1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý và chống thất thu thuế xuất nhập khẩu trong ngành hải quan v2

91 66 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 408,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc buôn lậu gây thất thu thuế XNK baogồm các trường hợp như: Buôn lậu hàng hóa nhập một mặt hàng nhưng khai mặthàng khác có thuế suất thấp để được miễn thuế hoặc hưởng thuế suất thấp;

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO

TẠO HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

-Họ và tên tác giả luận án

QUẢN LÝ CHỐNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TRONG NGÀNH

HẢI QUAN GIAI ĐOẠN 2016-2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hà Nội- năm 2019

Trang 2

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT

NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO

TẠO HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

Hà Nội- năm 2019

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là nguồn thu chính của ngân sách nhà nước, thuế là một công cụ tàichính quan trọng của một Quốc gia Việc quản lý và chống thất thu thuế là một yêucầu rất quan trọng đối với việc ổn định ngân sách nhà nước, là khâu chủ đạo trong

hệ thống tài chính, là điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của Nhà nước Do đó mà công tác kiểm soát thu thuế là một vấn đề có vaitrò đặc biệt quan trọng trong quản lý vĩ mô, điều này giúp quá trình quản lý, sửdụng một cách hiệu quả nguồn lực tài chính khan hiếm của quốc gia và phân bổnguồn ngân sách hợp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển hài hoà về kinh tế xã hội Đồngthời kiểm soát và chốt thất thu thuế là yếu tố quyết định tới việc quản lý chi tiêucông của nhà nước, nếu không quản lý thu thuế tốt có thể dẫn tới việc thâm hụtngân sách Nhà nước gây ra tình trạng mất cân đối trong chi tiêu công Một hệ thốngthu thuế được quản lý tốt tốt sẽ mang lại nhiều lợi ích trong việc đẩy mạnh tăngtrưởng và ổn định kinh tế, ngược lại việc hệ thống quản lý thu thuế và chống thấtthu nếu được thiết kế không tốt, hoặc giám sát kém, lỏng lẻo đối với hoạt động thuthuế sẽ ảnh hưởng đến việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng đến tăng trưởngkinh tế, quản lý Nhà nước và cung cấp dịch vụ công

Tại Việt Nam thì thuế xuất nhập khẩu giữ một vai trò đặc biệt quan trọng đốivới nền kinh tế Trong hệ thống thuế của Việt Nam thì thuế xuất nhập khẩu mang lạinguồn thu lớn cho Ngân sách nhà nước chiếm tới 25% trong tổng nguồn thu thuế,đồng thời vừa là công cụ quản lý, điều hành vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước thôngqua điều tiết thuế suất để hạn chế xuất nhập khẩu, bảo hộ nền sản xuất trong nướchoặc khuyến khích xuất nhập khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng cao nhằm gópphần thúc đẩy kinh tế đối ngoại Trong thời gian qua, chính sách thuế xuất nhậpkhẩu của Việt Nam đã liên tục có những thay đổi tích cực với việc giảm các thủ tụchành chính, giảm thời gian thu thuế, tạo điều kiện thuận tiện cho doanh nghiệp đãgóp phần khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư, xuất nhập

Trang 4

khẩu phát triển mạnh mẽ và đúng hướng, tạo sự bình đẳng cho các đối tượng thamgia xuất nhập khẩu Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì trong quá trình tổ chứcthực hiện thuế xuất khẩu, nhập khẩu vẫn còn tình trạng thất thu thuế Thất thu thuếxuất khẩu, nhập khẩu đã xảy ra trong thời gian dài, số thuế thất thu không phải lànhỏ, làm ảnh hưởng xấu đến cân đối thu - chi của NSNN và tạo ra sự bất bình đẳnggiữa các doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.

Trong những năm vừa qua đặc biệt trong giai đoạn 2016 – 2018 thì ở Hảiquan Việt Nam đã xẩy ra nhiều trường hợp gian lận thuế, các thủ đoạn gian lận như:gian lận C/O, khai thấp giá hàng nhập khẩu, khai sai chủng loại hàng nhập khẩu,khai sai số lượng…Hay các thủ đoạn buôn lậu qua biên giới nhưng nay lại được tiếnhành với những hình thức tinh vi hơn Các hình thức gian lận thuế xuất nhập khẩu

đã được thực hiện ngay từ nước xuất khẩu hàng hóa trước khi đến nước nhập khẩuthông qua các biện pháp chuyển giá, chuyển khẩu, gian lận chứng từ xuất kho, làmgiả hợp đồng mua bán Do đó vấn đề đặt ra đối Hải quan Việt Nam là phải quản lýthu thuế và chống thất thu bằng những biện pháp mới phù hợp với sự biến đổikhông ngừng của thời đại thì mới có thể chống thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu

có hiệu quả Với ý nghĩa trên, tác giả đã chọn đề tài “ Quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu trong ngành Hải Quan giai đoạn 2016 – 2018” để nghiên cứu

nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Việc nghiên cứu quản lý quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ở nước ta trong nhữngnăm qua có rất nhiều các công trình nghiên cứu các nhà khoa học, các bao, tạp chí

và các cơ quan trung ương và địa phương như:

- Luận văn thạc sỹ kinh tế “Đổi mới cơ chế phân cấp và quản lý thu thuế” của

tác giả Trần Văn Cường(2011), Trong nghiên cứu tác giả đưa ra những phân tích,đánh giá về cơ chế phân cấp và quản lý thu thuế ở Việt Nam, từ trung ương đến cáccấp chính quyền địa phương Từ đó đưa ra những giải pháp đổi mới cơ chế quản lýthu thuế thực sự hiệu qủa và đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra Luận văn có

Trang 5

phạm vi nghiên cứu rộng, đó là cơ chế kiểm soát thu thuế nói chung Tuy nhiên luậnvăn không đi vào nghiên cứu tình hình kiếm soát thu thuế xuất nhập khẩu và chưađưa ra các giải pháp quản lý thu thuế xuất nhập khẩu của Hải Quan Việt Nam Bêncạnh đó giai đoạn nghiên cứu từ năm 2011 nên đã lạc hậu so với tình hình hiện nay.

- Luận văn Thạc sỹ kinh tế “Hoàn thiện công tác kiểm soát thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải Quan Thành phố Lạng Sơn” của tác giả Đào Thị Xuân( 2015).

Trong luận văn tác giả đã đưa ra những lý luận chung về công tác kiểm soát thuthuế và kinh nghiệm quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ở một số nước trên thế giới,tác giả đã phân tích thực trạng quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ở nước ta giai đoạn2012-2015, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường công táckiểm soát thu chi nhiều hơn cho chính quyền địa phương ở nước ta Luận vănnghiên cứu tổng quát công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại cục Hải QuanLạng Sơn Tuy nhiên mỗi địa phương lại có đặc thù riêng nên công tác quản lý thuthuế xuất nhập khẩu cho từng địa phương cũng khác nhau, do đó luận văn chưa đưa

ra được giải pháp cụ thể cho từng địa phương

- Luận văn Thạc sỹ kinh tế “Hoàn thiện quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại cụ Hải Quan tỉnh Khánh Hoà” của tác giả Nguyễn Minh Anh, năm 2015 Luận văn đã

trình bày những lý luận chung về quản lý thu thuế xuất nhập khẩu và đưa ra một sốvấn đề lý luận cụ thể về quản lý quản lý thu thuế xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnhtrực thuộc tỉnh như: nội dung, đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng Đồng thời luậnvăn cũng đi sâu đánh giá thực trạng, phân tích những nguyên nhân và đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ở Hải Quan tỉnhKhánh Hoà Luận văn đi sâu nghiên cứu công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu.Tuy nhiên luận văn chỉ nghiên cứu nội dung của công tác quản lý thu thuế xuấtnhập khẩu trong phạm cấp tỉnh mà chưa nghiên cứu cho toàn ngành Hải Quan

Nguyễn Viết Hùng (2016), đã có bài viết: ”Kiểm soát thu thuế xuất nhậpkhẩu trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế” Tác giả đã trình bày một cách khái quátcác giải pháp kiểm soát thu thuế trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới và nợ

Trang 6

công ở nhiều nước Tuy nhiên tác giả chưa đề cập nghiên cứu kiểm soát thu thuế địa

phương cụ thể nào Thời báo kinh tế Việt Nam, số 51, tr14 -18.

Hoàng Hồng Thắm (2014), đã có bài viết “Sự cần thiết tăng cường kiểm soát thu thuế xuất nhập khẩu trong kinh tế thị trường hiện nay”, Thời báo kinh tế Việt

Nam, số 24, trang 6-8 Tác giả đã đưa ra lập luận về sự cần thiết của việc phải tăngcường công tác kiểm soát thu thuế xuất nhập khẩu và chống gian lận thuế xuất nhậpkhẩu với việc đánh giá, phân tích và tổng hợp các nguyên nhân dẫn đến việc xuấthiện việc yếu kém của công tác kiểm soát thu thuế tại một số cục Hải Quan cửakhẩu Tuy nhiên tác giả chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể giải pháp chống thấtthu thuế xuất nhập khẩu cho ngành Hải Quan

Các công trình nghiên cứu tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, các

công trình nêu trên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về Quản lý và chống thất thu thuế xuất nhập khẩu ngành Hải Quan giai đoạn 2016 – 2018.

