Mục đích nghiên cứu của đề tài - Hệ thống hoá và góp phần làm rõ cơ sở khoa học về đánh giá và nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà; - Đánh giá kết quả và hiệu quả chăn nuôi gà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM QUANG QUÂN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI GÀ THỊT
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHO QUAN
TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM QUANG QUÂN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI GÀ THỊT
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHO QUAN
TỈNH NINH BÌNH Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG HOÀI AN
Thái Nguyên, 2019
Trang 3LỜI
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu sử dụng trong luận văn này có nguồn gốc rõ ràng, Các kết quả nghiên cứu là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan
và phù hợp với thực tiễn của địa bàn nghiên cứu cũng như của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2019
Phạm Quang Quân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Đánh giá hiệu quả chăn nuôi gà thịt trên địa bàn huyện Nho
Quan, tỉnh Ninh Bình” là nội dung tôi chọn để nghiên cứu và làm luận văn
tốt nghiệp sau hai năm theo học chương trình cao học chuyên ngành kinh tế nông nghiệp tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến thầy Dương Hoài An, thuộc Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Thầy đã nhiệt tình trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thiện luận văn này Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa KTPTNT và Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn
Nhân dịp này, tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ đang công tác tại huyện Nho Quan và các xã Đồng Phong, Kỳ Phú và thị trấn Nho Quan đã tạo điều kiện giúp đỡ và dành thời gian cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình tôi, những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành khóa học và bài luận văn này
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AE Hiệu quả phân bổ BCN Bán công nghiệp
GO Giá trị sản xuất
IC Chi phí trung gian IRS Hiệu suất tăng theo quy mô
MI Thu nhập hỗn hợp
PE Hiệu quả kỹ thuật thuần
SE Hiệu quả kỹ thuật quy mô
TE Hiệu quả kỹ thuật TSCĐ Tài sản cố định
VA Giá trị gia tang VRS Hiệu suất biến đổi theo quy mô
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
4.1 Ý nghĩa khoa học 4
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Cở sở lý luận và thực tiễn 6
1.1.1 Cơ sở lý luận 6
1.2 Các nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt trong và ngoài nước 26
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 26
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 30
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀNVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35 2.1 Đặc điểm địa bàn 35
2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 35
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
Trang 72.2.1 Phương pháp nghiên cứu 39
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51
3.1 Thực trạng chăn nuôi gia cầm tại huyện Nho Quan 51
3.1.1 Tổng đàn gia cầm trong giai đoạn nghiên cứu 51
3.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế 52
3.2.1 Kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt của các cơ sở được khảo sát 52
3.3 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế 73
3.4 Phân tích SWOT chăn nuôi gà thịt 77
3.5 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà thịt ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình cho giai đoạn 2020-2025 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Khuyến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Mẫu khảo sát chia theo hình thức, giống và quy mô nuôi 40
Bảng 3.1 Tình hình nguồn lực của các cơ sở CNGT được khảo sát 53
2016-2018 53
Bảng 3.2: Một số đặc điểm kinh tế - kỹ thuât về hoạt động CNGT các hộ khảo sát 2016-2018 55
Bảng 3.3: Chi phí và cơ cấu chi phí sản xuất theo hình thức nuôi trong vụ Hè 57
Bảng 3.4: Chi phí và cơ cấu chi phí sản xuất theo vùng sinh thái trong vụ Hè 60
Bảng 3.5: Chi phí và cơ cấu chi phí sản xuất theo giống nuôi trong vụ Hè 62
Bảng 3.6: Chi phí và cơ cấu chi phí sản xuất theo quy mô nuôi trong vụ Hè 65 Bảng 3.7: Kết quả và HQKT theo hình thức nuôi vụ Hè 67
Bảng 3.8: Kết quả và HQKT theo vùng sinh thái trong vụ Hè 69
Bảng 3.9: Kết quả và HQKT theo giống nuôi trong vụ Hè 70
Bảng 3.10: Kết quả và HQKT theo quy mô nuôi trong vụ Hè 72
Bảng 3.11: Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và HQKT CNGT 74
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá và góp phần làm rõ cơ sở khoa học về đánh giá và nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà;
- Đánh giá kết quả và hiệu quả chăn nuôi gà trong giai đoạn 2016 - 2018; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà trong năm
2018 ở vùng nghiên cứu;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà
ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đến năm 2020
2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
về hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt, trọng tâm là các cơ sở chăn nuôi gà thịt
có tính chất hàng hoá và các bên liên đới có liên quan
Đối tượng khảo sát: 211 hộ chăn nuôi gà thịt tại thị trấn Nho Quan, xã Đồng Phong và xã Kỳ Phú; chăn nuôi chủ yếu các giống gà: Ri Lai, Lương Phượng, Tam Hoàng; nuôi theo hình thức: công nghiệp, bán công nghiệp; quy
mô nuôi: gia trại, trang trại, nông hộ
3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng ngành chăn nuôi gà thịt trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình;
- Đánh giá hiệu quả kinh tế ngành chăn nuôi gà thịt trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình;
- Đánh giá hiệu quả kỹ thuật ngành chăn nuôi gà thịt trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả ngành chăn nuôi gà thịt trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình;
- Xác định, phân tích những thuận lợi, khó khăn đối với ngành chăn nuôi
gà thịt trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình;
Trang 10- Đề xuất một số giải pháp để phát triển ngành chăn nuôi gà thịt trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
4 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp phân tích thống kê
Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí (BCA)
Phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA)
Phương pháp phân tích hồi quy đa biến
3.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp phân tích SWOT
4 Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ tiêu phản ánh về kết quả như GO,
VA, MI và NB ở Thị trấn Nho Quan là cao nhất, tiếp theo là xã Đồng Phong
và Kỳ Phú, tuy nhiên mức chêch lệch giữa các vùng sinh thái là không lớn nếu so sánh với mức chênh lệch giữa các hình thức nuôi Kết quả nghiên cứu cho thấy GO của giống Ri Lai là lớn nhất, khoảng hơn 8.100 ngàn đồng/100kg cao hơn khoảng 40% so với Lương Phượng và Tam Hoàng
Trong 11 biến đưa vào mô hình thì có 9 biến có ý nghĩa thống kê (mức ý nghĩa trên 90%) và 2 biến không có ý nghĩa thống kê là chi phí thuốc thú ý và
