1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất lúa trên địa bàn huyện nho quan

96 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 900,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa; - Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM HỒNG SƠN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM HỒNG SƠN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

Ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 8 62 01 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Tâm

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Mọi sự trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc, tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực

và nguyên bản của luận văn

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019

Tác giả

Phạm Hồng Sơn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới TS Nguyễn Văn Tâm người đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Sau Đại học là cơ sở đào tạo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin gửi lời cảm ơn tới Ủy ban nhân dân huyện Nho Quan, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Nho Quan, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ tôi nguồn tư liệu phục vụ cho việc thực hiện đề tài

Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, cán bộ, công chức nơi công tác luôn động viên, ủng hộ, giúp đỡ tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn thạc sỹ của mình

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019

Tác giả

Phạm Hồng Sơn

Trang 5

5 GO/1 đ chi phí Giá trị sản xuất trên 1 đồng chi phí

6 GO/ha Giá trị sản xuất trên 1 hecta

7 GO/IC Giá trị sản xuất trên 1 đồng chi phí trung gian

8 GTSX Giá trị sản xuất

9 GTSX TM - DV Giá trị sản xuất thương mại dịch vụ

10 HQKT Hiệu quả kinh tế

11 IC Chi phí trung gian

12 IPM Phòng trừ dịch hại tổng hợp

13 KT - XH Kinh tế xã hội

14 LĐ Lao động

15 MI Thu nhập hỗn hợp

16 MI/1đ chi phí Thu nhập hỗn hợp trên 1 đồng chi phí

17 MI/IC Thu nhập hỗn hợp trên 1 đồng chi phí trung gian

18 Pr Lợi nhuận

19 Pr/1đ chi phí Lợi nhuận trên 1 đồng chi phí

20 Pr/IC Lợi nhuận trên 1 đồng chi phí trung gian

21 PTBQ Phát triển bình quân

22 UBND Ủy ban nhân dân

23 VA Giá trị gia tăng

24 VA/1đ chi phí Giá trị gia tăng trên 1 đồng chi phí

25 VA/IC Giá trị gia tăng trên 1 đồng chi phí trung gian

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SỸ viii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn 3

4.1 Đóng góp về lý luận 3

4.2 Đóng góp về thực tiễn 3

4.3 Ý nghĩa của luận văn 4

CHƯƠNG 1: CỞ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất lúa 5

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về phát triển sản xuất lúa 5

1.1.2 Những vấn đề cơ bản về phát triển sản xuất lúa 10

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất lúa 14

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất lúa ở một số nước trên thế giới và Việt Nam 18

1.2.1 Tình hình phát triển sản xuất lúa ở một số nước trên thế giới 18

1.2.2 Thực trạng phát triển sản xuất lúa ở Việt Nam 24

1.4 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 31

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33

Trang 7

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 33

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34

2.1.3 Những thuận lợi khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình 36

2.2 Nội dung nghiên cứu 37

2.3 Phương pháp nghiên cứu 38

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 38

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 39

2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 39

2.4 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 40

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 Thực trạng phát triển sản xuất lúa tại huyện Nho Quan 43

3.1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Nho Quan giai đoạn 2016 - 2018 43 3.1.2 Kỹ thuật sản xuất lúa của huyện Nho Quan 45

3.1.3 Tình hình tiêu thụ lúa huyện Nho Quan giai đoạn 2016 - 2018 45

3.2 Thực trạng phát triển sản xuất lúa ở 3 xã điều tra tại huyện Nho Quan 48

3.2.1 Biến động quy mô diện tích lúa 48

3.2.2 Năng suất và sản lượng lúa trong những năm gần đây 50

3.2.3 Xu thế áp dụng khoa học kỹ thuật trong phát triển sản xuất lúa 52

3.3 Hiệu quả kinh tế trong phát triển sản xuất lúa tại các hộ điều tra 55

3.3.1 Hộ sử dụng các yếu tố đầu vào cho phát triển sản xuất lúa 55

3.3.2 Chi phí sản xuất của hộ 56

3.3.3 Thu nhập lúa qua các năm gần đây 58

3.3.4 Hiệu quả của lúa lúa tại huyện Nho Quan 59

3.3.5 Xu hướng chuyển dịch thị trường tiêu thụ sản phẩm lúa 61

3.3.6 Kết quả thăm dò ý kiến của nông dân về phát triển sản xuất lúa 63

3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển sản xuất lúa huyện Nho Quan 65

3.4.1 Ảnh hưởng trình độ của người sản xuất đến phát triển sản xuất lúa 65

3.4.2 Ảnh hưởng của công tác khuyến nông đến phát triển sản xuất lúa 66

3.4.3 Ảnh hưởng khâu sơ chế, bảo quản sau thu hoạch đến phát triển sản xuất lúa 66

Trang 8

3.4.4 Ảnh hưởng của biến động giá bán sản phẩm và thị trường tiêu thụ đến phát

triển sản xuất lúa 67

3.4.5 Ảnh hưởng của cơ chế, chính sách đến phát triển sản xuất lúa 68

3.4.6 Ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng đến phát triển sản xuất lúa 69

3.5 Những thành công và tồn tại trong việc phát triển sản xuất lúa 69

3.5.1 Những thành công 69

3.5.2 Những tồn tại và nguyên nhân 70

3.5.3 Những bài học kinh nghiệm cho phát triển sản xuất lúa trên địa bàn huyện Nho Quan 72

3.6 Định hướng và giải pháp phát triển sản xuất lúa tại huyện Nho Quan 72

3.6.1 Định hướng phát triển sản xuất lúa 72

3.6.2 Giải pháp phát triển sản xuất lúa 74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

1 Kết luận 79

2 Kiến nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Dự báo tình hình sản xuất lúa gạo thế giới đến năm 2030 15

Bảng 2.2 Tổng hợp sản lượng lúa Thế giới và Châu lục (2011- 2015) 19

Bảng 3.1 Tình hình sản xuất lúa của huyện Nho Quan giai đoan 2016 - 2018 43

Bảng 3.2 Hiện trạng bố trí cây trồng huyện Nho Quan Năm 2018 47

Bảng 3.3 Biến động diện tích lúa của khu vực điều tra từ giai đoạn 2016-2018 48

Bảng 3.4 Sự phát triển một số giống lúa chất lượng cao của huyện Nho Quan giai đoạn 2016-2018 49

Bảng 3.5 Biến động năng suất lúa của khu vực điều tra 50

Bảng 3.6 So sánh tốc độ phát triển năng suất lúa so với lúa thường 51

Bảng 3.7 Biến động sản lượng lúa của khu vực điều tra từ Năm 2016-2018 51

Bảng 3.8 Xu hướng sử dụng phân bón cho phát triển sản xuất lúa của huyện

Nho Quan 52

Bảng 3.9 Tỷ lệ nông dân bón phân đúng khuyến cáo cho lúa 53

Bảng 3.10 Tình hình tập huấn hỗ trợ kỹ thuật trong năm 2017-2018 54

Bảng 3.11 Hộ sử dụng các yếu tố đầu vào cho phát triển sản xuất lúa 55

Bảng 3.12 Chi phí sản xuất bình quân cho 1 ha sản xuất lúa của hộ 56

Bảng 3.13 Xu hướng chuyển dịch thu nhập của lúa 58

Bảng 3.14 Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của hộ 59

Bảng 3.15 So sánh hiệu quả sản xuất giữa các lúa khác tại huyện Nho Quan

năm 2018 60

Bảng 3.16 Tình hình tiêu thụ lúa ở các hộ điều tra qua 2 năm 2017-2018 62

Bảng 3.17 Xu hướng thay đổi liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa tại các hộ 62

Bảng 3.18 Cơ cấu tiêu thụ sản phẩm lúa tại các hộ điều tra 63

Bảng 3.19 Các khó khăn trong sản xuất lúa của hộ 64

Bảng 3.20 Kế hoạch phát triển sản xuất lúa và lúa đến năm 2025 trên địa bàn huyện Nho Quan 73

Bảng 3.21 Giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm gạo lúa lai 76

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SỸ

Họ và tên: Pham Hồng Sơn

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 8620115 Khóa học: 2017-2019

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Tâm

1 Tên luận văn

Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất lúa trên địa bàn huyện Nho Quan

2 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, dưới tác động của cạnh tranh, ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam cần phải nhanh chóng đạt đến trình độ sản xuất cao, sử dụng hiệu quả thành tựu mới của khoa học kỹ thuật để tăng năng suất chất lượng, giảm giá thành Vì lẽ đó, thâm canh tăng năng suất, nâng cao chất lượng nông sản luôn là phương châm chiến lược của nước ta trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng Chính vì vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng được những thành tựu mới nhất về sản xuất lương thực đã và đang được chính phủ quan tâm đầu tư

Huyện Nho Quan - với diện tích lúa gần 12.384 ha và hệ số sử dụng đất

là 2,5 lần - sản xuất bình quân trên 71.660 tấn lúa mỗi năm Đặc biệt, năm

2018, sản lượng lúa của huyện đạt đến 71.992 tấn là cao hơn so với năm

2016 Song, thu nhập bình quân của lao động nông thôn (kể cả lao động trồng lúa) của huyện năm 2018 chỉ khoảng 25,80 triệu đồng/người/năm, xấp xỉ 41% thu nhập bình quân đầu người của toàn huyện (62,72 triệu đồng) [6] Đó là hệ quả của việc sản xuất nông nghiệp bị lệ thuộc vào tự nhiên, giá đầu vào và đầu ra biến động thất thường, thiếu hệ thống bảo hiểm rủi ro nông nghiệp, hệ thống giao thông kém phát triển và đặc biệt là thiếu vốn Mặt khác, sự thiếu liên kết giữa nông hộ và doanh nghiệp tạo điều kiện để các tác nhân trung