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất các giải pháp khả thi nhằmhoàn thiện công tác quản lý và chống thất thu thuế xuất nhập khẩu của Hải QuanViệt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn cần hoàn thành đượccác nhiệm vụ cơ bản sau:

- Hệ thống những vấn đề lý luận về quản lý thu thuế xuất nhập khẩu của ngànhHải Quan

- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác thu thuế xuất nhập khẩu của ngànhHải Quan giai đoạn 2016 – 2018

- Nghiên cứu đề xuất những giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản

Trang 7

lý và chống thất thu thuế xuất nhập khẩu của ngành Hải Quan

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: quản lý và chống thất thu thuế xuất nhập khẩu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: quản lý và chống thất thu thuế xuất nhập khẩu trong ngành HảiQuan

- Về thời gian: luận văn nghiên cứu trong thời gian 2016 - 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích và tổng hợp bằng thống kê mô tả được sử dụng trongtoàn bộ luận văn, đặc biệt là phần trình bày cơ sở lý luận và thực trạng quản lý vàchống thất thu thuế xuất nhập khẩu của ngành Hải Quan

Phương pháp lôgic được sử dụng trong toàn bộ luận văn để xây dựng cơ sở

lý luận và phân tích thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp Phương pháp lôgickết hợp với phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu ở chương hai để làm rõnhững ưu, nhược điểm của công tác kiểm soát thu thuế xuất nhập khẩu của ngànhHải Quan Những lập luận, kết luận đều được minh họa bằng thực tế quản lý vàchống thất thu thuế đối với ngành Hải Quan

Tác giả sử dụng phương pháp so sánh chéo va so sánh ngang bằng việc sửdụng phần mềm Excel các số liệu về thu thuế xuất nhập khẩu để đánh giá mức độtăng giảm và tốc độ tăng giảm của việc quản lý thu thuế xuất nhập khẩu của ngànhHải Quan trong giai đoạn 2016 – 2018

6 Đóng góp về lý luận thực tiễn của luận văn

- Hệ thống những vấn đề lý luận về quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ngành HảiQuan

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ngành Hải Quan

Trang 8

trong giai đoạn 2016 – 2018, chỉ ra những ưu, nhược điểm và nguyên nhân thất thuthuế xuất nhập khẩu.

- Đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao quản lý thu thuế xuất nhập khẩungành Hải Quan

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo,kết cấu Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận về quản lý thu thuế xuất nhập khẩu

Chương 2: Thực trạng quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu ngành Hải Quan

giai đoạn 2016 – 2018

Chương 3: Giải pháp nâng cao công tác quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu

ngành Hải Quan

Trang 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHỐNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TRONG NGÀNH HẢI QUAN1.1 Những vấn đề chung về thất thu thuế xuất nhập khẩu

1.1.1 Thuế xuất nhập khẩu

1.1.1.1 Khái niệm

Lịch sử phát triển xã hội loài người cho thấy thuế ra đời, tồn tại và phát triểngắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Để có nguồn tài chính đápứng nhu cầu chi tiêu, Nhà nước thường sử dụng bốn hình thức động viên là: bán tàinguyên, quyên góp của dân, vay dân và dùng quyền lực bắt dân phải đóng góp.Trong đó, quyên góp và vay thêm của dân là những hình thức không mang tính ổnđịnh lâu dài, thường chỉ được sử dụng giới hạn trong những trường hợp đặc biệt Đểđáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộcdân phải đóng thuế Có rất nhiều định nghĩa về thuế như:

“Thuế là một khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh,tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp v.v buộc phải nộp cho Nhà nước theo mứcquy định” [1, tr.15]; hoặc “Thuế là một hình thức phân phối thu nhập tài chính củaNhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hànhphân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế bắt buộc không hoànlại” [2, tr.25], hoặc “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và phápnhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụngcho mục đích công cộng” [3, tr.15], hoặc “Thuế là khoản nộp bắt buộc mà các phápnhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước trên cơ sở các văn bản phápluật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành, không mang tính chất đốigiá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp” [10, tr.24]

Trang 10

Như vậy, tổng quát lại, thuế có thể được hiểu “ Thuế là một khoản tiền hoặc hiện vật

mà các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp theo luật địnhcho Nhà nước theo mức độ, thời hạn cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhànước” Một phần thuế được trả về người dân một cách gián tiếp dưới các hình thứcnhư trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội và các quỹ tiêu dùng khác

Thuế quan là loại thuế mà các nước đánh vào hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nhằmhuy động nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, bảo hộ sản xuất và can thiệp vào quátrình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia Theo

Từ điển Luật học: “Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế gián thu đánhvào các loại hàng hóa XK, NK qua cửa khẩu biên giới” [10, tr 78]

Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt giải thích): “Thuế nhập khẩu (Import duty) làkhoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu Thuế nhập khẩu được sửdụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nướckhỏi sự cạnh tranh của nước ngoài” [11] Từ các định nghĩa khác nhau về thuế nêutrên, ta có thể hiểu về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như sau:

Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu hoặc nhậpkhẩu trong quan hệ thương mại quốc tế Thuế quan là cách gọi chung của hai loạithuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế là thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu Thuếxuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào hàng hoá được chuyên chở qua biêngiới hoặc lãnh thổ hải quan Thông thường, các nước đều không đánh thuế xuấtkhẩu để khuyến khích hoạt động xuất khẩu ngoại trừ một số ít mặt hàng là nguyênliệu thô, tài nguyên, khoáng sản Ngược lại, hầu hết các mặt hàng nhập khẩu đều bịđánh thuế nhập khẩu ngoại trừ một số mặt hàng khuyến khích nhập khẩu

1.1.1.2 Phân loại

Theo quy định hiện tại luật số 107/2016/QH13 ban hành ngày 06/04/2016, thuế suấtcủa loại thuế này thường có 3 mức[8]:

Trang 11

Mức thuế suất thông thường: “Dành cho việc nhập khẩu từ các nước không có thỏathuận đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam – MFN Cái nàybạn không cần tìm các quốc gia đó (đa phần toàn tên lạ) Bạn chỉ cần loại trừ từ cácquốc gia được hưởng mức thuế suất ưu đãi bên dưới là được”.

Mức thuế suất ưu đãi: “Hiện nay đã có gần 180 nước có MFN với Việt Nam Nên đa

số hàng nhập về đều được hưởng mức thuế suất này (Bạn có thể tra cứu danh sáchcác nước có MFN ở công văn: 8678/TCHQ-TXNK ngày 09/09/2016)”

Mức thuế suất ưu đãi đặc biệt: “Dành cho việc nhập khẩu từ các nước hoặc khu vực

có ký kết hiệp định thương mại song phương hoặc đa phương với nhau”

1.1.1.3 Đặc điểm

- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu “Nhà nước sử dụngthuế xuất khẩu, nhập khẩu để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việctác động vào cơ cấu giá cả của hàng hoá xuất, nhập khẩu Người nộp thuế làngười thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá; người chịu thuế làngười tiêu dùng cuối cùng Việc tăng, giảm thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu sẽ tác động trực tiếp tới giá cả hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, từ đó ảnhhưởng tới nhu cầu và việc lựa chọn hàng hoá của người tiêu dùng, buộc các nhàsản xuất và nhập khẩu hàng hoá phải điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanhcủa mình cho phù hợp” [4]

“Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gắn liền với hoạt động ngoạithương Hoạt động ngoại thương giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triểncủa nền kinh tế quốc dân, hoạt động này đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ củanhà nước Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một công cụ quan trọng của nhànước nhằm kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua việc khai báo, kiểm tra,tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu” [6]

Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tốquốc tế như: “sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế, các

Trang 12

thỏa thuận song phương, đa phương, chính sách kinh tế quốc gia và nhiều yếu tốkhác… Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu điều chỉnh hoạt động xuất khẩu, nhậpkhẩu hàng hoá của một quốc gia Sự biến động của kinh tế thế giới, xu hướngthương mại quốc tế trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới hàng hóa xuấtkhẩu, nhập khẩu của các quốc gia, nhất là trong xu thế tự do hoá thương mại,

mở cửa và hội nhập kinh tế như hiện nay Để đạt được những mục tiêu đề ra đòihỏi chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải có tính linh hoạt cao, có sựthay đổi phù hợp tuỳ theo sự biến động của kinh tế thế giới và thương mại quốc tế,phù hợp với các Hiệp định, thỏa thuận, cam kết quốc tế mà mỗi quốc gia ký kết,tham gia”[6]

Trong hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò chủ yếu của thuế XNK có thể kể đến là:

• Điều tiết hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu:

Trong nền kinh tế thị trường toàn cầu hoá, hoạt động thương mại quốc tếdiễn ra ngày càng lớn về quy mô, đa dạng về chủng loại Trong các luồng hàng hoáxuất khẩu, nhập khẩu đó có loại phục vụ nhu cầu thiết yếu cho mọi tầng lớp dân cưtrong xã hội, cũng có những mặt hàng phục vụ cho một số ít tầng lớp dân cư giàu cótrong xã hội Có những mặt hàng phục vụ cho mục đích an ninh quốc phòng, cũng

có những mặt hàng gây tổn hại đến anh ninh, an toàn xã hội… Để khuyến khích hay

Trang 13

hạn chế các loại hàng hoá đó nhà nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau như hạnngạch, quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật hay thuế quan, trong đó thuế quan vẫn làcông cụ hiệu quả Thuế quan là một bộ phận cấu thành giá hạch toán của hàng hoáxuất nhập khẩu Nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của hoạt động kinhdoanh xuất nhập khẩu Nhà nước sẽ đánh thuế tỷ lệ nghịch với mức độ khuyếnkhích đối với hoạt động xuất nhập khẩu một mặt hàng nào đó.

• Tạo nguồn thu ngân sách:

Thuế là nguồn thu chính cho ngân sách nhà nước Có nhiều sắc thuế được ápdụng như thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên, thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng Tuỳ theo từng quốc gia, từng thời kỳ khác nhau mà sự đóng góp của thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu trong tổng thu ngân sách là khác nhau Tỷ trọng này thường cao hơn

ở các nước đang phát triển Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò tạonguồn thu ngân sách của thuế xuất nhập khẩu càng ngày càng giảm Tuy nhiên, đốivới các nước đang phát triển với nền sản xuất trong nước yếu kém thì thuế xuấtnhập khẩu vẫn đóng vai trò quan trọng Với vai trò tạo nguồn thu cho ngân sách thìthuế xuất nhập khẩu là một phần của chính sách tài chính quốc gia

• Bảo hộ nền sản xuất trong nước:

Thuế quan bảo hộ được đưa ra với mục đích làm tăng giá một cách nhân tạođối với hàng hoá nhập khẩu làm giảm khả năng cạnh tranh của nó đối với hàng hóađược sản xuất trong nước Để thay thế, người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụnghàng hoá trong nước sản xuất Thuế quan bảo hộ được tính toán và đưa ra khi nhànước cho rằng ở mức thấp hơn thì sản xuất trong nước sẽ gặp phải sự cạnh tranh rấtquyết liệt từ hàng nhập khẩu và về cơ bản thị phần sẽ nằm trong tay các nhà nhậpkhẩu

Bảo hộ sản xuất trong nước nhằm hỗ trợ nền sản xuất phát triển, tạo công ănviệc làm và nguồn thu nội địa Bảo hộ cũng làm giảm tính cạnh tranh, lãng phínguồn lực gây thiệt hại cho người tiêu dùng Chính vì vậy việc lựa chọn ngành nghềbảo hộ, thời gian bảo hộ phù hợp là điều vô cùng quan trọng Về lâu dài thì đầu tưđổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý để nâng cao chất lượng, hạ giá

Trang 14

thành sản phẩm để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế mới là yếu tốquyết định.