số lần tập huấn, có thể do mức biến thiên của các yếu tố này thấp Kết quả phân tích cho thấy, các biến như chi phí giống, thức ăn, thời gian nuôi và tỷ lệ hao hụt có tương quan nghịch với kết quả CNGT, cụ thể: với điều kiện các yếu tố khác không thay đổi khi tăng 1 ngàn đồng chi phí giống sẽ làm NB giảm 0,588 ngàn đồng, MI giảm 0,584 ngàn đồng/100kg, tương tự tăng 1 ngàn đồng chi phí thức ăn sẽ làm NB giảm 0,665 ngàn đồng, MI giảm 0,664 ngàn đồng/100kg Hệ số hồi quy riêng của biến giống và thức ăn khá nhỏ, chứng tỏ người chăn nuôi cơ bản đã đạt được các tiêu chuẩn kỹ thuật trong
Trang 11CNGT và điều này sẽ được thể hiện rõ ở nội dung phân tích hiệu quả kỹ thuật Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, các biến như trình độ học vấn, quy mô nuôi có tương quan thuận với kết quả CNGT
Những thuận lợi đối với ngành chăn nuôi gà thịt trên địa bàn nghiên cứu gồm: Kinh nghiệm chăn nuôi và trình độ quản lý của người chăn nuôi ngày càng cải thiện Chính phủ và Chính quyền địa phương đã phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 Các cấp đã chú trọng công tác quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi Nguồn lao động tương đối dồi dào Quỹ đất dành cho chăn nuôi còn nhiều Các sản phẩm phụ trong nông nghiệp tương đối dồi dào, đa dạng nên có thể sử dụng làm thức ăn chăn nuôi
Có nhiều trường Đại học, trung tâm nghiên cứu trên địa bàn nên rất thuận lợi cho việc khảo nghiệm, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật Hợp tác quốc tế về kiểm soát dịch bệnh, VSATTP, ứng dụng và chuyển giao khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi ngày càng được tăng cường
Sự phối hợp giữa các cơ quan trong phòng chống thiên tai, dịch bệnh, nhập lậu gia cầm ngày càng có hiệu quả Thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện nên nhu cầu về thịt gà ngày lớn Ngành chăn nuôi đang trong quá trình tái cơ cấu mạnh theo hướng chăn nuôi trạng trại, công nghiệp và
ưu tiên phát triển đàn gà Bênh cạnh đó, ngành công nghiệp này còn gặp những khó khăn như: Chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm tỷ trọng cao, khả năng đầu tư, trình độ thâm canh, kiểm soát dịch bệnh của khu vực này còn thấp Sản phẩm chưa được phát triển thành chuỗi nên kém cạnh tranh Tính hợp tác, liên kết giữa các trung gian kém, sản phẩm được chế biến thô sơ, giá trị gia tăng thấp, lợi ích phân phối không đồng đều Người chăn nuôi còn thiếu các điều kiện cần thiết như vốn, con giống, kỹ thuật, thông tin về thị trường và chính sách nên chưa mạnh dạn đầu tư, không có kế hoạch chăn nuôi dài hạn Nguồn cung các yếu tố đầu vào chưa đảm bảo về số lượng và chất lượng, phụ thuộc nhiều vào các địa phương khác nên giá thành chăn nuôi cao, sản phẩm thiếu tính cạnh tranh, người chăn nuôi còn bị lệ thuộc, bị động Thị trường tiêu thụ kém phát triển, chỉ tiêu thụ trong nội bộ tỉnh, gà thịt CN khó tiêu thụ Giá cả cũng như chất lượng các yếu tố đầu vào biến động thất
Trang 12thường, khó kiểm soát; giá cả sản phẩm đầu ra không ổn định, khó tiên liệu
và rất nhạy cảm trước thông tin dịch bệnh và quan hệ cung cầu nên rủi ro trong CNGT là rất lớn Nguy cơ bùng phát dịch bệnh luôn tiềm ẩn Kiểm soát thực phẩm nhập khẩu giá rẻ và gia cầm sống nhập lậu còn nhiều khó khăn, bất cập Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp FDI ngày càng khốc liệt Sản phẩm chăn nuôi chủ yếu tiêu thụ dưới dạng tươi sống, được bày bán khắp nơi, khó kiểm soát VSATTP và lây lan dịch bệnh Sự cạnh tranh của sản phẩm từ các nước có nền chăn nuôi gia cầm phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Úc do các Hiệp định CPTPP, EVFTA được ký kết và thực thi Ngành chăn nuôi gà vẫn phụ thuộc nặng vào các điều kiện về khí hậu thời tiết
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để ngành nông nghiệp Việt Nam ngày càng phát triển, cần phải kết hợp phát triển đồng thời cả hai ngành trồng trọt và chăn nuôi một cách có kế hoạch và bền vững, trong đó giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp ngày càng tăng lên [4]
Trong ngành chăn nuôi, gia cầm là vật nuôi quan trọng thứ hai sau lợn nhưng là vật nuôi phổ biến của mọi người dân, ở vùng nông thôn có đến 80%
số hộ là có chăn nuôi gia cầm Trong chăn nuôi gia cầm, gà là vật nuôi chủ yếu, đàn gà chiếm khoảng 75% tổng số lượng đàn gia cầm và hàng năm cung cấp khoảng 350 - 450 ngàn tấn thịt [22]
Nho Quan là địa phương có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển chăn nuôi toàn diện Theo quy hoạch tổng thể phát triển chăn nuôi của tỉnh đến năm 2020 giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt khoảng 40% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, tổng số đàn gia cầm đạt trên 300 ngàn con, trong đó gà là
200 ngàn con, tổng sản lượng thịt gia cầm đạt khoảng 500 tấn, trong đó thịt gà trên 300 tấn và gà thịt được xác định là một trong ba vật nuôi chủ lực của tỉnh bên cạnh bò thịt và lợn thịt [6]
Trong thời gian qua hoạt động chăn nuôi gia cầm nói chung và gà nói riêng ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã đạt được những thành tựu đáng
kể, số lượng đàn và sản lượng thịt liên tục tăng với tốc độ khoảng 5-7% mỗi năm Bên cạnh sự tăng lên về số lượng, chất lượng thịt cũng được nâng lên nhờ cải thiện hình thức nuôi và chất lượng con giống Chăn nuôi gà đã góp phần đáng kể vào tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động; cải thiện bữa ăn và nâng cao đời sống của người dân
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi gà chưa phát triển tương xứng với tiềm năng
và lợi thế của địa phương, còn rất nhiều khó khăn và bất cập dẫn tới hiệu quả kinh tế chưa cao và bền vững, chưa tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho
Trang 14người lao động Có thể nói cả những người làm công tác quản lý và người chăn nuôi còn băn khoăn, trăn trở trong việc lựa chọn hình thức nuôi, quy mô nuôi, giống gà nuôi, thời gian nuôi như thế nào sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Bên cạnh đó, trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, luôn biến động khó lường và đòi hỏi của hội nhập kinh tế hiện nay thì thách thức đối với ngành chăn nuôi gà ở nước ta ngày càng lớn Ngành chăn nuôi gà không chỉ phải đáp ứng tốt như cầu ngày càng cao và khắt khe của người tiêu dùng trong nước, duy trì được sự ổn định trong hoạt động của mình để góp phần vào sự ổn định nền kinh tế vĩ mô mà còn phải cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài và tiến tới xuất khẩu sản phẩm Để giải quyết những vấn đề này, không còn con đường nào khác là ngành chăn nuôi gà phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh tế
Mặc dù vậy, các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà ở nước ta còn rất hạn chế so với yêu cầu đề ra, có chăng các tổ chức và cá nhân chỉ tập trung nghiên cứu nhiều về vấn đề kỹ thuật và thể chế, còn vấn đề về hiệu quả kinh tế chỉ được một số tác giả nghiên cứu như Nguyễn Văn Đức và Trần Long [64], Nguyễn Quốc Nghi [28] hay Đinh Xuân Tùng [93] Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đánh giá toàn diện về hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà theo nhiều tiêu chí khác nhau và các vấn đề như hiệu quả kinh tế trong điều kiện rủi ro hay hiệu quả kỹ thuật cũng chưa được đề cập.Bên cạnh đó, nếu so sánh với các nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài như Adepoju [54], Kalla [78], Morrison và Gunn [83] hay Micah [81] thì cách thức nhìn nhận vấn đề, hệ thống chỉ tiêu tính toán và so sánh hiệu quả kinh tế của các nhà khoa học trong nước là có sự khác biệt đáng kể