Trang 11

gian (như “cò” lúa, thương lái và doanh nghiệp) thụ hưởng phần lớn lợi nhuận trong chuỗi giá trị lúa gạo thay vì nông hộ - người trực tiếp làm ra hạt lúa

Để góp phần tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân của những nhược điểm trên và làm sáng tỏ thêm nhận định của các nghiên cứu vừa đề cập, tác giả lựa

chọn “Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất lúa trên địa bàn huyện

Nho Quan” làm tên tiêu đề cho luận văn tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế

nông nghiệp của mình

3 Mục đích nghiên cứu

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa;

- Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các

hộ nông dân trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình;

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình;

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Kết quả nghiên cứu chính

Luận văn nghiên cứu về thực trạng phát triển sản xuất lúa trên địa bàn huyện Nho Quan Luận văn đã nghiên cứu được kết quả sản xuất lúa của hộ điều tra, tìm ra được các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất lúa Đồng thời đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản

Trang 12

xuất lúa và thúc đẩy phát triển sản xuất lúa trên địa bàn huyện Từ đó, vận dụng vào thực tiễn phù hợp đối với các hộ sản xuất lúa trên địa bàn huyện

6 Kết luận chủ yếu

Phát triển sản xuất lúa ở huyện Nho Quan là một việc làm hết sức cần thiết cấp bách, có ý nghĩa thực tiễn to lớn, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Ninh Bình trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện nói riêng và tỉnh nói chung

Việc triển khai đề án phát triển sản xuất lúa trên cả nước và tỉnh Ninh Bình là cơ sở để giúp huyện Nho Quan để thúc đẩy phát triển sản xuất lúa đạt hiệu quả kinh tế cao

Để phát triển sản xuất lúa ngày càng phát triển bên cạnh sự chủ động tích cực, tự thân vận động của mỗi hộ sản xuất cần tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chỉ đạo của các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; chính sách hỗ trợ tích tụ ruộng đất, tạo thành vùng sản xuất lớn để theo hướng hữu cơ; chính sách về đất đai; tài chính - tín dụng; xúc tiến thương mại; ứng dụng khoa học công nghệ; tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho các hộ sản xuất lúa

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, dưới tác động của cạnh tranh, ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam cần phải nhanh chóng đạt đến trình độ sản xuất cao, sử dụng hiệu quả thành tựu mới của khoa học kỹ thuật để tăng năng suất chất lượng, giảm giá thành Vì lẽ đó, thâm canh tăng năng suất, nâng cao chất lượng nông sản luôn là phương châm chiến lược của nước ta trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng Chính vì vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng được những thành tựu mới nhất về sản xuất lương thực đã và đang được chính phủ quan tâm đầu tư

Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước Cây lúa gắn liền với quá trình phát triển của dân tộc Cây lúa ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong sự phát triển của đất nước và việc sản xuất lúa gạo cho đến nay vẫn là nền kinh tế chủ yếu Sản lượng lúa cả năm 2018 ước tính đạt 42,84 triệu tấn, giảm 318,3 nghìn tấn so với năm 2017 do cả diện tích và năng suất đều giảm so với năm trước Diện tích lúa cả năm 2018 ước tính đạt 7,72 triệu ha, giảm 26,1 nghìn ha so với năm 2016; năng suất lúa cả năm đạt 55,5 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha Theo Bộ Công Thương, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 11 tháng năm 2017 đạt 5,52 triệu tấn, với trị giá 2,49 tỷ USD, tăng 24,1% về lượng và 24,9% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái

Dự báo trong tháng cuối cùng của năm 2017, xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ đạt khoảng 400.000 - 450.000 tấn, đưa tổng khối lượng gạo xuất khẩu trong năm 2017 lên mức 5,9 - 6 triệu tấn gạo, tăng 1,1 - 1,2 triệu tấn gạo so với năm 2016 Bên cạnh việc nâng cao sản lượng sản xuất lúa, để cây lúa tồn tại được, phát triển và đứng vững trên thương trường thì vấn đề hiệu quả kinh tế (HQKT) phải được đặt lên hàng đầu Qua mỗi thời kỳ sản xuất kinh doanh phải phân tích tìm ra những thuận lợi, khó khăn những vấn đề còn tồn tại, từ đó có được hướng khắc phục tổ chức sản xuất, trong chu kỳ sản xuất sao cho mang lại HQKT cao nhất [19] Trong đó, với vị trí trung tâm (cả về kinh tế, công nghiệp, thương mại, dịch vụ lẫn sản xuất nông nghiệp), huyện Nho Quan đã có đóng góp quan trọng vào thành tựu này

Trang 14

Thật vậy, Huyện Nho Quan - với diện tích lúa gần 12.384 ha và hệ số sử dụng đất là 2,5 lần - sản xuất bình quân trên 71.660 tấn lúa mỗi năm Đặc biệt, năm

2016, sản lượng lúa của huyện đạt đến 71.992 tấn là cao hơn so với năm 2016 và năm 2018 Song, thu nhập bình quân của lao động nông thôn (kể cả lao động trồng lúa) của huyện năm 2018 chỉ khoảng 25,80 triệu đồng/người/năm, xấp xỉ 41% thu nhập bình quân đầu người của toàn huyện (62,72 triệu đồng) [6].Đó là hệ quả của việc sản xuất nông nghiệp bị lệ thuộc vào tự nhiên, giá đầu vào và đầu ra biến động thất thường, thiếu hệ thống bảo hiểm rủi ro nông nghiệp, hệ thống giao thông kém phát triển và đặc biệt là thiếu vốn Mặt khác, sự thiếu liên kết giữa nông hộ và doanh nghiệp tạo điều kiện để các tác nhân trung gian (như “cò” lúa, thương lái và doanh nghiệp) thụ hưởng phần lớn lợi nhuận trong chuỗi giá trị lúa gạo thay vì nông

hộ - người trực tiếp làm ra hạt lúa

Do tập quán, các nông hộ trồng lúa chú trọng số lượng hơn là chất lượng nên gieo trồng đồng thời nhiều loại giống, vì vậy chất lượng hạt lúa không đồng đều Việc thu mua, vận chuyển và bảo quản sau thu hoạch yếu kém, gây hao hụt lớn và ảnh hưởng đến chất lượng hạt lúa, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, hệ lụy là gạo thành phẩm khó tiếp cận được các thị trường nước ngoài với thu nhập cao Hiện tượng đó làm giảm hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở Ninh Bình nói chung và nông hộ ở huyện Nho Quan nói riêng Do đó, việc phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa là rất cần thiết nh m giúp các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý

và người sản xuất thấy được mối quan hệ mật thiết giữa (giá trị) sản lượng với các yếu tố đầu vào và đầu ra để có chính sách phù hợp Do vị trí huyện Nho Quan là huyện có diện tích rừng nhiều trong đó có một phần là rừng Cúc Phương nên sự tương đồng trên nhiều phương diện (thổ nhưỡng, thị trường, tập quán và phương thức sản xuất) với các địa phương khác trong tỉnh nên chính sách hỗ trợ làm tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở Huyện Nho Quan cũng có thể được triển khai vận dụng ở các địa phương khác

Để góp phần tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân của những nhược điểm trên và

làm sáng tỏ thêm nhận định của các nghiên cứu vừa đề cập, tác giả lựa chọn “Thực

Trang 15

trạng và giải pháp phát triển sản xuất lúa trên địa bàn huyện Nho Quan” làm tên

tiêu đề cho luận văn tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế nông nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa;

- Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình;

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các

hộ nông dân;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình;

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến sản xuất lúa của hộ nông dân trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất lúa

của hộ nông dân trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

Về không gian: Đề tài nghiên cứu phát triển trồng lúa trên địa bàn huyện Nho

Trang 16

- Luận văn xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất lúa trên địa bàn huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình

- Luận văn phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất lúa trên địa bàn huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình

- Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực trạng, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng, luận văn đã đề xuất các quan điểm, định hướng và những giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất lúa trên địa bàn huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình đến năm 2025 và tầm nhìn 2030

4.3 Ý nghĩa của luận văn

- Kết quả của đề tài luận văn sẽ là tài liệu tham khảo có luận cứ khoa học vững chắc giúp cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, các chủ hộ

và những người quan tâm đến đến phát triển sản xuất lúa trên địa bàn huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình

- Luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích trong giảng dạy tại các trường chuyên nghiệp và là tài liệu tham khảo của các sinh viên, học viên và các nghiên cứu sinh về phát triển sản xuất lúa

Trang 17

CHƯƠNG 1

CỞ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất lúa

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về phát triển sản xuất lúa

1.1.1.1 Khái niệm về phát triển

Phát triển là một quá trình chuyển biến của xã hội, là chuỗi những chuyển biến

có mối quan hệ hữu cơ qua lại Sự tồn tại và phát triển của xã hội hôm nay là sự kế thừa có chọn lọc những di sản của quá khứ [3]

Những năm gần đây nhiều tác giả đã đưa ra những lý thuyết khác nhau về sự phát triển Theo Gerard Crellet thì “Phát triển là quá trình một xã hội đạt đến thoả mãn các nhu cầu mà xã hội đó coi là cơ bản” [3] Tác giả Raaman Weitz cho rằng

“Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng mức sống của con người

và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” Với Ngân hàng Thế giới, phát triển với ý nghĩa rộng hơn bao gồm những thuộc tính

có liên quan đến hệ thống giá trị của con người đó là: “Sự bình đẳng hơn về

cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân ”

Tóm lại, tuy có nhiều quan điểm khác nhau về phát triển nhưng có thể hiểu phát triển là việc tạo điều kiện cho con người sinh sống ở bất cứ đâu đều thoả mãn các nhu cầu sống của mình, đảm bảo chất lượng cuộc sống, có môi trường sống lành mạnh, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được đảm bảo an ninh, an toàn, không có bạo lực, không có chiến tranh Nói cách khác phát triển là việc nâng cao hạnh phúc của người dân, bao hàm nâng cao các chuẩn mực sống, cải thiện các điều kiện giáo dục, sức khoẻ, sự bình đẳng về cơ hội; đảm bảo các quyền về chính trị và công dân là những mục tiêu rộng hơn của phát triển [3]

