.3 Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ kế toán ở Việt Nam; 79

Kết luận chương 3 82

KẾT LUẬN CHUNG 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong tiến trình đổi mới và cải cách, xây dựng kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập, kế toán Việt Nam đã được cải cách và hình thành những chức năng mới

Kế toán không chỉ là một bộ phận cấu thành của hệ thống công cụ quản lý kinh tế,

mà còn là một hoạt động thương mại dịch vụ Dịch vụ kế toán đã đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp, tư vấn cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp về luật pháp, chế độ kế toán tài chính của Nhà nước, cũng như thiết lập hệ thống thông tin kinh tế tài chính, ghi sổ kế toán, tính thuế kê khai thuế và lập trình bày Báo cáo tài chính

Dịch vụ kế toán được coi là một loại hình thương mại dịch vụ cao cấp, được luật pháp Việt Nam chính thức thừa nhận năm 2003 và đăng ký hoạt động hợp pháp dưới sự quản lý của Bộ Tài chính và sự hỗ trợ của Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam Đặc biệt, Luật Kế toán sửa đổi 2015 dành riêng một chương quy định cụ thể, chi tiết tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán và hành nghề kế toán

Có thể nhận thấy, từ những bỡ ngỡ, nhỏ nhoi ban đầu, qua hơn 10 năm phát triển, thị trường dịch vụ kế toán ở Việt Nam đã hình thành, một thị trường dịch vụ mới mẻ đầy triển vọng trong nền kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu, một thị trường dịch vụ cao cấp, hoạt động trong sự hỗ trợ và quản lý của Nhà nước và của Hội nghề nghiệp Từ 18 doanh nghiệp với hơn 30 kế toán viên chuyên nghiệp năm

2008, đã phát triển lên 120 doanh nghiệp với hơn 260 Kế toán viên chuyên nghiệp

Đó là một bước phát triển ngoạn mục thị trường dịch vụ non trẻ này Chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao và được sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước, Hội nghề nghiệp Kỷ cương, kỷ luật và ý thức trách nhiệm nghề nghiệp được tăng cường Khách hàng ngày càng tin tưởng và tìm đến các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán, để được cung cấp các loại dịch vụ kế toán ngày càng đa dạng Nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán đã trụ vững và phát triển trong muôn vàn khó khăn, mở rộng thị trường, tăng thêm các loại hình dịch vụ, tăng doanh thu Nhiều kế toán viên chuyên nghiệp đã trưởng thành và có thể thực hiện

Trang 8

nhiều loại dịch vụ, cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau Tổ chức nghề nghiệp của những người hành nghề kế toán đã được thành lập, tập hợp và hỗ trợ tích cực cho các hội viên, tạo dựng một tổ chức nghề nghiệp có tính chuyên nghiệp Hiện nay, xu hướng mở cửa hội nhập cùng với nhu cầu của doanh nghiệp trong nước khiến thị trường kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam được đánh giá rất tiềm năng

Có thể đánh giá, phát triển thị trường dịch vụ kế toán ở Việt Nam tuy là rất mới mẻ, nhưng là một hướng đi đúng, một thị trường dịch vụ đầy tiềm năng trong một nền kinh tế mở, hỗ trợ tích cực có hiệu quả cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế, trước hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên, tất cả chỉ là bắt đầu, Thị trường dịch vụ kế toán còn quá nhỏ bé trong một đất nước hơn 90 triệu dân, hơn

700 nghìn doanh nghiệp, trong đó có tới 95% là doanh nghiệp vừa và nhỏ [9.]

Đội ngũ kế toán viên chuyên nghiệp còn quá ít ỏi, năng lực và kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế, thị trường dịch vụ kế toán tự do, tự phát không được kiểm soát, không được quản lý Tạo ra thị trường dịch vụ cạnh tranh không lành mạnh, cản trở phát triển một thị trường dịch vụ đích thực Trong khi đó, nhận thức về dịch vụ kế toán và hành nghề kế toán chưa thật sự đầy đủ và thống nhất, vẫn còn những nhận thức không đúng, thậm chí còn méo mó về thị trường và nghề nghiệp, kể cả từ phía nhà nước, từ phía các doanh nghiệp cũng như các kế toán viên Có thể nói, Luật Kế toán 2015 đưa ra điều kiện hành nghề, điều kiện cung cấp dịch vụ kế toán rất chặt chẽ Đó là điều cần thiết, nhưng hơi ngặt nghèo đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán, cá nhân kế toán viên hành nghề trong giai đoạn hiện nay, khi thị trường dịch vụ kế toán còn rất non trẻ, như các quy định về vốn, về số lượng kế toán viên có chứng chỉ hành nghề Hơn nữa, việc tổ chức thi và cấp chứng chỉ kế toán viên do Bộ Tài chính đảm nhiệm còn khó khăn cho những người muốn cung cấp dịch vụ kế toán, kể cả những người đã có hàng chục năm làm kế toán, làm kế toán trưởng… Trong điều kiện hiện nay, nhiều cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện

và không thể đăng ký hành nghề kế toán, kiểm toán và vì vậy chấp nhận hoạt động không chính thức [19] Từ thực tế đó, trong chỉ thị số: 07/CT-TTg ngày 05 tháng 03

năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện có

Trang 9

hiệu quả các Nghị quyết số 35/NQ-CP và Chỉ thị số 26/CT-TTg có yêu cầu trong năm 2018 các Bộ, ngành, địa phương:

“ Rà soát, đề xuất Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi quy định Điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán tại Luật Kế toán năm 2015 nhằm giảm cản trở hoạt động của các doanh nghiệp kế toán”

Như vậy, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về dịch vụ kế toán, nhằm tạo cơ sở thúc đẩy sự phát triển của thị trường dịch vụ kế toán, nâng cao chất lượng dịch vụ và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán để đủ đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu dịch vụ kế toán của nền kinh tế đang là nhu cầu cấp bách

Chính vì lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Pháp luật về kinh doanh

dịch vụ kế toán ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trong chuyên ngành kinh tế có nhiều công trình nghiên cứu về kế toán, nghiệp vụ kế toán ở các cấp độ khác nhau như luận án tiến sĩ, luận văn cao học, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp cơ sở hoặc dưới dạng các bài viết nghiên cứu trao đổi các tạp chí chuyên ngành… Kế toán được nghiên cứu cả ở phương diện lý luận và thực tiễn

Trong khoa học pháp lý chuyên ngành hiện nay có rất ít các công trình nghiên cứu về pháp luật kế toán và hoàn thiện pháp luật kế toán Qua khảo cứu chúng tôi thấy hiện chỉ có giáo trình “Pháp luật kế toán” của khoa Luật kinh tế - Học viện Ngân hàng biên soạn năm 2012 Về luận văn, luận án có Luận văn cao học

luât kinh tế (2015) Vũ Quốc Việt - Viện Đại học Mở Hà Nội với đề tài “Thực trạng pháp luật kế toán ở Việt Nam hiện nay và hướng hoàn thiện”; Ngoài ra, có một số

bài báo, tạp chí khoa học có bàn đến pháp luật kế toán như: Bài viết “Hoàn thiện hệ thống pháp luật kế toán, nâng cao chất lượng hoạt động kế toán - kiểm toán và hội nhập quốc tế” của Thạc sỹ Phan Dũng đăng trên số 12 Tháng 9-10/2013, Tạp chí Phát triển và hội nhập; bài viết “Sửa đổi Luật kế toán cho phù hợp với yêu cầu hội nhập” của Tác giả Phúc Khang đăng trên Báo Kiểm toán số 21/2013… Về cơ bản,

các công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các

Trang 10

quy định của pháp luật nói chung về kế toán mà chưa đi sâu vào nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực hiện áp dụng pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán Do đó, nhiều vấn đề về lý luận về dịch vụ kế toán, pháp luật về dịch vụ kế toán, cũng như việc đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ kế toán

ở nước ta hiện nay chưa được nghiên cứu đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống

Nhìn lại các công trình nghiên cứu luật học trong lĩnh vực kế toán nói chung

và dịch vụ kế toán nói riêng thời gian qua có thể khẳng định, cho đến nay ở Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu luật học nào ở cấp độ luận văn thạc sỹ nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật kinh doannh dịch vụ kế toán Bởi vậy, có nhiều vấn đề lý luận về pháp luật kế toán đang còn bỏ ngỏ hoặc cần được nghiên cứu, luận giải một cách sâu sắc và toàn diện Việc đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật kế toán ở Việt Nam chưa đầy đủ, toàn diện chưa có tính hệ thống Với cách nhìn nhận, đánh giá nêu trên, chúng tôi cho rằng: Công trình nghiên cứu

khoa học pháp lý ở cấp độ luận văn thạc sĩ về “Pháp luật kinh doanh dịch vụ kế

toán ở Việt Nam” sẽ là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực cả trên phương diện lý

luận và thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam

hiện nay” hướng đến mục tiêu: làm rõ những vấn đề lý luận như: Khái niệm dịch vụ

kế toán, pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán, cấu trúc pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán; các yếu tố chi phối nội dung điều chỉnh của pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán kế toán,… Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở một số nước từ đó liên hệ, vận dụng tạo

cơ sở lý luận để định hướng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh doanh dịch kế toán ở Việt Nam

Đánh giá toàn diện về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam hiện nay từ đó xây dựng cơ sở thực tiễn nhằm hoàn thiện pháp luật về kế toán ở Việt Nam

Trang 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài nghiên cứu cần thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về dịch vụ kế toán; pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán

- Từ phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam, Luận văn chỉ rõ những ưu điểm và hạn chế của pháp luật hiện hành; từ thực tiễn thi hành pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán luận văn chỉ ra kết quả đã đạt được và những bất cập, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành pháp luật và nguyên nhân của bất cập đó

- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đó, luận văn sẽ xây dựng phương hướng và các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về kế toán nói chung và dịch vụ kế toán nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các quy định của pháp luật về kinh doanh dịch kế toán tại Việt Nam, các quan điểm khoa học pháp lý, các quan điểm, đường lối của Đảng có liên quan đến pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán và hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán

* Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quy định pháp luật về dịch vụ kế toán Việt Nam kể từ khi có Luật kế toán ra đời cho đến nay Việc nghiên cứu thực tiễn được khảo sát chủ yếu tại các đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán và các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ kế toán ở các thành phố lớn và ở một số địa phương

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận:

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê

nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN vầ xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Trang 12

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu trong đề tài bao gồm các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, hệ thống hóa pháp luật, suy luận logic, quy nạp, diễn dịch, kế thừa thành quả nghiên cứu trước đó, khảo sát tình hình thực tiễn hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán tại các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kế toán và các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ kế toán nhằm đưa ra những kiến nghị và giải pháp phù hợp Trên cơ sở so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới về vấn đề này, xem xét sự phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm hướng tới hoàn thiện các quy định của pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam Các phương pháp được sử dụng phù hợp với từng nội dung của các phần trong luận văn nhằm đảm bảo các kết quả nghiên cứu là khách quan và có độ tin cậy cao

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

Đây là một công trình nghiên cứu có tính hệ thống, toàn diện pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về hoàn thiện pháp luật kế toán ở Việt Nam nói chung và pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán nói riêng, làm rõ cơ sở khoa học để thống nhất nghiên cứu hoàn thiện từng bộ phận pháp luật về dịch vụ kế toán và cả hệ thống pháp luật kế toán ở Việt Nam

Luận văn là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy khoa học pháp

lý phục vụ việc hoạch định chính sách; phục vụ quản lý hoạt động thực tiễn trong các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội nghề nghiệp kế toán, các đối tượng kinh doanh dịch vụ kế toán và các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ kế toán

Các kết luận, các ý kiến được trình bày trong luận văn có thể giúp ích cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong xây dựng chính sách, xây dựng pháp luật kế toán và trong tổ chức thực hiện pháp luật về dịch vụ kế toán ở Việt Nam

7 Cơ cấu của luận văn

Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ kế toán và pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán

Trang 13

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam;

Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ

KẾ TOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ

KẾ TOÁN 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về kinh doanh dịch vụ kế toán

1.1.1 Khái niệm kế toán

Xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau nên hiện nay có khá nhiều định nghĩa về kế toán

Trước đây người ta thường hiểu công việc kế toán chỉ gồm các nhiệm vụ giữ

sổ sách kế toán, ghi chép, phân loại và tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Mục đích của kế toán trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung là nhằm cung cấp thông tin cho Nhà nước để kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch Chức năng của kế toán là phản ánh và giám đốc tài sản XHCN và các hoạt động kinh tế Bởi vậy, kế toán được định nghĩa:

“Kế toán là công việc tính toán, ghi chép, phản ánh bằng con số một cách liên tục, toàn diện và hệ thống các loại vật tư, tiền vốn và mọi hoạt động kinh tế, qua đó mà giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước; tình hình bảo vệ tài sản XHCN”[12 Tr.7]

Trong Điều lệ Tổ chức kế toán Nhà nước có định nghĩa: “Kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn

và kinh phí của nhà nước cũng như của từng tổ chức xí nghiệp”

Hiện nay, công việc kế toán được hiểu rộng hơn nhiều Kế toán là một hệ thống thông tin dùng để đo lường, xử lý và truyền đạt những thông tin về tài chính của một đơn vị kế toán Thông tin này giúp người sử dụng có thể đưa ra các quyết định hợp lý cho mình Vì vậy, người kế toán ngày nay không chỉ quan tâm đến việc giữ sổ sách mà phải quan tâm đến toàn bộ các hoạt động như: việc hoạch định

Trang 15

chương trình và giải quyết vấn đề; hướng sự quan tâm của lãnh đạo đến những điều cần lưu tâm, đánh giá và duyệt xét các hoạt động của đơn vị kế toán, kiểm tra sổ sách… Kế toán bao gồm việc thiết kế một hệ thống thông tin đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng thông tin về kế toán ở cả trong và ngoài đơn vị kế toán

Trong nền kinh tế thị trường, các đơn vị kế toán là doanh nghiệp đều bình đẳng, mối quan hệ kinh tế tài chính của các đơn vị kế toán này được mở rộng Mặt khác, với sự phát triển đa dạng của các nguồn tạo vốn từ bên ngoài đã làm cho đối tượng sử dụng thông tin kế toán trở nên đa dạng hơn Mục đích của kế toán không chỉ cung cấp thông tin chủ yếu cho bản thân doanh nghiệp, cho Nhà nước, mà còn cung cấp thông tin cho các đối tượng như: Ngân hàng, các nhà đầu tư tương lai, nhà cung cấp, khách hàng,… Vì vậy, định nghĩa kế toán nhấn mạnh đến chức năng cung cấp thông tin và chức năng này được coi là chức năng cơ bản nhất của kế toán

Sau đây là một số định nghĩa đã được đưa ra:

- Theo TS Trần Anh Hoa: “Kế toán là một khoa học liên quan đến việc thu thập, đo lường, xử lý và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính hữu ích của một tổ chức đến các đối tượng sử dụng để trên cơ sở đó đề ra các quyết định hợp lý”

[ 12.Tr.8]

Theo Luật Kế toán Việt Nam 2015: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”1

Qua một số định nghĩa về kế toán nêu trên cho thấy, quan niệm về phạm vi

hoạt động kế toán, nhiệm vụ, mục đích của kế toán đã có thay đổi nhất định Theo điều 4 Luật kế toán năm 2015 quy định về nhiệm vụ kế toán gồm:

-Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công

việc kế toán, theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán;

- Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán;

1

Khoản 8, Điều 3, Luật kế toán năm 2015

Trang 16

- Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục

vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán;

- Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật

1.1.2 Phân loại kế toán

* Căn cứ vào việc tổ chức hệ thống kế toán, ở Việt Nam kế toán đã được phân chia thành các khu vực:

- Khu vực kế toán nhà nước bao gồm kế toán thu chi NSNN, kế toán Kho

bạc, kế toán thuế, kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp, kế toán tài sản công nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ quản lý NSNN, quản lý kho bạc, tài sản quốc gia

- Khu vực kế toán doanh nghiệp áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp

thuộc các thành phần kinh tế để theo dõi, quản lý biến động về vốn, tài sản, thu nhập, chi phí, phân phối thu nhập của các doanh nghiệp Một số ngành, lĩnh vực doanh nghiệp đặc thù đã có quy định phù hợp

- Khu vực kế toán ngân hàng, tín dụng, tổ chức tài chính, các quỹ tài chính Nhà nước để áp dụng cho hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,

tổ chức tín dụng, công ty tài chính, công ty chứng khoán và một số tổ chức đặc thù khác như: các Ngân hàng chính sách, Bảo hiểm xã hội Các quỹ tài chính nhà nước cũng được quy định phù hợp để đáp ứng chức năng, nhiệm vụ được giao của các tổ chức này

+ Khu vực kế toán hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã đã được quy định đảm

bảo theo dõi biến động về vốn, tài sản và hoạt động hợp tác xã, với những đặc điểm khác với doanh nghiệp về trình độ quản lý theo mô hình hợp tác xã [7, Tr.2]

* Căn cứ vào đối tượng kế toán, kế toán được phân theo 4 nhóm 2 :

- Kế toán NSNN và các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN;

- Kế toán của các đơn vị, tổ chức không sử dụng kinh phí NSNN;

- Kế toán của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế;

- Kế toán của các đối tượng thuộc lĩnh vực ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán, đầu tư tài chính

2

Điều 9, Luật Kế toán 2015

Trang 17

*Căn cứ vào phân loại đơn vị kế toán thì kế toán được phân chia thành:

- Kế toán trong lĩnh vực kinh doanh: bao gồm kế toán trong các doanh

nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam; chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; ban quản lý dự án, đơn vị khác có tư cách pháp nhân do doanh nghiệp thành lập

- Kế toán trong lĩnh vực kế toán nhà nước bao gồm kế toán trong cơ quan có

nhiệm vụ thu, chi NSNN các cấp (Kho bạc nhà nước, cơ quan thuế, cơ quan hải quan); đơn vị kế toán ngân sách và tài chính xã, phường, thị trấn; cơ quan nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước; ban quản lý

dự án có tư cách pháp nhân do cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thành lập; cơ quan, tổ chức quản lý quỹ tài chính nhà nước ngoài NSNN; các tổ chức được nhà nước cấp vốn để tổ chức hoạt động theo mục tiêu chính trị - xã hội cụ thể

- Kế toán khác là kế toán trong các đơn vị kế toán còn lại không thuộc hai

đối tượng quy định trên;

* Kế toán trong đơn vị kế toán được phân chia thành: Kế toán tài chính và kế toán quản trị;

Kế toán tài chính: là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp

thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán Kế toán tài chính là kế toán phản ánh hiện trạng và sự biến động về vốn, tài sản của đơn vị kế toán dưới dạng tổng quát [12, Tr.11]

Trong kế toán tài chính bao gồm: kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết

+ Kế toán tổng hợp phải thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin tổng quát về hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị Kế toán tổng hợp sử dụng đơn vị tiền tệ để phản ánh tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, tình hình và kết quả hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán Kế toán tổng hợp được thực hiện trên cơ sở các thông tin, số liệu của kế toán chi tiết3 Trong DN kế toán tổng hợp là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằm trình bày các số liệu báo cáo mang tính tổng hợp về tình hình tài sản, doanh thu chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh của

3

Điểm a, khoản 2 điều 9 Luật Kế toán 2015

Trang 18

doanh nghiệp trong một kỳ kế toán vào một thời điểm nhất định Nói cách khác kế toán tổng hợp chỉ liên quan đến tài khoản của sổ cái tổng hợp và báo cáo tài chính