Trước những vấn đề lý luận và thực tiễn có tính thời sự này, tôi chọn đề
tài “Đánh giá hiệu quả chăn nuôi gà thịt trên địa bàn huyện Nho Quan,
tỉnh Ninh Bình" làm đề tài luận văn thạc sỹ
Trang 152 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá và góp phần làm rõ cơ sở khoa học về đánh giá và nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà thịt;
- Đánh giá kết quả và hiệu quả chăn nuôi gà thịttrong giai đoạn 2016 - 2018; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt trong năm 2018 ở vùng nghiên cứu;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà
ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đến năm 2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề kinh tế và kỹ thuật liên quan đến việc đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả kỹ thuật chăn nuôi gà thịt, trọng tâm là các cơ sở chăn nuôi gà thịt có tính chất hàng hoá và các bên liên đới có liên quan
Đối tượng khảo sát: 211 hộ chăn nuôi gà thịt tại thị trấn Nho Quan, xã Đồng Phong và xã Kỳ Phú; chăn nuôi chủ yếu các giống gà: Ri Lai, Lương Phượng, Tam Hoàng; nuôi theo hình thức: công nghiệp, bán công nghiệp; quy
mô nuôi: gia trại, trang trại, nông hộ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Để đạt các mục tiêu của luận văn, phạm vi nghiên cứu của luận văn là:
- Nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở khoa học về đánh giá
hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt; thực trạng đầu tư, kết quả và hiệu quả kinh
tế chăn nuôi gà thịt theo hình thức, mùa vụ, loại giống, quy mô nuôi , phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt; ước lượng các chỉ số hiệu quả kỹ thuật và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật trong chăn nuôi gà thịt; nghiên cứu thị trường, chuỗi cung
gà thịt công nghiệp và bán công nghiệp ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi
gà thịt ở vùng nghiên cứu đến năm 2025
Trang 16- Không gian: Tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, tập trung vào 3 xã,
thị trấn đại diện là:thị trấn Nho Quan, xã Đồng Phong và xã Kỳ Phú
- Thời gian: Số liệu thứ cấp về tình hình chăn nuôi và tiêu thụ gà thịt
trên thế giới và ở Việt Nam, Ninh Bình và Nho Quan được nghiên cứu trong thời kỳ 2016 – 2018, số liệu sơ cấp được thu thập từ các bên liên quan trong năm 2018 và 2019
4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần hệ thống hoá và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
về đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt, từ đó lựa chọn cách tiếp cận, phương pháp, hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi
gà thịt phù hợp với điều kiện hiện nay ở Việt Nam
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá thực trạng phát triển, chỉ ra những khó khăn, bất cập trong phát triển ngành chăn nuôi gà thịt ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn nghiên cứu
- Xác định và so sánh hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt theo các tiêu chí khác nhau; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt để có cơ sở khoa học nhằm định hướng phát triển ngành chăn nuôi gà thịt
- Phân tích hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt trong bối cảnh rủi ro để thấy được khả năng phát triển của ngành trong điều kiện hiện nay So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt với một số hoạt động kinh tế khác để
có cơ sở khoa học tái cấu trúc ngành chăn nuôi
- Ước lượng các chỉ số hiệu quả kỹ thuật và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật để thấy được những hạn chế trong tổ chức, quản
lý hoạt động chăn nuôi gà thịt, từ đó có cơ sở khoa học đề xuất giải pháp cải thiện khả năng thực hành của người chăn nuôi
Trang 17- Đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt, đây là cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý và người chăn nuôi tham khảo, áp dụng nhằm góp phần hoàn thành chiến lược, mục tiêu phát triển chăn nuôi ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 như đã
đề ra
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cở sở lý luận và thực tiễn
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Quan điểm cơ bản về hiệu quả kinh tế
Khi đi tìm lợi nhuận, các đơn vị kinh doanh luôn cố gắng thỏa mãn người tiêu dùng và toàn xã hội về các hàng hoá và dịch vụ khác nhau Người tiêu dùng thường quan tâm đến giá cả và chất lượng sản phẩm để tối đa hoá lợi ích của họ, còn người sản xuất kinh doanh thì đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu
Vậy hiệu quả kinh tế là gì? Nội dung và bản chất của nó như thế nào? Xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, hiện nay có nhiều quan điểm
về HQKT, có thể khái quát như sau:
Dưới góc độ vĩ mô, hiệu quả theo quan điểm của K Marx, đó là việc
“tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các ngành” và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động hay tăng hiệu quả” [45] Như vậy, theo quan điểm của K Marx tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả tăng HQKT và xã hội Vận dụng quan điểm của K Marx, các nhà Kinh tế học Xô Viết mà đại diện là Obogomolop cho rằng “HQKT là sự tăng trưởng kinh tế thông qua nhịp điệu tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội” [30] Như vậy, quan điểm này chỉ mới đề cập đến nhu cầu tiêu dùng, quỹ tiêu dùng là mục đích cuối cùng cần đạt được của nền sản xuất xã hội, nhưng chưa đề cập đến quỹ tích luỹ để làm điều kiện, phương tiện đạt được mục đích đó
Quan điểm này đúng nhưng chưa thoả đáng, không đảm bảo việc tạo ra năng suất lao động xã hội cao hơn tư bản chủ nghĩa Bởi lẽ, mục đích sản xuất
là tạo ragiá trị sử dụng, nhưng chưa xét đến sự đầu tư các nguồn lực và các yếu tố bên trong, bên ngoài của nền kinh tế để tạo ra tổng sản phẩm hay thu
Trang 19nhập quốc dân đó, như vậy việc “tiết kiệm thời gian lao động” bị đẩy xuống sau và không được xem xét là vấn đề chính thể, kết quả là kinh tế - xã hội phát triển chậm, năng suất lao động thấp Rõ ràng, HQKT là mục tiêu của mọi nền sản xuất xã hội, là cơ sở để thể hiện tính ưu việt của chế độ này so với chế độ khác
Các nhà kinh tế học như Samuelson và Nordhaus cho rằng: “Hiệu quả là một tình trạng mà trong đó các nguồn lực xã hội được sử dụng hết để mang lại sự thoả mãn tối đa cho người tiêu dùng” hay “Một nền kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó” và “HQKT xảy ra khi không thể tăng thêm mức độ thoả mãn của người này mà không làm phương hại cho người khác” [32] Theo David Begg và các cộng sự “Hiệu quả sản xuất diễn
ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó” và David Begg còn khẳng định
“Hiệu quả nghĩa là không lãng phí” [3]
Như vậy, những quan điểm này là đúng nhưng chưa đủ vì điểm lựa chọn nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đạt HQKT tối ưu Hơn nữa, những quan điểm này phản ánh còn chung chung, khó xác định được HQKT một cách chính xác vì chưa đề cập đến chi phí để tạo ra sản phẩm
Các nhà kinh tế học Cộng hoà dân chủ Đức mà đại diện là Stenien cho rằng “HQKT là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội” [90] Kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Xuất phát từ sự mâu thuẫn giữa khả năng hữu hạn về tài nguyên với nhu cầu ngày càng tăng lên của con người, nên người ta phải xem xét kết quả đó đạt được như thế nào và chi phí bỏ ra là bao nhiêu, có đem lại kết quả hữu ích
Trang 20hay không
