Nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Thực trạng việc làm của sinh viên Khoa Hành chính học và những vấn đề đặt ra” nhằm tìm hiểu về xu hướng tìm việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp và việc l
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Nhóm nghiên cứu xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Thực trạng việc làm của sinh viên Khoa Hành chính học và những vấn đề đặt ra” thông tin, số liệu,
tài liệu là hoàn toàn chính xác Nhóm nghiên cứu xin chịu trách nhiệm về cácnội dung trong đề tài đã nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài tại trường Đại học Nội vụ HàNội chúng tôi xin cảm ơn đến sự giúp đỡ nhiệt tình của các giảng viên, các bạnsinh viên đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thu nhập thông tin, tài liệu liênquan đến đề tài
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Trương Quốc Việtgiảng viên khoa Hành chính học đã cho chúng tôi những kĩ năng, kinh nghiệm
để hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Trong quá trình nghiên cứu đề tài do kiến thức còn hạn chế nên nhómnghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót khi tìm hiểu, đánh giá và trình bày
về đề tài nghiên cứu Rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý của thầy (cô)giảng viên để bài nghiên cứu của chúng tôi hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việc làm sau khi tốt nghiệp luôn là vấn đề được quan tâm khôngchỉ đối với bản thân sinh viên mà cả đối với gia đình, nhà trường và xã hội Cómột việc làm đúng với ngành nghề đào tạo luôn là mơ ước của hầu hết khôngchỉ đối với các sinh viên tốt nghiệp ra trường mà ngay cả đối với các em cònngồi trên ghế giảng đường đại học
Trong thời gian gần đây, việc làm trở nên khó tìm do nhiều nguyênnhân, trong đó có tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh có nhiều khó khăn,nhu cầu tuyển dụng lao động bị thu hẹp Đối với các cơ quan, tổ chức nhà nước,nhu cầu tuyển dụng công chức, viên chức ngày càng có yêu cầu cao hơn về chấtlượng và có nơi thừa về số lượng Sinh viên tốt nghiệp trường tư và trường côngđều có nguy cơ thất nghiệp cao Một nguyên nhân khác, việc có thêm nhiều cơ
sở đào tạo (Trường cao đẳng, đại học) ra đời dẫn đến số lượng sinh viên đượcđào tạo ở cùng các ngành, chuyên ngành ngày càng nhiều, cung vượt cầu Vềchủ quan, việc có được việc làm hay không, liên quan rất nhiều đến phẩm chất,năng lực, trình độ, kỹ năng của người được đào tạo Thực tế cho thấy, số lượngứng viên đăng ký dự tuyển hàng năm để tìm việc làm khá đông, song kết quả sốngười đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng còn rất hạn chế Trước nhữngthách thức nêu trên, đòi hỏi các cơ sở đào tạo và bản thân người học (sinh viên)phải có cách nhìn nhận mới về vấn đề việc làm sau khi tốt nghiệp ra trường
Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 của Chính phủ đã xácđịnh mục tiêu đào tạo của giáo dục đại học là: “Đào tạo ra những con người cónăng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năngnghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, nănglực tự tạo việc làm và khả năng thích ứng với những biến động của thị trườnglao động”
Trên phạm vi cả nước theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ GD-ĐTnăm 2018, cả nước chỉ có khoảng 200.000 sinh viên đại học ra trường thấtnghiệp, tỉ lệ việc làm của người có trình độ đại học là 95-97% Và con số này
Trang 4chủ yếu tập trung vào các trường thuộc lĩnh vực tự nhiên như: Đại học Y Dược,Đại học Ngoại thương, Học viện Ngân hàng, Đại học Kinh tế… Tỉ lệ này thấphơn nhiều ở các trường Đại học KHXH&NV, Đại học Luật, Học viện Hànhchính Quốc gia….
Trước những vấn đề nóng bỏng về việc làm của sinh viên tốtnghiệp ra trường hiện nay, sinh viên Khoa Hành chính học không tránh khỏi lotoan suy nghĩ về việc làm sau khi mình ra trường
Đa số (85%) sinh viên Mỹ đi làm trong khi học đại học Tại Châu
Âu có 67% sinh viên Mỹ đi làm trong năm học Tuy nhiên, ở Châu Á con số nàychỉ là 30% hay ít hơn Lí do tại sao sinh viên Châu Á lại có số sinh viên đi làm íthơn là do bố mẹ không muốn con cái họ phân tâm trong việc học hành Vậy đốivới Việt Nam nói chung và sinh viên Khoa Hành chính học lí do sinh viên đilàm thêm là gì?
Hiện nay, đông đảo sinh viên nói chung đã nhận thức được rằng córất nhiều cách thức học khác nhau và ngày càng có nhiều sinh viên chọn cáchthức học ở thực tế Đó là đi làm thêm Việc làm thêm hiện nay đã không còn làhiện tượng nhỏ lẻ mà đã trở thành một xu thế, gắn chặt với đời sống học tập,sinh hoạt của sinh viên ngay khi vẫn còn ngồi trên ghế giảng đường Sinh viên
đi làm thêm ngoài vì thu nhập, họ còn mong muốn tích luỹ được nhiều kinhnghiệm hơn, học hỏi thực tế nhiều hơn…Và sở dĩ việc làm thêm hiện nay đã trởthành một xu thế là vì đối với sinh viên, đặc biệt khi sống trong xã hội cạnhtranh như hiện nay, kiến thức xã hội và kiến thức thực tế ảnh hưởng rất lớn đếnkhả năng tư duy cũng như khả năng làm việc của họ sau tốt nghiệp
Nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Thực trạng việc làm của sinh viên Khoa Hành chính học và những vấn đề đặt ra” nhằm tìm hiểu về xu hướng
tìm việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp và việc làm thêm của sinh viên đangtheo học tại Khoa Hành Chính học, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Qua đó, đưa
ra thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân trong vấn đề định hướng việc làm củasinh viên, đề ra giải pháp giúp sinh viên tìm đúng việc, đúng ngành nghề
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trang 5Việc làm cho sinh viên sau khi ra trường là vấn đề rất được quan tâm Bởi
lẽ, nó không chỉ liên quan đến cuộc sống của sinh viên mà còn liên quan đến quátrình phát triển của xã hội Do đó, vào mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, giảiquyết việc làm cho sinh viên có những đặc điểm khác nhau Chính vì thế, việcnghiên cứu vấn đề việc làm cho sinh viên được nhiều nhà khoa học và quản lýtrong và ngoài nước quan tâm
* Tình hình nghiên cứu thế giới
1 J.M,Keynes (1936) Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ,
NXB Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Theo Keynes, vấn đề quan trọng nhất, nguy hiểm nhất đối với chủ nghĩa
tư bản là khối lượng thất nghiệp và việc làm Vì vậy, vị trí trung tâm trong lýthuyết kinh tế của ông là "lý thuyết việc làm."Lý thuyết này đã mở ra mộtchương mới trong tiến trình phát triển lý luận kinh tế, cả về chức năng tư tưởnglẫn thực tiễn Trong đó phải kể đến lý thuyết kinh tế vỹ mô, về hệ thống điều tiếtcủa nhà nước
2 Athur Lewis (1952), “Lí thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực của nên kinh tế”.
Tư tưởng cơ bản của lí thuyết này là chuyển số lao động dư thừa từ khuvực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp hiện đại do hệ thống tư bản nướcngoài đầu tư vào các nước lạc hậu Quá trình này sẽ tạo nên điều kiện cho nềnkinh tế phát triển Bởi vì trong khu vực nông nghiệp, đất đai chật hẹp, lao độnglại quá dư thừa Ngoài số lao động cần đủ cho sản xuất nông nghiệp, còn có laođộng thừa làm các ngành nghề lặt vặt, buồn bán nhỏ, phục vụ trong gia đình vàlao động phụ nữ Số lao động dôi dư này không có việc làm
* Tình hình nghiên cứu trong nước
1 Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung (1997),“Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”, Hà Nội, Nxb.Chính trị quốc gia.