+ Kế toán chi tiết phải thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin chi tiết bằng đơn vị tiền tệ, đơn vị hiện vật và đơn vị thời gian lao động theo đối tượng kế toán cụ thể trong đơn vị kế toán Kế toán chi tiết minh họa cho kế toán tổng hợp Số liệu kế toán chi tiết phải khớp đúng với số liệu kế toán tổng hợp trong một kỳ kế toán4 Kế toán chi tiết là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằm chứng minh các

số liệu ghi trong tài khoản tổng hợp là đúng trong quá trình ghi chép và lập báo cáo

kế toán, đây cũng là công việc phải làm trước khi khoá sổ kế toán để quyết toán Ví dụ: Việc thực hiện đối chiếu giữa tài khoản phải thu với sổ công nợ chi tiết của từng khách hàng, đối chiếu tài khoản phải trả với sổ chi tiết công nợ của từng nhà cung cấp hay việc đối chiếu tài khoản nguyên vật liệu với sổ chi tiết vật tư

- Kế toán quản trị: là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin

kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán [12,Tr.12] Kế toán quản trị áp dụng chủ yếu trong DN nhằm đưa ra tất cả các thông tin kinh tế đã được đo lường xử lý và cung cấp cho lãnh đạo doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác kế toán quản trị giúp ban lãnh đạo doanh nghiệp cân nhắc và quyết định lựa chọn một trong những phương án có hiệu quả kinh tế cao nhất: phải sản xuất những sản phẩm nào? sản xuất bằng cách nào? bán các sản phẩm đó bằng cách nào? theo giá nào? làm thế nào để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và phát triển khả năng sản xuất?

1.1.3.Vai trò của kế toán doanh nghiệp

Vai trò của kế toán là tạo ra thông tin về sự kiện kinh tế phát sinh từ các hoạt động của doanh nghiệp trong môi trường của nó Kết quả của kế toán được trình bày tốt nhất bởi mô hình thông tin và được trình bày trên các báo cáo tài chính, với những ghi chú giải trình của quá trình lập báo cáo tài chính và những thông tin khác

của doanh nghiệp đã được kiểm toán (chứng nhận những báo cáo này trình bày trung thực với tình hình và kết quả của doanh nghiệp và phù hợp với nguyên tắc kế toán thừa nhận chung) [28]

4

Điểm b, khoản 2 điều 9 Luật Kế toán 2015

Trang 19

Các thông tin của kế toán được tao ra nhằm giúp cho những người có nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau, cụ thể:

Đối với người quản trị doanh nghiệp:

Người quản trị trong doanh nghiệp ở các cấp độ quản trị khác nhau họ là những người trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh Họ sử dụng thông tin về kế toán để xác định mục tiêu kinh doanh, đề ra các quyết định để thực hiện, đánh giá thực hiện mục tiêu và điều chỉnh mục tiêu nếu thấy cần thiết để hoạt động kinh doanh của họ đạt hiệu quả cao hơn Vai trò của kế toán trong việc cung cấp thông tin cho các nhà quản trị là nhằm liên kết các quá trình quản lý với nhau và liên kết doanh nghiệp với môi trường bên ngoài

Đối với các chủ sở hữu:

Chủ sở hữu là những người có quyền sở hữu với vốn hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp (như cổ đông, người góp vốn liên doanh, Nhà nước trong các doanh nghiệp Nhà nước và công ty cổ phần,…), họ quan tâm đến lợi tức sinh ra từ

vốn kinh doanh, vì đây là căn cứ để họ đưa ra các quyết định cần thiết, bao gồm cả quyết định phân chia lợi tức cho họ Đồng thời, qua việc xem xét thông tin trên báo cáo kế toán để họ có thể đánh giá năng lực, trách nhiệm của các bộ phận quản lý ở doanh nghiệp là tốt hay xấu

Đối với khách hàng là người cho vay và cung cấp hàng hóa dịch vụ:

Các ngân hàng, tổ chức tài chính khác cũng như các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ trước khi cho vay hoặc cung cấp đều có nhu cầu thông tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp như thế nào? Nghĩa là, doanh nghiệp đã có đủ khả năng chi trả hay không? Để có được thông tin này họ phải sử dụng thông tin của kế toán

Đối với các nhà đầu tư:

Các nhà đầu tư là người cung cấp vốn cho tổ chức hoạt động kinh doanh với

hy vọng thu được lợi tức trên vốn đầu tư Họ luôn luôn muốn đầu tư vào nơi nào có

tỷ lệ hoàn vốn cao nhất và thời gian ngắn nhất Do vậy, trước khi đầu tư, họ cần thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp để qua đó nghiên cứu, phân tích, đánh giá rồi đi đến quyết định

Trang 20

Đối với cơ quan thuế:

Các cơ quan thuế địa phương và trung ương dựa vào tài liệu của kế toán để kiểm tra và quản lý việc tính thuế, nộp thuế của đơn vị kế toán, đặc biệt là thuế thu nhập Các cơ quan thuế thường lấy số liệu lợi tức được thể hiện trên báo cáo kế toán trừ đi các khoản miễn, giảm thuế theo luật định để xác định lợi tức chịu thuế

Đối với các cơ quan Nhà nước:

Các cơ quan nhà nước cần số liệu kế toán của doanh nghiệp để tổng hợp cho ngành, địa phương và trên cơ sở đó phân tích đánh giá nhằm định ra các chính sách kinh tế thích hợp để thúc đẩy sản xuất kinh doanh và điều hành kinh tế vĩ mô

1.1.4 Khái quát về kinh doanh dịch vụ kế toán

Sự ra đời của dịch vụ kế toán

Kế toán là công cụ quản lý kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào việc theo dõi quản lý tiền vốn, tài sản của nhà nước, quản lý hoạt động kinh tế tài chính của các lĩnh vực trong nền kinh tế và ở từng doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức một cách đầy

đủ, chính xác, trung thực Đồng thời nó là công cụ quản lý, giám sát của Nhà nước tăng cường tính công khai, minh bạch về tài chính, vốn, tài sản của nhà nước, của doanh nghiệp, các đơn vị tài chính kế toán [7, Tr.6 ] Bởi vậy, pháp luật các quốc gia đều có quy định: “Các đơn vị kế toán phải tổ chức bộ máy kế toán, bố trí người làm kế toán hoặc thuê dịch vụ làm kế toán5 Người đại diện theo pháp luật của đơn

vị kế toán có trách nhiệm tổ chức bộ máy kế toán, bố trí người làm kế toán hoặc quyết định thuê doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán, hộ kinh doanh dịch vụ kế toán theo đúng quy định của Luật kế toán”6

Đối với các đơn vị kế toán là doanh nghiệp thì việc tổ chức công tác kế toán,

bộ máy kế toán không chỉ là thực hiện yêu cầu đòi hỏi của nhà nước nhằm thiết lập nên công cụ đắc lực để quản lý nền kinh tế của Nhà nước mà còn có vai trò quan trọng đặc biệt với doanh nghiệp Bởi vì:

Kế toán là quá trình thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động Qua

Trang 21

đó theo dõi những hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp và tổng hợp các kết quả bằng các bản báo cáo kế toán [28] Thông qua bộ phận kế toán, các nhà quản lý có thể theo dõi thường xuyên tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, bao gồm quá trình sản xuất, theo dõi thị trường

và kiểm soát nội bộ Thông tin do bộ phận kế toán cung cấp rất cần thiết cho nhà quản trị, nó giúp họ đưa ra các chiến lược và quyết định kinh doanh Bộ máy kế toán sẽ xác định đúng nhu cầu cần huy động vốn, lựa chọn nguồn tài trợ, lựa chọn phương thức đòn bẩy kinh doanh để huy động vốn, để nguồn vốn bảo toàn

và phát triển, nâng cao thu nhập của công ty… Do đó nếu thông tin kế toán sai lệch sẽ dẫn đến các quyết định của nhà quản trị không phù hợp, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn

Kế toán là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp Một bộ máy kế toán mạnh, sổ sách kế toán rõ ràng, phân tích thấu đáo sẽ giúp cho người điều hành đưa ra các quyết định kinh doanh đạt hiệu quả Mặt khác sổ sách rõ ràng thì việc quyết toán về thuế đối với cơ quan chức năng sẽ mau lẹ, giúp tiết kiệm thời gian, tạo điều kiện tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh [28] Với đạt được mục đích đó, DN có thể chọn một trong hai cách làm sau:

- Cách thứ nhất: DN tự xây dựng bộ máy kế toán trong đơn vị mình thông qua việc tuyển chọn người có chuyên môn kế toán giỏi để ký hợp đồng lao động và trả lương cho họ để họ làm công việc chuyên môn này Để thực hiện công tác việc này đòi hỏi có thời gian, chi phí trả lương phải thỏa đáng mới có thu hút và giữ chân được chuyên gia kế toán giỏi về làm việc cho DN mình…

- Cách thứ hai, DN đi thuê thông qua hợp đồng dịch vụ ký với đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán chuyên nghiệp để họ cung cấp dịch vụ kế toán trọn gói hoặc một vài dịch vụ kế toán cho mình khi có nhu cầu Thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh doanh làm nảy sinh các nhu cầu liên quan đến kế toán như: Cung cấp và tư vấn sử dụng phần mềm kế toán; Soát xét và hoàn thiện chứng

từ, sổ sách và lập báo cáo kế toán; Tập hợp chứng từ, xử lý chứng từ kế toán và ghi chép sổ sách kế toán một cách chuyên nghiệp, bài bản với chi phí hợp lý nhất, với thời gian sớm nhất có thể

Trang 22

Như vậy, trong xã hội có nhu cầu về dịch vụ kế toán xuất hiện và đòi hỏi ngày một nhiều Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường thì cứ cầu xuất hiện thì ắt có cung

Kế toán là nghề đòi hỏi tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ cao Trong xã hội có những người được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ kế toán, có nhiều kinh nghiệm, kỹ năng làm kế toán, kế toán trưởng trong các đơn vị kế toán…