• Khẳng định vai trò chủ quyền quốc gia:

Mọi hàng hoá đều phải khai báo, kiểm tra và tính thuế (nếu có) trước khiđược xuất nhập khẩu thể hiện việc khẳng định chủ quyền của một quốc gia “Khẳngđịnh chủ quyền quốc gia còn thể hiện ở việc đánh thuế khác nhau đối với hàng hóa

có xuất xứ từ những quốc gia hay vùng lãnh thổ khác nhau Trong xu thế hội nhậpkinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại, thuế xuất khẩu, nhập khẩu nói chung vàthuế nhập khẩu nói riêng còn đóng vai trò như một công cụ đối ngoại về mặt kinh tếgiữa các quốc gia, giữa các khu vực và thực hiện các cam kết quốc tế Vì vậy, ngoàimức thuế suất phổ thông, thuế nhập khẩu của các nước còn có thêm mức thuế suấtđặc biệt - gọi là thuế suất ưu đãi Thuế suất ưu đãi áp dụng cho hàng hoá có xuất xứ

từ nước hoặc nhóm nước có ký kết thoả thuận ưu đãi hoặc đối xử tối huệ quốc Mứcthuế suất ưu đãi thường được qui định thấp hơn mức thuế suất phổ thông” [12]

1.1.2 Thất thu thuế xuất nhập khẩu

1.1.2.1 Khái niệm

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về thất thu thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu Đây là một khái niệm không chỉ tồn tại ở Hải quan Việt Nam màcòn xuất hiện ở Hải quan nhiều nước trên thế giới Việc định nghĩa chính xác kháiniệm thất thu thuế còn phải dựa trên các cơ sở khoa học và thực tiễn của ngành Hảiquan và các khuyến nghị của Hải quan thế giới Theo từ điển Hán Việt, “Thất thuthuế: là việc nhập tiền vào quỹ không đủ, cụ thể hơn là thu không đạt định mức,dưới mức trung bình trong nộp thuế, sản xuất, kinh doanh” [19, tr.453] Ngoài ra,còn có một cách hiểu khác như: “Thất thu thuế được hiểu là hiện tượng trong đónhững khoản tiền từ các cá nhân, tổ chức có tiến hành các hoạt động sản xuất, kinhdoanh hay có những điều kiện cơ sở vật chất nhất định so với khả năng của họ cầnphải động viên vào NSNN, song vì những lý do xuất phát từ phía Nhà nước hayngười nộp thuế mà những khoản tiền đó không được nộp vào NSNN”

Trang 15

Thất thu thuế có thể do những nguyên nhân chủ quan hay khách quan, có thể

do những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp, nhưng để đạt được những mục tiêucủa chính sách thuế thì mọi Nhà nước đều tìm cách hạn chế thất thu thuế Để đưa rađược những biện pháp thiết thực chống thất thu thuế cần nghiên cứu các dạng thấtthu thuế và nguyên nhân gây ra thất thu thuế Như vậy có thể định nghĩa thất thuthuế XNK như sau: “Thất thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được hiểu là hiệntượng trong đó những khoản tiền từ các cá nhân, tổ chức có tiến hành các hoạt độngxuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật phải nộp vào NSNN nhưngkhông được thực hiện đầy đủ” [10]

1.1.2.2 Hình thức

• Nếu căn cứ vào nội dung quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:

Thất thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm hai loại:

Thất thu thuế thực: Là những khoản tiền phải thu vào NSNN đã được quyđịnh trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhưng thực tế vì lý do nào đó khôngđược nộp vào NSNN

Thất thu thuế tiềm năng: Là những khoản tiền thuộc khả năng tiềm tàngtrong nền kinh tế đáng lẽ phải được khai thác động viên vào NSNN nhưng khôngđược quy định trong các Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Nếu căn cứ vào hình thức thủ đoạn gian lận, trốn thuế:

Thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu bao gồm các loại chủ yếu sau:

- Thất thu do khai báo sai số lượng và chất lượng hàng hóa: Các đối tượngnộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thường khai số lượng hàng hoá trên tờ khai Hảiquan thấp hơn số lượng hàng hóa thực xuất khẩu, nhập khẩu Với hình thức gian lậnnày, các đối tượng có xu hướng làm giả hợp đồng và các chứng từ liên quan để nộpcho cơ quan Hải quan nhằm gian lận thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Thất thu do khai sai trị giá

Số thuế phải nộp được tính trên cơ sở trị giá hàng hóa, số lượng và thuế suất

Trang 16

nên các đối tượng có xu hướng khai thấp trị giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phảithanh toán nhằm giảm số thuế phải nộp Có hai hình thức gian lận chủ yếu là khaitrị giá thấp để giảm số thuế phải nộp và khai trị giá cao để gian lận ở quá trình thuếnội địa về sau như hoàn thuế, ưu đãi đầu tư, khấu hao tài sản…

Để khai sai trị giá tính thuế nhằm giảm số thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,đối tượng nộp thuế có thể sử dụng các biện pháp như: Cố tình kê khai sai, khai thấpgiá hàng nhập khẩu; Sử dụng giấy tờ giả để chứng minh hàng nhập khẩu có giáthấp; Làm sai giá hóa đơn; Giả mạo hóa đơn sử dụng máy tính cá nhân; Tráo đổicác tài liệu hoặc có sự đánh giá thấp trị giá hàng xuất khẩu, nhập khẩu giữa cáccông ty liên quan…

Thất thu do mô tả sai hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

Hình thức thất thu này thường xảy ra khi đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu cố tình phân loại và áp mã số thuế hàng hóa không chính xác Đối tượngnộp thuế đã lợi dụng sự phức tạp trong cơ cấu sản phẩm cũng như tên gọi, đặc biệt

là những sản phẩm mới, là hỗn hợp của nhiều chất hoặc linh kiện khó có thể phânbiệt bằng cảm quan để kê khai vào mã số có thuế suất thuế thấp nhằm giảm số tiềnthuế phải nộp Việc gian lận này thường thể hiện khi phát sinh ở các hình thức sau:Hàng hóa có nhiều tên gọi khác nhau, cách hiểu khác nhau; hàng hóa có nhãn máckhác nhau; hàng hóa xuất nhập khẩu có mức độ gia công, chế biến khác nhau; hànghóa có nhiều chi tiết tách rời; hàng nhiều thành phần với xuất xứ khác nhau; hànghóa hỗn hợp, đa thành phần; hàng hóa có nhiều tác dụng

Thất thu do giả mạo xuất xứ: Các đối tượng thường lợi dụng các Hiệp định

ưu đãi thuế quan của một nước ký kết với các nước khác để nhập khẩu hàng hóa từnước có thuế suất cao Các đối tượng gian lận dưới hình thức này thường sử dụngC/O giả hoặc chuyển tải qua nước có ưu đãi thuế ký kết, khai gian xuất xứ hàng hóa

để được cấp C/O của nước đó rồi nhập khẩu Gian lận thường thực hiện dưới cáchình thức: Thay đổi xuất xứ hàng hóa tại nước thứ ba; Sử dụng nước thứ ba và nhàcung cấp để che dấu xuất xứ thực sự của hàng hóa và lộ trình di chuyển của lô hàng;

Trang 17

Thay đổi xuất xứ thông qua các nước thứ ba để tránh mức thuế suất cao hơn

Thất thu do buôn lậu và thông quan hàng hóa trái phép

Đối tượng cố tình nhập khẩu những mặt hàng có thuế suất cao, nhưng vẫn làm thủtục Hải quan đầy đủ thông qua việc khai báo thành mặt hàng khác hoặc lợi dụng các

kẽ hở trong quy trình nghiệp vụ hải quan Việc buôn lậu gây thất thu thuế XNK baogồm các trường hợp như: Buôn lậu hàng hóa ( nhập một mặt hàng nhưng khai mặthàng khác có thuế suất thấp để được miễn thuế hoặc hưởng thuế suất thấp); Bốc dỡhàng hóa trái phép khi đang quá cảnh hải quan; Trao đổi hàng hóa dưới hình thứcthủ tục nhập khẩu tạm thời; Bán lại hàng hóa trái phép dưới sự kiểm soát hải quan;Thay đổi số series hàng hóa;…

Thất thu thuế do giả mạo trong giao dịch: Các đối tượng thường có xu hướng tạocác giao dịch ảo để làm thay đổi số thuế phải nộp hoặc lợi dụng các hình thức ưuđãi như kho ngoại quan, cửa hàng miễn thuế, để thực hiện giao dịch Các trườnghợp gây thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu thường diễn ra với các trường hợp như:Giả mạo con dấu; Sử dụng giấy phép nhận khẩu giả; Gian lận trong loại hình giacông; Gian lận trong loại hình đầu tư; Gian lận trong loại hình hàng tạm nhập táixuất, chuyển cửa khẩu, quá cảnh, kho ngoại quan, kho bảo thuế, lợi dụng tiêu chírủi ro, lợi dụng khu công nghiệp, khu chế xuất; lợi dụng khu kinh tế cửa khẩu; lợidụng ưu đãi hạn ngạch dành cho một số nước; lợi dụng loại hình xuất khẩu tạichỗ…

• Nếu căn cứ vào hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hưởng ưu đãi:

Thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu có thể bao gồm các loại chủ yếu sau:

- Thất thu thuế do lợi dụng hình thức xuất khẩu, nhập khẩu nguyên liệu để gia côngđược ưu đãi thuế

Các đối tượng thường gian lận thông qua hình thức đánh tráo chủng loại hàng giacông rồi bán vào thị trường nội địa, khai sai định mức gia công để bán phần nguyênliệu thừa vào nội địa

Trang 18

Thất thu thuế do lợi dụng loại hình đầu tư.