Nghiên cứu về chính sách việc làm của Việt Nam trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Công trình đã mang đến cho người đọc những kiếnthức bổ ích về chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và
Trang 6sinh sinh viên sau khi tốt nghiệp nói riêng
2 Lê Thị Diễm (2015), “Chính sách tạo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp tại Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế-
Đại học Quốc gia Hà Nội
Đề tài đánh giá được thực trạng việc làm, chính sách tạo việc làm chosinh viên sau tốt nghiệp và đề xuất giải pháp về chính sách tạo việc làm cho sinhviên trên địa bàn Hà Nội
3 Hà Văn Lâm (2017) Khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp ngành quản trị nhân lực, Trường đại học Nội vụ Hà Nội, Đề tài nghiên
cứu khoa học
Đề tài nghiên cứu cơ sở lí luận của việc làm, sinh viên, vai trò của việclàm đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường Khảo sát, phân tích, đánh giáthực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp ngành Quản trị nhân lực trường Đạihọc Nội vụ Hà Nội sau khi tốt nghiệp
Các công trình nghiên cứu kể trên đã đưa ra đầy đủ về mặt lý luận, thựctiễn của tình trạng việc làm, thất nghiệp và chính sách giải quyết việc làm, để từ
đó cung cấp những tiền đề khoa học quan trọng làm cơ sở để xây dựng các giảipháp giải quyết vấn đề việc làm cho sinh viên ở Việt Nam nói chung
Các công trình trong nước đã cho thấy những quan niệm cơ bản, đến địnhhướng phát triển việc làm và giải quyết việc làm cho sinh viên trong thời kỳmới Những quan niệm, định hướng đó đã giúp cho nhóm tác giả đề tài cónhững cơ sở khoa học, lý luận cũng như thực tiễn khi triển khai nghiên cứuchính sách việc làm cho sinh viên được thuận lợi hơn
Tuy nhiên các công trình chỉ đánh giá chung được thực trạng việc làm củalao động nói chung và sinh viên sau tốt nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nộinói riêng mà chưa đi sâu vào một ngành hay chuyên ngành cụ thể nào đó
Những công trình nghiên cứu trên đây đã cho những kiến thức vô cùngquý giá để nhóm tác giả tham khảo, kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài
“Thực trạng việc làm của sinh viên Khoa Hành chính học và những vấn đề đặt ra”.
Trang 73 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài khảo sát và đánh giá thực trạng việc làm và những vấn đề đặt racủa sinh viên Khoa Hành chính học, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu về những lí luận cơ bản về vấn đề việc làm; khảo sát vàđánh giá về thực trạng việc làm của sinh viên ngành Quản lí nhà nước, KhoaHành chính học, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, đồng thời đề xuất một số giảipháp để sinh viên có định hướng khi tốt nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng việc làm và những vấn đề đặt ra củasinh viên Khoa Hành chính học, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Khoa Hành chính học, Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội
+ Phạm vi về thời gian: Năm 2017-2018
+ Phạm vi về nội dung: Đề tài tìm hiểu về việc làm của sinh viên sau khitốt nghiệp và việc làm thêm của sinh viên ngành Quản lí nhà nước, Khoa Hànhchính học, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8của sinh viên
+ Phương pháp phân tích: phân tích thành những mặt, những bộphận, những mối quan hệ theo lịch sử thời gian của xu hướng tìm việc làm củasinh viên qua từng giai đoạn để nhận thức, phát hiện và khai thác các khía cạnhkhác nhau, từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiêncứu
+ Phương pháp tổng hợp: Sẽ cho phép chung đúc những đặc điểmchung định hướng việc làm của sinh viên để đề xuất giải pháp đảm bảo sự thốngnhất, hiệu quả
- Phương pháp phỏng vấn:
+ Phương pháp đánh giá sâu sắc xu hướng tìm việc làm của sinhviên là phỏng vấn trực tiếp các nhà quản lý trong tuyển dụng và sinh viên trongquá trình tìm việc làm Nội dung là đưa ra các câu hỏi cho người đối thoại để thuthập thông tin Chọn người đối thoại phải đảm bảo được tính lịch sử và toàndiện Việc phỏng vấn có thể tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau
- Phương pháp điều tra:
+ Điều tra là phương pháp dùng những câu hỏi (hoặc bài toán) nhấtloạt đặt ra cho một số lớn người nhằm thu được số những ý kiến chủ quan của
họ về vấn đề việc làm
+ Điều tra là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên mộtdiện rộng nhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặcđiểm về mặt định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu Các tàiliệu điều tra được là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trìnhnghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học haygiải pháp thực tiễn
- Phương pháp xử lý thông tin:
+ Sử dụng phần mềm máy tính chuyên dụng để sử lý tài liệu
+ Sử dụng công cụ tra cứu tài liệu trên Internet
+ Sử dụng công cụ tra cứu thư viện trực tiếp
6 Đóng góp của đề tài
Trang 9- Đánh giá đúng thực tiễn xu hướng tìm việc của sinh viên, từ đó gópphần giải quyết vấn đề thất nghiệp, làm trái ngành nghề.
- Kết quả nghiên cứu còn có thể làm tài liệu tham khảo cho những nhàquản lý và những độc giả quan tâm
7 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN KHOAHÀNH CHÍNH HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỊNH HƯỚNG VIỆC LÀM CHOSINH VIÊN KHOA HÀNH CHÍNH HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀNỘI
Trang 10Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm về lao động và việc làm
Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm, ta liên hệ đến phạm trù laođộng vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu con người Thực chất là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người [7].
ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm “ Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật”
ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việclàm, trong đó có 1 số công ước quan trọng như công ước số 47 (1935), Côngước số 88 (1948), Công ước 122 (1964)…
Trên cơ sở Hiến pháp, Bộ luật Lao động Việt Nam 2012 đã quy định:
“ Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (
Chương II, Khoản 1, Điều 9, Bộ luật lao động) [9]
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố:
- Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu
sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ Yếu tố lao động trong việc làm phải
có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp Vì vậy người có việclàm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trongphạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định
- Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khả năng tạo ra thu
nhập
- Hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập
nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việclàm Tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng
Trang 11nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp phápcủa các hoạt động lao động được coi là việc làm Đây là dấu hiệu thể hiện đặctrưng tính pháp lí của việc làm.
Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trong nhất của thế giới nói chung
và con người nói riêng Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung làviệc làm
Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu củabản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định Họ có thể tham gia công việcnào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạoviệc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tựlàm những công việc cho hộ gia đình mình
1.1.2 Quan niệm về người có việc làm và người thất nghiệp, việc làm tạm thời
Theo quan niệm của thế giới thì: Người có việc làm là những người làm
một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vậthoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vìlợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật [5]
Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 13 của các
nhà thống kê lao động ILO Còn người thất nghiệp là những người không có
việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trả lại làm việc[5]
Theo Giáo trình Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của PTS
Nguyễn Hữu Dũng- Trần Hữu Trung thì: Người có việc làm là người làm việc
trong những lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị phát luậtngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời gópmột phần cho xã hội [5]
- Việc làm tạm thời là việc làm được tạo ra trong thời gian người lao động
đang tìm một công việc thích hợp với chuyên môn và sở trường của họ [5]
- Một số quan niệm về thất nghiệp [7]
+ Tổ chức Lao động quốc tế: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số
Trang 12người trong lực lượng lao động nhưng không có việc làm.