Do điều kiện, hoàn cảnh và với nhiều lý do khác nhau, họ không muốn làm nghề mãi ở một nơi và trong một môi trường quá quen thuộc, nhàm chán, ít có sự thay đổi, hoặc họ bị gò bó, công việc chuyên môn ở đó đơn giản không sử dụng phát huy hết khả năng chuyên môn của mình trong khi thu nhập không cao, thậm chí DN làm

ăn thua lỗ, giải thể, sáp nhập mà họ đang thất nghiệp… Họ có mong muốn hành nghề kế toán một cách chuyên nghiệp, trong môi trường làm việc chủ động, năng động, cạnh tranh và để phát triển để phát huy khả năng chuyên môn nghiệp vụ của mình Họ tận dụng khả năng chuyên môn, tận dụng thời gian mình có để làm chuyên môn nghề nghiệp của mình để có thu nhập cao hơn, làm giàu bằng chính nghề nghiệp chuyên môn của mình thông qua việc cung cấp cung cấp dịch vụ kế toán cho các đơn vị kế toán theo cơ chế thị trường Những kế toán muốn hành nghề

có thể hành nghề độc lập với tư cách hộ kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc họ cùng góp vốn cùng đứng ra thành lập DN kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc ký hợp đồng lao động với các DN kinh doanh dịch vụ kế toán để cung cấp dịch vụ kế toán cho khách hàng

Nhà nước đã nhận ra những lợi ích của việc cung cấp dịch vụ kế toán cho các

DN, thấy được các nhu cầu tất yếu của nền kinh tế cần sự hỗ trợ giúp đỡ của các chuyên gia kế toán chuyên nghiệp Điều đó không chỉ giúp DN có lợi về minh bạch thông tin mà còn giảm thiểu tối đa chi phí khi họ tuyển dụng và khắc phục rủi ro Chính vì vậy, Nhà nước ban hành pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán ra đời, phát triển Bằng các quy định của pháp luật Nhà nước cho phép thành lập các kế toán viên có đủ tiêu chuẩn điều kiện hành nghề được thành lập các DN, hộ kinh doanh dịch vụ kế toán Đồng thời cho phép một số loại đơn vị kế toán được thuê dịch vụ làm kế toán, thuê làm kế toán trưởng từ các đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán

Trang 23

Trong điều kiện ấy thì thị trường dịch vụ về tài chính - kế toán bắt đầu hình thành để hỗ trợ các DN cung cấp dịch vụ cần thiết trong đó có dịch vụ kế toán, bên cạnh là các dịch vụ khác…

Ưu điểm lớn nhất của dịch vụ kế toán là tính chuyên nghiệp, đảm bảo độ tin cậy, chi phí thấp và hợp lý, điều đó làm DN yên tâm hơn khi thực hiện nghĩa vụ về

kế toán, lập và trình bày báo cáo tài chính, thực hiện các nghĩa vụ công bố thông tin tài chính, kê khai thuế, nộp thuế cho nhà nước… Với dịch vụ này, DN có thể thực hiện đầy đủ và bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời thời giúp giảm thiểu tối đa chi phí cho DN Bởi nếu là kế toán phải tuyển dụng, bố trí người làm kế toán, tổ chức

bộ máy kế toán thì rất tốn kém chi phí về tiền lương tiền công, nhiều nghĩa vụ khác đối với người lao động và cũng rất dễ bị rủi ro, bị phạt do những sai sót của kế toán không chuyên nghiệp Trong khi đó, nếu thuê dịch vụ và được các công ty chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ thì chất lượng thông tin sẽ cao hơn, tin cậy hơn, với dịch

vụ chuyên nghiệp hơn và với chi phí hợp lý hơn, giảm thiểu tối đa rủi ro và tiết kiệm chi phí cho DN Điều này cũng có lợi cho nhà nước, các cơ quan thuế bởi công tác kế toán, lập báo cáo tài chính của DN được rõ ràng hơn, đầy đủ hơn, minh bạch hơn thuận tiện cho việc quản lý của nhà nước cũng như thuận tiện cho việc kiểm tra, xác định số thuế phải nộp của các DN dù là nộp thuế theo phương pháp nào (khoán, hay tính toán trên cơ sở chi phí thu nhập thực tế )

Ở Việt Nam, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số nên việc thuê dịch vụ kế toán từ các DN kinh doanh dịch vụ kế toán có uy tín sẽ giúp tiết kiệm chi phí đầu tư và nâng cao hiệu quả công việc Hơn nữa, chất lượng dịch vụ kế toán từ các DN cung cấp dịch vụ sẽ tốt hơn so với một nhân viên kế toán nội bộ của DN; trong khi, DN không phải lo lắng việc bị rò rỉ thông tin, lộ bí mật kinh doanh, bởi sẽ được cam kết đảm bảo bảo mật thông tin bằng hợp đồng và các chế tài theo quy định của pháp luật

Dù rất phát triển trên thế giới, song dịch vụ kế toán, hành nghề kế toán còn tương đối mới mẻ tại Việt Nam Tại Việt Nam, sự ra đời và chính thức có hiệu lực

từ ngày 01/01/2004 của Luật Kế toán đã tạo ra hành lang pháp lý cần thiết cho sự xuất hiện của thị trường dịch vụ kế toán Đặc biệt, Luật Kế toán sửa đổi 2015 dành

Trang 24

riêng một chương quy định rõ về hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán Hiện nay,

xu hướng mở cửa hội nhập cùng với nhu cầu của DN trong nước khiến thị trường kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam được đánh giá rất tiềm năng [10]

Trong tiến trình đổi mới và cải cách, xây dựng kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập, kế toán Việt Nam đã được cải cách và hình thành những chức năng mới

Kế toán không chỉ là một bộ phận cấu thành của hệ thống công cụ quản lý kinh tế,

mà còn là một hoạt động thương mại dịch vụ Dịch vụ kế toán đã đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp, tư vấn cho các nhà đầu tư, các DN về luật pháp, chế độ kế toán tài chính của Nhà nước, cũng như thiết lập hệ thống thông tin kinh tế tài chính, ghi sổ kế toán, tính thuế kê khai thuế và lập trình bày Báo cáo tài chính [19]…

Có thể nhận thấy, từ những bỡ ngỡ, nhỏ nhoi ban đầu, qua 15 năm phát triển, thị trường dịch vụ kế toán ở Việt Nam đã hình thành, phát triển tuy còn mới mẻ đầy triển vọng trong nền kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu, một thị trường dịch vụ cao cấp, hoạt động trong sự quản lý của Nhà nước và sự hỗ trợ và quản lý của Hội nghề nghiệp

* Khái niệm kinh doanh dịch vụ kế toán

Dịch vụ kế toán là việc bên cung ứng dịch vụ (đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán, người hành nghề dịch vụ kế toán) thực hiện công việc làm kế toán, làm kế toán trưởng thuê cho bên sử dụng dịch vụ (các đơn vị kế toán) như: soát xét chứng từ ghi sổ

kế toán, rà soát và hoàn thiện sổ sách kế toán, lập và soát xét báo cáo tài chính, tư vấn về tài chính, kê khai thuế, quyết toán thuế và các công việc khác thuộc nội dung công tác

kế toán hoặc có liên quan đến kế toán như: cung cấp và tư vấn áp dụng công nghệ thông tin về kế toán, bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán trên cơ sở hợp đồng dịch vụ kế toán được các bên thỏa thuận ký kết và thực hiện

Tại khoản 13 điều 3 Luật kế toán năm 2015 giải thích khái niệm kinh doanh

dịch vụ kế toán như sau:

“Kinh doanh dịch vụ kế toán là việc cung cấp dịch vụ làm kế toán, làm kế

toán trưởng, lập báo cáo tài chính, tư vấn kế toán và các công việc khác thuộc nội dung công tác kế toán theo quy định của Luật kế toán cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu” 7

7

Khoản 13 điều 3 Luật kế toán năm 2015

Trang 25

* Đặc điểm của kinh doanh dịch vụ kế toán:

Thứ nhất: Kinh doanh dịch vụ kế toán là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện

Theo Điều 7, Luật Đầu tư 2014, điều kiện kinh doanh được áp dụng đối với các ngành nghề nhất định vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng… Đối với ngành nghề kinh doanh dịch vụ kế toán do có ảnh hưởng đến những mục tiêu công cộng cần phải bảo vệ thông qua các điều kiện kinh doanh Việc pháp luật quy định các điều kiện để doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ kế toán, điều kiện để cá nhân đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán nhằm mục tiêu: Nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng dịch vụ, quy mô hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ kế toán, đồng thời giúp nhà nước quản lý, kiểm soát tốt hơn

về lĩnh vực này Chất lượng dịch vụ kế toán dựa trên trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp của người hành nghề, các điều kiện pháp luật đặt ra đối với kinh doanh dịch vụ kế toán cũng để nhằm đề cao và gắn với trách nhiệm nghề nghiệp của các kế toán viên hành nghề với dịch vụ mà họ cung cấp [5, Tr.20]

Pháp luật quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán trong Luật Kế toán Để thực hiện dịch vụ kế toán, người làm dịch vụ phải có "Chứng chỉ kế toán

viên, phải đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán; Chủ thể cung cấp dịch vụ kế toán

phải thỏa mãn các điều kiện nhất định như: Phải tổ chức dưới hình thức pháp lý nhất định; phải có số lượng tối thiểu thành viên góp vốn là kế toán viên hành nghề; Người đại diện theo pháp luật, người quản lý, điều hành phải là kế toán viên hành nghề ; Kế toán viên hành nghề là nguồn nhân lực và là tài sản quan trọng nhất của doanh nghiệp dịch vụ kế toán, để đảm bảo chất lượng hoạt động nghề nghiệp của

DN kinh doanh dịch vụ kế toán thì quyền chi phối về chính sách tài chính và hoạt động của DN kinh doanh dịch vụ kế toán phải thuộc về các kế toán viên hành nghề