Quan điểm này có ưu điểm là đã xét đến chi phí bỏ ra để có được kết quả, tức phản ánh được trình độ, chất lượng của hoạt động sản xuất Nhưng nhược điểm là vẫn chưa rõ ràng, chưa cụ thể về phương diện xác định, tính toán kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất
Ở góc độ vi mô hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về HQKT, nhưng tựu trung lại bao gồm 3 quan điểm chính sau:
- HQKT là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ
ra để đạt được kết quả đó [41][50][51] Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của các sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào để đạt được kết quả đó
HQKT = AKết quả / Achi phí
Hoặc HQKT = %AKết quả / %Achi phí
Từ các quan điểm trên chúng ta thấy: Nếu chỉ đánh giá HQKT ở khía cạnh lợi nhuận thuần tuý như quan điểm thứ nhất thì chỉ mới xác định được quy mô của hiệu quả nhưng không phản ánh được chất lượng của hoạt động sản xuất, trình độ sử dụng các yếu tố nguồn lực đầu vào và chưa so sánh được khả năng cung cấp của cải vật chất cho xã hội của những đơn vị sản xuất đạt hiệu số này như nhau vì chưa xét đến chi phí bỏ ra bao nhiêu để đạt được kết quả đó Và trong thực tế trong nhiều trường hợp không thực hiện được phép trừ hay phép trừ không có ý nghĩa Nếu đánh giá HQKT bằng quan điểm thứ hai thì chưa toàn diện vì mới phản ánh được chất lượng của hoạt động sản
Trang 21xuất kinh doanh, trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào nhưng chưa xác định được quy mô của hiệu quả sử dụng đầu vào Bên cạnh đó, kết quả sản xuất là kết quả của sự tác động của nhiều yếu tố như: thiên nhiên, kinh tế, xã hội các yếu tố này cần được phản ánh đầy đủ mới thấy hết các khía cạnh của HQKT Với quan điểm xem xét HQKT chỉ ở phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung thì cho biết hiệu quả của mức độ đầu tư theo chiều sâu hoặc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới Tuy nhiên, hạn chế của quan điểm này là không xét đến HQKT của tổng chi phí bỏ ra vì kết quả sản xuất là sự đạt được do tác động của cả chi phí bổ sung và chi phí sẵn có Trong thực tế, các cơ sở sản xuất kinh doanh có chi phí sẵn có khác nhau thì hiệu quả của chi phí bổ sung sẽ khác nhau
Như vậy, có rất nhiều quan điểmkhác nhau về HQKT trong sản xuất kinhdoanh, điều này tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và mục đích yêu cầu của từng đơn vị sản xuất trong từng giai đoạn phát triển nhất định Tuy nhiên, mọi quan điểm về HQKT đều thể hiện một điểm chung nhất là tiết kiệm nguồn lực để sản xuất ra khối lượng sản phẩm tối đa
Ở nước ta, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, hoạt động kinh tế của mỗi doanh nghiệp, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh không chỉ nhằm vào tăng hiệu quả và các lợi ích kinh tế của mình mà còn phải phù hợp với các yêu cầu của xã hội
và đảm bảo các lợi ích chung bởi các định hướng, chuẩn mực do Nhà nước quy định
Vì thế, theo tôi HQKT trong sản xuất kinh doanh nói chung và CNGT nói riêng được hiểu một cách khái quát như sau:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế thể hiện mối tương quan giữa kết quả và chi phí Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố đầu
tư, các nguồn lực tự nhiên và phương thức quản lý nhằm đạt mục tiêu của từng cơ sở sản xuất kinh doanh và phù hợp với yêu cầu của xã hội
Trang 221.1.1.2 Phân loại và các mối quan hệ trong nghiên cứu hiệu quả kinh tế
Phân loại hiệu quả và hiệu quả kinh tế
Hoạt động sản xuất của nền kinh tế xã hội được diễn ra ở các phạm vi, các ngành, các lĩnh vực khác nhau Đối tượng tham gia vào các quá trình sản xuất và các yếu tố sản xuất cũng khác nhau Mục đích, ý đồ nghiên cứu khác nhau thì nội dung nghiên cứu HQKT cũng khác nhau Do đó, HQKT thường được phân ra các loại chủ yếu sau [2][5][31]:
- Phân loại HQKT theo bản chất và mục tiêu
+ HQKT : Phản ánh mối tương quan giữa kết quả hữu ích về mặt kinh tế
và chi phí bỏ ra Nó đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế (tài chính) của hoạt động sản xuất
+ Hiệu quả xã hội: Phản ánh mối quan hệ giữa kết quả các lợi ích về mặt
xã hội mà sản xuất mang lại với chi phí bỏ ra Loại hiệu quả này đánh giá chủ yếu về mặt xã hội do các hoạt động sản xuất mang lại
+ HQKT – xã hội: Phản ánhmối tương quangiữa kết quả tổng hợp về mặt kinh tế và xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Theo cách phân loại này khi xem xét, đánh giá cần có cái nhìn toàn diện
về các khía cạnh hiệu quả Vì thế, khi đánh giá HQKT CNGT trong nền kinh
tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước hiện nay cần quan tâm đến hiệu quả
xã hội và môi trường
- Phân loại hiệu quả theo phạm vi nghiên cứu
Ở phạm vi vĩ mô, HQKT được chia như sau:
+ HQKT quốc dân là HQKT được xem xét chung trong toàn bộ nền kinh
tế - xã hội
+ HQKT theo ngành, lĩnh vực là HQKT được xem xét đối với từng ngành sản xuất, từng lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân như ngành công nghiệp, nông nghiệp trong lĩnh vực sản xuất vật chất Trong nông nghiệp của từng vùng có các ngành như trồng trọt, chăn nuôi; trong chăn nuôi có các ngành cụ thể như chăn nuôi gia súc, gia cầm
Trang 23+ HQKT theo vùng, lãnh thổ được xem xét đối với từng vùng kinh tế - tự nhiên và phạm vi lãnh thổ hành chính như: vùng Bắc Bộ, Nam Bộ, hay phạm
vi tỉnh hoặc huyện
Theo cách phân loại này khi phân tích, đánh giá HQKT CNGT của một tỉnh cần gắn liền với chiến lược phát triển chung của cả nước, và đánh giá HQKT CNGT ở các huyện cần gắn liền với chiến lược chung của tỉnh trong các vấn đề như môi trường, cơ cấu kinh tế, quy hoạch đất đai
Ở phạm vi vi mô, HQKT được xem xét đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh cụ thể Trong luận văn này tôi xem xét, đánh giá HQKT đối với các trang trại, gia trại và hộ CNGT
- Phân loại hiệu quả theo đối tượng nghiên cứu
Theo cách phân loại này, HQKT gồm các loại sau:
+ HQKT sử dụng các tài nguyên, nguồn lực sản xuất như: HQKT sử dụng đất đai, lao động, vốn, vật tư, thiết bị kỹ thuật tham gia vào quá trình sản xuất
+ HQKT ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng các giải pháp kinh tế và quản lý vào sản xuất
Như vậy, để đánh giá HQKT CNGT một cách đúng đắn chúng ta phải xem xét cả về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ giữa hiệu quả
bộ phận và hiệu quả chung, quan hệ giữa phạm vi vi mô và vĩ mô, quan hệ giữa hiệu quả hiện tại và lâu dài
Các mối quan hệ trong nghiên cứu hiệu quả kinh tế
HQKT là một phạm trù kinh tế có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù kinh tế - xã hội khác Vì vậy, hiểu các mối quan hệ này là cơ sở để nâng cao HQKT một cách tối ưu và phù hợp với nội dung và yêu cầu đặt ra Các mối quan hệ trong nghiên cứu HQKT bao gồm các quan hệ cơ bản sau [2][5][31]:
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả của các lợi ích
về xã hội và tổng chi phí xã hội Kết quả của các lợi ích xã hội như tăng công
Trang 24ăn việc làm, tăng niềm tin vào cuộc sống, cải thiện chế độ dinh dưỡng hằng ngày và cả những vấn đề về cải thiện môi sinh, môi trường Tổng chi phí xã hội thể hiện toàn bộ chi phí sản xuất của xã hội bỏ ra trong hoạt động sản xuất
xã hội
HQKT và hiệu quả xã hội là một phạm trù thống nhất có quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề thúc đẩy nhau cùng phát triển Nâng cao hiệu quả xã hội được dựa trên cơ sở nâng cao HQKT Việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội lại là điều kiện để thức đẩy các hoặt động sản xuất có HQKT cao hơn