+ Tại Pháp: Thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang
+ Việt Nam: Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khảnăng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng việc làm của sinh viên
1.2.1 Các yếu tố chủ quan
* Năng lực bản thân
Năng lực của cá nhân gồm chỉ số thông minh IQ, chỉ số sáng tạo CQ, chỉ
số cảm xúc EQ hay những khả năng cụ thể khác như sắc giác, chú ý (sức tậptrung, sức phân phối…), quan sát, tư duy không gian, trí nhớ sơ đồ, tưởng tượngsáng tạo, ngôn ngữ, khả năng học tập, khả năng và tố chất của cá nhân Khảnăng này là khả năng triển vọng chứ không phải là điểm số thực tế học tập.Năng khiếu của mỗi người là khác nhau và cùng bộc lộ một cách khác nhau.Đây có thể coi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chọn trường,lựa chọn nghề, nếu không có năng lực sẽ không trụ vững được lâu dài
* Đam mê và sở thích
Đam mê là cảm giác mong muốn, khát khao có được ai đó hay làm được
gì đó, bị hấp dẫn bởi một sự vật, sự việc Sở thích hay còn gọi là thú vui, thú tiêukhiển là những hoạt động thường xuyên hoặc theo thói quen để đem lại cho conngười niềm vui, sự phấn khởi trong khoảng thời gian thư giãn, sở thích cũng chỉ
về sự hứng thú, thái độ ham thích đối với một đối tượng nhất định Nếu khôngdựa rên đam mê, sẽ không tạo được động lực làm việc Ngược lại, nếu thực sựyêu thích ngành nghề, công việc đó thì sự sáng tạo luôn hiện diện và sẽ có cácphương pháp khắc phục khó khăn
Trang 13* Sức khỏe, ngoại hình
Sức khỏe và cũng là yếu tố quan trọng để lựa chọn ngành nghề phù hợp
Có những công việc cần tiêu hao nhiều sức lực như xây dựng, giao thông vậntải, hay có những ngành nghề cần yêu cầu về ngoại hình: Phi công, quân đội,công an,
* Thị trường lao động
Đây là yếu tố luôn biến đổi không ngừng và ảnh hưởng trực tiếp đến sựlựa chọn nghề nghiệp của sinh viên Trong một giai đoạn nào đó sẽ có một sốngành nghề thu hút rất nhiều năng lực, nhưng sau một thời gian sẽ dẫn đếnnguồn nhân lực quá lớn và dẫn đến thất nghiệp
* Yếu tố về ngành học và nội dung học
Sinh viên ra trường có định hướng việc làm như thế nào một phần dựavào ngành học và nội dung đã học khi trường đại học Đa số sinh viên họcngành học nào thì mong muốn ra trường sẽ làm đúng ngành, đúng các kiến kiếnthức đã học đó, trừ một số trường hợp làm trái ngành vì đam mê hoặc lí do khác
* Yếu tố về hoạt động ngoại khóa, hoạt động Đoàn
Các hoạt động ngoại khóa của trường và các hoạt động của Đoàn Thanhniên cũng ảnh hưởng đến quá trình tìm việc làm của sinh viên Các sinh viên cótài năng nổi bật về hoạt động Đoàn, năng khiếu văn hóa, văn nghệ tốt đều cóđịnh hướng việc làm tại các đơn vị Đoàn thể, công ty văn hóa, trung tâm nghệ
Trang 141.3 Vai trò, ý nghĩa của việc làm
1.3.1 Đối với kinh tế -xã hội
- Về mặt kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất Hiệu quả củaviệc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất Kinh tếphát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại, nếukhông giải quyết tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp thì đó sẽ là những yếu tốkìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế
- Về mặt xã hội, bảo đảm việc làm là chính sách xã hội có hiệu quả to lớntrong vấn đề phòng, chống, hạn chế các tiêu cực xã hội, giữ vững được kỉcương, nề nếp xã hội Thất việc và việc làm không đầy đủ, thu nhập thấp là tiền
đề của sự đói nghèo, thậm chí là điểm xuất phát của tệ nạn xã hội Các tệ nãncủa xã hội như tội phạm, ma túy, mại dâm, có nguyên nhân cốt lõi là việc làm vàthất nghiệp
1.3.2 Đối với chính trị - pháp lí
- Hậu quả của việc thất nghiệp, thiếu việc làm không những ảnh hưởng tớikinh tế- xã hội mà còn đe dọa lớn đối với an ninh vã sự ổn định của mỗi quốcgia Chính vì vậy ở bất kì quốc gia nào, việc làm đã, đang và luôn là vấn đề gaycấn nhạy cảm đối với từng cá nhân, từng gia đình đồng thời cũng là vấn đề xãhội lâu dài, vừa cấp bách nếu không được giải quyết tốt có thể trở thành vấn đềchính trị
- Còn trên bình diện pháp lý, việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản củacon người, đóng vai trò là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệlao động Khi việc làm không còn tồn tại, quan hệ lao động cũng theo đó màtriệt tiêu, không còn nội dung, không còn chủ thể
1.3.3 Đối với quốc gia - quốc tế
- Đối với mỗi quốc gia, chính sách việc làm và giải quyết việc làm là bộphận có vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các chính sách xã hội nói riêng
và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung Chính sách xãhội của nhà nước ở hầu hết các quốc gia đều tập trung vào một số các lĩnh vực
Trang 15như thị trường lao động, bảo đàm việc làm, bảo hiểm xã hội… Chính sách việclàm là chính sách cơ bản nhất của quốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định
và phát triển xã hội
- Tuy nhiên trong thời đại ngày nay, vấn đề lao động việc làm không chỉdừng lại ở phạm vi quốc gia mà nó còn có tính toàn cầu hóa, tính quốc tế sâusăc Vấn đề hợp tác, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng được đặt rađồng thời với việc chấp nhận lao động ở nước khác đến làm việc tại nước mình.Điều này giúp cân bằng lao động Lao động từ nước kém phát triển sang làmviệc ở nước phát triển, từ nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động.Trong thị trường đó, cạnh tranh không chỉ còn là vấn đề giữa những người laođộng mà còn trở thành vấn đề giữa các quốc gia Từ đó vấn đề lao động việc làmcòn được điều chỉnh hoặc chịu sự ảnh hưởng chi phối của các công ước quốc tế
về lao động Các nước dù muốn hay không cũng phải áp dụng hoặc tiếp cận vớinhững “luật chơi chung” và “sân chơi chung” càng ngày càng khó khăn và quy
mô hơn
1.3.4 Đối với sinh viên và nhà trường
Việc làm là cơ hội để sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường, đem mọi kiếnthức của mình phục vụ cho xã hội, là tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo vànăng lực của mỗi sinh viên, đồng thời tạo thu nhập cho bản thân và gia đình
Đôi khi số lượng sinh viên có việc làm của mỗi ngành học, mỗi khoatrung tâm trong cùng một trường là khác nhau Tỉ lệ này cao hay không thể hiệnphần nào chương trình đào tạo của ngành học có đáp ứng được yêu cầu của côngviệc, nhu cầu của thị trường lao động đang ở hướng nào để từ đó đưa ra các điềuchỉnh thích hợp giảm tỉ lệ sinh viên thất nghiệp, trái ngành, tăng sức cạnh tranhcho các ngành, các khoa
Giải quyết tốt việc làm cho sinh viên cao đẳng, đại học nói riêng và ngườilao động nói chung là cơ sở để hoàn thiện, triển khai các các chính sách xã hộinhư phát triển giáo dục, y tế, văn hóa góp phần ổn định và phát triển xã hội
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 đã làm sáng tỏ những vấn đề lí luận liên quan tới các khái
Trang 16niệm, vai trò, ý nghĩa của việc làm và yếu tố ảnh hướng đến định hướng việclàm của sinh viên Đồng thời đưa ra căn cứ pháp lí cụ thể của pháp luật về việclàm là cơ sở dẫn dắt, chứng minh nội dung thực trạng của chương sau.
Trang 17Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN KHOA HÀNH CHÍNH
HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 2.1 Khái quát về Khoa Hành Chính học và ngành Quản lí nhà nước - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Khoa Hành chính học được thành lập theo Quyết định số 212/QĐ-ĐHNVngày 24 tháng 4 năm 2012 của Trường Đại học Nội vụ [Phụ lục 3]
Là đơn vị chuyên môn thuộc Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Khoa Hànhchính học có chức năng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục, đào tạo trình độđại học, sau đại học; tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ gắn với chuyênmôn của Khoa; thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế; khoa học và công nghệ phùhợp với mục tiêu, phương hướng phát triển của Trường
* Vị trí và chức năng
Khoa Hành chính học là đơn vị chuyên môn thuộc Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội, có chức năng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục, đào tạo trình độ đạihọc, sau đại học; tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ gắn với chuyên môncủa Khoa; thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế; khoa học và công nghệ phù hợpvới mục tiêu, phương hướng phát triển của Trường
* Ngành đào tạo
- Ngành Quản lý nhà nước (Bậc Đại học/ Đại học liên thông)
- Ngành Hành chính học (Bậc Cao đẳng/ Cao đẳng liên thông)
* Cơ cấu tổ chức và nhân sự Khoa Hành chính học
- Trưởng Khoa và các Phó Trưởng khoa
- Hội đồng Khoa
- Các Bộ môn thuộc Khoa
+ Tổ bộ môn: Lý luận và Nghiệp vụ Hành chính
+ Tổ bộ môn: Quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực
- Văn phòng Khoa
2.1.2 Khái quát về ngành Quản lý nhà nước-Khoa Hành chính học
Trang 18- Tên ngành đào tạo: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
- Tên ngành tiếng Anh: State Management
- Trình độ đào tạo: Đại học
- Mã ngành đào tạo: D310205
- Học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học và tương đương.