Thứ hai: Dịch vụ kế toán là một loại hình dịch vụ đặc thù vừa mang tính

pháp lý và vừa mang tính chất chuyên môn kỹ thuật cao

Người làm dịch vụ kế toán phải đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ kế toán, đồng thời họ khi thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn đó họ phải tuân thủ các quy định chung của luật kế toán cũng như các quy định cụ thể về chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán do Nhà nước ban hành

Trang 26

Thứ ba, phạm vi các dịch vụ kế toán được cung cấp gồm:

Dịch vụ làm kế toán; Dịch vụ làm kế toán trưởng; lập báo cáo tài chính, tư

vấn kế toán và các dịch vụ khác thuộc nội dung công tác kế toán hoặc có liên quan

đến kế toán theo quy định của pháp luật như: Thiết lập cụ thể hệ thống kế toán cho đơn vị kế toán; Cung cấp và tư vấn áp dụng công nghệ thông tin về kế toán; Bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán, cập nhật kiến thức kế toán…;

Thứ tư: Chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán:

Mặc dù, người thực hiện công việc dịch vụ kế toán là các kế toán viên hành nghề Tuy nhiên họ hành nghề dịch vụ kế toán dưới hình thức tổ chức pháp lý nhất định được pháp luật quy định Theo pháp luật Việt Nam chủ thể kinh doanh dịch vụ

kế toán (chủ thể ký hợp đồng cung cấp dịch vụ kế toán) gồm:

- “Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán;

- Hộ kinh doanh dịch vụ kế toán;

- Chi nhánh doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài tại Việt Nam;

- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới tại Việt Nam”8

Thứ năm, bên thuê dịch vụ kế toán (đơn vị sử dụng dịch vụ) là các tổ chức

(đơn vị kế toán) và cá nhân có nhu cầu Tùy vào pháp luật của mỗi nước có quy định loại đơn vị kế toán nào được thuê dịch vụ kế toán Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các đơn vị kế toán được thuê dịch vụ làm kế toán, dịch vụ làm kế toán trưởng như sau:

“Đơn vị kế toán trong lĩnh vực kinh doanh; tổ chức, đơn vị sự nghiệp không

sử dụng ngân sách nhà nước và đơn vị kế toán khác được thuê đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán để làm kế toán hoặc làm kế toán trưởng Tổ chức đơn vị sự nghiệp

có sử dụng ngân sách nhà nước có thể thuê đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán để làm kế toán hoặc làm kế toán trưởng, phụ trách kế toán do người đại diện theo pháp luật của đơn vị quyết định9”

Trang 27

Thứ sáu, Hình thức pháp lý của quan hệ kinh doanh dịch vụ kế toán là

hợp đồng dịch vụ kế toán được ký kết giữa chủ thể có đủ kiện kinh doanh dịch

vụ kế toán với các đơn vị kế toán, cá nhân có nhu cầu Pháp luật kế toán Việt Nam quy định:

“ Đơn vị kế toán được ký hợp đồng với DN kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc

hộ kinh doanh dịch vụ kế toán để thuê dịch vụ làm kế toán hoặc dịch vụ làm kế toán trưởng theo quy định của pháp luật Việc thuê dịch vụ làm kế toán, dịch vụ làm kế toán trưởng phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản theo quy định của pháp luật10”

Thứ bảy, pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán là pháp

luật kế toán và pháp luật khác có liên quan;

Thứ tám, Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ kế

Thông qua thi, tuyển dụng, hoặc ký Hợp

đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động

Hợp đồng cung cấp dịch vụ kế toán

Chế độ

làm việc

Theo thời gian, thực hiện công việc kế

toán được phân công

Theo khối lượng công việc được thuê

môn, nghiệp vụ về kế toán

Ngoài các điều kiện đối với người làm kế toán họ còn phải có các điều kiện được cấp chứng chỉ kế toán viên, cấp giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ

kế toán (những điều kiện này đòi hỏi cao

về trình độ chuyên môn, kinh nghiệp làm

kế toán…)

Địa vị của Công chức, viên chức hoặc người lao Là cá nhân hành nghề kế toán được DN

10

Khoản 1,2 Điều 56 Luật Kế toán năm 2015;

Trang 28

người làm

kế toán

động trong đơn vị kế toán; tuân thủ các

quy định của về chuyên môn nghiệp vụ

kế toán không bao gồm các quy định về

kinh doanh doanh dịch vụ kế toán

kinh doanh dịch vụ kế toán cử làm công việc cung cấp dịch vụ kế toán; phải tuân thủ các quy định về chuyên môn nghiệp

vụ kế toán và cả các quy định về kinh doanh dịch vụ kế toán

Đối tượng

áp dụng

Các đơn vị kế toán nhà nước và các đơn

vị kế toán không sử dụng kinh phí

Tuân thủ các quy định của pháp luật về

kế toán, thực hiện các công việc được

phân công và chịu trách nhiệm về

chuyên môn, nghiệp vụ của mình

Doanh nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ kế toán và người được thuê làm kế toán, làm

kế toán trưởng phải chịu trách nhiệm về chuyên môn theo thỏa thuận trong hợp đồng

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán

1.2.1 Khái niệm pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán

Dịch vụ kế toán là hoạt động kinh doanh do doanh nghiệp hoặc cá nhân có

đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề kế toán thực hiện theo quy định của pháp luật về

kế toán và pháp luật khác có liên quan nhằm cung cấp các dịch vụ kế toán cho các đơn vị kế toán có nhu cầu sử dụng

Như vậy, kinh doanh dịch vụ kế toán là quan hệ kinh doanh được thiết lập trên cơ sở hợp đồng dịch vụ giữa các chủ thể cung cấp dịch vụ kế toán với khách hàng là các đơn vị kế toán, cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ kế toán Trong mối quan hệ kinh doanh nêu trên có nhiều nhóm quan hệ xã hội phát sinh đòi hỏi pháp luật phải điều chỉnh như:

- Nhóm quan hệ gia nhập thị trường của các chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán;

Trang 29

- Nhóm quan hệ xã hội khác có liên quan…

Xét theo nghĩa rộng: Pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán là toàn bộ các

quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực kế toán Theo cách hiểu này pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán chính là pháp luật về kế toán Bởi vì, bản thân dịch vụ

kế toán làm kế toán hoặc kế toán trưởng khi thực hiện công việc này người hành nghề kế toán phải tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung công tác kế toán được pháp luật kế toán giống như các nhân viên kế toán làm việc trong đơn vị kế toán

Xét theo nghĩa hẹp: Pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán là một bộ phận

pháp luật kế toán, bao gồm các quy định của pháp luật chỉ áp dụng riêng cho người hành nghề kế toán và đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán, không áp dụng cho đơn vị

kế toán, người làm kế toán, kế toán trưởng trong các đơn vị kế toán

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, do hạn chế thời gian nghiên cứu, và những giới hạn dung lượng số trang của luận văn thạc sỹ, tác giả luận văn sẽ nghiên cứu pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán theo khái niệm hiểu theo nghĩa hẹp này

1.2.2 Cấu trúc của pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán

1.2.2.1 Căn cứ vào nội dung điều chỉnh của các QPPL thì pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán chia thành các bộ phận:

* Pháp luật về chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán:

Bao gồm các quy định về điều kiện kinh doanh như:

- Hình thức tổ chức pháp lý: Muốn cung cấp dịch vụ kế toán cho khách hàng,

kế toán viên hành nghề phải tổ chức dưới những hình thức tổ chức pháp lý nhất định để tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán được tổ chức dưới hình thức là doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh dịch vụ kế toán

Đối với các DN kinh doanh dịch vụ kế toán cũng chỉ được tổ chức dưới hình thức:

Công ty TNHH hai thành viên trở lên; Công ty hợp danh; DN tư nhân Còn đối với

DN nước ngoài kinh doanh dịch vụ kế toán tại VN dưới hình thức: Góp vốn với DN

Trang 30

kinh doanh dịch vụ kế toán đã được thành lập và hoạt động tại Việt Nam để thành lập DN kinh doanh dịch vụ kế toán; Thành lập chi nhánh DN kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài; Cung cấp dịch vụ qua biên giới theo quy định của pháp luật

- Các điều kiện để được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch

vụ kế toán đối với từng loại chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán

- Các quy định về thủ tục hành chính trong việc cấp, đình chỉ kinh doanh và thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh

* Pháp luật về kế toán viên hành nghề

Bao gồm các quy định về điều kiện để thi lấy chứng chỉ kế toán viên, tiêu chuẩn để được cấp chứng chỉ kế toán viên, quy định về đăng ký hành nghề dịch vụ

kế toán và quy định về trách nhiệm của kế toán viên hành nghề;

* Pháp luật về hợp đồng dịch vụ kế toán

Bao gồm các quy định về các chủ thể ký kết hợp đồng dịch vụ kế toán; nội dung dịch vụ kế toán; hình thức của hợp đồng dịch vụ kế toán; Trách nhiệm của chủ thể ký kết hợp đồng dịch vụ kế toán; các trường hợp không cung cấp dịch vụ kế toán;

* Pháp luật quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ kế toán

Bao gồm các quy định về chủ thể quản lý nhà nước đối với kinh doanh dịch

vụ kế toán, nội dung quản lý nhà nước; thẩm quyền của các chủ thể trong quản lý nhà nước; Và các quy định cụ thể về các hành vi bị cấm trong kinh doanh dịch vụ

kế toán, xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ kế toán

1.2.2.2 Căn cứ vào nguồn pháp luật điều chỉnh, pháp luật kinh doanh dịch

- Nhóm quy phạm pháp luật khác có liên quan như: Các quy phạm này có trong Luật doanh nghiệp; Bộ luật Dân sự; Luật thương mại; Luật thuế; Luật xử lý vi

Trang 31

phạm hành chính; Luật khiếu nại, tố cáo; pháp luật về hóa đơn chứng từ …và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành;