Để khuyến khích đầu tư, các nước đặc biệt là các nước đang phát triểnthường có xu hướng áp dụng các ưu đãi miễn, giảm thuế nhập khẩu với một số mặthàng doanh nghiệp nhập khẩu như hàng nhập khẩu đê tạo tài sản cố định, hàng hoá

là nguyên liệu thuộc loại trong nước chưa sản xuất được hoặc hàng hoá nhập khẩuđối với các ngành, lĩnh vực được nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển… Cácđối tượng thường có xu hướng lợi dụng qui định này để nhập khẩu hàng hóa vớithuế suất thấp hoặc hàng được miễn thuế nhập khẩu để bán vào thị trường nội địahoặc lợi dụng việc bán thanh lý để gian lận…

Thất thu thuế do hàng tạm nhập tái xuất, chuyển cửa khẩu, quá cảnh: Hìnhthức này chủ yếu gian lận do doanh nghiệp làm thủ tục nhập khẩu nhưng khôngxuất khẩu rồi tìm cách tiêu thụ trên thị trường nội địa

Thất thu thuế do lợi dụng kho ngoại quan, kho bảo thuế: “Theo qui định củachính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở hầu hết các nước đều cho phép doanhnghiệp có thể gửi hàng vào các kho ngoại quan, kho bảo thuế… chờ làm thủ tụcxuất khẩu hoặc nhập khẩu Lợi dụng qui định này, các doanh nghiệp thực hiện hành

vi gian lận thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bằng cách đánh tráo hàng, thông đồngtìm cách lấy hàng ra khỏi kho ngoại quan, kho bảo thuế để tiêu thụ nội địa nhằmmục đích trốn thuế”[8]

1.1.2.3 Nguyên nhân

Thất thu thuế XNK có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, có thể docác nguyên nhân mang tính chủ quan, cũng có thể do các nguyên nhân mang tínhkhách quan, việc tìm hiểu rõ các nguyên nhân gây ra thất thu thuế XNK là mộttrong những yêu cầu quan trọng để có thể đề ra được biện pháp chống thất thu thuếXNK Có thể kể đến một số nhóm nguyên nhân cơ bản gây thất thu sau đây:

• Thất thu thuế do nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, do thay đổi chính sách thuế của các quốc gia

Trang 19

“Khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, mỗi một quốc gia thành viên đềuphải thay đổi và tuân thủ các nguyên tắc đã cam kết trong quá trình hội nhập, một sốchính sách phải thay đổi theo như Luật thuế Xuất khẩu, Nhập khẩu, Biểu thuế suấtthuế xuất khẩu, nhập khẩu; cho phù hợp với tình hình phát triển của từng nước,

để phù hợp và thống nhất với một số Luật khác Đồng thời, cũng phải ban hànhnhiều văn bản hướng dẫn thống nhất đảm bảo mang lại nguồn thu cho ngân sáchnhà nước, bảo hộ sản xuất trong nước, định hướng tiêu dùng Việc ban hành các vănbản quy phạm pháp luật cũng đồng thời tạo nên những sơ hở mà các đối tượng buônlậu, trốn thuế lợi dụng lách luật với mục đích là đưa hàng hóa nhập khẩu có mứcthuế suất cao về mức thuế suất thấp, giảm tiền thuế phải nộp Hay một số nước khi

áp dụng giá tính thuế theo Hiệp định trị giá GATT, đã tạo điều kiện thuận lợi chodoanh nghiệp nhưng thực tế nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng để trốn thuế, qua một

số hình thức như: Khai giá thấp hơn so với giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phảithanh toán, khai sai tên hàng của mặt hàng thực nhập, gian lận trong hàng khuyếnmại, hàng phi mậu dịch Bên cạnh đó doanh nghiệp còn lợi dụng việc ân hạn chậmnộp thuế, hay mặt hàng có thuế suất cao phải nộp thuế ngay khai giá trị thấp, nhập ồ

ạt về, sau đó thay đổi số đăng ký kinh doanh bỏ trốn, mất tích; Khai sai số lượng,trọng lượng của hàng hóa; Ghi sai xuất xứ của hàng hóa với mục đích là để giảmmức thuế nhập khẩu” [13]

Thứ hai, do ảnh hưởng môi trường kinh tế: “Môi trường kinh tế là một trong nhữngyếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp bởi một môi trườngkinh tế thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanhcủa mình Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, do đó

để thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và khuyến khíchxuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy định khuyến khíchhoặc hạn chế việc xuất khẩu, nhập khẩu đối với một số hàng hóa Sự khuyến khíchhoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng có tính chất phân biệt đốivới các loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, do đó nếu không có những nghiên cứu

cụ thể sẽ gây ra những thất thu thuế tiềm năng Với những giai đoạn có sự thay đổi

Trang 20

trong chính sách như vậy, cơ quan Hải quan là đơn vị thực thi việc thu thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu sẽ căn cứ vào các văn bản quy định để tính và đề xuất cácchính sách thu thuế phù hợp Chính vì vậy môi trường kinh tế cũng ảnh hưởng đếnquản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa” [15].

Thứ ba, do sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật: Hội nhập kinh tế quốc tế, giúp cácnước có cơ hội tiếp nhận khoa học kỹ thuật và nền công nghệ cao của các nước pháttriển làm cho sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển có nhiều thuận lợihơn Tuy nhiên, nó luôn có tính hai mặt, bởi do sự phát triển của khoa học kỹ thuật,các nhà làm luật không lường hết tác động của các nhân tố mới nên không xây dựngđược một mức thuế phù hợp khi sản phẩm mới xuất hiện, dễ gây thất thu thuế tiềmnăng Thông thường phải sau một thời gian nhất định thì các cơ quan thuế mới cóthông tin đầy đủ để áp dụng mức thuế phù hợp nhất

Thứ tư, do tác động của hội nhập kinh tế quốc tế: “Hiện nay môi trường kinh doanhcủa một doanh nghiệp không chỉ bó hẹp ở một quốc gia mà còn trên rất nhiều nướckhác nhau khi tham gia và phân công lao động Các nước đang phát triển thườngphải đối mặt với tình trạng chuyển giá, khai khống hay giảm giá trị đầu tư với mụcđích trốn thuế Bên cạnh đó còn nhiều trường hợp lợi dụng ưu đãi quốc gia, lãnh thổ

để gian lận các chứng nhận xuất xứ gây thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu”

Thứ năm, do buôn lậu và gian lận thương mại: “Thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu

có nhiều nguyên nhân, song trong những nguyên nhân đó thì buôn lậu và gian lậnthương mại được đánh giá là vấn đề nhức nhối nhất hiện nay của các nước Hành vibuôn lậu thường do yếu tố lợi nhuận chi phối và thường diễn ra ở những mặt hàng

có thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cao, mặt hàng cấm xuất khẩu, nhậpkhẩu hay mặt hàng có thuế suất thấp nhưng mức tiêu thụ trên thị trường nội địa lớnnên dẫn tới lợi nhuận do buôn lậu cao”[14]

Từ những khái quát trên đây về các nguyên nhân cơ bản gây ra thất thu thuếmang tính phổ biến, ở đâu có thuế thì ở đó có người cố tình trốn thuế, lậu thuế, dovậy còn thất thu thuế Người nộp thuế khi thấy lợi ích của mình bị chia sẻ, họ luôn

Trang 21

luôn tìm cách làm giảm số thuế phải nộp; lúc đầu các hình thức trốn thuế còn đơngiản, mang tính cơ học, càng về sau cùng với sự phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế,thì các hình thức trốn thuế được che đậy dưới những hình dạng khác nhau, ngàycàng tinh vi hơn, có hệ thống hơn Khi một dạng trốn thuế này bị phát hiện, thìngười ta lại nghĩ ra một cách khác để trốn thuế Tuy nhiên, trong điều kiện từng Nhànước khác nhau, với mục đích khác nhau trong việc sử dụng công cụ thuế, với sựgiác ngộ, ý thức tuân thủ pháp luật về thuế khác nhau của các tầng lớp dân cư thìthất thu thuế diễn ra trên những mức độ, phạm vi, quy mô khác nhau và việc đưa racác biện pháp để chống thất thu thuế là cũng tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗimột quốc gia trong từng thời kỳ nhất định, đó cũng là nghệ thuật trong quản lý, điềuhành của mỗi quốc gia đó.

• Nguyên nhân chủ quan

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan, có nhiều nguyên nhân khác ảnh hưởngđến công tác thu thuế của Hải quan Các nguyên nhân chủ yếu là:

Thứ nhất, “do sự yếu kém về nghiệp vụ của công chức Hải quan: Trình độ nghiệp

vụ của cán bộ Hải quan cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế

Do sự phát triển kinh tế - xã hội, xuất hiện nhiều hình thức thương mại quốc tế,nhiều loại hàng hóa đa dạng về chủng loại, chất lượng, có thể sử dụng nhiều mụcđích Nếu trình độ nghiệp vụ của cán bộ Hải quan không đạt yêu cầu, thiếu kinhnghiệm sẽ dễ dẫn đến việc tiếp nhận đăng ký loại hình xuất nhập khẩu do doanhnghiệp đề nghị hay phân tích, phân loại, áp mã sai dẫn đến thất thu thuế xuất khẩu,nhập khẩu hoặc cho doanh nghiệp được hưởng chính sách ưu đãi thuế không hợp lý.Tính liêm chính của cán bộ Hải quan đóng vai trò quan trọng trong việc chống thấtthu thuế cho ngân sách Trình độ chuyên môn nghiệp vụ yếu kém dẫn đến tạo cơ hộicho hàng hóa sai quy cách nguồn gốc, chất lượng xấu thâm nhập vào thị trường.Đây chính là nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng thất thu thuế lớn nhất”[6].Thứ hai, “do công tác kiểm tra, kiểm soát chưa tốt: Để quản lý thuế xuất khẩu, nhậpkhẩu đạt hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước, thì cơ quan quản lý thuế

Trang 22

phải xây dựng một cơ cấu tổ chức quản lý thuế phù hợp với tính chất, quy mô, trình

độ phát triển của hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu tại nước mình Hiệu quả công tácquản lý thu thuế phụ thuộc vào khả năng vận hành bộ máy quản lý vì tại đây tổ chứcthực hiện các hoạt động của quản lý thu thuế bao gồm: xây dựng dự toán thu thuế,

tổ chức thực hiện thu thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, đốc thúc thu hồi nợ thuế… Tínhhiệu quả của tổ chức quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu thể hiện ở tính chuyênnghiệp có sự chuyên môn hóa trong các khâu nghiệp vụ, bố trí đúng người đúngviệc thành một dây chuyền liên hoàn từ khâu đăng ký tờ khai, kiểm tra khai báothuế, thu thuế, thông quan, phúc tập và kiểm tra sau thông quan đảm bảo giảm tối