- Thời gian đào tạo: 04 năm
2.1.2.1 Mục tiêu đào tạo
Chương trình đào tạo ngành Quản lý Nhà nước cung cấp cho sinh viênnhững kiến thức cơ bản về quản lý, kiến thức chuyên sâu về quản lý hành chínhnhà nước và có khả năng thực hiện được các công việc quản lý hành chính thuộckhu vực công hoặc khu vực tư
2.1.2.3 Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ
- Kiến thức
+ Kiến thức cơ bản: Các kiến thức cơ bản về lý luận chính trị, tâm lý học,
xã hội học, nghiên cứu khoa học, kinh tế học, kỹ năng về giáo dục thể chất vàgiáo dục quốc phòng…
+ Kiến thức cơ sở ngành: Về khoa học quản lý, khoa học pháp lý, khoa học tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, nghiệp vụ hành chính
+ Kiến thức chuyên ngành: Quản lý nhân sự trong khu vực công, thiết kế
và phân tích tổ chức bộ máy nhà nước, hoạch định và phân tích chính sách công, quản lý về kinh tế, tài chính công, ngành quản lý xã hội.
+ Kiến thức nghiệp vụ: Về tin học văn phòng, tiếng anh, nghiệp vụ hành
chính, kỹ năng mềm để thực hiện các công việc hành chính
* Kỹ năng
Trang 19- Kỹ năng cứng: Nhân sự, soạn thảo, tổ chức công sở, quản lý, lưu trữ hồ
sơ, tài liệu cơ quan, phân tích, đánh giá, các hoạt động quản lý nhà nước trongcác ngành lĩnh vực, khả năng nghiên cứu khoa học hành chính, khoa học quảnlý,…
- Kỹ năng mềm : Phân tích, giải quyết vấn đề, làm việc nhóm, lập kế
hoạch, quản lý thời gian, giao tiếp, tự học, tự đào tạo, sử dụng thành thạo cácphần mềm Microsoft, sử dụng tốt tiếng Anh
* Thái độ: Thái độ đúng đắn của một người công chức trong khi thi hànhcông vụ
2.1.2.4 Vị trí người học sau khi tốt nghiệp
- Sinh viên tốt nghiệp ngành Quản lý nhà nước có thể đảm nhiệm côngviệc ở vị trí quản lý, chuyên viên hành chính các cơ quan thuộc khu vực công vàkhu vực tư
- Nghiên cứu viên về khoa học Hành chính, khoa học Quản lý ở các cơ sởnghiên cứu, các cơ quan tham mưu hoạch định chiến lược, chính sánh của Đảng
và Nhà nước
- Làm công tác giảng dạy về Khoa học Hành chính, khoa học Quản lý tạicác cơ sở giáo dục
2.1.2.5 Đặc điểm sinh viên Khoa Hành chính học
Không nghệ thuật như sinh viên Khoa Xã hội, không thông thạo về pascalnhư sinh viên Trung tâm tin học, sinh viên khoa Hành chính học có đặc điểmriêng biệt đối với các Khoa, trung tâm khác
Sinh viên ngành Quản lý nhà nước đến từ nhiều nơi trên mọi miền tổquốc, đặc biệt là khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và ở các tỉnh miền Trung nước ta.Khác với các khoa, trung tâm khác, Khoa Hành chính có số lượng sinh viên làcon em dân tộc ít người nhiều nhất trường, mang những nét đặc trưng khácnhau của các dân tộc Việt Nam: Tày, Nùng, Dao, Mông, Thái, Sán Chí, Lào,Kinh….với những thói quen, phương pháp tiếp cận đã được hình thành khôngđồng nhất, đa dạng; ý thức học tập, nhận thức hiểu biết phương thức đào tạo đạihọc khác nhau Sinh viên có tính nghiêm túc, tự giác cao nhưng lại mềm dẻo,
Trang 20hòa đồng và cũng có những tài năng riêng biệt nổi trội Từ các đặc điểm trên đãtác động trực tiếp đến quá trình đào tạo, quản lý trong môi trường đào tạo yêucầu chất lượng cao; đào tạo theo tín chỉ của Khoa Hành chính học
Hàng năm, sinh viên tích cực nghiên cứu khoa học dưới sự định hướngcủa giảng viên trong Khoa Sinh viên trong khoa đã bảo vệ thành công 03 đề tàikhoa học loại tốt
Sinh viên Khoa Hành chính học tích cực tham gia các hoạt động Đoàn,Hội do Đoàn trường và Nhà trường tổ chức Liên chi Đoàn Khoa đạt 02 giải nhìHội thi tuyên chuyền sách năm 2014, 2013; tham gia và đạt giải nhì cuộc thi
“Sinh viên Nội vụ tài năng và tri thức”năm 2014; giải ba Nữ sinh thanh lịch năm
2011, Giải ba bóng đá, bóng chuyền; giải nhất Hội thi “Xếp sách nghệ thuật2018”, giải C “Thanh niên với cải cách hành chính và văn hóa công sở 2018”,
(Nguồn: Khoa Hành chính học)
Tính tới thời điểm hiện tại ngành Quản lý Nhà nước, trường Đại học Nội
vụ đã có các khóa cao đẳng, đại học tốt nghiệp Hiện nay khoa đã và đang đàotạo những khóa tiếp theo của ngành Quản lý nhà nước và các chuyên ngành mới
2.2 Thực trạng việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp và việc làm thêm của sinh viên đang theo học tại của Khoa Hành chính học, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Đối tượng khảo sát:
+ Sinh viên trình độ đại học Khoa Hành chính học đã tốt nghiệp khóa2013-2017 và khóa 2014-2018
+ Sinh viên trình độ đại học đang theo học tại Khoa Hành chính học
Trang 21- Để tìm hiểu thông tin việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp ngành quản
lý nhà nước, nhóm đề tài đã áp dụng câu hỏi trong phiếu khảo sát về việc làmcủa sinh viên ngành Quản lí nhà nước sau tốt nghiệp (phụ lục), qua biểu mẫugmail (tổng số phiếu phát ra là 400 phiếu, Thu lại 329 phiếu) và phỏng vấn Sốphản hổi là 359 sinh viên
- Thông tin việc làm thêm của sinh viên đang học tại Khoa Hành chínhhọc được thu thập qua phiếu khảo sát về việc làm thêm của sinh viên KhoaHành chính học (phụ lục), phỏng vấn và qua biểu mẫu gmail trên tổng số 500 sốphiếu phát ra, số phản hổi là 411
2.2.1 Định hướng chọn ngành của sinh viên Khoa Hành chính học
Hành chính học là một khoa học nghiên cứu các quy luật quản lý có hiệuquả những công việc xã hội của các tổ chức hành chính nhà nước
Từ năm 2015, Khoa Hành chính học đào tạo bậc đại học, ngành quản lýnhà nước Năm 2018 đào tạo them chuyên ngành quản lí nhà nước về kinh tế vàquản lí nhà nước về tài chính công
Chuyên ngành quản lý nhà nước là chuyên ngành mà sinh viên sẽ đượcđào tạo các kiến thức để phục vụ cho hoạt động quản lí nhà nước sau này
Vấn đề định hướng cho sinh viên ngày nay là một việc làm quan trọng.Nhưng trên thực tế, định hướng nghề nghiệp hiện nay lại theo xu thế của thờiđại, không ai thích học những ngành nghề nông nghiệp, họ đổ xô vào kinh tếhay quản trị kinh doanh Họ cũng chẳng chú tâm vào những ngành nghề sảnxuất Những năm trước 2016 một thời gian đầu, giới trẻ chạy theo ngành sưphạm, ngân hàng, kế toán Sau đó, các ngành luật, nhân sự, văn phòng và hiệnnay là một phong trào theo ngành công an, quân đội được các phụ huynh cùnghọc sinh ưa chuộng
Trang 22Thích; 21.00%
Định hướng gia đình; 43.00%
Nguyên nhân khác; 36.00%
LÍ DO HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Thích Định hướng gia đình Nguyên nhân khác
Biểu đồ lí do chọn ngành quản lý nhà nước (Nguồn: Phiếu đều tra khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp ngành Quản lí Nhà nước,
Khoa Hành chính học)