* Nhóm quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ kế toán

1.3 Pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

Trong pháp luật kế toán của một số nước có đề cập đến các nội dung mà Việt Nam cần tham khảo chọn lọc để xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh doanh dịch

vụ kế toán trong thời gian tới bao gồm:

1.3.1 Về tiêu chuẩn của CPA (Certified Public Accountants )

Phần lớn các nước thường quy định: (1) có bằng đại học kinh tế hoặc luật được Nhà nước chính thức công nhận; (2) đạt kỳ thi kiểm toán viên; (3) Có ít nhất 3 năm kinh nghiệm công tác trong kế toán, kiểm toán (hoặc trong ngành kinh tế hoặc luật) [25,Tr.27]

Ở Macedonia: Kiểm toán viên hành nghề phải thỏa mãn các yêu cầu sau: Có

trình độ đại học chuyên ngành kinh tế; Người dự thi phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kế toán, tài chính hoặc 3 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực

kiểm toán và kiểm soát Ở Nga: Người nộp đơn xin cấp chứng chỉ hành nghề

kiểm toán: Có bằng đại học kinh tế hoặc luật; Có ít nhất ba năm kinh nghiệm

công tác trong ngành kinh tế hoặc luật Ở Phillipines: Tiêu chuẩn đối với người

dự thi KTV: phải là công dân Philippines; phải có phẩm chất đạo đức tốt; phải

là người có bằng Cử nhân Khoa học Kế toán được cấp bởi trường phổ thông, trường cao đẳng, học viện hoặc viện đã được CHED hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác của chính phủ công nhận và/hoặc kiểm định; chưa bị kết án lần nào

về các tội liên quan đến sự suy đồi đạo đức Ở Armenia: Điều kiện dự thi KTV

(không phân biệt công dân của Cộng hoà Armenia, người nước ngoài): Có bằng đại học chuyên ngành về kinh tế trừ bằng của các trường không chính quy, đã ra trường được 5 năm tính đến ngày nộp đơn xin cấp chứng chỉ, trong đó có ít nhất

3 năm kinh nghiệm về kiểm toán hoặc có bằng đại học trừ bằng của các trường không chính quy, đã ra trường được 7 năm tính đến ngày nộp đơn xin cấp

Trang 32

chứng chỉ hành nghề, trong đó có ít nhất 5 năm kinh nghiệm về kiểm toán Ở Belarus: Các điều kiện bắt buộc đối với người dự thi để nhận được chứng chỉ kiểm toán viên là: Có bằng cử nhân về kinh tế hoặc luật được Nhà nước chính

thức công nhận; Có kinh nghiệm làm việc chuyên môn liên quan đến kinh tế

hoặc pháp luật không dưới 3 năm Ở Balan: Cá nhân muốn có tên trong danh

sách KTV quốc gia phải thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu: (1) Được hưởng đầy đủ quyền công dân và có đầy đủ năng lực để thực hiện theo đúng pháp luật, (2) Có lập trường vững vàng, có đầy đủ phẩm chất tốt để chứng tỏ có thể hành nghề KTV quốc gia; (3) Có bằng cấp do Ba Lan cấp hoặc bằng do nước ngoài cấp đã được Ba Lan công nhận, thành thạo tiếng Ba Lan, cả kỹ năng viết và nói; (4) Có

3 năm hành nghề kiểm toán ở Ba Lan, trong đó có ít nhất 2 năm làm việc có sự giám sát của một KTV, và điều này phải được Uỷ ban thi tuyển xác nhận; (5)

Đã thi đỗ các kỳ sát hạch về kiểm toán do Uỷ Ban tổ chức; (7) Đã có bằng KTV quốc gia Các cá nhân muốn đăng ký vào danh sách KTV quốc gia phải là công dân Ba Lan, hoặc trên nguyên tắc về thừa nhận lẫn nhau, cho dù không phải là công dân Ba Lan nhưng có bằng cấp quốc tế do nước ngoài cấp, được công nhận bởi khối các quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu (EU) hoặc của Hội tự do mậu dịch của Liên minh Châu Âu (EFTA), là thành viên tham gia Hiệp định về khu vực kinh tế Châu Âu (EEA), sau khi đã thi đỗ kỳ thi luật kinh

tế do Ba Lan tổ chức Kỳ thi này sử dụng ngôn ngữ Ba Lan do UB tổ chức [1, Tr.4]

1.3.2 Về các loại hình doanh nghiệp kế toán

Ở Trung Quốc: Các công ty kế toán trong nước được thành lập dưới 2 hình

thức: Công ty hợp danh và Công ty trách nhiệm hữu hạn Các công ty kế toán nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc chỉ được thành lập dưới hình thức hợp đồng hợp tác liên doanh giữa đối tác Trung Quốc và đối tác nước ngoài, chịu

trách nhiệm hữu hạn Ở Singapore: Công ty kế toán toán được thành lập

dưới các hình thức: Công ty một chủ sở hữu; Công ty hợp danh; Công ty

TNHH Ở Malaysia: Các công ty kế toán chỉ được thành lập dưới hình thức công

ty hợp danh thông thường, không được thành lập dưới loại hình doanh nghiệp

Trang 33

khác.Ở Hồng Kông: Công ty kế toán được thành lập theo 2 hình thức: Công

ty hợp danh thông thường và Công ty TNHH kiểm toán Ở Thái Lan: Công

ty kế toán được thành lập theo 3 hình thức: Công ty hợp danh thông thường;

Công ty hợp danh hữu hạn; Công ty TNHH Ở Srilanka: Công ty kế toán chỉ

được thành lập theo hình thức công ty hợp danh thông thường, không được

lựa chọn loại hình doanh nghiệp khác Ở Ba Lan: Công ty kế toán được

thành lập theo 3 hình thức: Công ty hợp danh dân sự; Công ty hợp danh vô

hạn; Công ty hợp danh hữu hạn Ở Hà Lan: Công ty kế toán được thành lập

theo 2 hình thức: Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh [1, Tr.5,6]

1.3.3 Về quy định số lượng kế toán viên công chứng (CPA) tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp kế toán

Ở Nga: Các công ty kế toán phải có ít nhất là 5 người có CPA trong đó có

giám đốc công ty Ở Nhật Bản: Để thành lập một công ty kế toán phải có ít nhất 05 CPA là chủ phần hùn của công ty kế toán này Ở Trung Quốc: Công ty kế toán

thành lập theo hình thức hợp danh phải có ít nhất 2 CPA còn công ty kế toán thành

lập theo hình thức trách nhiệm hữu hạn phải có ít nhất 5 CPA Ở Macedonia: Công

ty kế toán được thành lập phải có ít nhất 2 CPA đăng ký hành nghề Ở Armenia: Một

tổ chức thương mại được cấp Giấy phép hành nghề dịch vụ kế toán khi có ít nhất 2 CPA và một trong số họ là người đứng đầu bộ phận quản lý của tổ chức đó và ít nhất

một nửa số sáng lập viên (thành viên góp vốn) là CPA Ở Belarus: Tổ chức kế toán

phải có không dưới 3 CPA; không dưới 50% nhân viên trong tổ chức kế toán phải là công dân Belarus và nếu lãnh đạo tổ chức kế toán là người nước ngoài thì số nhân viên là công dân Belarus phải là 75% và chỉ các CPA mới có thể làm lãnh đạo trong

tổ chức kế toán [1, Tr.7]

1.3.4 Về quy định mức vốn tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp kế toán

Ở Trung Quốc: Công ty hợp danh kế toán không quy định mức vốn tối thiểu,

công ty trách nhiệm hữu hạn kế toán phải có mức vốn tối thiểu là 300.000 nhân dân tệ, công ty kế toán liên doanh giữa nước ngoài và Trung Quốc phải

có mức vốn tối thiểu 300.000 nhân dân tệ khi thành lập Ở Singapore: Mức

vốn tối thiểu của doanh nghiệp kế toán phải lớn hơn 50.000 đô la Singapore Ở Hàn Quốc: Vốn kinh doanh của một công ty kế toán không được ít hơn 500

Trang 34

triệu Won (khoảng 480.000 USD) Ở Nga, Nhật Bản, Macedonia, Armenia,

Belarus, Thái Lan: Không quy định mức vốn tối thiểu khi thành lập doanh

nghiệp kế toán [1,Tr.8]

1.3.5 Về tiêu chuẩn, điều kiện thành lập doanh nghiệp kế toán

Ở Nga: Công ty kế toán có thể được thành lập dưới bất kỳ hình thức tổ chức

và pháp nhân nào, trừ công ty cổ phần đại chúng và doanh nghiệp tư nhân một thành viên Tối thiểu 50% tổng số nhân viên công ty kế toán phải là công dân Nga nếu giám đốc là công dân Nga và tối thiểu là 75% tổng số nhân viên công

ty kế toán phải là công dân Nga nếu giám đốc là công dân nước ngoài Bắt buộc là hội viên của một Hội nghề nghiệp; Có bảo hiểm trách nhiệm dân sự khi cung cấp dịch vụ kế toán; Tối thiểu 51% vốn điều lệ của công ty kế toán phải thuộc về các CPA; Giám đốc công ty kế toán phải có chứng chỉ CPA;

Công ty kế toán phải có ít nhất là 5 người có chứng chỉ CPA Ở Nhật: Để

thành lập một công ty kế toán phải có ít nhất là 5 CPA là chủ phần hùn của công ty kế toán này và phải cùng nhau quy định Điều lệ công ty; Các điều khoản về thành lập công ty phải nêu lên ít nhất những nội dung về mục đích hoạt động; tên của công ty kế toán; địa chỉ trụ sở chính; tên và địa chỉ các chủ phần hùn; những vấn đề về góp vốn của các chủ phần hùn và việc hành nghề