đa thời gian thông quan cho doanh nghiệp mà vẫn thu đúng, thu đủ số thuế xuấtnhập khẩu mà doanh nghiệp phải nộp Tùy thuộc vào khối lượng công việc của từngkhâu mà bố trí số cán bộ phù hợp, nếu không sẽ bị ùn tắc, do sức ép về thời gianphải thông quan hàng hóa sẽ dễ dẫn đến sai lệch về số thuế phải thu” [7]

Thứ ba, do ý thức tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế: “Chủ thể chịu sựđiều chỉnh của các văn bản thuế, phải thực hiện khai báo thuế, nộp thuế chính lànhững đối tượng nộp thuế Số lượng và trình độ nhận thức của đối tượng nộp thuế

sẽ ảnh hưởng tới tổ chức bộ máy quản lý thuế Có thể nhận thấy rằng nếu đối tượngnộp thuế có am hiểu về pháp luật thuế cùng với ý thức chấp hành tốt pháp luật thìchắc chắn không bao giờ có hiện tượng gian lận thuế hay chây ỳ, nợ đọng thuế dẫnđến thất thu thuế Hay số lượng đối tượng nộp thuế nhiều, phức tạp thì cơ quan Hảiquan cũng phải điều chỉnh, bổ sung số lượng cán bộ cho phù hợp để vừa đạt yêu cầu

về thời gian thông quan, vừa đạt yêu cầu nhiệm vụ quản lý thuế”

Thứ tư, do đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn: Trong nền kinh tế thị trường hiệnnay sự phân hóa giàu nghèo ngày càng trở nên sâu sắc Một số người mong muốngiàu lên một cách nhanh chóng đã tham gia vào hoạt động buôn lậu, gian lận đểthoát khỏi cảnh nghèo đói Những vùng nông thôn vùng núi đặc biệt khó khăn, nêngian thương đã lợi dụng người dân để vận chuyển cho họ

1.1.2.4 Hậu quả

Trang 23

Hiện tượng thất thu thuế gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sốngkinh tế xã hội của quốc gia Cụ thể là:

- Về mặt kinh tế:

Thất thu thuế làm cho mục đích của thuế không đạt được, làm giảm nguồn thu từthuế của ngân sách Nhà nước, do đó sẽ làm thay đổi kế hoạch chi ngân sách củaNhà nước, ảnh hưởng đến quá trình thúc đẩy kinh tế phát triển, làm cho việc điềuhành của Nhà nước đối với nền kinh tế, xã hội giảm sút Cụ thể là:

Trước hết, “để có những cơ sở vật chất phục vụ cho việc thực hiện chức năng,nhiệm vụ của mình, Nhà nước đã động viên mọi tổ chức và cá nhân trong xã hộiđóng góp một phần thu nhập dưới hình thức thuế cho NSNN Cho nên, tạo nguồnthu cho NSNN là vai trò cơ bản, đầu tiên, là chức năng vốn có của thuế Cho nên,thất thu thuế sẽ giảm nguồn thu NSNN, dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách, ảnhhưởng đến vấn đề chi tiêu của Chính phủ Do đó gây hậu quả làm cho việc điềuhành của Nhà nước đối với nền kinh tế-xã hội bị giảm sút, thiếu điều kiện vật chất

để Nhà nước hoạt động Bước vào cơ chế thị trường, ngoài những ưu điểm của nónhư thị trường đóng vai trò hợp lý hóa và báo hiệu những mát cân đối của nền kinh

tế, đồng thời thị trường tự điều chỉnh những mất cân đối đó hoặc trong nền kinh tếthị trường, các doanh nghiệp được tự do cạnh tranh để giành được những ưu thếtrong việc cung cấp sản phẩm hàng hóa cho người tiêu dùng Nhờ đó, chất lượngsản phẩm hàng hóa được nâng cao, chủng loại hàng hóa phong phú, số lượng hànghóa dồi dào, hiệu quả của nền kinh tế ngày càng cao,…, thì thị trường cũng còn cónhững mặt trái như: Sự phân phối thông qua cơ chế thị trường gây nên sự khôngcông bằng xã hội; cơ chế thị trường chạy theo lợi nhuận là trên hết, nên không tậptrung sức lực, tiền vốn vào các mục đích xã hội, phúc lợi công cộng… Hơn nữa,với điều kiện hiện nay của nhiều nước là thị trường chưa hoàn chỉnh, tình trạng kinh

tế ngầm và kinh doanh phi pháp thường xuyên diễn ra, kinh doanh nhỏ, phân tán lạichiếm tỉ trọng lớn Điều đó làm cho công tác quản lý thu thuế gặp nhiều khó khăn

do không kiểm soát được hoạt động sản xuất kinh doanh và đây cũng là một trong

Trang 24

những nguyên nhân gây thất thu thuế.

Về xã hội”[16]

Thất thu thuế sẽ làm ảnh hưởng tới việc thực hiện công bằng xã hội và gây ra nhữngtiêu cực xã hội khác “Góp phần thực hiện công bằng xã hội là một trong những vaitrò quan trọng của thuế trong nền kinh tế xã hội Đồng thời đây cũng là một trong

ba mục tiêu cơ bản của hệ thống thuế Bằng các chính sách thuế và cơ chế quản lý,điều hành công cụ thuế, một mặt Nhà nước điều tiết thu nhập của những người giàu

có, phân phối lại cho những người nghèo thông qua chính sách chi NSNN, mặt khácbao quát hết nguồn thu, giám sát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả cácthành phần kinh tế, đảm bảo cho mọi đối tượng có hoạt động sản xuất kinh doanh,dịch vụ đều được quản lý và đều phải nộp thuế Sản xuất kinh doanh cùng ngànhnghề, mặt hàng thuộc mọi thành phần kinh tế trên toàn lãnh thổ quốc gia…thì phảiđược thực hiện nghĩa vụ thuế như nhau Xảy ra tình trạng thất thu thuế thì sự côngbằng không thể thực hiện được, trước hết là công bằng trong nghĩa vụ đóng thuếgiữa những đối tượng sản xuất, kinh doanh trong xã hội, giữa những đối tượng sảnxuất, kinh doanh trong xã hội, giữa những người sản xuất kinh doanh với nhữngngười hưởng chính sách xã hội… đối với các chủ thể trốn lậu được thuế thì họ sẽgiảm giá bán, đẩy nhanh việc tiêu thụ, thu hồi vốn và quay vòng vốn nhanh, ngượclại, người không trốn được thuế (tức là chấp hành nghiêm nghĩa vụ nộp thuế vớiNhà nước) thì giá bán sản phẩm cao, số lượng sản phẩm tiêu thụ chậm, vòng quayvốn chậm dẫn đến sản xuất không phát triển và có thể dẫn đến tình trạng phá sản.Điều này được hạn chế dần khi Nhà nước tham gia vào quá trình tái phân phối củacải xã hội bằng “chính sách phân phối lại” Thông qua việc áp dụng chính sách thuếlũy tiến đối với tầng lớp có thu nhập cao, đánh thuế nhẹ hoặc không đánh thuế đốivới tầng lớp có thu nhập thấp, đánh thuế nặng đối với hàng hóa tiêu dùng xa xỉ hoặcđánh thuế nhẹ và miễn thuế đối với hàng hóa tiêu dùng thiết yếu đối với đa số dâncư…khi nền kinh tế càng phát triển thì những khoản chi ngân sách đảm bảo cho nhucầu xã hội ngày càng tăng lên, vai trò điều tiết thu nhập góp phần thực hiện côngbằng xã hội của thuế càng được biểu hiện rõ nét hơn Việc xảy ra tình trạng thất thu

Trang 25

thuế sẽ tạo điều kiện cho những hoạt động sản xuất kinh doanh trái Pháp luật,những hoạt động thu lợi bất chính phát triển, đồng thời làm ảnh hưởng đến việc bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi thành viên trong xã hội, tạo điều kiện cho sựphân hóa nhanh chóng kẻ giàu, người nghèo trong xã hội, gây ra tình trạng bất hợp

lý trong phân phối thu nhập, bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa cáctầng lớp dân cư Không những thế, thất thu thuế còn làm ảnh hưởng đến trật tự xãhội, làm cho pháp luật bị vi phạm, kỷ cương của Nhà nước không nghiêm”[12]

1.2 Những vấn đề chung về quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu trong ngành Hải quan

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu

1.2.1.1 Khái niệm về quản lý thuế xuất nhập khẩu

Theo nghĩa rộng, “quản lý thuế xuất nhập khẩu là việc nhà nước tác động có tổ chức

và bằng pháp quyền đối với các quá trình kinh tế xã hội và hành vi của con ngườinhằm thực hiện các mục tiêu chung thông qua công cụ thuế quan Theo cách hiểunày, phạm vi của hoạt động quản lý nhà nước về hải quan đối với thuế xuất nhậpkhẩu bao gồm toàn bộ các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp về lĩnh vựcthuế xuất nhập khẩu”[15]

Theo nghĩa hẹp, “quản lý thuế xuất nhập khẩu là việc cơ quan hải quan sử dụngquyền lực nhà nước để tổ chức thực hiện các quy định về thuế đối với hàng hoá xuấtnhập khẩu Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, khái niệm quản lý nhà nước vềhải quan đối với thuế xuất nhập khẩu được được hiểu theo nghĩa hẹp”[15]

1.2.1.2 Khái niệm về quản lý chống thất thu

Với tư cách là cơ quan chấp hành thu, mục tiêu cơ bản của hoạt động quản lýthuế xuất nhập khẩu là thực hiện thu đúng, thu đủ đồng thời tạo điều kiện thuận lợicho thương mại phù hợp với các thông lệ quốc tế “Quản lý chống thất thu thuế xuấtnhập khẩu là hoạt động quản lý nhà nước trong thực hiện và kiểm tra việc thực hiệncác chính sách thuế XNK của cơ quan quản lý đối với các hoạt động của đối tượng

Trang 26

quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý, không để xảy ra các hiện tượng trốnthuế trong hoạt động xuất nhập khẩu”[19].