1.1.1.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển

* Tăng trưởng

Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra [25]

Trang 18

Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng mức tăng lên của GNP, GDP Mức tăng đó thường đứng trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hay tính bình quân theo đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ trước đó

Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai đoạn nhất định sẽ cho ta khái niệm tốc độ tăng trưởng Đó là sự tăng thêm sản lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, có 2 chỉ tiêu cơ bản:

- Tổng thu nhập: phản ánh một cách khái quát nhất quy mô sản lượng hàng hoá và dịch vụ đã làm ra trong năm gồm:

+ Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ mà tất cả công dân một nước sản xuất ra không phân biệt sản xuất được thực hiện ở trong nước hay ngoài nước trong một thời kỳ nhất định

+ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ

hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (dù nó

thuộc về người trong nước hay người ngoài nước) trong một thời gian nhất định

Tổng sản phẩm quốc dân được xác định theo phương trình kinh tế sau đây: GNP = GDP + thu nhập tài sản ròng

Thu nhập tài sản ròng bằng tổng thu về thu nhập nhân tố từ nước ngoài trừ

đi tổng thu về thu nhập nhân tố cho nước ngoài

- Chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người: thông thường sử dụng chỉ tiêu GNP bình quân đầu người, GDP bình quân đầu người (13)

*Phát triển

Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy

mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội

Phát triển kinh tế phản ánh sự vận động của nền kinh tế từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển kinh tế gồm có các chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế - xã hội

Trang 19

Các chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế - xã hội gồm: một số chỉ tiêu như chỉ tiêu

cơ cấu ngành trong GDP; chỉ tiêu về cơ cấu hoạt động ngoại thương; chỉ tiêu về

sự liên kết kinh tế; chỉ tiêu về mức tiết kiệm - đầu tư

Tăng trưởng là điều kiện, tiền đề cho phát triển Bởi vì, nền kinh tế có tăng trưởng thì mới có khả năng tăng ngân sách nhà nước; tăng thu nhập của dân

cư Nhờ có tăng trưởng kinh tế, Nhà nước mới có thể tăng đầu tư cho giáo dục, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, xây dựng kết cấu hạ tầng, giải phóng sức sản xuất

và có điều kiện giải quyết các vấn đề xã hội Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần

để làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội và tác động trực tiếp đến sự hình thành

cơ cấu kinh tế Ngược lại sự tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế sẽ là động lực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng

Tóm lại, tăng trưởng có thể là điều kiện cần đối với sự phát triển, nhưng nó chưa phải là điều kiện đủ Tăng trưởng mà không phát triển sẽ dẫn đến suy thoái cả

về kinh tế và xã hội, ngược lại phát triển mà không tăng trưởng là không tồn tại trong thực tế [13]

2.1.1.3 Khái niệm về sản xuất và phát triển sản xuất

* Sản xuất

Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội [22]

Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội Trong sản xuất con người phải đấu tranh với thiên nhiên, tác động lên những vật chất làm thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm và những của cải vật chất khác phục vụ cuộc sống

* Phát triển sản xuất

Phát triển sản xuất là bộ phận của phát triển, đó là sự sản xuất ngày

càng nhiều sản phẩm, năng suất lao động cao hơn, ổn định hơn, giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, cuối cùng mang lại lợi nhuận cao hơn Phát triển sản xuất gồm cả phát triển theo chiều rộng và chiều sâu [22]

Trang 20

Phát triển sản xuất theo chiều rộng: Phát triển sản xuất bằng cách tăng

số lượng lao động, khai thác thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động trên cơ sở kỹ thuật như trước Trong điều kiện một nước kinh tế chậm phát triển, những tiềm năng kinh tế chưa được khai thác và sử dụng hết, nhất là nhiều người lao động chưa có việc làm thì phát triển sản xuất theo chiều rộng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, nhưng đồng thời phải coi trọng phát triển sản xuất theo chiều sâu Tuy nhiên, phát triển sản xuất theo chiều rộng có những giới hạn, mang lại hiệu quả kinh

tế - xã hội thấp [22]

Phát triển sản xuất theo chiều sâu: Phát triển sản xuất chủ yếu nhờ đổi

mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kĩ thuật, cải tiến

tổ chức sản xuất và phân công lại lao động, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn nhân tài, vật lực hiện có Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trên thế giới ngày càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin học, công nghệ mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng chuyển sang phát triển sản xuất theo chiều sâu Kết quả phát triển sản xuất theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu người

Ở Việt Nam và một số nước chậm phát triển, do điều kiện khách quan

có tính chất đặc thù, kinh tế chậm phát triển, nên phát triển kinh tế theo chiều rộng vẫn còn có vai trò quan trọng Nhưng để nhanh chóng khắc phục sự lạc hậu, đuổi kịp trình độ phát triển chung của các nước trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực, thì phát triển sản xuất theo chiều sâu phải được coi trọng và kết hợp chặt chẽ với phát triển theo chiều rộng trong phạm vi cần thiết

và điều kiện có cho phép

Trang 21

2.1.1.4 Khái niệm về tiêu thụ

- Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị cũng như giá trị sử dụng của hàng hóa Qua quá trình tiêu thụ thì hàng hóa chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị và vòng chu chuyển vốn được hình thành [24]

- Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như người sản xuất

- Kênh tiêu thụ là một tập hợp bao gồm nhiều thành phần có thể là một công ty, một doanh nghiệp hay một cá nhân tự gánh vác việc chuyển giao cho

ai đó quyền sở hữu đối với một hàng hoá cụ thể hay dịch vụ nào đó trên con đường từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng [24]

*Thị trường tiêu thụ sản phẩm

Doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa phải thông qua thị trường, thị trường được coi là một nơi mà ở đó người bán và người mua tự tìm đến với nhau để thỏa mãn những nhu cầu của hai bên [12]

Chức năng của thị trường: chức năng thừa nhận hoặc chấp nhận hàng hóa, dịch vụ; chức năng thực hiện; chức năng điều tiết hoặc kích thích sản xuất

và tiêu dùng xã hội; chức năng thông tin

Các quy luật của thị trường: quy luật giá trị; quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh; quy luật giá trị thặng dư

Các loại kênh tiêu thụ:

- Kênh tiêu thụ trực tiếp: Đ ây là kênh mà nhà sản xuất bán trực tiếp hàng hoá cho người tiêu dùng cuối cùng

Sơ đồ: Người sản xuất -> người tiêu dùng

Ưu điểm: Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hoá, thu được lợi nhuận cao

Nhược điểm: Chu chuyển vốn chậm, quản lý phức tạp

- Kênh tiêu thụ gián tiếp

+ Kênh một cấp: Bao gồm người trung gian gần nhất và người tiêu dùng cuối cùng Trên thị trường trung gian này thường là người bán lẻ

Sơ đồ: Người sản xuất > Người bán lẻ > Người tiêu dùng

Trang 22

Ưu điểm: ngoài những ưu điểm của kênh trực tiếp thì kênh này còn giải phóng cho người sản xuất chức năng lưu thông để họ tập trung nguồn lực vào sản xuất

Nhược điểm: Quy mô lưu thông hàng hoá còn thấp chỉ phù hợp với doanh nghiệp có quy mô nhỏ lẻ, sản xuất hàng hoá đơn giản trong thời gian và không gian nhất định

+ Kênh hai cấp: Bao gồm hai người trung gian trên thi trường đó là người bán buôn và người bán lẻ

Sơ đồ: Người sản xuất -> Người bán buôn -> Người bán lẻ -> Người tiêu dùng

Ưu điểm: Tổ chức kênh chặt chẽ, quy mô hàng hoá lớn,vòng quay vốn nhanh Nhược điểm: Rủi ro xảy ra khá lớn, việc giám sát khách hàng và giá cả rất khó khăn đồng thời doanh nghiệp ít năng động

+ Kênh ba cấp: Kênh này bao gồm ba trung gian đó là: Cửa hàng đại lý, người bán buôn, người bán lẻ

Sơ đồ: Người sản xuất -> cửa hàng đại lý -> người bán buôn > người bán lẻ -> người tiêu dùng cuối cùng [16]

1.1.2 Những vấn đề cơ bản về phát triển sản xuất lúa

a Nội dung phát triển sản xuất lúa

Phát triển sản xuất lúa là quá trình tổng hợp, kết hợp các yếu tố chính sách, khoa học kỹ thuật, vốn, điều kiện tự nhiên đất đai, khí hậy, con người nhằm tăng diện tích, năng suất, sản lượng lúa ở mức tốt nhất, phục vụ cho nhu cầu bữa ăn hàng ngày của con người, cho chăn nuôi và cho ngành nghề khác [20]

Phát triển sản xuất lúa có thể diễn ra theo hai xu hướng là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu

Phát triển sản xuất lúa theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng lúa bằng cách mở rộng diện tích đất trồng, với cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ PTSX không đổi, sử dụng kỹ thuật giản đơn, kết quả PTSX lúa đạt được theo chiều rộng chủ yếu nhờ tăng diện tích và độ phì nhiêu của đất đai và sự thuận lợi của điều kiện

tự nhiên

Trang 23

Phát triển sản xuất lúa theo chiều rộng bao gồm mở rộng diện tích trồng lúa trong cả vùng, có thể bao gồm việc tăng số hộ trồng lúa hoặc tăng quy mô diện tích trồng lúa của mỗi hộ nông dân hoặc cả hai

Phát triển sản xuất lúa theo chiều sâu bao gồm đầu tư nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng PTSX lúa theo chiều sâu là làm tăng sản lượng và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trên 1 đơn vị diện tích bằng cách đầu tư thêm giống, vốn, kỹ thuật và lao động [20]