Trang 23Qua biểu đồ, chúng tôi nhận thấy một tỉ lệ lớn là 43% số sinh viên đượckhảo sát chọn học ngành quản lí nhà nước là do định hướng của gia đình Sinhviên vào nhà nước thường bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của bố mẹ Nhiều phụhuynh muốn tìm cho con một công việc ổn định để họ yên tâm về con cái, thậmchí làm nghề “cha truyền con nối” Quản lý nhà nước là áp dụng hiến pháp vàpháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội Cán bộ, công chức là những ngườithực thi pháp luật Tuy nhiên với quan niệm lạc hậu, từ một số mặt trái trongquản lý nhà nước người dân cho rằng “cửa quan là cửa quyền”, “một người làmquan cả họ được nhờ” Bởi vậy, có nhiều bậc phụ huynh vẫn hướng con mìnhvào làm việc trong cơ quan nhà nước
Ngược lại, nhiều người muốn con cái phải tự lập và có khả năng trụ vữngtrong xã hội Nếu bố mẹ luôn ôm ấp con, lo lắng cho con mọi thứ kể cả côngviệc, nghề nghiệp, thậm chí quyết định hộ con sẽ khiến các bạn trẻ không năngđộng và khó thích ứng được với sự thay đổi
Mỗi nhà mỗi cảnh, lại có nhà, cha mẹ kỳ vọng vào con viết tiếp ước mơcòn dang dở thời trẻ của mình, muốn con thành đạt hơn mình Một bà mẹ kiênquyết muốn con phải vào bằng được ngôi trường này, học ngành kia để sau này
ra trường làm công việc ấy – những gì trước kia phụ huynh ấp ủ nhưng khôngthực hiện được Con cái bỗng trở thành người viết tiếp ước mơ cho cha mẹ Tâm
lý chung của cha mẹ khi định hướng con chọn ngành, nghề tương lai thươngmong con chọn ngành dễ xin việc, đáp ứng xu thế xã hội
21% là vì sở thích, có nhiều sinh viên vào học ngành Quản lí nhà nước là
vì tự bản thân mong muốn được học ngành này để sau được làm trong một cơquan nhà nước, là một người công chức Hoặc đôi khi vì thần tượng một cán bộ,một vị trí nào đó, mong muốn được hoàn thành ước mơ của mình Tỉ lệ còn lại
do nguyên nhân khác như trượt nguyện vọng 1 nên phải học ngành này, hay đôikhi nhiều sinh viên có hoàn cảnh không đủ điều kiện kinh tế để theo học tạitrường có học phí cao,…
Hầu hết các điều tra xã hội học đối với sinh viên về nội dung “Có haykhông có định hướng ngành học trước khi bước vào cổng trường đại học?” đều
Trang 24cho ra kết quả: Sinh viên cơ bản định hướng ngành học theo năng lực, nghĩa làlựa chọn ngành học theo điểm học tập gắn với điểm đầu vào Hay nói cách khác,sinh viên cho rằng quan trọng trước tiên là phải vào được một trường đại học để
có tấm bằng đại học Nhiều sinh viên của khoa cho biết quyết định vào trường,vào Khoa bởi nhiều lí do, ngoài niềm yêu thích thì còn do cha mẹ định hướngcho, do yêu thích một trường khác nhưng khả năng không đủ điều kiện hoặc chỉ
là kiếm một tấm bằng để sau có cơ hội thì xin việc Bên cạnh những sinh viênkhông xác định được mình là ai, mình đang ở đâu, vị trí nào, có một số nhiềunhững sinh viên lại khá rành mạch, rõ ràng, hiểu rõ mình muốn gì và thực lựccủa mình đến đâu Sau khi tốt nghiệp, những người này có xu hướng tìm nhữngcông việc phù hợp với năng lực bản thân, mức lương thích đáng phù hợp với
“chất xám” mà họ bỏ ra Họ cũng tiếp tục trau dồi những kĩ năng mềm để có thểthể hiện bản thân tốt hơn Sinh viên trong số này, khi tốt nghiệp sẽ là những cửnhân sáng giá cho bộ phận nhân sự của tổ chức Họ tiếp xúc va chạm nhữngcông việc phù hợp với ngành nghề họ theo học, và xa hơn là những tương lai dựđịnh họ mong muốn
Định hướng nghề nghiệp của sinh viên chưa phù hợp với tình hình pháttriển của đất nước Nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi công nghiệp hóa,hiện đại hóa Nước ta vẫn là một nước có nền nông nghiệp chiếm tỉ lệ khá lớn,tuy nhiên lại rất ít sinh viên học các ngành về nông, lâm, ngư nghiệp mà hiện tại
đổ xô vào kinh tế, quản trị kinh doanh chứ không vào sản xuất
Sinh viên từ lúc vào trường đại học đa phần không phải ai cũng có dựđịnh, mục tiêu của riêng mình, có thể họ hiếu hiểu biết về ngành mình học dẫnđến việc chán học, muốn bỏ ngang giữa chừng Việc này rất xấu nếu không chịuthay đổi cho đến năm cuối của đại học Khi ra trường những sinh viên vẫn cònnhững khuyết điểm lại càng khó tìm việc, bên cạnh đó cũng dẫn đến những việclàm trái ngành, cầm bằng ngành này nhưng việc làm là của ngành khác, điều đó
là không thể tránh khỏi trong số phần trăm sinh viên ra trường Đặc biệt đối vớingành Quản lí nhà nước, sinh viên có thể là những cán bộ, công chức tương lai,nếu định hướng không rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến tổ chức nhà nước và đất nước
Trang 25TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN KHOA HÀNH CHÍNH HỌC
Biểu đồ tình trạng việc làm của sinh viên khoa hành chính học (Nguồn:
Phiếu đều tra khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp ngành
Quản lí Nhà nước, Khoa Hành chính học)
Qua số liệu khảo sát trên 359 sinh viên thì số sinh viên đang đi làm là 339
sinh viên, chưa có việc làm là 20 sinh viên (trong đó có 12 sinh viên đang học
nâng cao, 8 sinh viên thất nghiệp tạm thời)
2.2.2.1 Thời gian và cách thức tìm việc làm của sinh viên
Trung bình sinh viên sau tốt nghiệp tìm được việc làm trước 6 tháng, với
các con đường:
Trang 26Trun
g tâm g
i t ệu
Sinh viên sau khi tốt nghiệp có năng lực được nhà trường và giảng viêngiới thiệu việc làm tại các đơn vị liên kết với trường, khoa, trung tâm Có đến
193 sinh viên tìm việc thông qua quảng cáo, mạng xã hội Hiện nay khi côngnghệ thông tin và mạng xã hội phát triển, có rất nhiều group về việc làm xuấthiện và có uy tín Hằng ngày có rất nhiều bài viết về việc làm được đăng tải, cácsinh viên chủ động tìm kiếm công việc phù hợp với mình qua các thông tin trongquảng cáo Nhiều sinh viên khác được người thân giới thiệu việc làm, công việc
đó có thể trong hoặc ngoài nhà nước Còn lại là sinh viên tự tạo việc làm Cácsinh viên ra trường đã tự khởi nghiệp, đó là tự tạo doanh nghiệp nhỏ, kinh doanhonline, kinh doanh buôn bán tại gia đình và cũng đã có thành công nhất định
Theo điều tra, sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học trung bình cầnkhoảng 6 tháng để tìm công việc đầu tiên họ thấy ổn định và hài lòng Khoảngthời gian mà sinh viên ra trường có thể tìm được công việc là từ 1 tuần đến 2năm Với khoảng thời gian ngắn 1 tuần, 1 tháng, 2 tháng, thì thường là các côngviệc của các công ty, tổ chức ngoài nhà nước, nhà hàng, thời vụ Còn một sốsinh viên muốn làm trong khu vực nhà nước là khoảng thời gian từ 1-2 năm, khi
Trang 27nhà nước có chỉ tiêu, biên chế.