1.2.1.3 Đặc điểm quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu

Quản lý chông thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu thường nhấn mạnh đến cácnội dung mang tính chấp hành như qui trình quản lý thu thuế, chế đố quản lý sổ thu,quản lý ấn chỉ, quản lý nợ thuế, quản lý đối tượng nộp thuế, các chính sách miễn,giảm, hoàn thuế, truy thu thuế…Tuy nhiên, qua nghiên cứu khái niệm về quản lýthuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, để đạt được mục tiêu của công tác quản lý, cần phảiquán triệt đầy đủ những nội dung cơ bản của công tác quản lý thuế xuất khẩu, nhậpkhẩu đó là[15]:

- Xây dựng và ban hành chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:

“Chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm hệ thống các văn bản phápluật quy định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như: Luật thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn Luật thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu, Thông tư của các Bộ hướng dẫn Nghị định của Chính phủ”

- Xây dựng qui trình qui phạm quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu:

“Trên cơ sở các chính sách nhà nước về quản lý thuế xuất nhập khẩu cơ quan quản

lý thuế xuất nhập khẩu xây dựng các qui trình cụ thể cho tất cả các loại hình kinhdoanh xuất nhập khẩu, qui định cụ thể các khâu nghiệp vụ từ khâu đăng ký, tiếpnhận, kiểm tra hàng hóa, tính thuế, theo dõi thu thuế, số nợ thuế, nợ khó đòi, tiềnphạt chậm nộp thuế, tiền phạt theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, các khoảnphí và lệ phí”

- Tổ chức thực hiện chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã đượcban hành, bao gồm các nội dung: tổ chức bộ máy quản lý, tuyển dụng và đào tạocán bộ, tổ chức tuyên truyền về chính sách thuế, quản lý nợ thuế, cưỡng chế thuế.Gồm:

+ Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế Xuất nhập khẩu:”Chínhsách thuế xuất nhập khẩu chỉ có thể đi vào thực tiễn cuộc sống một cách đầy đủ,

Trang 27

thống nhất khi và chỉ khi công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật vềthuế được triển khai sâu rộng trong quần chúng nhân dân Mọi tổ chức, cá nhân cầnphải có nhận thức đầy đủ các quy định của pháp luật, đồng thời phải hiểu rõ tráchnhiệm và quyền hạn của các cơ quan chức năng; quyền lợi và nghĩa vụ của côngdân, những hạn chế mà pháp luật quy định Việc tăng cường công tác tuyên truyền,phổ biến pháp luật còn có ý nghĩa nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về thuế củacông dân và tổ chức Đồng thời, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với việc thựcthi chính sách thuế, đảm bảo tính công khai, minh bạch và công bằng xã hội”.

+Tổ chức quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu:

Quản lý đối tượng nộp thuế: là khâu đầu tiên và quan trọng nhất đối với côngtác quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu Thông tin về đối tượng nộp thuếthông qua mã số thuế cho biết “lai lịch” “lịch sử” hoạt động của đối tượng nộp thuế.Những thông tin liên quan đến doanh nghiệp sẽ cung cấp cho cơ quan hải quannhững căn cứ để ra các quyết định quản lý như quyết định hình thức mức độ kiểmtra, quyết định việc có được ân hạn thuế hay không “Nhằm quản lý chặt chẽ cáccác đối tượng có hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu phải dựa trên cơ sở dữ liệuđược xây dựng về đối tượng kinh doanh xuất nhập khẩu Dựa trên cơ sở thông tinthu thập được cơ quan hải quan tiến hành tổng hợp, phân tích, xử lý thông tin vàphân loại đối tượng để có cơ sở áp dụng quản lý rủi ro trong các lĩnh vực nghiệp vụhải quan nhằm tập trung nguồn lực để quản lý đối với doanh nghiệp có tính rủi rocao, áp dụng hình thức kiểm tra hàng hoá Xuất nhập khẩu phù hợp theo qui địnhđồng thời hạn chế sự can thiệp của cơ quan hải quan đối với các doanh nghiệp chấphành tốt pháp luật Qua đó khuyến khích các doanh nghiệp tự nguyện chấp hành tốtpháp luật”[18]

Quản lý căn cứ tính thuế: “dựa vào thủ tục khai báo hải quan của đối tượngnộp thuế Xuất nhập khẩu Các đối tượng có hàng hoá Xuất nhập khẩu căn cứ vào tờkhai hải quan, có trách nhiệm kê khai đầy đủ, chính xác các tiêu chí ghi trên tờ khai

để xác định đúng đối tượng, đúng thuế suất theo qui định của pháp luật Căn cứ vàocác nội dung đã kê khai, đối tượng nộp thuế phải tự tính số thuế phải nộp theo qui

Trang 28

định Thực hiện kê khai theo tờ khai hải quan có ý nghĩa quan trọng, nhất là trongđiều kiện cải cách thủ tục hành chính, đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính, tự nộpthuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai của mình Do đó, yêucầu các đối tượng nộp thuế phải nắm bắt sâu về danh mục hàng hoá của biểu thuếXuất nhập khẩu” [20].

* Quy trình thủ tục hải quan nói chung và quản lý thu thuế đối với hànghoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại nói riêng được thực hiện qua các bước sau:

“Bước 1: - Kiểm tra tư cách pháp lý của người khai báo hải quan

Bước 2: - Kiểm tra các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan (số lượng, chủng loạichứng từ, tính hợp lệ của chứng từ), kiểm tra nội dung khai hải quan, đối chiếu nộidung khai hải quan với các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan Các chứng từ thuộc hồ

sơ hải quan bao gồm: tờ khai hải quan, bảng kê chi tiết hàng hoá đối với lô hàng cónhiều chủng loại, giấy phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu của cơ quan quản lý nhànước có thẩm quyền, hợp đồng mua bán hàng hoá, hoá đơn thương mại, bản sao vậntải đơn, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (C/O)… kiểm tra hồ sơ và thông quanhàng hóa đối với các lô hàng miễm kiểm tra thực tế hàng hoá

Bước 3: - Kiểm tra thực tế hàng hoá: là quá trình cơ quan hải quan công khaikiểm tra hiện vật được xuất trình để đối chiếu thực tế hiện vật so với chứng từ khaibáo đã được đăng ký thủ tục hải quan Từ đó, làm cơ sở để xác định chính xác sốthuế Xuất nhập khẩu phải nộp đối với hàng hoá Xuất nhập khẩu Để thực hiện việckiểm tra thực tế hàng hoá có hiệu quả, cơ quan hải quan tiến hành tổ chức thu thậptrao đổi thông tin để xây dựng cơ sở số liệu về quá trình chấp hành pháp luật củachủ hàng, chính sách quản lý Xuất nhập khẩu, tính chất, chủng loại, nguồn gốc hànghóa xuất nhập khẩu, các thông tin liên quan, cơ quan hải quan sẽ quyết định hoặcthay đổi hình thức, tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hoá, cách xác định tỷ lệ kiểm tra thực

tế hàng hoá đối với từng lô hàng Xuất nhập khẩu cụ thể Việc kiểm tra thực tế hànghoá phải xác định được các thông số quan trọng nhất là: tên và mã hàng, xuất xứ, sốlượng hàng, bảo đảm yêu cầu xác định được giá tính thuế và thuế suất Việc xácđịnh mã số và thuế suất phải thực hiện theo nguyên tắc: một mặt hàng chỉ phân loại

Trang 29

vào một mã số và chỉ có một mức thuế suất nhập khẩu duy nhất và phải được thốngnhất trên toàn quốc Thực hiện thông quan đối với lô hàng phải kiểm tra thực tếhàng hóa.

Bước 4: - Thu thuế, lệ phí hải quan; đóng dấu “Đã làm thủ tục hải quan”; trả

tờ khai cho người khai hải quan

Bước 5: - Phúc tập hồ sơ

Với mục tiêu đơn giản hoá thủ tục hành chính, cơ quan hải quan đã giảm bớtviệc kiểm tra thực tế hàng hoá mà chuyển sang quá trình kiểm tra sau thông quan.Đây là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan nhằm thẩm định tính chính xác,trung thực của nội dung các chứng từ mà đối tượng nộp thuế đã xuất trình với cơquan hải quan để ngăn chặn, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm chính sách quản

lý Xuất nhập khẩu đối với hàng hoá Xuất nhập khẩu đã được thông quan Đối tượngkiểm tra sau thông quan là các chứng từ, sổ sách kế toán, các chứng từ khác có liênquan đến lô hàng Xuất nhập khẩu, hàng hoá Xuất nhập khẩu đã được thông quan.Việc kiểm tra sau thông quan chỉ được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu vi phạmpháp luật đối với hàng hoá xuất nhập khẩu đã được thông quan”

* Quản lý thu nộp tiền thuế: “Cùng với việc đẩy mạnh cải cách thủ tụchải quan, công tác quản lý thu nộp tiền thuế cũng được cải cách theo hướng đơngiản và tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng nộp thuế Trong đó, chú trọng tăngcường mối quan hệ phối hợp giữa Hải quan - Thuế - Kho bạc - Các tổ chức tíndụng, đẩy mạnh trao đổi thông tin, đảm bảo việc thanh khoản, xác định nộp thuế kịpthời nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu nộp tiền thuế Ngoài ra, cơ quanhải quan cũng tăng cường quản lý các đối tượng nợ thuế quá hạn, chây ỳ; tổ chứcphối hợp với các cơ quan chức năng cưỡng chế thi hành, phát hiện các trường hợp

vi phạm để đảm bảo việc đôn đốc, thu nộp thuế”

* Quản lý miễn, giảm, hoàn thuế, không thu thuế: “Chính sách miễn,giảm, hoàn thuế Xuất nhập khẩu nhằm thực hiện các mục tiêu, chính sách ưu đãithuế của nhà nước đối với một số đối tượng, hàng hóa và đảm bảo thực hiện đúngcác thông lệ, tập quán thương mại quốc tế, các lĩnh vực khuyến khích đầu tư sản

Trang 30

xuất trong nước, hoặc thu hút đầu tư, khoa học công nghệ phục vụ sản xuất trongnước”.