Phát triển sản xuất lúa theo chiều sâu bao gồm:

- Về giống lúa: có năng suất cao, thích hợp với vùng sản xuất cho chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh

- Về kỹ thuật canh tác: cây lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, sinh khối nhanh, khối lượng lớn nên yêu cầu dinh dưỡng khá cao do vậy trong quá trình canh tác luôn phải chú ý đến công đoạn trồng và chăm sóc lúa

- Về kỹ thuật thu hoạch: thu hoạch là khâu quan trọng cuối cùng trên đồng ruộng Đề có năng suất và chất lượng sản phẩm cao, thì kỹ thuật thu hoạch là hết sức quan trọng nhất là việc xác định thời điểm thu hoạch lúa thích hợp

- Về kỹ thuật - công nghệ bảo quản: trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng - khoa học kỹ thuật trên thế giới ngày càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin học, công nghệ sinh học là yêu cầu tất yếu thúc đẩy sản xuất lúa chuyển sang PTSX theo chiều sâu Nhằm đạt được các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm dần hàm lượng vật tư và tăng hàm lượng chất xám, năng cao chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập cho người dân

Vì vậy, PTSX lúa phải thực hiện đồng thời nhiều nội dung khác nhau, trong đó tập trung vào các nội dung chủ yếu là phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, phương thức khai thác và sử dụng các yếu tố nguồn lực, tổ chức các hoạt động dịch vụ đầu vào, đầu ra cho PTSX lúa Do đó khi đánh giá sự phát triển sản xuất lúa chủ yếu tập trung xem xét kết quả tạo ra của quá trình sản xuất như quy mô diện tích, sản lượng, giá trị sản xuất, doanh thu Phân tích sự tăng trưởng,

Trang 24

chuyển dịch trong nội bộ của các yếu tố đó theo thời gian, đồng thời đánh giá chất lượng tăng trưởng bằng các hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường

b Các tác nhân tham gia trong phát triển sản xuất lúa

* Nông dân: Là đối tượng chính hiện nay sản xuất và cung cấp lúa làm lương thực và cho tiêu dùng chế biến Sự gia tăng dân số là sức ép to lớn đối với sản xuất nông nghiệp trong việc cung ứng đủ lương thực, thực phẩm cho toàn

xã hội Vì vậy, vai trò của nông dân trong việc PTSX lúa sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu lương thực cho toàn xã hội và làm mặt hàng nâng cao năng lực xuất khẩu cho Việt Nam Bên cạnh đó với 74,8% số dân sống bằng nông nghiệp việc PTSX lúa còn cung cấp nguyên liệu và sức lao động cho các ngành nông nghiệp và dịch vụ; tăng thu nhập cho nông dân, hạn chế việc di dân tự phát từ nông thôn ra thành thị trong thời vụ nông nhàn; PTSX lúa còn giúp bảo vệ và làm giàu môi trường đất, môi trường sinh thái và bảo tồn nền văn hoá bản sắc dân tộc [21]

* Tư thương: Họ là các nhà thu gom lúa tại địa phương, bán cho các doanh nghiệp hoặc bán cho người tiêu dùng hoặc các hàng ăn uống trong nước

Họ cũng là đầu tư ban đầu hay cung cấp đầu vào cho hộ nông dân như vốn, đạm, lân, kali, để hộ nông dân phát triển sản xuất, mở rộng diện tích; có thể nói hiện nay nhà buôn, thương lái là thành phần của đầu ra trong PTSX lúa tại địa phương

* Doanh nghiệp: Đứng đầu là các doanh nghiệp Nhà nước là lực lượng chủ đạo trong lĩnh vực quan trọng đặc biệt là việc tiêu thụ và chế biến sản phẩm từ lúa Một số doanh nghiệp trong lĩnh vực này được đầu tư và tạo cơ chế thuận lợi cho nông dân trong việc hình thành vùng nguyên liệu, nhằm gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa Vì muốn nông dân mở rộng diện tích sản xuất chỉ khi việc tiêu thụ thuận lợi và giá cả hợp lý Do vậy, doanh nghiệp có vai trò ảnh hưởng rất lớn đến quá trình PTSX lúa trong khi các bộ ngành muốn xuất khẩu gạo sang một số nước Châu Âu và làm các sản phẩm chế biến từ gạo [23]

Trang 25

* Nhà nước: Với tư cách định hướng và hỗ trợ cơ bản cho quá trình phát triển toàn diện và lâu dài, đồng thời phối hợp chỉ đạo các hoạt động của nông dân, của các tổ chức, doanh nghiệp trong PTSX lúa Do vậy, vai trò của nhà nước

có ảnh hưởng rất lớn trong việc PTSX lúa ở các nội dung sau:

+ Hoạch định chiến lược và chính sách trong phát triển lúa trước mắt cũng như lâu dài trong cả nước Phát triển hệ thống thông tin thị trường, tạo cơ chế,

hỗ trợ đối với người sản xuất lúa, một vấn đề quan trọng đó là với tư cách người mua, người cung cấp và người chủ động tác động hạn chế tiêu cực của nền kinh tế thị trường

+ Xây dựng khung pháp lý ngân sách quốc gia và tài chính, bằng nhiều chính sách cụ thể khuyến khích các công ty trong và ngoài nước đầu tư vào PTSX lúa, áp dụng chính sách giảm thuế, bảo lãnh tín dụng…

+ Thúc đẩy nghiên cứu khoa học và công nghệ nhất là công nghệ sinh học, công nghệ tự động hoá, công nghệ thông tin…

+ Đ ầu tư trực tiếp vốn ngân sách cho nông thôn trong đó có hệ thống tưới tiêu, hạ tầng cơ sở được đầu tư và kiên cố hoá, đầu tư, hỗ trợ phương tiện bảo quản lúa

+ Phát triển nguồn nhân lực: thông qua việc chuyển giao công nghệ mới và có các kỹ sư tham gia vào công tác khuyến nông nhằm giúp hộ nông dân sản xuất lúa trên địa bàn

c Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển sản xuất lúa

* Giải quyết công ăn việc làm cho phần lớn lực lượng lao động ở khu vực nông thôn

Trong bài báo mang tiêu đề (headline) "Rice: Why It's So Essential for Global Security and Stability" (Lúa gạo: Tại sao lại cần thiết cho sự an toàn và ổn định của thế giới), Ronald Cantrell, Tổng giám đốc (Director General) Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (International Rice Research Institute

- IRRI) đã đưa ra một loạt những lý do chính để trả lời cho vấn đề này Theo Cantrell, không một hoạt động kinh tế nào nuôi sống nhiều người và hỗ trợ nhiều gia đình bằng việc sản xuất lúa gạo Lúa gạo đóng vai trò cốt lõi trong

Trang 26

việc phát triển của rất nhiều quốc gia nhưng cũng gây nhiều tác động đến môi trường của chúng ta vì đất trồng lúa chiếm 11 phần trăm đất trồng trọt của trái đất Việc sản xuất lúa gạo nuôi sống gần một nửa hành tinh mỗi ngày, cung cấp hầu hết thu nhập chính cho hàng triệu hộ gia đình ở vùng quê nghèo khổ và lúa gạo cũng có thể lật đổ các chính quyền [23]

d Sản xuất lúa gạo là ngành đóng vai trò to lớn vào thành tựu phát triển kinh tế xã hội trong nhiều năm qua

Trong 10 năm gần đây, 2000 - 2015 sản lượng lúa gạo liên tục tăng lên, từ 31,7 triệu tấn tăng lên 38,2 triệu tấn, sản lượng lúa bình quân đầu người tăng từ

414 kg/người lên 442kg/người Vì vậy, an ninh lương thực quốc gia không ngừng được tăng cường, tỷ lệ người thiếu lương thực giảm nhanh chóng từ 15,1% xuống còn 3,2%, góp phần quan trọng ổn định kinh tế - xã hội [22] Ngoài đáp ứng yêu cầu an ninh lương thực quốc gia, sản xuất lúa gạo còn đóng góp nhiều vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước Từ năm 2000 đến nay gạo luôn nằm trong nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước bao gồm dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản và gạo

Đạt được những thành quả to lớn về sản xuất lúa gạo như trên trong đó có

sự đóng góp to lớn của sản xuất lúa lai Lúa lai sản xuất ra có tới 70% được người dân để lại để ăn, 20% bán đi để lấy tiền mua giống, phân bón, còn lại 10%

để dùng chăn nuôi [22] Như vậy, có thể khẳng định rằng gạo lúa chât lượng cao ở nước ta hiện nay có chất lượng để ăn là khá, là nguồn lương thực của hàng triệu người Việt Nam

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất lúa

a) Nhu cầu thị trường

Theo dự báo của FAO, mức tăng sản lượng và nhu cầu về lương thực và các mặt hàng nông sản sẽ tăng bình quân 2%/năm giai đoạn 2005 - 2015 Tuy nhiên, nếu tính bình quân đầu người, sản lượng và tiêu dùng chỉ tăng khoảng 0,7%/năm Đối với các nước đang phát triển, sản lượng và tiêu thụ các mặt hàng nông sản chủ yếu bình quân đầu người dự báo tăng 1,4%/năm Dự báo nhập khẩu hàng nông sản của các nước đang phát triển sẽ đạt 190,5 tỷ USD vào năm 2015 [22]

Trang 27

Theo FAO, dân số thế giới sẽ tăng lên từ 6,1 tỷ ở năm 2000 lên 7,2 tỷ năm

2015 và 8,3 tỷ vào năm 2030, tốc độ tăng 1,1 % so với 1,7% trong 30 năm gần đây Vì vậy tốc độ tăng nhu cầu lương thực, thực phẩm cũng giảm từ 2,2% trong