2.2.2.2 Sinh viên làm việc trái ngành
Cơ qu
an nh
à nước
Doan
h nghiệp
Kinh
tế hộ
gia đình
đã tốt nghiệp ngành Quản lí Nhà nước, Khoa Hành chính học)
Số sinh viên làm tại các đơn vị cơ quan nhà nước chiếm tỉ lệ khá nhỏ12,9%, chủ yếu là vị trí hợp đồng Doanh nghiệp tư nhân chiếm số lượng lớn:
198 người, số lượng lớn sinh viên sau tốt nghiệp ở lại Hà Nội để làm việc vì ởcác tỉnh việc tìm được một công việc phù hợp với mức lương, chuyên môn khákhó khăn, ngoài ra Hà Nội có thị trường lao động rộng lớn, các công ty, doanhnghiệp rất nhiều, dễ dàng tìm kiếm công việc Nhiều sinh viên khác trong quátrình học đã làm thêm tại các doanh nghiệp nên sau khi tốt nghiệp được nhận vềlàm việc Với các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, sinh viên làm việc tại đây
là 76 sinh viên Ngoài số sinh viên có khả năng ngoại ngữ tốt làm các vị tríphiên dịch, dịch thuật thì có số khác làm tại bộ phận hành chính, nhân sự tại cáccông ty Kinh tế hộ gia đình có 23 sinh viên, chủ yếu là về kinh doanh tại nhàhoặc kinh doanh online
Khóa Tỉ lệ sinh viên
làm trái ngành
Sinh viên làm đúng ngành
Số lượng sinh viên khảo sát
Trang 282013-2017 86,6% 13,4% 172
(Nguồn: Phiếu đều tra khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên đã tốt
nghiệp ngành Quản lí Nhà nước, Khoa Hành chính)
* Các yếu tố ảnh hưởng dẫn đến việc làm trái ngành
Có thể thấy rằng, số sinh viên làm ngoài nhà nước chiếm tỉ lệ lớn, nguyênnhân làm trái ngành của cựu sinh viên khá nhiều:
- Tiền lương, thưởng, thời gian làm việc ở khu vực tư thoải mái hơn
- Đang trong thời gian làm việc đúng chuyên ngành
- Cơ chế, chính sách của nhà nước
Hiện nay, việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ,
vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế Dựa vào chỉ tiêu, yêu cầu công việc mà cácđơn vị cơ quan tuyển dụng nhân lực
Nghị quyết số 16/2000/NQ - CP ngày 18/10/2000 của Chính phủ về tinhgiản biên chế trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp đã xác định:
“Tinh giản biên chế được tiến hành cùng với việc rà soát, xác định rõ chức năng,
Trang 29nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức, viên chức, nâng cao chất lượng hoạt động, hiệu lực, hiệu quả của tổchức, bộ máy, làm tiền đề cho việc đổi mới căn bản hệ thống hành chính nhànước trong thời gian tới” và mục tiêu: “Từ nay đến hết năm 2002, phấn đấugiảm khoảng 15% biên chế trong các cơ qua hành chính nhà nước và biên chếgián tiếp trong các đơn vị sự nghiệp”.
Tuy nhiên năm 2017, Kiểm toán nhà nước đã kiểm toán việc quản lý và
sử dụng công chức, viên chức, lao động hợp đồng và quỹ lương năm 2016 tại 13
bộ, ngành và 47 địa phương và phát hiện nhiều đơn vị tùy tiện, thiếu trách nhiệmtrong việc giao chỉ tiêu biên chế và tiếp nhận sử dụng biên chế sai quy định,vượt thẩm quyền, như:
Giao biên chế công chức vượt Bộ Nội vụ giao 5.087 biên chế (10 địaphương giao vượt 5.069 biên chế, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh nhiều nhấtvới 3.456 biên chế), 5 địa phương giao 905 chỉ tiêu biên chế viên chức cho các
cơ quan hành chính không đúng quy định, 2 địa phương giao chỉ tiêu hợp đồngkhác chưa đúng quy định với 8.841 người trong đó riêng TP.Hà Nội đã có 8.464người [4] Lượng biên chế không đúng quy định làm chậm lại quá trình tinhgiảm biên chế cũng như cơ hội việc làm cho các sinh viên có năng lực khi ratrường
Ngoài ra, hình thức tuyển công chức hiện nay là thi tuyển, tuy nhiên, ởmột số khu vực, để có được vị trí làm việc tại cơ quan Nhà nước cần phải có sựquen biết và điều kiện nhất định Bên cạnh đó, không phải lúc nào cơ quan Nhànước cũng đăng tuyển nên đòi hỏi các ứng viên phải có tính kiên nhẫn chờ đợi
cơ hội việc làm
- Sự cạnh tranh của sinh viên các trường đại học
Tính tới thời điểm năm 2018, Việt Nam có tổng số 700 trường đại học,học viện cao đẳng Gần 73.000 giảng viên, hơn 16.500 tiến sĩ Số lượng của sinhviên hiện nay khoảng 1,7 triệu, thực tế rằng mỗi năm, thậm trí 2-3 năm các cơquan nhà nước mới tuyển dụng, số lượng chỉ là một người, hai người hay nămngười trên một đơn vị, có nghĩa là tỉ lệ chọi quá cao Bởi vậy để tránh tình trạng
Trang 30thất nghiệp thì bắt buộc sinh viên phải làm trái ngành [2]
Confesstions 1: Tâm thư của tân sinh viên [Phụ lục 3]
Đây là tâm thư được Fanpage Nội vụ Confessions đăng vào ngày19/08/2017 Bài viết đã thu hút 818 lượt yêu thích, 866 lượt bình luận, và 188lượt chia sẻ Nguyên do từ bài viết này đó là một sinh viên đi xin việc trong cơquan nhà nước đã không được thi tuyển vì lí do “Bằng Hành chính học và Quản
lí nhà nước khác nhau” và quan niệm “Quản lí nhà nước chỉ các lãnh đạo đihọc” Hiện nay tất cả ngành học được nhà nước công nhận đều có một mã ngành
do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Trong buổi đối thoại về việc làm tại BộNội vụ, Thầy Trương Quốc Việt đã đưa ra thực trạng này và đề nghị các banngành đưa ra biện pháp khắc phục Để trả lời cho vấn đề này, hiện nay các vănbản tuyển dụng đã đưa ngành quản lí nhà nước vào trong yêu cầu trình độ tuyểndụng Thông báo tuyển dụng công chức của Bộ Thông tin và Truyền thông, vịtrí Chuyện viên Theo dõi cải cách hành chính; Làm việc tại Vụ Tổ chức cán bộ,
yêu cầu tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Hành chính học hoặc Quản lí nhà nước Về yêu cầu về trình độ và chuyên ngành có từ hoặc bởi những năm trước
khi đổi tên ngành Quản lí nhà nước có tên là Hành chính học Đây là cơ chế mởcho sinh viên từ những khóa trước đây và các khóa 2013, 2014 mới ra trường có
cơ hội thi tuyển công chức
*Thông báo về tuyển dụng công chức năm 2019 của Bộ Thông tin và Truyền thông [Phụ lục 4]
Confesstions 2: Đừng há miệng chờ sung [Phụ lục 3]
Đây là một ý kiến khác của sinh viên trong trường, được đăng tải sau vàingày trên Fanpage Nội vụ Confestion Mỗi sinh viên đều có ý kiến nhìn nhậnkhác nhau Bất cứ ai đi học đều có ước mơ về công việc của mình sau này Tuynhiên theo cơ chế hiện nay, không nhất thiết học Quản lí nhà nước là phải làmtrong cơ quan nhà nước Theo số liệu thu thập từ 359 sinh viên đã ra trường thìcông việc hiện tại không phù hợp với ngành được đào tạo là 314 người số ngườihiện đang làm trong các cơ quan, đơn vị nhà nước là 45 người, có 97 người hiệnđang làm công việc khác để chờ cơ hội thi vào biên chế nhà nước
Trang 31- Xếp loại tốt nghiệp, kinh nghiệm làm việc
Ngoài ra xếp loại tốt nghiệp cũng ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của sinhviên Sinh viên ra trường có bằng khá, giỏi có cơ hội việc làm cao hơn sinh viên
có bằng trung bình Tuy nhiên, nhiều công ty, tổ chức không quan trọng bằngcấp, họ chủ yếu cần kinh nghiệm và năng lực thích nghi, giải quyết công việc
Nhiều cựu sinh viên qua phỏng vấn cho biết: “Khi đi xin việc các bạn khi đi học
có kinh nghiệm khi làm thêm cũng là một lợi thế Họ va chạm khá sớm nên năng lực xã hội có có hơn những bạn chỉ có lí thuyết sách vở Những bạn như vậy thích nghi rất nhanh với công việc”
- Chế độ lương thưởng và môi trường làm việc
Đồng tiền chỉ mới xuất hiện trong một phần nhỏ của lịch sử nhân loại, thếnhưng chúng lại nhanh chóng trở thành mục tiêu của nhiều người Câu hỏi đầutiên của những người đi phỏng vấn đó là “Công việc này lương bao nhiêu?” vàcâu trả lời cũng đóng vai trò then chốt trong việc bạn có theo đuổi công việc nàyhay không