Ở Trung Quốc: Để thành lập công ty hợp danh kế toán cần đáp ứng các điều

kiện: Có tối thiểu 2 CPA làm việc toàn bộ thời gian cho công ty kế toán; Phải

có hợp đồng bằng văn bản, tên gọi công ty và trụ sở cố định Điều kiện thành lập công ty kế toán trách nhiệm hữu hạn: Có tối thiểu 5 CPA; Có số lượng nhân viên nhất định làm việc toàn thời gian, có vốn đăng ký tối thiểu là 300.000 nhân dân tệ, phải có tên gọi và trụ sở cố định Điều kiện thành lập công ty kế toán liên doanh giữa nước ngoài và Trung Quốc: Thành viên phía nước ngoài phải có: (1) Công nghệ tiên tiến và danh tiếng tốt; (2) doanh thu hàng năm trên 20 triệu đô la; (3) nhân viên không dưới 200 người; Thành viên phía Trung Quốc phải có: (1) chuyên môn vững và danh tiếng tốt; (2) độc lập; (3) có giấy phép cung cấp dịch vụ kế toán; (4) doanh thu hàng năm hơn 10 triệu nhân dân tệ; (5) nhân viên không dưới 100 người; Có mức vốn tối thiểu

Trang 35

300.000 nhân dân tệ Ở Macedonia: CPA đăng ký hành nghề có thể đứng ra

lập công ty kế toán; Người sáng lập công ty kế toán là một tổ chức thì số vốn của tổ chức trong phần vốn của công ty kế toán là dưới 25% tổng vốn đầu tư; Người sáng lập công ty kế toán chỉ có thể được thành lập một công ty kế toán;

Công ty kế toán phải có ít nhất là 2 CPA đăng ký hành nghề Ở Armenia: Kế

toán viên có thể đăng ký hành nghề cá nhân hoặc trong một tổ chức kế toán trừ những công ty liên doanh mở, đều có quyền xin cấp Giấy phép hành nghề

kế toán, nếu: Có ít nhất 2 kiểm toán viên và một trong số họ là người đứng đầu

bộ phận quản lý của tổ chức đó; Có ít nhất một nửa số sáng lập viên (thành viên góp vốn) là CPA và trên 50% vốn pháp định của tổ chức thuộc phần vốn

góp của các CPA, hoặc ít nhất 75% vốn pháp định của tổ chức là phần vốn

góp của các CPA Ở Hàn Quốc: Công ty kế toán không được có ít hơn 10

CPA trong số các giám đốc và nhân viên; Công ty kế toán phải có ít nhất 3 thành viên trong Ban giám đốc là CPA; Ít nhất 3 nhân viên của công ty phải là CPA; Vốn kinh doanh của một công ty kế toán không được ít hơn 500 triệu

Won (khoảng 480.000 USD) Ở Thái Lan: Công ty kế toán phần lớn được

người Thái Lan nắm giữ; Giám đốc công ty kế toán phải mang quốc tịch Thái Lan và có chứng chỉ CPA; Công ty TNHH kế toán phải có tối thiểu 3 thành

viên góp vốn và công ty hợp danh phải có ít nhất 2 thành viên góp cổ phần Ở

Singapore: Vốn góp tối thiểu phải lớn hơn 50.000 đô la Singapore; 2/3 số

lượng giám đốc phải là CPA, nếu công ty có 1 hoặc 2 giám đốc thì giám đốc

đó phải là CPA; Các CPA nắm giữ tối thiểu 2/3 vốn doanh nghiệp [1,Tr.9]

1.3.6 Về cơ quan cấp phép thành lập và hoạt động doanh nghiệp kế toán

Ở Indonesia: Bộ Pháp luật phê duyệt giấy phép thành lập cho doanh nghiệp kế

toán (như các doanh nghiệp bình thường khác); Để được phép hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, doanh nghiệp kế toán phải được MIA cấp giấy phép Ở

Trung Quốc: Việc thành lập công ty kế toán phải có sự chấp thuận của Bộ Tài

chính (đối với doanh nghiệp địa phương là Sở Tài chính các tỉnh, thành phố

trực thuộc TW hoặc Khu tự trị), sau đó Sở báo cáo cho Bộ Tài chính Ở

Singapore: Việc cấp phép thành lập doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp

Trang 36

kế toán do Cơ quan quản lý kế toán viên và doanh nghiệp (Accounting and Coporate Regulatory Authority – ACRA) thực hiện ACRA là cơ quan của Nhà nước thuộc Bộ Tài chính ACRA cũng thực hiện quản lý việc hành nghề của kiểm toán viên dưới sự hỗ trợ của Uỷ ban Giám sát các kế toán viên công chứng (The Public Accountants Oversight Committee - PAOC) PAOC được

thành lập theo quy định của Luật Kế toán Singapore Ở Thái Lan: Bộ Thương

mại chịu trách nhiệm về cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp kiểm toán Việc thành lập doanh nghiệp kiểm toán tuân thủ những quy định chung của Bộ Luật thương mại và dân sự Thái Lan Để được cung cấp dịch vụ kiểm toán, doanh nghiệp sau khi thành lập sẽ đăng ký với Liên đoàn kế toán chuyên nghiệp (FAP) trong vòng 30 ngày kể từ ngày thành lập và giấy phép sẽ có hiệu lực 3

năm Ở Nhật Bản: Công ty kế toán phải được đăng ký bởi Ủy ban Dịch vụ Tài

chính (thuộc Chính phủ Nhật) Trong vòng 2 tuần kể từ ngày thành lập hoặc thay đổi điều lệ công ty, công ty kế toán phải báo cáo cho Thủ tướng về việc

thành lập hoặc thay đổi của mình Ở Macedonia: Bộ Tài chính là nơi cấp giấy

chứng nhận đăng ký kinh doanh cho công ty kế toán Ở Hàn Quốc: Công ty kế

toán muốn cung cấp dịch vụ kế toán phải nộp hồ sơ đăng ký với Bộ Tài chính

và Kinh tế theo các điều kiện quy định trong Nghị định của Tổng thống Ở Mỹ:

Quy định theo từng bang; Bang California (Mỹ): Doanh nghiệp kế toán phải có giấy phép hoạt động do Cơ quan quản lý nhà nước về kế toán của bang cấp (California Board of Accountancy) Giấy phép này có giá trị trong 2 năm Hết 2 năm doanh nghiệp kế toán phải làm thủ tục gia hạn (renew) giấy phép Mỗi văn phòng của một doanh nghiệp kế toán phải do người có chứng chỉ CPA đứng đầu [1, Tr.11]

Trang 37

cho hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán ra đời, phát triển

2/ Để kinh doanh dịch vụ kế toán mang tính chuyên nghiệp, đảm bảo chất lượng, độ tin cậy, chi phí hợp lý, giúp các DN yên tâm hơn khi thực hiện nghĩa vụ

về kế toán, lập và trình bày báo cáo tài chính, thực hiện các nghĩa vụ công bố thông tin tài chính, kê khai thuế, nộp thuế cho nhà nước… Với loại hình kinh doanh dịch

vụ này, có ảnh hưởng đến những mục tiêu công cộng cần phải bảo vệ thông qua các điều kiện kinh doanh Bởi vậy pháp luật các quốc gia đều có quy định các điều kiện đối với chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán, điều kiện để cá nhân đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán nhằm mục tiêu: Nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng dịch

vụ, đồng thời giúp nhà nước quản lý, kiểm soát tốt hơn về lĩnh vực này

3/ Pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán chủ yếu quan tâm đến điều kiện về đội ngũ kế toán viên hành nghề là nguồn nhân lực và là tài sản quan trọng nhất của

DN kinh doanh dịch vụ kế toán và quan hệ kinh doanh dịch vụ kế toán là hợp đồng dịch vụ kế toán được ký kết giữa chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán với các đơn vị

kế toán, cá nhân có nhu cầu, đồng thời chú trọng vai trò quản lý của Nhà nước đối

với lĩnh vực kinh doanh dụ vụ kế toán

Trang 38

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT KINH DOANH DỊCH VỤ KẾ TOÁN

TẠI VIỆT NAM

2.1 Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam

2.1.1 Khái quát về thực trạng hệ thống pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam hiện nay

Luật Kế toán số 88/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015

có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 thay thế cho Luật kế toán số 03/2003/QH11 Đây

là văn bản pháp lý cao nhất cho việc thực hiện công tác kế toán của nước ta, trong

đó có các quy định về kinh doanh dịch vụ kế toán Căn cứ vào Luật Kế toán, Chính phủ đã ban hành Nghị định 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 Quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán năm 2015 Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Kế toán và Nghị định 174/2016/NĐ–CP nêu trên, trong đó có văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể các vấn đề liên quan nội dung công tác kế toán và các vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán như: Thông tư số 296/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Hướng dẫn về cấp, thu hồi và quản lý Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán; Thông tư số 297/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quy định về cấp, quản lý và

sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán; Thông tư số 292/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn cập nhật kiến thức hàng năm cho kế toán viên hành nghề và người đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán; Thông tư số 271/2016/TT-BTC ngày 14/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thẩm định cấp giấy chứng nhận đăng ký hành nghề, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, kiểm toán; Thông tư số 91/2017/TT-BTC ngày 31/08/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về việc thi, cấp, quản lý chứng chỉ kiểm toán viên và chứng chỉ kế toán

Trang 39

viên; Quyết định số 185/QĐ-BTC ngày 09/02/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán;

Bên cạnh đó Chính phủ mới đây đã ban hành Nghị định số 41/2018/NĐ-CP ngày 12/03/2018 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/05/ 2018 thay thế Nghị định số 105/2013/NĐ-CP trước đây về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực

kế toán, kiểm toán độc lập;

Ngoài ra, có một số văn bản do các cơ quan có thẩm quyền ban hành trước khi ban hành Luật kế toán năm 2015 vẫn còn hiệu lực thi hành có quy định về một

số vấn đề có liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán như: Quyết định số: 480/QĐ-TTg ngày 18/03/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt “Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Quyết định số 2261/QĐ-BTC ngày 10/09/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Kế hoạch triển khai Chiến lược Kế toán - Kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 480/QĐ/TTg); Quyết định số 32/2007/QĐ-BTC ngày 15/05/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Quy chế kiểm soát chất lượng dịch

vụ kế toán, kiểm toán áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp có cung cấp dịch vụ kế toán, dịch vụ kiểm toán độc lập và người hành nghề kế toán; Thông tư số 70/2015/TT-BTC ngày 08/05/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán

Có thể nói tổng quát rằng, hệ thống pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán

ở nước ta được nhà nước thường xuyên quan tâm xây dựng hoàn thiện, cho đến hiện nay pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán đã khá đầy đủ, đồng bộ bảo đảm tuân thủ pháp Hiến pháp năm 2013, thống nhất với các luật có liên quan như: Luật Doanh nghiệp năm 2014; Luật Luật Đầu tư năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật thương mại năm 2005 đáp ứng mục tiêu hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về kế toán nói chung và dịch vụ kế toán nói riêng nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dịch vụ kế toán, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội

Trang 40

nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam vào kinh tế thế giới, trong đó có hội nhập về dịch vụ tài chính, kế toán Đồng thời tạo điều kiện tăng cường quản lý, giám sát của Nhà nước, của tổ chức nghề nghiệp đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam Mặc dù đã quy định khá chặt chẽ, nhiều nội dung mang tính khoa học cao có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, bảo đảm sự phù hợp pháp luật các nước trong khu vực và quốc tế Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam hiện nay vẫn còn có những tồn tại, hạn chế nhất định cần tiếp tục hoàn thiện như: quy định về các điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán khá ngặt nghèo, thủ tục hành chính còn phức tạp chưa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam khi thị trường dịch vụ kế toán còn non trẻ, ý thức tuân thủ pháp luật của người dân còn hạn chế, trình độ năng lực quản lý của nhà nước còn nhiều hạn chế nên có những quy định chưa bảo đảm tính khả thi, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường dịch vụ kế toán ở nước ta

2.1.2 Thực trạng pháp luật về chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán

Thứ nhất: Về hình thức tổ chức pháp lý

- Trước đây, Luật Kế toán năm 2003 có quy định: “Tổ chức kinh doanh dịch

vụ kế toán phải thành lập DN dịch vụ kế toán theo quy định của pháp luật…Cá nhân hành nghề kế toán phải có chứng chỉ hành nghề kế toán… và phải có đăng ký kinh doanh dịch vụ kế toán11” Như vậy, Luật Kế toán 2003 chưa quy định rõ về hình thức pháp lý cụ thể của tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán [2.Tr] Tuy nhiên trong các văn bản dưới luật có quy định rõ: “DN dịch vụ kế toán được thành lập và hoạt động theo một trong ba hình thức: Công ty TNHH, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân12”

Để nâng cao tính pháp lý của quy định về loại hình doanh nghiệp được kinh doanh dịch vụ kế toán, đồng thời mở rộng đối tượng chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán cho phù cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, Luật kế toán năm 2015 quy

định: “Người có chứng chỉ kế toán viên hoặc chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của Luật kiểm toán độc lập được đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán qua DN

Ngày đăng: 24/04/2020, 10:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2015), “Báo cáo tóm tắt kinh nghiệm các nước về một số nội dung của Luật Kế toán”. (Tài liệu trong bộ hồ sơ của Chính phủ trình Quốc hội về dự án Luật Luật Kế toán sửa đổi) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt kinh nghiệm các nước về một số nội dung của Luật Kế toán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
2. Bộ Tài chính (2015), “Báo cáo Tổng kết, đánh giá việc thi hành Luật Kế toán 2003 của Bộ Tài chính” (Tài liệu trong bộ hồ sơ của Chính phủ trình Quốc hội về dự án Luật Luật Kế toán sửa đổi) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết, đánh giá việc thi hành Luật Kế toán 2003 của Bộ Tài chính
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
3. Bộ Tài chính (2015); “Báo cáo đánh giá tác động thủ tục hành chính trong dự thảo Luật Kế toán sửa đổi”; (Tài liệu trong bộ hồ sơ của Chính phủ trình Quốc hội về dự án Luật Luật Kế toán sửa đổi) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động thủ tục hành chính trong dự thảo Luật Kế toán sửa đổi”
4. Bộ Tài chính (2015); “Báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến tham gia của các tổ chức, cá nhân về dự thảo Luật Kế toán sửa đổi”. (Tài liệu trong bộ hồ sơ của Chính phủ trình Quốc hội về dự án Luật Luật Kế toán sửa đổi) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến tham gia của các tổ chức, cá nhân về dự thảo Luật Kế toán sửa đổi
5. Chính phủ (2015), “Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật Kế toán sửa đổi”; (Tài liệu trong bộ hồ sơ của Chính phủ trình Quốc hội về dự án Luật Luật Kế toán sửa đổi) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật Kế toán sửa đổi”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
6. Chính phủ (2015), “Bản thuyết minh chi tiết Dự án Luật Kế toán sửa đổi”, (Tài liệu trình kèm Tờ trình Quốc hội số 182/TTr-CP ngày 24/4/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thuyết minh chi tiết Dự án Luật Kế toán sửa đổi
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
7. Chính phủ (2015), Tờ trình số 182/TTr-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ “Về Dự án Luật Kế toán sửa đổi”, (Tài liệu trong bộ hồ sơ của Chính phủ trình Quốc hội về dự án Luật Luật Kế toán sửa đổi) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Dự án Luật Kế toán sửa đổi”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
8. Phan Dũng, “Hoàn thiện hệ thống pháp luật kế toán - Nâng cao chất lượng hoạt động kế toán - kiểm toán và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Phát triển và hội nhập số 12(22), Tháng 9, 10 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống pháp luật kế toán - Nâng cao chất lượng hoạt động kế toán - kiểm toán và hội nhập quốc tế
9. Thụy Du, “Giải pháp ngăn chặn thị trường dịch vụ kế toán chui”, Báo diễn đàn Doanh nghiệp ngày 11/12/2017; Nguồn: http://enternews.vn/giai-phap-ngan-chan-thi-truong-dich-vu-ke-toan-chui-121640.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp ngăn chặn thị trường dịch vụ kế toán chui
11. Nguyễn Mạnh Hiền, “Khác biệt kế toán giữa các quốc gia - nguyên nhân và bất lợi”, nguồn website www.kiemtoan.com.vn, ngày 20/01/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khác biệt kế toán giữa các quốc gia - nguyên nhân và bất lợi
12. Học viện Ngân hàng (2012), “Giáo trình pháp luật kế toán” Chủ biên TS.Vũ Văn Cương, TH.S Đinh Tiểu Khuê, Lê Ngọc Thắng; NXB Đại học Quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luật kế toán”
Tác giả: Học viện Ngân hàng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2012
13. Th.S Nguyễn Thị Hương -Nguyễn Thị Huyền, Trường Đại học Tài chính Quản trị Kinh doanh, “Hoạt động cung cấp dịch vụ kế toán của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam”; Nguồn: http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/tai-chinh-doanh-nghiep/hoat-dong-cung-cap-dich-vu-ke-toan-cua-cac-doanh-nghiep-nuoc-ngoai-tai-viet-nam-126048.html; ngày 10/06/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động cung cấp dịch vụ kế toán của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam
14. TS. Nguyễn Đăng Huy (2017), Nâng cao vị thế, chất lượng hoạt động kế toán và kiểm toán trong bối cảnh hội nhập; Tạp chí Tài chính số 6/2017; Nguồn:http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/nang-cao-vi-the-chat-luong-hoat-dong-ke-toan-va-kiem-toan-trong-boi-canh-hoi-nhap-127598.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao vị thế, chất lượng hoạt động kế toán và kiểm toán trong bối cảnh hội nhập
Tác giả: TS. Nguyễn Đăng Huy
Năm: 2017
15. Phúc Khang (2013), “Sửa đổi Luật kế toán cho phù hợp với yêu cầu hội nhập”, Báo kiểm toán số 21/2013; Nguồn: https://www.sav.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx? ItemID =1604&l=Nghiencuutraodoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi Luật kế toán cho phù hợp với yêu cầu hội nhập
Tác giả: Phúc Khang
Năm: 2013
16. Nguyễn Kim “Kinh doanh dịch vụ kế toán: Nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện”, Nguồn: https://baokhanhhoa.vn/xa-hoi/201711/kinh-doanh-dich-vu-ke-toan-nhieu-doanh-nghiep-khong-du-dieu-kien-8060150/; Thứ hai, 20/11/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh dịch vụ kế toán: Nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện
17. Đinh Thị Thùy Liên, Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp “Phát triển thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt Nam - thực trạng và đề xuất”; Ngày 28/04/2018, Nguồn: http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/phat-trien-thi-truong-dich-vu-ke-toan-kiem-toan-viet-nam-thuc-trang-va-de-xuat-138536.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt Nam - thực trạng và đề xuất
18. Th.S Vũ Mai Phương, “Đào tạo kế toán, Kiểm toán trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” Nguồn: http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/tai-chinh- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo kế toán, Kiểm toán trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
19. PSG.TS Đặng Văn Thanh,“Chặng đường 10 năm Dịch vụ Kế toán Việt Nam”; Tạp chí Kế toán và Kiểm toán, số T6/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chặng đường 10 năm Dịch vụ Kế toán Việt Nam
20. Th.S. Nguyễn Thị Thanh Thắm, Trường Cao đẳng Kinh tế -Tài chính Thái Nguyên, “Kế toán- kiểm toán và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”; Nguồn http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/tai-chinh-doanh-nghiep/ke-toan-kiem-toan-va-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-40-136548.html; Ngày 10/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán- kiểm toán và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
21. Chu Thị Thảo, “Một số vấn đề về phát triển dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt Nam”, Nguồn: http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/tai-chinh-doanh-nghiep/mot-so-van-de-ve-phat-trien-dich-vu-ke-toan-kiem-toan-viet-nam-125586.html; ngày 27/05/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phát triển dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt Nam

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w