30 năm qua xuống 1,5% vào năm 2030 Tuy nhiên, nhu cầu lương thực vẫn tăng nhanh hơn sản xuất ở các nước đang phát triển, và các nước này sẽ phải nhập lương thực nhiều hơn, do đó các nước xuất khẩu vẫn có thể gia tăng sản lượng Điều này sẽ làm tăng đáng kể nhu cầu tiêu dùng lương thực thực phẩm, trong đó

có gạo Do đó, có thể thấy rằng thị trường thế giới đang tạo ra cơ hội cho lúa gạo Việt Nam đang là thế mạnh trong giai đoạn hiện nay Thị trường gạo đang đứng trước áp lực leo thang về giá trong bối cảnh nguồn cung gạo toàn cầu thắt chặt

Sự gia tăng này cho thấy nguồn cung gạo tại một số nước xuất khẩu lớn bị thắt chặt trong khi nhu cầu nhập khẩu gạo không giảm FAO dự báo về năng suất và diện tích sản xuất lúa của thế giới và vùng Đông Á, Đông Nam Á như sau:

Bảng 1.1 Dự báo tình hình sản xuất lúa gạo thế giới đến năm 2030

Chỉ tiêu Vùng 2020 2030

Sản lượng (triệu tấn) Thế giới 1364,80 1550,72

Đông Á và Đông Nam Á 387,6 418,4

Diện tích (Triệu ha) Thế giới 324,2 327,8

Đông Á và Đông Nam Á 83,0 80,0

Năng suất (tấn/ha) Thế giới 4,21 4,73

Đông Á và Đông Nam Á 4,67 5,23

Nguồn: FAO, 2016

Nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao về chủng loại và chất lượng sản phẩm ở các thành phố như: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh Sự xuất hiện một thị trường mới về gạo cao cấp ở thị trường trong nước và yêu cầu tăng khả năng cạnh tranh quốc tế với gạo chất lượng đã đặt ra những thách thức mới cho sản xuất lúa gạo của Việt Nam

b) Điều kiện tự nhiên

Sinh trưởng và phát triển của cây trồng đều phụ thuộc vào những quy luật nhất định, các quy luật này lại chịu sự khống chế bởi điều kiện thiên nhiên phức tạp Do

Trang 28

vậy, điều kiện tự nhiên của vùng sản xuất có ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng sản phẩm lúa Đất, nước, khí hậu, thời tiết, cây trồng có mối quan hệ khăng khít với nhau bằng những quy luật chặt chẽ, phức tạp Vì vậy chúng ta cần phải hiểu và nắm chắc các quy luật đó để vận dụng chúng vào trong sản xuất lúa

c) Giống

Giống cây trồng là tiền đề cho sự phát triển ngành trồng trọt, là điều kiện quan trọng để tăng quy mô cả về sản lượng và chất lượng lương thực Giống có vị trí đặc biệt quan trọng chi phối đến nhiều biện pháp kỹ thuật và hiệu quả kinh doanh của ngành nông nghiệp Để có được giống tốt, cần giải quyết các yêu cầu sau:

- Tổ chức lai tạo chọn lọc giống, tạo ra nguồn giống có năng suất, chất lượng, thích nghi được với điều kiện tự nhiên và sản xuất cụ thể Tổ chức quản lý tốt các nguồn gen gốc làm cơ sở cho sự lai tạo các giống lúa chất lượng

- Xây dựng một cơ cấu giống hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế của từng khu vực, địa phương

- Xây dựng một hệ thống giống quốc gia, tăng cường đưa các giống mới

có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp vào sản xuất đại trà

d) Vật tư, phân bón

Trước những năm 70 của thế kỷ XX, phân bón được sử dụng chủ yếu là các loại phân chuồng, phân rác, phân xanh Từ khi bắt đầu cuộc "Cách mạng xanh" đến nay, với các cơ cấu cây trồng mới; giống mới (đặc biệt là các giống lai); hệ thống tưới tiêu được cải thiện; khả năng cung ứng phân bón, thuốc BVTV được tăng cường Đặc biệt sau khi một số điều trong Luật đất đai được sửa đổi (tháng 12/l998), sản xuất nông nghiệp của nước ta đã đi theo hướng thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất, chất lượng nông sản cho phù hợp với yêu cầu của thị trường

e) Quy trình kỹ thuật Trong sản xuất nông nghiệp, mỗi loại giống lúa khác

nhau có khả năng kháng sâu - bệnh khác nhau và khả năng thích nghi khác nhau Thậm chí cùng một loại giống các giai đoạn sinh trưởng, phát dục khác nhau thì nhu cầu dinh dưỡng khác nhau Vì vậy, với mỗi loại cần có các quy trình kỹ thuật sản xuất riêng phù hợp với đặc điểm sinh trưởng phát dục từng giai đoạn, khả năng thích nghi và sức chống chịu của chúng theo mục đích sản xuất của con người [22]

Trang 29

f) Điều kiện kinh tế - xã hội

* Chính sách liên quan đến tiêu thụ, phát triển nông sản hàng hoá

Trong quá trình đổi mới (40 năm), nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đã đạt được thành tựu đáng kể trong sản xuất nông nghiệp, có tác động lớn đến thị trường tiêu thụ nông lâm sản Cải cách về luật pháp, chính sách của Chính phủ được coi là có vai trò đóng góp quan trọng hàng đầu cho thành tựu này

Chính sách “khoán 10” với việc công nhận hộ gia đình là đơn vị sản xuất tự chủ là động lực mạnh nhất giải phóng sức sản xuất, khuyến khích nông dân yên tâm đầu tư sức người, sức của vào phát triển sản xuất Luật đất đai năm 1993 trao quyền

sử dụng đất cho nông dân Với các lần sửa đổi năm 2001 và năm 2003, Luật đã tạo hành lang pháp lý ngày càng thông thoáng (nới rộng các quyền sử dụng đất như chuyển, nhượng, cho thuê, cầm cố, thế chấp ), tạo điều kiện cho việc tập trung, tích

tụ đất cho sản xuất trang trại, sản xuất quy mô lớn [22]

* Lao động

Số lượng, chất lượng lao động, cơ cấu lao động, đầu tư nhiều hay ít, phù hợp hay không cũng ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển sản xuất lúa theo hướng hàng hoá, đặc biệt là chất lượng lao động như: trình độ hiểu biết, tay nghề, vận dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý kinh tế… Do vậy, để phát triển lúa hàng hoá cần nâng cao dân trí, bồi dưỡng và đào tạo cán bộ, công nhân lành nghề cả về kỹ thuật - quản lý kinh tế, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhằm phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá bền vững

* Giá cả đầu vào, đầu ra

Việc lựa chọn và phối hợp các yếu tố đầu vào cũng như việc xây dựng thị trường đầu ra với giá cả phù hợp là việc làm cần cân nhắc tính toán kỹ khi xây dựng phương án sản xuất Vì giá cả các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản phẩm đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế

* Phong tục tập quán sản xuất

Mỗi vùng, khu vực địa phương, mỗi dân tộc có phong tục tập quán, có nhu cầu đời sống văn hoá khác nhau, tập tục sản xuất khác nhau Những phong tục tập quán từng địa phương, từng khu vực sẽ ảnh hưởng nhất định đến phát triển sản xuất ngành trồng lúa tại địa phương, khu vực đó Vì thế, việc đầu tư phát triển sản xuất

Trang 30

cho một khu vực, địa phương nào đó, ta cần tính đến phong tục tập quán và văn hoá của địa phương [21]

* Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất - giao thông

Cơ sở hạ tầng tác động nhiều mặt đến phát triển kinh tế xã hội trong đó có SXNN Ở những địa phương có hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng tốt, nó là cơ sở vững chắc, quan trọng cho phát triển kinh tế hàng hoá ở địa phương, là điều kiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân [21]

* Điều kiện kinh tế nông hộ

Theo Đào Thế Tuấn (1998), nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ và đã góp phần to lớn vào sự phát triển SXNN của nước ta trong những năm qua Tất cả những hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua nông hộ

Do vậy, quá trình chuyển đổi CCCT theo hướng SXHH thực chất là sự cải tiến SXNN ở các hộ nhằm đem lại thu nhập cho nông dân Do đó nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và PTNT [11]

* Tổ chức và hiệp hội

Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị diễn biến ngày càng nhanh dẫn đến những thay đổi về chức năng của Nhà nước, thì các hiệp hội có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trên lĩnh vực lưu thông hàng hoá Ở các nước kinh tế phát triển, khi nhà nước không có đủ năng lực cung cấp đầy đủ các dịch vụ công với chất lượng tốt và thị trường vận hành chưa hoàn thiện, thì các hiệp hội đóng vai trò phát triển kinh tế thông qua thúc đẩy thị trường hoạt động hiệu quả, trực tiếp cung cấp hàng hoá và dịch vụ Như vậy hiệp hội

có vai trò hết sức to lớn trong phát triền sản xuất theo hướng hàng hoá

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất lúa ở một số nước trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình phát triển sản xuất lúa ở một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Vai trò của sản xuất lúa

Cây lúa (Oryza sp Sativa) là một trong những cây lương thực chính, cung cấp

lương thực cho hơn 65% dân số trên thế giới, sản lượng gạo đạt cao nhất Hiện nay hơn 100 nước trên thế giới sản xuất lúa Châu Á là vùng sản xuất lúa gạo chủ yếu chiếm 90% về sản lượng cũng như về diện tích, là nơi có nền nông nghiệp cổ xưa nhất

Trang 31

gắn liền với canh tác lúa nước Cây lúa có khả năng thích ứng rộng với vùng trồng từ

530 vĩ Bắc đến 400 vĩ Nam [25]

Cây lúa luôn là cây lương thực chiếm tuyệt đối trong sản xuất nông nghiệp và là nhân tố quan trọng ổn định tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của đất nước