Có 296 cựu sinh viên cho biết, Mức lương trung bình của họ khoảng từ
3-6 triệu đồng/tháng và số sinh viên làm việc vì mức lương hấp dẫn là 107 người,mặc dù công việc đó không đúng chuyên ngành Họ cho rằng với mức lươngnhà nước chỉ đủ trang trải cuộc sống cơ bản của một cá nhân Giá cả tăng nhanhhay bão giá thì mức lương này không đủ
Khu vực tư có chính sách thu hút nhân lực bằng biện pháp kinh tế Một ví
dụ thực tế là lương của một công nhân bình thường có mức khởi điểm là4.200.000 đồng, chưa tính thưởng, tiền công tăng ca, nhân 200% làm việc cácngày lễ,….một tháng số tiền họ có được có thể lên 10.000.000 Ngược lại với hệ
số 2.34 và mức lương bậc 1 là 1.390.000, một công chức sẽ có số tiền lương là3.272.200 đồng, đủ để đảm bảo cuộc sống độc lập
Xuất phát từ vấn đề kinh tế, có rất nhiều sinh viên ban đầu chỉ xem côngviệc trái ngành là giải pháp tình thế, lấy ngắn nuôi dài, chờ đợi thời cơ để tìmđược một công việc phù hợp Nhưng dần dần họ lún sâu vào công việc ấy vàquên đi mục đích ban đầu
Trang 32Khi phỏng vấn một cựu sinh viên khóa 2013-2017 hiện đang làm
maketing tại một thương hiệu thời trang với câu hỏi “Từ năm 2017 đến 2019, các cơ quan nhà nước tuyển dụng khá nhiều, tại sao lại không ứng tuyển?” thì nhận được câu trả lời: “Hiện nay công việc của mình khá tốt, mọi thứ đều ổn từ lương thưởng, cũng cảm thấy mình phù hợp với công việc hiện tại”
Cũng cùng câu hỏi với một sinh viên khác, cùng khóa, hiện đang làm tại
một hệ thống nhà hàng nổi tiếng ở Hà Nội, bạn cho biết “ Hiện tại đang trong thời gian chờ việc trong nhà nước, còn được hay không thì chưa biết, cũng theo
ý nguyện của bố mẹ, chứ bây giờ đi làm cũng ổn, sau 1-2 năm mua được xe, không phải lo nghĩ nhiều về kinh tế, tháng 7-10 triệu cũng đủ, chứ sau xin được nhà nước 3-4 triệu, lại gia đình con cái không đủ Làm ở ngoài không thích thì chuyển việc khác, đỡ gò bó”.
Nhiều sinh viên muốn làm trong cơ quan nhà nước bởi thời gian làm việc
cố định từ 7h sáng đến 5h chiều, rất hiếm khi phải tăng ca hay làm thêm giờ Do
đó, sẽ có nhiều thời gian để chăm sóc cho gia đình hoặc dành thời gian riêng chobản thân
Công việc mang chuyên môn hóa cao và quy tắc rõ ràng, ít khi xảy ra rủi
ro Nếu được hướng dẫn cụ thể, chỉ cần mất từ 1 – 2 tháng đã có thể thạo việc vàhoàn thành công việc một cách dễ dàng Cơ quan Nhà nước đánh giá năng lựcqua bằng cấp và thâm niên làm việc Chỉ cần làm từ 3 – 5 năm sẽ được xem xétlên chức và tăng lương 2 – 3 năm một lần
Môi trường làm việc của cơ quan Nhà nước khá yên tĩnh, không có tínhcạnh tranh cao, không gây ra nhiều áp lực cho người lao động Lương hưu cũng
là một điểm cộng với hình thức làm việc này
Khi qua tuổi lao động, những cán bộ, công chức, viên chức đều có thể dựavào lương hưu để sống mà không cần lo về vấn đề không có tích lũy cuối đời
Ngược lại số sinh viên chọn ngoài nhà nước cũng khá nhiều với lí do:
- Lương cơ bản đối với công chức Nhà nước khá thấp vào khoảng1.210.000 ngàn đồng nhân với hệ số lương (Bậc 1: Đại học 2,34; Cao đẳng 2,1;Trung cấp 1,86 Hệ số tăng mỗi bậc: Đại học: 0,33; Cao đẳng: 0,31; Trung cấp:
Trang 33Với một người không thích cạnh tranh, không thích áp lực Làm việc tại
cơ quan Nhà nước là một sự lựa chọn an toàn hợp lý Chỉ cần biết tiết kiệm chitiêu, bạn hoàn toàn có thể sống nhẹ nhàng thoải mái và có nhiều thời gian chocác mối quan hệ của mình như gia đình, bạn bè,…
Tổng cục thống kê và Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội công bố bản tincập nhật thị trường lao động vào quý 2 năm 2019: Số sinh viên có trình độ đạihọc và sau đại học thất nghiệp đã giảm xuống còn 126.900 người (chiếm tỉ lệ2.47%)
- Đam mê, sở thích
Nhiều người sẽ luôn nói với bạn rằng, chỉ cần theo đuổi đam mê thì bạn
sẽ thành công và hạnh phúc Tuy nhiên theo như Tom McDermott – người sánglập của công ty truyền thông Ignite – tin rằng đam mê chỉ đóng một phần nhỏtrong sự thành công Một ví dụ điển hình đó chính là các cuộc thi tài năng âmnhạc, hàng trăm ngàn thí sinh đam mê ca hát, nhưng có được bao nhiêu ngườithành công trên con đường âm nhạc? Mặt khác, ông ấy cho rằng nhân tố chínhcủa thành công đó chính là sự “tò mò” Giống như những đứa trẻ, sự tò mò làthứ đem chúng khám phá và tìm tòi để hiểu thế giới hơn
Được làm công việc mình yêu thích là may mắn nhưng nếu phải làm côngviệc mà ngay từ đầu bạn biết rằng “nó sinh ra không phải dành cho mình” thì đólại là cơ hội Hơn 70% số người được hỏi thừa nhận rằng họ không thực sự yêuthích công việc hiện tại của mình Dù có hay không thì trên thực tế, bạn vẫn phảiđối mặt và chấp nhận sống chung với nó vì lý do “cơm, áo, gạo, tiền” hay nhẫnnhịn chờ thời… Làm việc trong một công ty có danh tiếng, công việc ổn định
và mức lương khá, đây có lẽ là mục đích của hầu hết sinh viên khi vừa bước
Trang 34chân ra khỏi giảng đường đại học Tuy nhiên công việc là thứ sẽ gắn bó với bạn2/3 cuộc đời, liệu rằng bạn có thể và có muốn làm một việc mà bạn không thực
sự đam mê?
Có sinh viên học ngành quản lý nhà nước đã dừng lại việc học để theonghề nhiếp ảnh Cũng có nhiều sinh viên lại chuyển sang lĩnh vực thời trang,model,… Hiện thực cũng có nhiều công chức đã bỏ nhà nước để theo công việcmình yêu thích
2.2.2.2 Chương trình đào tạo ảnh hưởng đến quá trình làm việc của sinh viên
Câu hỏi: Kiến thức được đào tạo có hữu ích cho công việc hiện nay của Anh/Chị không?
Nhóm đã nhận được 296 câu trả lời là hữu ích, không hữu ích là ý kiếncủa 11 sinh viên và 52 sinh viên cho rằng kiến thức học được là rất hữu ích
Trang 35Phiếu đều tra khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp ngành
Quản lí Nhà nước, Khoa Hành chính)
Đối với các sinh viên hiện nay đang công tác tại cơ quan nhà nước, cáckiến thức đã học được áp dụng khá nhiều, từ các kiến thức đại cương đến cáckiến thức chuyên ngành Đối với các sinh viên đang công tác các đơn vị khácngoài nhà nước đều có kiến thức có thể áp dụng vào công việc
Tuy nhiên, kiến thức trong bốn năm tích lũy còn chưa đủ Sau tốt nghiệp
và trong quá trình làm việc, cơ quan, công ty tạo điều kiện cho sinh viên đượcđào tạo, nâng cao kiến thức chuyên môn (26 sinh viên), nâng cao kĩ năng nghiệp
vụ (24 sinh viên), nâng cao kỹ năng về công nghệ thông tin (68 sinh viên), nângcao kĩ năng mềm (113 sinh viên), phát triển kĩ năng ngoại ngữ (97 sinh viên),không học thêm khóa học (23 sinh viên)
ngành Quản lí Nhà nước, Khoa Hành chính)
Sinh viên NTC, là sinh viên khóa 2014, là sinh viên vừa ra trường năm
2018, hiện đang làm tại Văn phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, sau 4 tháng ra
trường anh đang làm việc tại một cơ quan nhà nước Theo ý kiến của anh “Hiện nay chương trình đào tạo của khoa đã rất tốt, các bạn mới đi làm thì thấy nó
Trang 36chung chung chứ mình thấy các kiến thức đại cương và kiến thức chuyên ngành mỗi môn được áp dụng vào công việc một ít, tuy nhiên khoa cần bổ sung các buổi sinh hoạt chuyên đề và bồi dưỡng kĩ năng mềm cho sinh viên vì hiện nay anh thấy kĩ năng mềm của sinh viên khá yếu”.