Chủ thể tham gia vào quá trình quản lý trên thực tế có rất nhiều cơ quan trựctiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình quản lý như: “Hải quan, Thuế vụ, Quản lýthị trường, Công an, Bộ đội biên phòng, Thương mại,…và nhân dân Đối tượng bịquản lý đa dạng và phức tạp, bao gồm tất cả các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạtđộng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thuộc mọi thành phần kinh tế và tất cả cáchàng hóa được phép hoặc không được phép xuất khẩu, nhập khẩu đều thuộc đốitượng của công tác quản lý Quản lý thuế Xuất nhập khẩu đòi hỏi sử dụng nhiềubiện pháp, kỹ thuật nghiệp vụ để thực hiện công tác quản lý, bao trùm toàn bộ cácnội dung của công tác quản lý, từ khâu xây dựng chính sách, tổ chức thực hiệnchính sách đến việc kiểm tra việc thực hiện chính sách Địa bàn quản lý rộng khắptrải dài trên toàn lãnh thổ, từ cửa khẩu biên giới đất liền, trên biển và trong nước”

- Kiểm tra thanh tra việc thực hiện chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu trong thực tiễn bao gồm cả việc giải quyết khiếu nại về thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu: Kiểm tra thuế xuất nhập khẩu là việc cơ quan hải quan áp dụng các biệnpháp nghiệp vụ kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa nhằm xác địnhtính chân thực của các khai báo hải quan về thuế xuất nhập khẩu Kiểm tra thuế cóthể được thực hiện trước, trong và sau thông quan

Thanh tra thuế xuất nhập khẩu là việc cơ quan hải quan thực hiện các biệnpháp nhằm xác minh, làm rõ việc chấp hành pháp luật về thuế xuất nhập khẩu củađối tượng nộp thuế, công chức quản lý thuế, đối tượng liên quan khi có dấu hiệu viphạm pháp luật hoặc khi có khiếu nại, tố cáo

1.2.2 Vai trò của quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu trong ngành Hải quan

Thứ nhất, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, giao lưu thương mại quốc

tế phát triển không ngừng, lưu lượng hàng hóa qua lại cửa khẩu ngày càng tăngmạnh, đa dạng cả về phương thức và chủng loại hàng hóa Để tạo thuận lợi cho

Trang 31

thương mại quốc tế phát triển cũng như đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chínhnên việc quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu nhằm kiểm soát hiện tượnggian lận thương mại về thuế xuất khẩu, nhập khẩu đối với tất cả các lô hàng xuấtkhẩu, nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng cho ngành Hải quan.

Thứ hai, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, do thực hiện các cam kếttheo các Hiệp định song phương và đa phương đã ký kết nên hàng hóa nhập khẩu từcác quốc gia khác nhau sẽ áp dụng theo các quy định đã thỏa thuận trong các Hiệpđịnh ký kết khác nhau Nói khác đi, xuất xứ của hàng nhập khẩu sẽ quyết định đếnmức thuế suất thuế nhập khẩu được áp dụng Đối với hàng nhập khẩu có xuất xứ từnước, khối nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận đối xử tối huệ quốc hoặc có thỏathuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu sẽ được áp dụng mức thuế suất thuế nhậpkhẩu thấp hơn Do vậy, người nộp thuế có thể lợi dụng quy định này để thực hiệnhành vi gian lận thuế nhập khẩu, gây thất thu cho NSNN Vì vậy, quản lý chốngthất thu thuế xuất nhập khẩu đảm bảo việc gian lận trong thuế nhập khẩu không xảy

ra đối với cơ quan Hải quan ở các nước

Thứ ba, do sự phát triển của trình độ khoa học và công nghệ nên người nộpthuế xuất nhập khẩu có thể lợi dụng các thành tựu của khoa học công nghệ để thựchiện các hành vi gian lận thuế xuất khẩu, nhập khẩu Đây thực sự là một vấn đề khókhăn đối với cơ quan Hải quan ở các nước đang phát triển như Việt Nam do đó màviệc quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu càng giữ vai trò quan trọng đối vớiHải quan Việt Nam

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu

Trang 32

khẩu Cơ quan Hải quan là cơ quan trực tiếp tổ chức và thực hiện quản lý thu thuếxuất khẩu, nhập khẩu cũng như các thuế khác liên quan đến hàng hoá xuất khẩu,nhập khẩu theo phương pháp, kỹ thuật của mình Tổ chức bộ máy và nguồn nhânlực của cơ quan Hải quan là trung tâm liên kết, phối hợp các nhân tố khác trongquản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu, chi phối các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuếxuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng như hoạt động chống thất thu thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu.

Tổ chức bộ máy thực hiện nhiệm vụ chống thất thu thuế ở mỗi quốc gia khácnhau có yêu cầu quản lý đối với hàng hóa XNK là khác nhau Ở một số nước, chứcnăng nhiệm vụ của cơ quan Hải quan chủ yếu là bảo đảm an ninh biên giới quốc gia(như Hải quan Hoa Kỳ, Hải quan Singapore, Hải quan Anh…), công tác chống thấtthu thuế XNK vì thế cũng có yêu cầu riêng Với nhiều nước, công tác quản lý Hảiquan không chỉ nhằm mục đích bảo đảm an ninh biên giới mà còn đóng vai trò quantrọng trong công tác bảo vệ thị trường, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nướcnhư Hải quan Trung Quốc, Hải quan Malaysia, Hải quan Việt Nam…Tại các nướcnày, cơ quan Hải quan có nhiệm vụ quan trọng kiểm soát và thu thuế XNK

Để thực hiện việc chống thất thu thuế XNK có hiệu quả, yêu cầu đặt ra là cácđối tượng tham gia thực hiện cần được đào tạo kiến thức chuyên môn về lĩnh vựcnày Việc có được đội ngũ cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp tham gia hoạt độngXNK có kiến thức, hiểu biết về thuế XNK, có ý thức tuân thủ pháp luật cao chắcchắn sẽ giúp cho công việc này được thực hiện nhanh chóng, chính xác và hiệu quảnhất Về phía cơ quan hải quan, việc thường xuyên đào tạo, tập huấn cho cán bộ,công chức Hải quan thông thạo về kỹ năng nghiệp vụ thuế và các nghiệp vụ liênquan khác vừa là yêu cầu, vừa là nhiệm vụ để thực hiện nhiệm vụ được giao trongcông tác quản lý hải quan, nhằm thực hiện quản lý đúng chính sách XNK, thực hiệnthu đúng, thu đủ thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

• Thứ hai, trang thiết bị, phương tiện, cơ sở vật chất của ngành Hải quan.

Cùng với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin, cơ quan Hải quan ở

Trang 33

các nước không ngừng ứng dụng các thành tựu của của công nghệ thông tin vàohoạt động của ngành và hiện đại hóa hệ thống thông tin của mình “Bằng các trangthiết bị hiện đại ngày nay đã hỗ trợ nhiều trong công tác quản lý thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu cũng như hoạt động chống thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu Sựphát triển của các máy tính hiện đại và việc ứng dụng các phần mềm chuyên dụnggiúp cơ quan Hải quan lưu trữ được cơ sở dữ liệu lịch sử lớn, nhất quán của cácdoanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu, cho phép áp dụng các phương pháp quản lýHải quan hiện đại vào hoạt động quản lý và chống thất thu thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu”[17].

Để nâng cao hiệu quả hoạt động chống thất thu thuế XNK, cơ quan Hải quancần đầu tư các phương tiện kỹ thuật hiện đại cho các Trung tâm PTPL và cơ sở giámđịnh hàng hóa đủ khả năng phân tích, giám định xác định chính xác bản chất, thànhphần cấu tạo, công dụng của hàng hóa XNK “Phải có hệ thống trung tâm phân tíchphân loại đủ năng lực để cơ quan Hải quan và doanh nghiệp dễ dàng trong việckiểm chứng các kết quả phân loại áp mã hàng hóa XNK Các trung tâm này phải có

sự liên kết trong quản lý để tránh đưa ra những kết quả phân loại áp mã cùng mộtmặt hàng nhưng có nhiều mã số khác nhau, dẫn đến việc áp dụng các mức thuế khácnhau, không thống nhất Đưa ứng dụng khoa học công nghệ và ứng dụng CNTTtrong lĩnh vực quản lý thuế”[11] Hải quan phải xây dựng một cơ sở dữ liệu đầy đủvới hàng hóa XNK để có thể dễ dàng tra cứu và có thể áp dụng các phương phápquản lý Hải quan hiện đại để có thể phát hiện kịp thời những bất cập trong việc xácđịnh mức thuế với hàng hóa xuất nhập khẩu không đảm bảo chính xác và thốngnhất

• Thứ ba, quy trình nghiệp vụ hải quan.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, do lưu lượng hàng hoá xuất khẩu, nhậpkhẩu tăng lên nhanh chóng cùng với sự đa dạng của chủng loại hàng hoá xuất khẩu,nhập khẩu thì qui trình nghiệp vụ Hải quan có ảnh hưởng quan trọng đến thời gianthông quan, đến chất lượng kiểm hoá… Do vậy, việc ban hành qui trình nghiệp vụHải quan chuẩn mực, phù hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động chống

Trang 34

thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu.

Theo đó, cơ quan Hải quan cần chủ động và tăng cường áp dụng nhữngphương pháp quản lý Hải quan hiện đại như quản lý rủi ro, thông quan điện tử, khaibáo từ xa… để dễ dàng phát hiện những kết quả phân loại áp mã hàng hóa XNKchưa chính xác và thống nhất, để xác định mức thuế XNK phù hợp Hình thành một

cơ quan đóng vai trò trọng tài trong việc xác định chính xác và thống nhất việc phânloại áp mã hàng hóa

Đồng thời, cơ quan Hải quan thường xuyên cập nhật và trao đổi thông tin vềkết quả phân loại, áp mã hàng hóa XNK giữa cơ quan Hải quan các nước Tronghoạt động thương mại quốc tế, hàng hóa nhập khẩu của nước này, đồng thời là hànghóa xuất khẩu của nước khác Do đó, việc trao đổi thông tin về kết quả phân loại, áp

mã hàng hóa giữa cơ quan Hải quan các nước là rất cần thiết giúp cho việc xác địnhchính xác và thống nhất hàng hóa XNK, qua đó giúp chống thất thu thuế cho ngânsách nhà nước

Thứ tư, cơ chế phối hợp chặt chẽ và hiệu quả trong quản lý giữa cơ quan Hải quan

và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan khác

Việc kiểm soát chống thất thu thuế XNK không chỉ giới hạn trong phạm vi cơ quanhải quan, mà là một chu trình liên tục, liên quan đến nhiều tổ chức khác như cơquan thuế nội địa, ngân hàng thương mại…”Với sự phối hợp chặt chẽ, các cơ quannày có thể trao đổi, đối chiếu số liệu và các dữ kiện liên quan khác, qua đó phát hiện

sự không nhất quán giữa số liệu khai báo khi nhập khẩu và số liệu khai báo với cơquan thuế nội địa trong việc hạch toán kinh doanh, các số liệu thanh toán qua ngânhàng” [18]

1.3.2 Nhân tố khách quan

• Thứ nhất, hệ thống cơ sở pháp lý thực hiện thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Hệ thống pháp luật có liên quan đến hoạt động chống thất thu thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu bao gồm Luật thuế Xuất khẩu, Nhập khẩu và các văn bản dướiLuật; Luật Quản lý thuế; Luật Thanh tra Hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ sẽ

Trang 35

tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu Tuy nhiên, hệ thống pháp luật chỉthực sự phát huy được tác dụng khi được tuân thủ một cách nghiêm túc có sự giámsát của các cơ quan chức năng Có thể khẳng định rằng môi trường pháp lý hoànchỉnh là yếu tố quan trọng đảm bảo cho công tác chống thất thu thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu.