Trong những thập kỷ qua loài người đang đứng trước nguy cơ bùng nổ về dân số và theo FAO để đảm mức tiêu dùng lương thực ổn định, mức tăng sản lượng hàng năm gấp hai lần so với mức tăng dân số Đến năm 2030 toàn thế giới phải sản xuất lượng lúa gạo nhiều hơn khoảng 60% so với những năm gần đây để đáp ứng nhu cầu tăng dân số Trước tình hình đó cây lúa đã và đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học

Cây lúa là cây có thời gian sinh trưởng ngắn thường từ 4 - 5 tháng và phát triển qua 4 thời kì: thời kì nảy mầm, thời kì mạ, thời kì đẻ nhánh - làm đòng, thời kì trổ bông - làm hạt Mỗi giai đoạn phát triển có những đặc điểm sinh lý khác nhau, nhu cầu dinh dưỡng và điều kiện phát triển khác nhau Vì vậy, tùy vào điều kiện mà có các biện pháp chăm sóc hợp lý để cung cấp đầy đủ các điều kiện cần thiết giúp cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt đem lại năng suất cao[25]

Cũng như các cây trồng khác cây lúa chịu sự tác động lớn của các yếu tố điều kiện tự nhiên như: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, lượng mưa, lũ lụt, hạn hán … Nếu cấy lúa gặp điều kiện thuận lợi cây sẽ sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao Ngược lại nếu gặp thời tiết khắc nghiệt tùy theo mức độ khác nhau mà cây có thể bị chết hoặc còi cọc, sinh trưởng và phát triển chậm cho năng suất thấp

Bảng 2.2 Tổng hợp sản lượng lúa Thế giới và Châu lục (2011- 2015)

Đơn vị tính: Triệu tấn

Thế giới, Châu lục 2011 2012 2013 2014 2015

Toàn Thế giới 597.981 569.035 584.272 606.268 606.268 Châu Á 544.630 515.255 530.736 546.919 559.349 Châu Âu 3.650 3.210 2.260 2.468 2.340 Châu Đại Dương 1.164 1.218 1.457 1.574 1.344 Nam Mỹ 19.784 19.601 19.973 23.726 24.020 Bắc, Trung Mỹ 12.260 12.195 11.623 12.816 12.537

Châu Phi 16.493 17.556 18.223 18.765 18.851

Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2016

Trang 32

Trên thực tế năng xuất lúa được quyết định bởi tổng hòa rất nhiều các yếu tố: giống, kĩ thuật chăm sóc, điều kiện tự nhiên, yếu tố con người nhiều khi là do tác động của yếu tố thị trường Mỗi giống lúa khác nhau cho năng suất khác nhau

và cùng một giống lúa với biện pháp thâm canh khác nhau có thể cho năng suất khác nhau Mỗi giống lúa thích hợp với từng loại đất nhất định và cho năng xuất cao khi đảm bảo yêu cầu kĩ thuật Chính vì vậy mà cần thiết phải nắm rõ các đặc điểm của cây lúa để có biện pháp canh tác thích hợp Ngoài ra sản xuất lúa còn mang nặng tính thời vụ Thời gian gieo cấy và thu hoạch dồn dập đã gây sức ép lớn về lao động khi thời vụ đến nhưng sau khi thời vụ qua đi thì lao động lại nhàn rỗi nhiều Do đó phải có thêm nghề phụ để ổn định cuộc sống, giải quyết vấn đề lao động trong lúc nông nhàn

1.2.1.2 Tình hình phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa trên thế giới

Trên thế giới, lúa gạo chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt ở vùng châu

Á Ở châu Á, lúa gạo là món ăn chính giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu Phi hoặc lúa mì của dân châu Âu và Bắc Mỹ

Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 100 quốc gia trồng và sản xuất lúa gạo, trong đó tập trung nhiều ở các nước châu Á, 85% sản lượng lúa gạo trên thế giới phụ thuộc vào 8 nước ở châu Á: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc,

Ấn Độ, Inđônêxia, Banglades, Myanmar và Nhật Bản

Theo FAO (2017) tổng diện tích trồng lúa gạo trên toàn thế giới là 156,953 triệu ha, năng suất trung bình đạt 4,152 tấn/ha và tổng sản lượng lúa gạo là 681,53 triệu tấn Nước có năng suất đạt cao nhất là Nhật Bản với 6,55 tấn /ha, sau đó là Trung Quốc với 6,33 tấn/ha Tuy nhiên, xét về sản lượng thì Trung Quốc lại là nước có sản lượng lúa gạo cao nhất đạt 185,45 triệu tấn, sau đó là Ấn Độ với sản lượng đạt 129 triệu tấn Hàng năm tình trạng sản xuất và thương mại lúa gạo thế giới bị chi phối bởi các yếu tố chính sau đây:

- Lúa rất quan trọng với an ninh lương thực và liên hệ đến tình trạng nghèo khó trên thế giới Cho nên, nhiều nước đang phát triển đã thực hiện chính sách tự túc lúa gạo, với nhiều chính sách cho cả ngành sản xuất và thị trường tiêu thụ, nhưng chưa sánh kịp trợ cấp to lớn như các nước công nghiệp Hai nước Malaysia

Trang 33

và Trung Quốc, trái lại có chính sách tự túc giới hạn, khôn ngoan, theo thứ tự ở mức 65% và 90% nhu cầu nội địa

- Tuy khối lượng sản xuất lúa gạo thế giới rất lớn, chỉ sau lúa mì, nhưng số lượng giao dịch quốc tế tương đối nhỏ, chỉ khoảng 30- 34 triệu tấn gạo hay 6- 7% mỗi năm, do chính sách tự túc của nhiều nước Vì vậy, thị trường thế giới dễ bị dao động khi có những chuyển biến nhỏ trong ngành sản xuất

- Một yếu tố quan trọng khác gây ảnh hưởng rõ rệt đến sản xuất lúa gạo thế giới là khí hậu bất định mỗi năm Hiện nay, diện tích trồng lúa tưới tiêu chiếm gần 60% tổng diện tích trồng lúa, nhưng sản xuất đạt hơn 75% tổng sản lượng gạo thế giới Cho nên, ngành trồng lúa còn phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng thời tiết, nhất là các loại lúa trồng nhờ nước trời đang chiếm 40% tổng diện tích Theo thống kê về tình hình sản xuất lúa trong 50 năm qua, cứ bình quân 6-7 năm có một lần khí hậu bất lợi cho canh tác lúa thế giới

và gây xáo trộn giá cả thị trường

- Sản xuất lúa châu Á phản ánh đậm nét tình trạng lúa gạo thế giới và đóng vai trò quyết định tối hậu đến giá cả và giao dịch quốc tế, vì châu lục này hàng năm sản xuất và đồng thời tiêu thụ hơn 90% lúa gạo toàn cầu [17]

* Sản xuất

Mặc dù bị ảnh hưởng hiện tượng Niđa ở nhiều nơi châu Á như Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và bão ở Philippines từ tháng 8 năm ngoái nhưng sản lượng lúa toàn cầu đã vượt lên mức kỷ lục nhờ vụ mùa phát triển trong điều kiện khí hậu thuận hòa sau đó Cơ quan FAO ở Rome đã đánh giá năm 2011, sản lượng lúa đạt đến 721 triệu tấn hay 481 triệu tấn gạo, tăng 3% hay 24 triệu tấn so với 2010

Phần lớn sự gia tăng này do sản xuất thuận lợi tại Ấn Độ, Ai Cập, Bangladesh, Trung Quốc và Việt Nam vượt trội hơn số lượng thất thu từ Indonesia, Madagascar, Pakistan, Philippines và Thái Lan Sự gia tăng còn do diện tích trồng lúa thế giới tăng lên 164,6 triệu ha hay tăng 2,2% và năng suất bình quân cũng tăng nhẹ lên mức 4,38 tấn/ha tức tăng 0,8% trong hơn 1 năm vừa qua.[25]

Trang 34

Châu Á sản xuất 651 triệu tấn lúa (435 triệu tấn gạo) hay tăng 2,9% so với

2010 dù có nhiều trận bão lớn xảy ra ở Philippines và lũ lụt nặng nề kéo dài ở Campuchia, Lào, Myanmar và Thái Lan Sự gia tăng lớn này chủ lực do Ấn Độ và Trung Quốc, với sự tham gia ở mức độ thấp hơn từ Bangladesh, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pakistan và Việt Nam Riêng Việt Nam, Chính phủ tính toán sản xuất lúa đạt đến 42 triệu tấn lúa hay tăng 1 triệu tấn so với 2010, do diện tích trồng lúa thêm 200.000 ha đưa tổng số lên 7,7 triệu ha, năng suất đạt đến 5,5 tấn/ha.[25]

Ấn Độ thu hoạch 154,5 triệu tấn lúa hay tăng 11 triệu tấn so với năm

2010 nhờ mùa mưa thuận lợi, ngoại trừ vài tỉnh ở Tây Nam có hạn hán Trung Quốc sản xuất đến 203 triệu tấn lúa hay tăng 3%, đạt được mục tiêu tự túc trong suốt thập niên qua Thái Lan bị ngập lụt nặng ở cánh đồng trung tâm làm thiệt hại 1,6 triệu ha tương đương 4 triệu tấn lúa, sản xuất năm 2011 khoảng 32,2 triệu tấn lúa, thấp hơn 7% so với năm 2010 (34,5 triệu tấn) Hậu quả này làm ảnh hưởng mạnh đến xuất khẩu gạo năm 2012 của Thái Lan

Châu Phi sản xuất lúa khoảng 26 triệu tấn lúa (17 triệu tấn gạo), cao hơn 3% năm 2010 dù mưa bất thường, do được mùa ở Ai Cập, một nước sản xuất lúa tưới tiêu lớn trong vùng và tăng sản xuất ở Benin, Ghana, Mali, Nigeria, Sierra Leone thuộc Tây Phi Châu Trong khi Đông Phi Châu như Tazania, Zambia, Madagascar và Nam Phi Châu có tình trạng ngược lại do mưa ít, ngoại trừ Malawi và Mozambique nhờ đầu tư nhiều cho hệ thống tưới tiêu Ba nước sản xuất lúa gạo nhiều nhất ở châu Phi là Ai Cập, Nigeria và Madagascar, chiếm đến 55% tổng sản lượng lúa Sản xuất lúa ở Ai Cập tăng từ 5,2 triệu tấn trong