- HQKT trong quan hệ phát triển bền vững
HQKT với quan điểm phát triển bền vững là HQKT được tạo ra với những tác động hợp lý để có nhịp độ tăng trưởng kinh tế tốt và đảm bảo hài hoà các lợi ích về mặt xã hội và môi trường trong hiện tại và cả tương lai Như vậy, việc giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa HQKT và hiệu quả
xã hội, giữa HQKT kinh tế hiện tại và lâu dài là đảm bảo cho phát triển kinh
tế một cách bền vững
- Mối quan hệ giữa hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và HQKT
Hiệu quả của một đơn vị kinh tế gồm hai thành phần là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Khi kết hợp hai độ đo này cho chúng ta độ đo HQKT [73]
+ Hiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency - TE)
Farrel cho rằng hiệu quả kỹ thuật là khả năng đạt đến mức sản lượng tối
đa từ một tập hợp nhất định các yếu tố đầu vào cho trước Như vậy, hiệu quả
kỹ thuật thuộc về những người thực hành giỏi nhất (best practice)
1.1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt
HQKT là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của bất kỳ đơn vị sản xuất xuất kinh doanh nào, các cơ sở CNGT cũng thế, nâng cao HQKT có
ý nghĩa rất quan trọng đối với các cơ sở chăn nuôi cũng như sự phát triển của ngành Vì thế, để có cơ sở nâng cao HQKT đòi hỏi phải xác định được các
Trang 25yếu tố ảnh hưởng để từ đó có các giải pháp nhằm hạn chế các tác động bất lợi, bảo toàn vốn, nâng cao thu nhập và lợi nhuận Trên cơ sở hỏi ý kiến chuyên gia, tra cứu các công trình nghiên cứu có liên quan đến đánh giá HQKT CNGT và nghiên cứu thực địa của tác giả, luận văn xác định 5 nhóm các yếu
tố ảnh hưởng đến HQKT CNGT như sau:
(1) Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên - khí hậu, thời tiết
Trong sinh thái chăn nuôi hiện đại, các yếu tố khí hậu, thời tiết được đặc biệt chú ý Cũng như con người, cây trồng, các sinh vật khác, gia cầm nói chung và gà thịt nói riêng chịu ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ của khí hậu, thời tiết, đặc biệt là vật nuôi ở quy mô nhỏ với chuồng trại giản đơn
Tác động của khí hậu,thời tiết lên gia cầmnói chúng và gà thịt nói riêng không chỉ phụ thuộc vào tính chất của yếu tố, mà còn phụ thuộc vào cường
độ Sự giảm hay tăng cường độ tác động ra ngoài giới hạn thích hợp của vật nuôi, sẽ làm giảm năng suất, HQKT mà thậm chí là khả năng tồn tại của vật nuôi Đối với mỗi loại gia cầm đều tồn tại tại vùng nhiệt độ, ánh sáng, cường
độ gió nhất định, người ta gọi vùng này là vùng trung tính Các giới hạn của vùng trung tính phụ thuộc nhiều yếu tố như loài, tuổi, số lượng đàn, sự nuôi dưỡng và khả năng thích nghi của vật nuôi ở gia cầm non sự biến đổi của khí hậu, thời tiết có tác động rõ hơn so với gia cầm trưởng thành, do sự điều hoà, khả năng thích nghi ở gia cầm non yếu hơn Đặc biệt, vào những lúc chuyển mùa khí hậu, thời tiết thay đổi đột ngột thì sự tác động lên gia cầm càng rõ nét
Các nghiên cứu của Morrison và Gunn [83], Ahmad và CTV [53] đều cho thấy rằng có sự ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết (mùa nuôi) đến HQKT CNGT
Ở miền Trung nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng chịu ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết tương đối khắc nghiệt, lạnh về mùa đông, nắng nóng vào mùa hè với cường độ cao, và điều này đã ảnh hưởng lớn đến năng suất, tỷ lệ hao hụt, HQKT trong chăn nuôi nói chung và gà thịt nói riêng Vì thế, để
Trang 26nâng cao HQKT CNGT cần lựa chọn mùa nuôi phù hợp và có các giải pháp phòng ngừa, thích nghi phù hợp
- Đất đai
Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên tự nhiên quan trọng nhất, là
cơ sở cho mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp Không có đất đai thì không thể tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong đó có hoạt động CNGT Và đất đai có ảnh hưởng lớn đến năng suất, HQKT sản xuất nông nghiệp nói chung và CNGT nói riêng Ở một vùng, địa phương có các loại đất
đa dạng, nguồn nước dồi dào, phù hợp cho nhiều loại thực vật phát triển là cơ
sở cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, trong đó có việc phát triển sản xuất thức ăn cho chăn nuôi gia súc, gia cầm tại chỗ Bên cạnh đó, đất đai được tập trung thành vùng lớn, địa hình thuận lợi và được quy hoạch hợp
lý sẽ rất thuận lợi để tiến hành chăn nuôi lớn, tập trung và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, nâng cao khả năng cạnh tranh và HQKT Ngược lại, đất đai nghèo nàn, manh mún, địa hình bị chia cắt bởi sông suối, đồi núi và không được quy hoạch cụ thể, chi tiết sẽ gây khó khăn cho hoạt động chăn nuôi, làm giảm năng suất và HQKT
(2) Nhóm yếu tố về năng lực của chủ thể chăn nuôi
- Kiến thức, kinh nghiệm chăn nuôi
Từ ngàn đời nay trong trồng trọt và chăn nuôi người dân luôn coi kiến thức và kinh nghiệm là một yếu tố không thể thiếu để đạt được hiệu quả cao trong sản xuất Đối với CNGT cũng vậy, kiến thức và kinh nghiệm là một trong những yếu tố then chốt để mang lại hiệu quả cao Những người nuôi không có kiến thức, kinh nghiệm thì hoạt động chăn nuôi thường không đúng quy trình kỹ thuật dẫn đến vật nuôi có khả năng sinh trưởng thấp, lãng phí hoặc có tỷ lệ hao hụt cao do dịch bệnh [83][93] Bên cạnh đó, nếu người chăn nuôi không nắm bắt được diễn biến của thị trường và không có thời điểm nuôi, thời gian nuôi hợp lý dẫn đến kết quả là họ thu hoặch sản phẩm chăn nuôi của mình không đúng thời điểm, bán với giá thấp, khó bán từ đó làm giảm lợi
Trang 27nhuận, giảm HQKT trong chăn nuôi [83][53] Ngược lại, đối với những người
có kiến thức, kinh nghiệm và thường xuyên tham khảo học hỏi những tiến bộ khoa học kỹ thuật chăn nuôi thì thường có các giải pháp phù hợp để nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí, giảm tỷ lệ hao hụt và họ thu hoạch sản phẩm của mình đúng thời điểm, bán với giá cao nên kết quả và HQKT là cao hơn
- Hình thức tổ chức chăn nuôi
Hình thức tổ chức chăn nuôi không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp đến HQKT CNGT mà còn ảnh hưởng đến các vấn đề môi trường và xã hội Mỗi hình thức chăn nuôi khác nhau sẽ dẫn đến sự lựa chọn về quy mô, con giống, chế độ chăm sóc, khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong chăn nuôi khác nhau Hình thức chăn nuôi truyền thống có quy mô nhỏ, đàn
gà không được chăm sóc đúng mức, hệ thống chuồng trại giản đơn vì thế đàn
gà chậm lớn, thời gian nuôi kéo dài, tỷ lệ hao hụt lớn sẽ dẫn đến HQKT thấp Bên cạnh đó, do không được nuôi khép kín nên dễ dẫn đến dịch bệnh và những tác động bất lợi đối với môi trường xung quanh Hình thức chăn nuôi
CN và BCN thường được chăn nuôi với quy mô lớn, có áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi, đàn gà được cho ăn và tiêm phòng đầy đủ nên đàn gà nhanh lớn, tỷ lệ hao hụt thấp và thường thì có kết quả và HQKT cao hơn Nhờ được chăn nuôi khép kín và được tiêm phòng đầy đủ nên tỷ lệ nhiễm bệnh thấp, hạn chế được các tác động bất lợi đến môi trường xung quanh [22]