Với một cựu sinh viên khác khi được hỏi cùng câu hỏi này, thì câu trả lời
nhóm nhận được “Anh đi làm bên ngoài nên những môn chuyên ngành không
áp dụng được nhiều, đôi lúc trong các mối quan hệ có thể đem ra nói chuyện phiếm thôi Còn anh thấy môn mà áp dụng vào trong công việc hiện tại là Quản trị học, tin học với ngoại ngữ”
(Nguồn: Phiếu đều tra khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên đã tốt
nghiệp ngành Quản lí Nhà nước, Khoa Hành chính) Với câu hỏi “Bạn muốn bổ sung môn học nào cần thiết phải được giảng dạy không?
Các cựu sinh viên đưa đến góp ý cần bổ sung các môn học về kĩ năngmềm, tiếng anh và các môn mang tính chất thực hành nhiều hơn Ngoài ra, cựusinh viên cho rằng nên tăng thời gian kiến tập và thực tập cho sinh viên
Đây là thời gian mà sinh viên được tiếp cận với thực tiễn hoạt động của
Trang 37cơ quan để kiểm nghiệm kiến thức đã học được, có cái nhìn tổng quan về quytrình hoạt động của một cơ quan quản lí nhà nước cụ thể, nhận biết được vị trí,vai trò, công việc của một cán bộ công chức trong cơ quan nhà nước Sinh viênnăm ba, khoa Hành chính học được đi kiến tập với thời gian là 3 tuần, tuy nhiênnhiều sinh viên cho biết, khi sinh viên đến xin kiến tập, lãnh đạo cơ quan chophép sinh viên không cần đến cơ quan kiến tập Ngoài ra, với 8 kì học, thời giansinh viên được va chạm với công việc thực tế là khá ít, hiện nay một số sinh viênkhóa 2015-2018 đang đi thực tập mà lại không được giao việc, không được tiếpxúc với công việc thực tế, khó khăn cho việc quan sát và học tập các kĩ năng,kiến thức cần thiết
Đây là ý kiến các cựu sinh viên đóng góp để nâng cao tỉ lệ sinh viên ratrường làm đúng ngành và có việc làm phù hợp với ngành học
Các nhà tuyển dụng tham gia xây dựng chương trình đào tạo: 3
Các nhà tuyển dụng tham gia đào tạo cùng nhà trường: 7
Các nhà tuyển dụng nhận sinh viên thực hành/thực tập: 301
Các nhà tuyển dụng cam kết với trường về việc tuyển dụng sinh viênsau khi tốt nghiệp: 174
Trường cập nhật thông tin về nhu cầu sử dụng lao động của xã hội: 49
Trường phối hợp với các nhà sử dụng lao động tổ chức se-mi-na chosinh viên: 26
Thời lượng thực tập/thực tế được tăng thêm: 291
Thời lượng thực hành được tăng thêm: 291
Bổ sung các khóa đào tạo kỹ năng mềm: 153
Rèn luyện các phẩm chất cá nhân: 123
Nhà trường tạo điều kiện để sinh viên tham gia làm thêm tại các đơn vịthực tế: 235
Trang 38* Việc làm của sinh viên ngành Quản lý nhà nước đã tốt nghiệp khóa 2013-2014
so với các ngành khác
STT Ngành đào
tạo
Tổng số SVTN được khảo sát
Tổng
số sinh viên đã phản hổi
Số SVTN chia theo khu vực làm Khu
vực nhà nước
Khu vực tư nhân
Liên doan h nước ngoài
Tự tạo việc làm
Trang 39Biểu đồ về tỉ lệ sinh viên có việc làm của một số ngành Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (Nguồn: Phòng công tác sinh viên – Trường Đại học Nội
vụ Hà Nội)
Qua số liệu thu được, có thể thấy rằng tỉ lệ sinh viên có việc làm của khóa 2013-2017 của ngành quản lí nhà nước là cao nhất với tỉ lệ 95,9% Tiếp đó là ngành quản trị nhân lực, quản trị văn phòng, lưu trữ học với tỉ
lệ từ 87,3% - 90,6% và thấp nhất là ngành Khoa học thư viện là 81,6%
Khu vực làm việc của sinh viên tốt nghiệp
Nhà nước Tư nhân Liên doanh nước ngoài Tự tao việc làm
Biểu đồ thể hiện khu vực làm việc của sinh viên tôt nghiệp của một số ngành Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (Nguồn: Phòng công tác sinh viên
– Trường Đại học Nội vụ Hà Nội)
Trong số sinh viên đã phản hồi thì số sinh viên làm việc trong khuvực nhà nước của ngành quản trị văn phòng khá cao 30/196 sinh viên, sau
đó là sinh viên ngành quản lí nhà nước với 23 sinh viên, 20/166 sinh viênlưu trữ học và 8 sinh viên quản trị nhân lực
Về khu vực tư nhân, đây là nơi có số lượng sinh viên đang làm việc
ở mức cao Cao nhất là quản trị nhân lực, quản lí nhà nước và quản trị vănphòng đều hơn 100 sinh viên Với ngành nhân lực ngành có tên gọi mở,
có thể làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức, công ty, khu nghỉ dưỡng,resort, các tổ chức trong và ngoài nhà nước Quản trị văn phòng là ngành
Trang 40nằm trong top 100 các vị trí việc làm tốt nhất theo xếp hạng của tổ chứcU.S News Rankings (2014), sinh viên của ngành sau khi tốt nghiệp có thểlàm việc tại cơ quan nhà nước, tổ chức doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo, Đặc biệt, sinh viên khoa nhân lực và văn phòng luôn hướng ra môi trườnglàm việc năng động bên ngoài nên số lượng sinh viên của ngảnh quản trịnguồn nhân lực và quản trị văn phòng ở khu vực tư rất đông đảo
Đối với ngành Quản lí nhà nước, sinh viên làm tại khu vực tư cũngkhá nhiều với 127 sinh viên, tên gọi của ngành gắn với hai từ “nhà nước”
đã từng gây khó khăn cho sinh viên của Khoa Hành chính học khi xinviệc Tuy nhiên, các môn chuyên ngành của Quản lý nhà nước trên nhiềulĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, tư pháp, đô thị,…đã tạo cơ hội cho sinhviên có cơ hội làm việc tại nhiều vị trí; nghiệp vụ hành chính văn phòngđáp ứng được các yêu cầu của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.Bởi vậy, số sinh viên quản lý nhà nước làm việc tại khu vực tư nhân chỉxếp sau sinh viên ngành quản trị nhân lực
Khoa học thư viện và lưu trữ học là hai ngành mới bởi vậy số lươngsinh viên ít hơn các ngành còn lại trên mặt khách quan thì sinh viên cácngành này đều có chuyên môn nghiệp vụ riêng, đáp ứng với công việcmang tính chất đặc thù chuyên môn nên tỉ lệ sinh viên tại các khu vực làkhá thấp
2.2.3 Việc làm thêm của sinh viên đang theo học tại Khoa Hành chính học
Đã là sinh viên thì ai cũng phải trải qua ít nhất vài lần tìm công việc làmthêm trong đời Nhất là những việc làm online và part-time Sinh viên đi làmthêm phần vì có nhiều thời gian rảnh rỗi sau giờ học trên trường Nhất là vớiphương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ của hầu hết các trường hiện nay Phần
vì muốn kiếm thêm chút thu nhập trang trải tiền nhà, tiền ăn, hay tiền tiêu vặt đỡđần bố mẹ Phần cũng là muốn tích lũy kinh nghiệm làm việc thực tế chuẩn bịcho sau khi tốt nghiệp