2010 lên 5,8 triệu tấn trong 2011 và Nigeria từ 4,2 lên 4,3 triệu tấn; trong khi Madagascar giảm từ 4,8 xuống 4,3 triệu tấn trong cùng thời kỳ

Nam Mỹ và Caribbean phục hồi sản xuất lúa đạt đến 29,6 triệu tấn lúa hay 19,8 triệu tấn gạo so với sút giảm 12% so với năm trước đó, do được mùa và giá gạo cao từ các nước Argentina, Brazil, Columbia, Guyana, Paraguay, Uruguay và Venezuela Trong khi đó Mexico và Ecuador bị khô hạn, Honduras, Nicaragua và El Salvador bị ngập lụt Bazil là nước sản xuất lúa gạo lớn nhất của châu Mỹ (chủ yếu lúa rẫy) đạt đến 13,6 triệu tấn so với 11,7

Trang 35

triệu tấn 2010 nhờ khí hậu tốt Sản xuất lúa của nước này chiếm đến 45% tổng sản lượng toàn vùng

Hoa Kỳ sản xuất lúa gần 8,5 triệu tấn, giảm 21% so với 2010 (11 triệu tấn) do khí hậu không thuận lợi và diện tích trồng thu hẹp Đó là mức sản xuất thấp nhất kể từ 1998 của Hoa Kỳ [17]

* Tiêu thụ

Giao dịch lúa gạo quốc tế 2011 đã tăng đến 34,3 triệu tấn hay 9% hơn 2010, phần lớn do nhu cầu nhập khẩu gạo của một số nước châu Á: Bangladesh, Indonesia, Iran, Trung Quốc và châu Phi như Côte d’Ivoire, Madagascar, Mali, Nigeria, Senegal Nguồn gạo xuất khẩu tăng chủ yếu do Ấn Độ sau khi nước này bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo không phải Basmati vào tháng 9 vừa qua Ngoài ra, còn các nước khác cung cấp số lượng gạo xuất khẩu khá lớn như Argentina, Australia, Brazil, Myanmar, Uruguay và Việt Nam trong khi Ai Cập, Hoa Kỳ, Pakistan và Trung Quốc giảm bớt xuất khẩu Viễn ảnh giao dịch lúa gạo thế giới 2012 có thể giảm đôi chút, khoảng 500.000 tấn gạo Theo dự báo của FAO, giao dịch này chỉ đạt đến 33,8 triệu tấn gạo do nhu cầu châu Á giảm bớt chút ít Về mặt xuất khẩu, Thái Lan giảm xuất khẩu từ 10,3 triệu tấn gạo 2011 xuống khoảng 8,2 triệu tấn 2012, do tình trạng ngập lụt nặng và thay đổi chính sách lúa gạo Ấn Độ sẽ bù đắp giảm sút này của Thái Lan Theo dự đoán, các nước Pakistan, Trung Quốc, Úc Châu và Việt Nam sẽ tăng xuất khẩu gạo vào năm tới Còn Argentina, Brazil, Hoa Kỳ, Myanmar và Uruguay sẽ giới hạn xuất khẩu [33]

Sử dụng lúa gạo thế giới 2011-2015 đạt đến 470 triệu tấn gạo, tăng 9,7 triệu tấn hay 2% hơn năm vừa qua Số lượng tiêu dùng này gồm có 397 triệu tấn dành cho thức

ăn, 12 triệu tấn cho nuôi gia súc, và sử dụng khác như làm giống, chế biến và thất thoát sau thu hoạch khoảng 61 triệu tấn hay 3% Khẩu phần thực phẩm trung bình tăng từ 56,5 kg/người/năm trong 2011 lên 56,8 kg Riêng tại các nước đang phát triển khẩu phần tăng thêm 0,4 kg lên mức 67,8 kg và tại các nước phát triển giảm 1% còn 12,2 kg mỗi năm [32]

Giá gạo thế giới đạt đỉnh cao 570 Mỹ kim/tấn (gạo Thái 100% B) vào tháng 12/2010 và tháng 1/2011, bắt đầu giảm dần từ tháng 2 đến tháng 5/2011 (500 Mỹ

Trang 36

kim/tấn) do thu hoạch mùa lúa đông xuân ở châu Á Từ tháng 6 đến tháng 11/2011, giá gạo tăng cao trở lại (630 Mỹ kim/tấn) do lũ lụt tại một số nước châu Á, và Chính phủ Thái đưa ra chính sách tăng giá lúa gạo hỗ trợ nông dân kể từ 7/10/2011, với

502 Mỹ kim cho mỗi tấn gạo trắng premium và 667 Mỹ kim cho gạo thơm, tức tăng

66 và 33% so với thời điểm bấy giờ, theo thứ tự Vào tháng 9/2011, giá gạo Việt Nam và Indonesia tăng 32% và 12% so với tháng trước Vào cuối tháng 11/2011, giá gạo Việt Nam 5% tấm là 560 Mỹ kim/tấn và 25% tấm là 510 Mỹ kim/tấn [32]

Năm 2011, Brazil xuất khẩu kỷ lục đến 1 triệu tấn gạo so với 0,4 triệu tấn 2010 Uruguay tập trung xuất khẩu gạo vào thị trường Trung Đông Hoa Kỳ xuất khẩu giảm với 3,4 triệu tấn gạo năm 2011 so với 3,9 triệu tấn năm 2010 Giá gạo xuất khẩu cũng theo khuynh hướng thế giới giảm 5% Gạo hạt dài 2/4 còn 593 Mỹ kim/tấn tháng 11 so với 625 Mỹ kim/tấn tháng 10 Năm 2012, giá gạo thế giới sẽ giảm do số lượng xuất khẩu dư thừa và số lượng gạo giao dịch nhỏ hơn so với năm trước Đây là hậu quả tất nhiên của sản xuất và tồn trữ tăng gia liên tục trong thập niên vừa qua [17]

Tóm lại, theo Tổ chức FAO dự báo, viễn cảnh sản xuất lúa gạo thế giới năm 2016 khá sáng sủa, có thể tăng khoảng 2,4% đạt đến 738 triệu tấn lúa; nhưng giao dịch gạo thế giới sẽ giảm bớt 1% ở mức 33,8 triệu tấn gạo, do Thái Lan giảm số lượng xuất khẩu 20% và một số nước khác cùng có khuynh hướng này Sự thay đổi chính sách lúa gạo của Thái Lan và Ấn Độ sẽ làm cho thị trường lúa gạo thế giới năm tới không được ổn định Ấn Độ và Pakistan sẽ thay thế phần lớn số lượng xuất khẩu sút giảm của Thái Lan [17]

1.2.2 Thực trạng phát triển sản xuất lúa ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất lúa ở Việt Nam

Sản xuất lương thực là một ngành sản xuất chính của nước ta, từ một nước thiếu lương thực trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) và khối lượng, kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng

Hơn 20 năm đổi mới, sản xuất lúa gạo tăng trưởng liên tục và chất lượng ngày càng cao trên cả 3 phương diện năng suất, chất lượng và hiệu quả Năm

1986, diện tích gieo trồng lúa chỉ có 5.688,6 nghìn ha, năng suất bình quân 28,1tạ/ha/vụ và sản lượng 16.874,8 nghìn ha, đến năm 2017 ba con số tương ứng

Trang 37

đã lên tới 7.329,2 nghìn ha; 48.9tạ/ha và 35.832,9 nghìn tấn Tính chung 20 năm, sản lượng lúa tăng thêm 19 triệu tấn, gấp hơn 2 lần, bình quân tăng gần 1 triệu tấn/năm, (tăng 4,5%/năm)

Điều đáng chú ý là trong khi diện tích lúa giảm từ 7.666 nghìn ha năm

2010 xuống 7.201nghìn ha năm 2017, nhưng sản lượng lúa vẫn tăng từ 32.529 nghìn tấn năm 2010 lên 35.927 nghìn tấn năm 2017 [10] Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, xu hướng đô thị hoá, công nghiệp hoá đang diễn ra mạnh, dân số liên tục tăng làm cho diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích đất trồng lúa nói riêng ngày càng bị thu hẹp Vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt

ra ở đây là cần phải nâng cao hơn nữa năng suất và chất lượng lúa, nhằm đáp ứng được nhu cầu lương thực cho người dân và cho xuất khẩu

Diện tích lúa cả nước năm 2018 đạt khoảng 7.440 nghìn ha, đây là mức cao nhất trong vòng 5 năm qua Sau khi giảm đáng kể trong năm 2017, diện tích lúa cả nước đã tăng trở lại từ năm 2018 và tiếp tục duy trì xu hướng tăng trong năm 2019, nhờ giá gạo xuất khẩu tăng mạnh đã đẩy giá thu mua lúa gạo trong nước tăng cao và khuyến khích nông dân tăng diện tích So với năm

2017, diện tích lúa cả nước năm 2018 đã tăng gần 40 ngàn ha (0,5%), trong

đó diện tích vụ đông xuân tăng 47,6 ngàn ha (1,6%), diện tích vụ mùa cũng tăng nhẹ 2,7 ngàn ha (0,1%), tuy nhiên diện tích vụ hè thu lại giảm hơn 10 ngàn ha so với cùng kỳ năm 2018 [10]