Tuy nhiên, mỗi hình thức nuôi đều đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện chủ quan và khách quan khác nhau Cụ thể, hình thức chăn nuôi CN đòi hỏi người chăn nuôi phải có năng lực tốt về quản lý sản xuất kinh doanh, có mức đầu tư lớn, thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra phải đầy đủ, hoàn chỉnh Hình thức nuôi BCN chưa đòi hỏi các yếu tố về nguồn lực và thị trường đầu vào, đầu ra khắt khe như hình thức nuôi CN, nhưng hình thức chăn nuôi BCN đòi hỏi người nuôi phải có diện tích đất đai rộng lớn, thoáng mát nên hình thức chăn nuôi này thường phù hợp ở những
Trang 28vùng có đất đai rộng lớn, mật độ dân cư thấp [22]
Vì thế, để lựa chọn hình thức tổ chức chăn nuôi phù hợp không chỉ dựa vào các yếu tố chủ quan như năng lực quản lý, khả năng đáp ứng các yếu tố đầu vào mà cả những yếu tố khách quan như thói quen tiêu dùng, mật độ dân cư, khả năng tiếp cận các dịch vụ cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các sản phẩm đầu ra
- Quy mô nuôi
Sản xuất nông nghiệp nói chung và CNGT nói riêng việc lựa chọn quy
mô sản xuất phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng đối với nâng cao HQKT Các nghiên cứu của Nguyễn Văn Đức và Trần Long [62], Morrison và Gunn [83] hay Ahmad và Chohan [53] đều cho thấy rõ có sự tác động của quy mô nuôi đến HQKT CNGT
Ở nước ta trong thời gian gần đây vấn đề về quy mô nuôi được đặc biệt quan tâm và điều này thể hiện rõ trong Chiến lược phát triển chăn nuôi của
Bộ NN&PTNT [4] và của Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam [22] Để lựa chọn quy mô nuôi phù hợp các cơ quan quản lý và người chăn nuôi không phải chủ quan, tuỳ tiện mà phải xuất phát từ các cơ sở khoa học của từng vùng, địa phương như sự sẵn có của các yếu tố đầu vào, biến động của giá cả thị trường hay năng lực, trình độ quản lý của người chăn nuôi
Đây là yếu tố đầu vào rất quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất Theo nghĩa rộng thì vốn bao gồm tất cả tư liệu sản xuất, tri thức, sức khỏe, khả năng tổ chức quản lý Trong CNGT, vốn được xem là các yếu tố đầu vào như giống, thức ăn, thuốc thú y, hệ thống chuồng trại.Vốn có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chăn nuôi, khi có vốn người chăn nuôi có thể mở rộng quy mô
và tăng mức đầu tư, tăng HQKT và có khả năng tận dụng tốt hơn các cơ hội
từ bên ngoài [68] Đối với CNGT thì vốn được đầu tư để mua con giống, thức
ăn, thuốc thú y, xây dựng hệ thống chuồng trại, đến cuối vụ nuôi mới thu hồi được chi phí sản xuất trực tiếp và một phần để khấu hao tài sản cố định Vì
Trang 29vậy, đây là điều thường gây khó khăn cho người chăn nuôi không có vốn để đầu tư nhiều cho sản xuất Đặc điểm của vốn trong sản xuất nông nghiệp nói chung và CNGT nói riêng có độ rủi ro khá cao, một trận dịch lớn thì nguồn vốn sản xuất trực tiếp có thể chỉ còn lại con số không, vì vậy đã gây tâm lý e ngại đầu tư nên không mang lại kết quả cao
(3) Nhóm các yếu tố về thị trường
Bất kỳ hoạt động sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ nào cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của trị trường Trong hoạt động CNGT cũng vậy, yếu tố thị trường, bao gồm thị trường đầu vào và thị trường đầu ra có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả chăn nuôi [53][81]
Khi giá cả đầu vào, đầu ra ở mức phù hợp thì các cơ sở chăn nuôi có điều kiện tiết giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh và HQKT Bên cạnh đó, giá cả ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người chăn nuôi hạch toán sản xuất kinh doanh, trong trường hợp này người chăn nuôi thường có xu hướng mở rộng quy mô sản xuất, tăng mức đầu tư để thúc đẩy hoạt động chăn nuôi của đơn vị mình cũng như ngành chăn nuôi phát triển Ngược lại, giá các yếu tố đầu vào quá cao, hay giá đầu ra quá thấp
và biến đổi khó lường thì người chăn nuôi bị thua lỗ và họ cũng không thể nào tính toán được hiệu quả sản xuất, nên thường là họ giảm quy mô sản xuất
và thậm chí là đóng cửa hoạt động sản xuất kinh doanh
Bên cạnh yếu tố giá cả thì sự sẵn có của các yếu tố đầu vào, đa dạng thị trường đầu ra sẽ điều kiện thuận lợi giúp người chăn nuôi chủ động và tiết giảm chi phí từ đó làm tăng HQKT và ngược lại [11][53]
(4) Nhóm yếu tố về cơ sở hạ tầng phục vụ chăn nuôi
Cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng lớn đến khả năng hoạt động và HQKT không chỉ đối với hoạt động CNGT mà còn đối với tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh khác của nền kinh tế Cơ sở hạ tầng trong chăn nuôi bao
gồm: cơ sở hạ tầng kỹ thuật như: hệ thống giao thông, điện nước, các nhà máy, cơ sở sản xuất các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra; và cơ sở
Trang 30hạ tầng xã hội như các trung tâm, chương trình, dự án nghiên cứu ứng dụng
và chuyển giao khoa học kỹ thuật, đào tạo, tập huấn, phân tích, dự báo các vấn đề có liên quan đến hoạt động chăn nuôi Vì thế, việc đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng đầy đủ, hiện đại sẽ đảm bảo cho hoạt động chăn nuôi nói chung và
gà thịt nói riêng diễn ra thuận lợi, thông suốt và đạt được HQKT cao Ngược lại, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, lạc hậu, thiếu hụt sẽ làm cho hoạt động chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, ách tắc, bị động, tăng chi phí, giảm năng suất từ đó làm giảm khả năng cạnh tranh và HQKT [11]
(5) Nhóm yếu tố về chủ trương, chính sách của Nhà nước
Chủ trương, chính sách của Nhà nước, của chính quyền địa phương có ảnh hưởng rất lớn HQKT CNGT nói riêng và sự phát triển ngành chăn nuôi nói chung Các chủ trương, chính sách có tác động trực tiếp đến ngành chăn nuôi gồm: tín dụng, đất đai, hỗ trợ đầu tư ban đầu, tập huấn khoa học kỹ thuật Các chính sách nới lỏng, thông thoáng trong tín dụng, đất đai, tiếp cận khoa học kỹ thuật sẽ giúp người dân mạnh dạn đầu tư chăn nuôi, mở rộng quy
mô sản xuất Ngược lại các chính sách không phù hợp, ràng buộc và thụ động
sẽ cản trở đầu tư, giảm niềm tin và cả HQKT
Thêm vào đó, hiện nay nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu Ngành nông nghiệp nói chung và CNGT nói riêng cũng chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các chính sách về đầu tư, xuất nhập khẩu, chuyển giao khoa học kỹ thuật Vì thế, các cơ sở chăn nuôi đang có nhiều cơ hội để phát triển, nhưng cũng phải đối mặt với không ít những thách thức, khó khăn trong quá trình cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt Trong khi thực
tế cho thấy, hoạt động chăn nuôi nói chung và gà thịt nói riêng ở Việt Nam còn yếu về mọi mặt từ năng lực tài chính, kinh nghiệm quản lý đến năng suất, chất lượng sản phẩm, vì thế sự tác động này càng rõ nét đến kết quả và HQKT CNGT ở nước ta [11]
Trang 311.1.2 Tình hình chăn nuôi gà thịt trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ thịt gà trên thế giới
Đảm bảo nguồn cung lương thực, thực phẩm là vấn đề sống còn của nhân loại Trong nông nghiệp, ngành trồng trọt có vai trò cung cấp nguồn lương thực còn ngành chăn nuôi đóng vai trò cung cấp nguồn thực phẩm Trong chăn nuôi gia cầm thì chủ yếu là chăn nuôi gà, đàn gà chiếm trên 80% tổng đàn gia cầm và sản lượng thị gà chiếm 88% tổng sản lượng thịt gia cầm [98]
Trên thế giới gà được nuôi chủ yếu ở khu vực Châu Á, trong cả thời kỳ
2000 đến 2013 đàn gà ở Châu Á luôn chiếm trên 50% tổng đàn gà của toàn thế giới, tiếp theo là Châu Mỹ chiếm gần 30% và đàn gà ở Châu Âu chiếm khoảng 10% tổng đàn gà của toàn thế giới Nếu xét cho từng quốc gia thì Trung Quốc là cường quốc số một về chăn nuôi gà, năm 2009 đàn gà ở Trung Quốc là 4.702,2 triệu con và năm 2013 có khoảng 5.000 triệu con, nhì là Indonesia năm 2009 có 1.341,7 triệu con và năm 2013 là hơn 1.420 triệu con,