Tính trên các khu vực, diện tích lúa năm 2018 tăng chủ yếu nhờ tăng diện tích vụ đông xuân và vụ mùa ở diện khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) Năng suất, diện tích lúa đông xuân so cùng kỳ 2017 đã tăng ở hầu hết các khu vực, trong đó tăng mạnh nhất là khu vực ĐBSCL và khu vực Đông Bắc Bộ với lượng tăng diện tích tương ứng là 25.000 ha ở ĐBSCL và hơn 8.000 ha ở Đông Bắc Tại khu vực Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH), Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, diện tích lúa đông xuân cũng tăng khá Trái lại, diện tích lúa mùa lại giảm ở hầu khắp các vùng trên cả nước, trong đó giảm mạnh nhất là khu vực Nam Trung Bộ giảm hơn 5.000ha, ĐBSH giảm hơn 3.000 ha, khu vực Đông Nam Bộ giảm gần 4.000 ha Tuy nhiên, lượng giảm này đã được bù lại nhờ diện tích tăng mạnh ở khu vực

Trang 38

ĐBSCL và Tây Bắc, với lượng tăng tương ứng là 43.000 ha và 10.000 ha Nhờ những điều kiện thuận lợi về thị trường và thời tiết, sản lượng lúa cả năm

2018 đã đạt xấp xỉ 38,9 triệu tấn, đây là mức kỷ lục trong vòng 20 năm qua

So với năm 1998, sản lượng lúa cả nước năm 2018 cao gấp hơn hai lần, tương đương với mức tăng 19,6 triệu tấn So với năm 1998, sản lượng năm 2018 cũng tăng gần 7,5 triệu tấn, tương đương 23,8%, và tăng hơn 3 triệu tấn, tương đương 8,4% so với năm 2015, năm lập kỷ lục về khối lượng xuất khẩu gạo của giai đoạn 2017 trở về trước Sản lượng lúa cả nước đã tăng liên tục trong vòng 20 năm qua với biên độ khá mạnh, đặc biệt là trong giai đoạn

1998 - 2008 Trong những năm gần đây, sản lượng lúa không còn tăng mạnh, nhưng vẫn duy trì được xu thế tăng [21]

Theo số liệu của Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năng suất lúa đông xuân cả nước đạt 63,47 tạ/ha, cao hơn 1,2 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2016, sản lượng đạt gần 19,5 triệu tấn, tăng 25,8 vạn tấn Trong đó, sản lượng lúa Đông xuân của các địa phương phía Nam ước tính đạt 12,5 triệu tấn, phía Bắc đạt khoảng 7 triệu tấn Đối với vụ hè thu, tính đến cuối tháng 8/2011 các địa phương trên cả nước đã thu hoạch được 1221 nghìn ha, bằng 102,3% cùng kỳ năm trước, chủ yếu là vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 93,5% diện tích thu hoạch Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa hè thu năm 2017 của vùng đồng bằng sông Cửu Long ước tính đạt 51 tạ/ha, tăng gần 3 tạ/ha so với vụ hè thu năm trước, sản lượng ước tính đạt 8,4 triệu tấn, tăng 420 nghìn tấn Sản lượng các vụ lúa đã thu hoạch trong năm nay trên cả nước đạt kết quá rất khả quan Việc áp dụng khoa học kỹ thuật và chọn lọc được các loại giống tốt, năng suất cao cùng sự “ủng hộ” của thời tiết năm

và các kết quả đã đạt được báo hiệu triển vọng một năm bội thu lúa trên cả nước

Năm 2017, Việt Nam xuất khẩu 7,35 triệu tấn gạo mang về khoảng 3,5 tỉ

Mỹ kim Theo dự báo của Bộ NN&PTNT, với điều kiện và tình hình sản xút hiện nay, tổng sản lượng thóc năm 2012 sẽ đạt mức cao nhất từ trước tới nay: Khoảng 43,4 triệu tấn( tăng 2,6 % so với năm 2016)

Bộ NN&PTNT cho biết, tại thời điểm này các tỉnh miền Nam đã cơ bản thu hoạch được trên 1.931 triệu ha lúa hè thu, chiếm 96,3% diện tích xuống

Trang 39

giống, trong đó các tỉnh thuộc vùng ĐBSCL thu hoạch 1.621 triệu ha Cũng tính đến thời điểm này, các tỉnh ĐBSCL đã xuống giống được 573.300 ha lúa thu đông, tăng gần 1% so với cùng kỳ năm trước [16]

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, tính từ từ đầu năm đến ngày 30/6/2014, các doanh nghiệp đã xuất khẩu được 3,003 triệu tấn gạo với trị giá FOB là 1,296 tỷ USD Hiện giá lúa khô tại kho khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã tăng nhẹ từ 100 - 200 đồng/kg so với thời điểm giữa tháng 6 với mức giá lúa khô loại thường dao động từ 6.400 - 6.500 đồng/kg và lúa hạt dài có giá

từ 6.500 - 6.600 đồng/kg Các doanh nghiệp trong nước cũng đã ký hợp đồng xuất khẩu được 4,7 triệu tấn gạo, giá gạo xuất khẩu cũng đã tăng nhẹ từ 10 - 15 USD/tấn [19]

1.2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất lúa ở một số địa phương trong nước

a Kinh nghiệm phát triển sản xuất lúa ở huyện Mỹ Xuyên tỉnh Sóc Trăng

Huyện Mỹ Xuyên, có nhiều thế mạnh trong phát triển nông nghiệp Huyện

đã triển khai lập dự án xây dựng mô hình cánh đồng mẫn lớn trên địa bàn từ năm

2010 và đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển sản xuất lúa

Huyện Mỹ Xuyên có diện tích tự nhiên gần 37.400 ha, trong đó, diện tích nông nghiệp 32.566 ha Từ năm 2015 đến nay, các mô hình tôm - lúa - màu; lúa - màu và lúa thơm - tôm sạch đã được lãnh đạo địa phương và các cơ quan chuyên môn chỉ đạo triển khai, người dân thực hiện đạt nhiều kết quả tích cực Nếu như năm 2014, giá trị trên diện tích đất sản xuất từ 116 triệu đồng/ha thì đến nay đã tăng lên 164 triệu đồng/ha Qua 4 năm thực hiện các mô hình cánh đồng lớn tại huyện

Mỹ Xuyên (từ 2015-2018), nhiều thành công bước đầu đã được ghi nhận, trong đó nổi bật là các mô hình luân canh tôm lúa và mô hình lúa đặc sản

Luân canh trồng lúa kết hợp với nuôi tôm theo mô hình 1 vụ lúa vào mùa mưa và 1 vụ tôm vào mùa khô hạn là cách làm đầy sáng tạo, giúp mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân Vùng luân canh tôm - lúa 10.000 ha của huyện Mỹ Xuyên

là vùng đa dạng sinh học, được quy hoạch thành vùng nuôi tôm sinh thái để đảm bảo tính bền vững trong sản xuất UBND huyện Mỹ Xuyên chỉ đạo các xã thuộc vùng quy hoạch tôm lúa tăng cường vận động, tuyên truyền để thực hiện quy trình

Trang 40

tôm – lúa sau vụ thu hoạch tôm nước lợ Đến nay, vùng nuôi tôm nước lợ của huyện

Mỹ Xuyên được xem là mô hình thành công, mức độ rủi ro dưới 11%, giảm hơn gấp 2 lần so những năm trước đây

Mô hình cánh đồng lớn sản xuất giống lúa đặc sản cho giá trị kinh tế cao, với lợi nhuận đạt từ 16 – 17 triệu đồng/ha ở huyện Mỹ Xuyên đã giúp nhiều nông dân

có thu nhập khá khi tham gia liên kết sản xuất Trên cây lúa, nông dân Mỹ Xuyên

đã ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất và thu hoạch Toàn huyện đã xây dựng được

4 mô hình cánh đồng lớn ở các xã Đại Tâm, Tham Đôn, Thạnh Quới và Thạnh Phú, với tổng diện tích 2.000 ha Kết thúc vụ hè thu năm 2018, dù gặp một số bất lợi về thời tiết nhưng năng suất trong cánh đồng lớn đạt hơn 6 tấn/ha, cao hơn 0,7 tấn/ha

so với ruộng sản xuất bên ngoài của nông dân, lợi nhuận từ 14 - 15 triệu đồng/ha Nhờ thực hiện mô hình cánh đồng lớn mà đời sống của người dân nhiều xã, nhất là đồng bào dân tộc Khmer được nâng lên, số hộ nghèo giảm rõ rệt Bên cạnh đó, nông dân đã chuyển đổi giống, cây trồng vật nuôi, tham gia vào tổ hợp tác, hợp tác xã

Khi huyện sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng lớn so với mô hình truyền thống có sự khác biệt khá rõ, thể hiện qua những nội dung sau:

- Hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp (DN) và hộ nông dân rất đa dạng, theo điều kiện thực tế và sáng tạo của từng địa phương, nhưng cơ bản đã đạt được các bước: Cung ứng lúa giống xác nhận (1 đến 2 loại); Cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật từ DN đến thẳng người nông dân, không qua trung gian; Hợp tác với DN thu mua lúa hoặc DN đứng ra tổ chức khép kín các khâu, từ cung ứng đầu vào đến bao tiêu đầu ra cho nông dân; Tập hợp nông dân tham gia mô hình theo hình thức phân chia các nhóm sản xuất, có người phụ trách Nông dân được hỗ trợ tiền chênh lệch khi mua giống lúa xác nhận (so với lúa thường), định kỳ tập huấn kỹ thuật cho nông dân (3/4 lần/vụ), hỗ trợ 30 - 50% tiền đầu tư máy móc, công cụ sạ hàng, lò sấy, thùng pha thuốc bảo vệ thực vật

- Mô hình cánh đồng lớn đã gắn kết 4 nhà (Nhà nông, nhà DN, nhà khoa học

và Nhà nước) với nhau, điều mà trong sản xuất nông nghiệp trước đây không thể thực hiện được Với mô hình cánh đồng lớn, DN là người chịu trách nhiệm đến cùng với người nông dân từ cung ứng vật tư đến thu mua sản phẩm, chế biến tiêu

Ngày đăng: 24/04/2020, 10:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w