ba là Brazil năm 2009 có 1.205,0 triệu con và năm 2013 là hơn 1.300 triệu con Việt Nam năm 2009 có hơn 200 triệu và năm 2013 là 230,9 triệu con, đứng thứ 13 trên thế giới [72][98]
Trong hơn 10 năm giai đoạn 2000-2013 cùng với sự tăng trưởng của đàn
gà, sản lượng thịt gà trên thế giới liên tục tăng lên qua các năm, nếu năm 2000
Trang 32sản lượng thịt gà trên thế giới là 58,5 triệu tấn thì năm 2009 là 83,2 triệu tấn
và năm 2013 ước đạt trên 93 triệu tấn, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trong thời kỳ này là khoảng 1,5%/năm
Đứng đầu về sản lượng thịt gà trên thế giới là Châu Mỹ, sản lượng thịt
gà của khu vực này luôn chiếm từ 44 đến 46% sản lượng thịt gà của toàn thế giới Nước có sản lượng thịt gà nhiều nhất ở Châu Mỹ là Mỹ, năm 2013 quốc gia này đạt khoảng 18 triệu tấn, tiếp theo là Brazil hơn 12 triệu tấn và Mexico khoảng 3 triệu tấn [98]
Khu vực có sản lượng thịt gà nhiều thứ hai trên thế giới là Châu Á, Châu lục này chiếm khoảng 33% sản lượng thịt gà của toàn thế giới Nước có sản lượng thịt gà nhiều nhất ở Châu Á là Trung Quốc, năm 2013 đạt hơn 12 triệu tấn, tiếp theo là Ấn Độ khoảng 2,5 triệu tấn và Indonesia hơn 1,7 triệu tấn Việt Nam đứng thứ 15 ở khu vực Châu Á, năm 2013 đạt hơn 0,54 triệu tấn thấp hơn khá nhiều với các nước khác trong khu vực Asian như Malaysia 1,6 triệu tấn, Thái Lan 1,38 triệu tấn, Myanmar hơn 1 triệu tấn và philipines 0,9 triệu tấn [98]
Châu Âu có sản lượng thịt gà chiếm khoảng 16% tổng sản lượng thịt gà của toàn thế giới, nước có sản lượng thịt gà nhiều nhất ở Châu Âu là Nga, năm 2013 nước này đạt khoảng 3 triệu tấn, tiếp theo là Anh 1,5 triệu tấn năm
và Pháp là 1,3 triệu tấn [98]
Trang 33Châu Phi và Châu Úc là những Châu lục có sản lượng thịt gà thấp nhất so với các Châu lục khác, tổng sản lượng thịt gà của cả hai Châulụcnày chỉ ước đạt khoảng 5% tổng sản lượng thịt gà của toàn thế giới Nước sản xuất thịt gà chủ yếu ở hai khu vực này là Nam Phi, năm 2013 nước này đạt khoảng gần 1,6 triệu tấn, tiếp theo là Ai Cập khoảng 0,85 triệu tấn [98]
Nếu xét về sản lượng thịt gà theo quốc gia trên thế giới thì đứng đầu là
Mỹ tiếp theo là Trung Quốc và Brazil
Thịt gà là món ăn phổ biến và là nguồn cung cấp protein của mọi người trên toàn thế giới, cùng với sự phát triển về kinh tế và tăng dân số mức tiêu thụ về thịt gia cầm nói chung và thịt gà nói riêng ngày càng tăng Theo tổ chức FAO mức tiêu thụ về thịt gia cầm toàn cầu năm 2000 là 66,4 triệu tấn, năm 2009 là 91 triệu tấn và năm 2013 ước đạt hơn 106 triệu tấn, trong đó khoảng 88,6% là thịt gà Khu vực Châu Á năm 2000 là 24,4 triệu tấn, năm
2009 là 35,4 triệu tấn và năm 2013 ước đạt 42,5 triệu tấn, chiếm khoảng 40% tổng mức tiêu thụ thịt gà của toàn thế giới [98]
Nếu tính theo mức tiêu thụ bình quân đầu người/năm thì năm 2000 bình quân mỗi người trên toàn thế giới tiêu thụ 9,8 kg, năm 2009 là 12 kg và năm
2013 ước đạt 13,2kg Ở khu vực Châu Á con số này vào năm 2000 là 5,9kg, năm 2009 là 7,8kg và năm 2013 ước đạt 8,6kg, thấp hơn khá nhiều mức tiêu thu bình quân chung trên toàn thế giới
Trang 341.1.2.2 Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ thịt gà tại Việt Nam
Chăn nuôi gia cầm bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng 3.000 đến 3.500 năm trước và là nghề truyền thống lâu đời đối với hầu hết người dân [64] Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế, tuy nhiên chăn nuôi gia cầm nói chung và gà thịt nói riêng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ
Trong hơn 10 nămqua giai đoạn 2000-2013 đàn gia cầm có sự biến động đáng kể Trong những năm 2001 đến 2003 đàn gia cầm nói chung và đàn gà thịt nói riêng liên tục tăng lên, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 8,01%/năm đối với gia cầm, 10%/năm đối với gà và 13,5%/năm đối với gà thịt Tuy nhiên,
từ cuối năm 2003 đã xảy ra các đợt dịch cúm gia cầm trên diện rộng, trong thời gian dài đã ảnh hưởng rất lớn đến số lượng đàn gia cầm nói chung và đàn
gà thịt nói riêng ở nước ta So với năm 2003, số lượng đàn gia cầm năm 2007 giảm hơn 10%, đàn gà giảm gần 12% và đàn gà thịt giảm hơn 15%, sự sụt giảm nghiệm trọng này chủ yếu xảy ra ở đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ (miền Nam giảm 26,10%) và đồng bằng Sông Hồng (miền Bắc giảm 7,22%)[22] Trong giai đoạn này đàn gà chiếm từ 69 đến 74% tổng đàn gia cầm và đàn gà thịt chiếm từ 71 đến 75% tổng đàn gà
Trang 35Trong 5 năm gần đây dịch cúm gia cầm đã được kiểm soát tốt hơn nên
số lượng đàn gà gia cầm liên tục tăng lên, nếu năm 2009 đàn gia cầm cả nước
có 280,2 triệu con thì năm 2013 là hơn 314 triệu con, tăng khoảng 34 triệu con và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ này là 3%/năm; đàn gà tăng khoảng 30 triệu con, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 3,4%/năm; và đặc biệt đàn gà thịt đạt 179,13 triệu con vào năm 2013, tăng khoảng 33 triệu con
so với năm 2009 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ là gần 5%/năm Tuy nhiên, sự tăng trưởng của đàn gia cầm nói chung và gà thịt nói riêng là chưa bền vững do dịch bệnh vẫn âm ỉ xảy ra và giá cả thị trường biến động khó lường đã làm cho một số cơ sở chăn nuôi thua lỗ dẫn đến thu hẹp quy mô
và thậm chí là không có khả năng tái đàn
Trong giai đoạn này đàn gà chiếm khoảng 73% tổng đàn gia cầm và đàn
gà thịt chiếm từ 72 đến 78% tổng đàn gà, đàn gà thịt có xu hướng chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng đàn gà
Ở nước ta gà được nuôi nhiều nhất là ở các vùng như Đồng bằng Sông Hồng, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, ba vùng này chiếm khoảng từ 62 đến 65% tổng đàn gà cả nước, tuy nhiên đàn gà ở những vùng này đang có xu hướng giảm xuống, đặc biệt là vùng Đồng bằng Sông Hồng Một số vùng khác như Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Năm Bộ mỗi vùng chiếm khoảng 10% trong tổng đàn gà cả nước, nhưng số lượng đàn gà ở những vùng này đang có
xu hướng tăng lên
Vùng Bắc Trung Bộ có số lượng đàn gà chiếm từ 15 đến 16% tổng đàn
gà của cả nước Ở vùng này gà được nuôi nhiều nhất ở tỉnh Ninh Bình, Thanh Hoá và Nghệ An, mỗi tỉnh này có số lượng gà chiếm gần 40% tổng đàn gà của cả khu vực, tiếp theo là tỉnh Hà Tĩnh chiếm khoảng 12% Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế có số lượng gà không nhiều, mỗi tỉnh chỉ chiếm khoảng 5% tổng đàn gà của vùng [37]
Trang 36Cùng với thay đổi về số lượng đàn, sản lượng thịt gia cầm hơi và gà hơi cũng thay đổi khá lớn trong thời gian qua Trong giai đoạn 2000 đến 2003 sản lượng thịt gia cầm hơi và gà hơi liên tục tăng lên, sản lượng thịt gia cầm hơi tăng bình quân khoảng 10%/năm và đạt 455 ngàn tấn vào năm 2003; sản lượng thịt gà hơi tăng bình quân 11%/năm, đạt 352,7 ngàn tấn vào năm 2003
Trong giai đoạn 2004 đến 2007 do dịch bệnh nên sản lượng thịt gia cầm hơi và gà hơi đã có xu hướng giảm xuống, đặc biệt là vào năm 2005, thịt gia cầm hơi giảm khoảng 133 ngàn tấn và thịt gà hơi giảm khoảng 107 ngàn tấn
so với năm 2003 Trong giai đoạn 2009 đến năm 2013 sản lượng thịt hơi gia cầm đã có xu hướng tăng lên, tuy nhiên sự gia tăng này còn chậm Cụ thể thịt
Trang 37gia cầm hơi năm 2013 đạt 746,9 ngàn tấn, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ này là 5,8%/năm; thịt gà hơi năm 2013 đạt 542,28 ngàn tấn, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ là 5,3%/năm Trong tổng sản lượng thịt gia cầm hơi thì thịt gà hơi chiếm khoảng 72% và tỷ lệ này tương đối ổn định qua các năm
Thịt gà là món ăn khoái khẩu, là nguồn bổ sung dinh dưỡng tuyệt vời đối với mọi người dân Việt Nam Trong các sự kiện quan trọng hay những lúc ốm đau, bệnh tật từ thành thị cho đến nông thôn trong bữa ăn thường luôn có thịt gà
Cùng với sự phát triển kinh tế nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng, chất lượng cuộc sống ngày càng tăng nên mức tiêu thụ thịt gà liên tục tăng lên trongnhững năm qua, nếu năm 2006 bình quân mỗi người dân tiêu thụ 4,4kg/năm thì năm 2012 đã đạt khoảng 6,4kg/năm, tăng gần 50% so với năm
2006 Tuy nhiên mức tiêu thụ thịt gà ở nước ta vẫn thấp hơn khá nhiều so với một số nước trong khu vực như Malaisia (37,5 kg/người/năm), Thái Lan (12,6 kg/người/năm) và thấp hơn so với bình quân chung của Châu Á là 8,6kg/người/năm và thế giới là 12,9kg/người/năm [51]
Trang 381.2 Các nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt trong
và ngoài nước
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới có khá nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về hiệu quả kinh tế (HQKT) chăn nuôi gà thịt (CNGT) Để có cơ sở khoa học cho vấn đề nghiên cứu, tôi tiến hành phân tích, đánh giá các công trình cơ bản sau:
Morrison và Gunn [83] đã sử dụng phương pháp phân tích chi phí và kết quả sản xuất, phương pháp phân tổ thống kê để đánh giá HQKT của 128 trang trại CNGT ở bang Utah - Mỹ Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy HQKT CNGT chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố như quy mô nuôi, công nghệ nuôi,
tỷ lệ chuyển đổi thức ăn, tỷ lệ hao hụt, mùa vụ chăn nuôi và thời gian nuôi
Cụ thể, ở quy mô lớn, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn cao, tỷ lệ chết thấp, chăn nuôi vào mùa hè và thời gian nuôi từ 71 - 77 ngày sẽ đạt HQKT cao nhất
Ưu điểm của nghiên cứu này là đã phân tích rõ HQKT theo nhiều tiêu thức khác nhau, để từ đó có cơ sở khoa học đề xuất người chăn nuôi nên nuôi với quy mô, mùa vụ, thời gian nuôi như thế nào để đạt được HQKT cao nhất Việc nhìn nhận và đánh giá HQKT CNGT đa chiều của Morrison và Gunn là
có thể kế thừa và vận dụng ở Việt Nam Tuy nhiên, nhược điểm của nghiên cứu này là chưa chỉ rõ cách tiếp cận, khung phân tích và chưa định lượng được ảnh hưởng các các yếu tố đến HQKT CNGT Bên cạnh đó, có hai yếu tố
cần lưu ý: thứ nhất, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn, yếu tố này khó thực hiện được
ở Việt Nam vì người chăn nuôi sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau, bao
gồm cả thức ăn tinh và thô; thứ hai, nhiệt độ ở Mỹ có sự khác biệt so với ở
Việt Nam và xuất phát từ đặc điểm sinh học của vật nuôi nên yếu tố mùa vụ
có thể có sự tác động khác nhau ở các vùng nghiên cứu
Ahmad và CTV [53], Adepoju [54] đã sử dụng phương pháp phân tổ thống kê, phân tích ngân sách và các chỉ tiêu phân tích như tổng chi phí, chi phí cố định và chi phí biến đổi, tổng doanh thu, lợi nhuận để phân tích HQKT CNGT ở Nigeria và Pakistan Bên cạnh đó, bằng phương pháp phân
Trang 39tích hồi quy, phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA), các tác giã đã định lượng được ảnh hưởng của các yếu tố đến HQKT, đo lường được hiệu quả kỹ thuật trong CNGT để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm năng cao HQKT CNGT
Những phương pháp phân tích định lượng của Ahmad và Adepoju là rất hữu ích và có thể kế thừa, sử dụng Tuy nhiên, hệ thống chỉ tiêu tính toán theo chúng tôi là không phù hợp với thực trạng CNGT ở Việt Nam hiện nay, nơi nhiều chủ thể lấy công làm lãi và hoạt động chăn nuôi dựa nhiều vào nguồn lực tự có; nhiều nông hộ không có tài sản cố định và nếu có cũng rất khó xác định chi phí này vì những tài sản cố định đó được sử dụng cho nhiều hoạt động khác nhau Bên cạnh đó, HQKT chưa được phân tích theo nhiều tiêu thức khác nhau, HQKT trong điều kiện rủi ro cũng chưa được đề cập để thấy được bức tranh toàn cảnh về HQKT CNGT
Hassan và Nwanta [76], Emam và Hassan [67] đã sử dụng phương pháp
mô tả thống kê, phương pháp phân tích ngân sách và hệ thống chỉ tiêu phân tích như của Ahmad và Adepoju để nghiên cứu HQKT CNGT theo vùng sinh thái ở Nigeria và theo quy mô nuôi ở Sudan Kết quả nghiên cứu cho thấy: hoạt động CNGT góp phần cung cấp protein, cải thiện chế độ dinh dưỡng cho người dân ở hai vùng nghiên cứu; chi phí thức ăn chiếm từ 74 - 80% trong tổng chi phí CNGT và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chi phí, HQKT giữa các vùng sinh thái và quy mô nuôi Sự khác biệt này chủ yếu xuất phát từ trình độ phối hợp các loại thức ăn và nguồn thức ăn mà người chăn nuôi sử dụng, những cơ sở chăn nuôi quy mô lớn, gần nguồn cung cấp thức ăn hơn sẽ
có chi phí thấp hơn nên đạt HQKT cao hơn
Mặc dù các nghiên cứu này không phân tích rõ HQKT sẽ thay đổi như thế nào khi giá thức ăn thay đổi và chưa định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến HQKT, nhưng các nghiên cứu này cho thấy chi phí thức ăn là yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến HQKT CNGT Vì thế, việc tiết giảm chi phí thức
ăn như sử dụng hợp lý thức ăn, sự sẵn có các cơ sở cung cấp thức ăn để người
Trang 40chăn nuôi dễ tiếp cận và có điều kiện mua với giá rẻ hơn là cơ sở quan trọng
để nâng cao HQKT CNGT
Ahmad và Chohan [53] đã sử dụng phương pháp phân tích ngân sách và
hệ thống chỉ tiêu phân tích như của Adepoju để đánh giá HQKT của 60 trang trại CNGT ở vùng Jammu và Kashmir - Pakistan vào hai mùa vụ là mùa Đông và mùa Hè Kết quả nghiên cứu cho thấy vào mùa Đông HQKT CNGT cao hơn do các trang trại có thể nuôi với mật độ cao hơn, quy mô lớn hơn và đặc biệt là có giá bán cao hơn Tuy nhiên, nghiên cứu này không phân tích rõ HQKT của các loại giống, hình thức nuôi hay theo vùng sinh thái
Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng HQKT CNGT chịu sự ảnh hưởng của khí hậu thời tiết từng mùa và biến động giá cả, do đó để nâng cao HQKT CNGT người chăn nuôi cần nắm rõ quy luật khí hậu thời tiết và giá cả để đưa ra các quyết định tối ưu về thời điểm nuôi và mật độ nuôi
Emaikwu và Chikwendu [68] đã sử dụng hàm hồi quy Cobb- Douglas để nghiên cứu tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đến quy mô CNGT ở bang Kaduna - Nigeria Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trên 80% sự biến động của quy mô CNGT là chịu sự tác động của các yếu tố trong mô hình, trong đó các yếu tố như: thu nhập của hộ, trình độ văn hoá, số năm kinh nghiệm, nghề nghiệp chính là tác động thuận chiều và có ý nghĩa kinh tế và thống kê đối với quy mô nuôi; trong khi đó các yếu tố như độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, quy mô hộ là tác động nghịch chiều và không có ý nghĩa kinh tế và thống kê đến quy mô CNGT
Mặc dù nghiên cứu này không chỉ rõ HQKT CNGT có phụ thuộc vào quy mô chăn nuôi hay không nhưng nghiên cứu này gợi ý rằng để CNGT ở quy mô lớn người chăn nuôi cần phải có năng lực về tài chính, kỹ năng quản
lý hoạt động sản xuất tốt và có kinh nghiệm chăn nuôi dồi dào và ngược lại Begun [59] và Micah [81] khi nghiên cứu HQKT và chuỗi cung gà thịt của các cơ sở có hợp đồng và không có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm ở Bangladesh và Áo đã cho thấy rằng: HQKT CNGT của các cơ sở có hợp đồng