Theo đó, để chống thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu có hiệu quả, đòi hỏiphải có hệ thống pháp luật quốc gia đầy đủ, chi tiết, công khai, minh bạch, với cácquy định rõ ràng, cụ thể, đơn giản, dễ thực hiện những vấn đề liên quan đến hoạtđộng thu thuế hàng hóa XNK Hệ thống pháp luật quốc gia được xây dựng trên cơ

sở tuân thủ các quy định của quốc tế về thuế với hàng hóa XNK Quy định quốc tế

về phân loại hàng hóa hiện nay đã nêu trong Công ước HS của WCO [16], [18] Cácquy định trong Công ước HS phải được nội luật hóa trong hệ thống pháp luật quốcgia, nhằm bảo đảm yêu cầu: “Biểu thuế xây dựng phải tuân thủ đúng các quy định

về phân loại, áp mã hàng hóa XNK trong Công ước HS Trong lĩnh vực phân loại,

áp mã hàng hóa XNK, trên quy mô toàn cầu, Công ước HS là Công ước quốc tế duynhất chuyên về lĩnh vực phân loại, áp mã hàng hóa, được các Nước thành viên thamgia Công ước, kể cả các tổ chức quốc tế và vùng lãnh thổ chưa là thành viên chínhthức của Công ước, đã cam kết và thừa nhận và chấp nhận là chuẩn chung có tínhquốc tế trong việc phân loại áp mã hàng hóa XNK chính xác và thống nhất”

Phải tuân thủ đầy đủ và thực hiện hiệu quả các khuyến nghị về chống chuyểngiá và gian lận thương mại của WCO và Uỷ ban kỹ thuật của WTO liên quan đếnhàng hóa XNK “Trong thực tế thương mại quốc tế, nhiều mặt hàng mới khôngngừng xuất hiện, trong nhiều trường hợp, các nước thành viên gặp khó khăn trongviệc phân loại, áp mã chính xác hàng hóa đó để xác định mức thuế nên đã gửi yêucầu đến Uỷ ban HS của WCO để được tư vấn, hướng dẫn về phân loại, áp mã số.Khi Uỷ ban HS của WCO biểu quyết thông qua việc phân loại, áp mã mặt hàng đóthì các nước thành viên chấp nhận thực hiện thống nhất Xây dựng và hoàn thiệnmột hệ thống pháp luật đầy đủ theo hướng đảm bảo tuân thủ các khuyến nghị vàchuẩn mực của WCO [16], [18] Việc tuân thủ chuẩn mực trong lĩnh vực phân loại,

Trang 36

áp mã hàng hóa XNK giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc khai báo mã sốhàng hóa, việc khai báo là thống nhất đối với cả nước xuất khẩu hàng hóa cũng nhưđối với nước nhập khẩu chính mặt hàng đó”.

Sự thống nhất trong việc xác định chính xác tên hàng, mã số của hàng hóaXNK theo các chuẩn phân loại áp mã quốc tế, giữa các cơ quan quản lý nhà nước cóthẩm quyền đối với hàng hóa XNK (cơ quan thương mại, vận tải, hải quan, ngânhàng…) sẽ tạo thuận lợi cho các bên liên quan trong việc tuân thủ các hiệp định vàcông ước quốc tế liên quan mà Việt Nam đã hoặc đang đàm phán tham gia

• Thứ hai, ý thức tuân thủ pháp luật của Người nộp thuế.

Ý thức chấp hành pháp luật thuế của các đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu không tốt sẽ dẫn đến các hành vi cố tình gian lận nhằm trốn thuế, gây thất thuthuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Vì vậy, “để đảm bảo chống thất thu thuế xuất khẩu,nhập khẩu đạt hiệu quả, cơ quan Hải quan thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, tuyêntruyền phổ biến chính sách pháp luật và các quy định về thuế XNK cho các doanhnghiệp XNK hàng hóa và các tổ chức, cá nhân liên quan đến hàng hóa XNK Côngtác tuyên truyền hướng dẫn phải được quan tâm đúng mức Cơ quan Hải quan cầnxây dựng và hoàn thiện bộ tài liệu hướng dẫn áp dụng thống nhất sáu quy tắc phânloại áp mã và các văn bản pháp luật để cán bộ Hải quan cũng như doanh nghiệp dễtiếp cận và sử dụng, qua đó tự xác định mức thuế phải nộp Việc công bố những tàiliệu này phải được đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử Hải quan và cácphương tiện thông tin đại chúng khác Sự dễ dàng tiếp cận với các văn bản quyphạm pháp luật và các tài liệu trong việc hướng dẫn về thuế XNK với tất cả các chủthể tham gia hoạt động ngoại thương”[16]

1.4 Kinh nghiệm về quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu của một số nước và bài học cho Hải quan Việt Nam

1.4.1 Kinh nghiệm chống thất thu thuế xuất nhập khẩu

1.4.1.1 Kinh nghiệm của Hải quan Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc, tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu phải chịu thuế nhập khẩu,

Trang 37

đối tượng nộp thuế phải nộp xong thuế trước khi thông quan hàng hóa hoặc phải có

ký quỹ, bảo lãnh nộp thuế “Việc ký quỹ, bảo lãnh nộp thuế đối với hàng hóa nhậpkhẩu phải có sự chấp thuận của cơ quan hải quan Quá thời hạn cho phép ký quỹ,bảo lãnh, nếu tổ chức đứng ra ký quỹ, bảo lãnh chưa nộp thuế thì phải nộp mộtkhoản tiền phạt nhất định theo cam kết, cùng với số thuế phải nộp Quy trình nộpthuế xuất khẩu, nhập khẩu ở Hàn Quốc gồm 4 bước: Cơ quan Hải quan ra thông báo

và yêu cầu nộp thuế, thực hiện lệnh thu thuế; bán tài sản tịch biên và trả nợ thuếbằng số tiền thu được từ việc bán tài sản”[8]

Sau 15 ngày kể từ ngày đến ân hạn của số thuế phải nộp, cơ quan Hải quan

sẽ ra thông báo yêu cầu nộp thuế và chuyển tới đối tượng nộp thuế để thông báo chođối tượng nộp thuế biết Sau khi thông báo được ban hành, nếu đối tượng nộp thuếkhông chấp hành thì cơ quan Hải quan sẽ kiểm tra thu nhập và tài sản của đối tượng

nợ thuế thông qua hệ thống quản lý thuế (TIS) là hệ thống thông tin chủ đạo của cơquan hải quan Cấu phần chính của hệ thống này là cơ sở dữ liệu, cho phép các cán

bộ thuộc cơ quan Hải quan truy cập các thông tin về bất động sản, thu nhập từ hoạtđộng kinh doanh, các tài khoản phải thu của bên thứ ba (nếu có)

Lệnh thu thuế là việc tịch biên tài sản hợp pháp của đối tượng nộp thuế đểthanh toán trả cho khoản nợ thuế Nếu thuế không được nộp đầy đủ sau khi thôngbáo thì cơ quan Hải quan có thể tịch biên và bán bất kỳ tài sản cá nhân hoặc bấtđộng sản nào mà đối tượng nộp thuế sở hữu hoặc quan tâm tới “Bước này cho phép

cơ quan Hải quan được bán hợp pháp các tài sản tịch biên để trả nợ thuế Đồng thời,tạo áp lực cho đối tượng nợ thuế phải nộp thuế sớm hơn để tránh việc tài sản tịchbiên bị bán với giá tương đối thấp.”Quá thời hạn nộp thuế mà doanh nghiệp chưanộp thì cơ quan Hải quan chuyển sang bước bán tài sản tịch thu thông qua việc đăngthông báo về tài sản chờ bán trên báo địa phương hoặc tờ rơi và đợi một thời giannhất định trước khi bán Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả, việc bán tài sản tịch biênnày thường do một công ty công cộng chuyên hoạt động bán các tài sản tịch biênthực hiện Tại Hàn Quốc, công ty quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO) đã được kýkết với cơ quan Hải quan Hàn Quốc để thực hiện công việc này[16]

Trang 38

Sau khi bán tài sản, cơ quan Hải quan trước hết sẽ sử dụng số tiền thu đượctrả cho các chi phí liên quan đến việc tịch biên và bán tài sản Số tiền còn lại sẽđược sử dụng để nộp thuế Nếu số thu được từ việc bán tài sản thấp hơn tổng sốthuế, chi phí của việc tịch biên, bán tài sản thì đối tượng nộp thuế sẽ tiếp tục phảinộp số thuế còn thiếu Ngược lại, cơ quan Hải quan sẽ ra thông báo cho đối tượngnộp thuế số tiền còn thừa và hướng dẫn để đối tượng nộp thuế làm thủ tục xin hoànthuế.

Ngoài ra, để phòng ngừa chống gian lận thương mại và thất thu thuế, Hảiquan Hàn Quốc tập trung xây dựng đội ngũ thanh tra thuế và kiểm tra sau thôngquan Đây là những đơn vị có chức năng phòng ngừa rất lớn trong việc hướng dẫn,kiểm tra doanh nghiệp phải tuân thủ các chính sách về thuế Việc phối hợp của Hảiquan Hàn Quốc với các cơ quan kiểm soát nội địa cũng góp phần không nhỏ trongcông tác chống gian lận thương mại và thất thu thuế

Nhận xét: Hải quan Hàn Quốc là quốc gia thuộc khu vực Đông Bắc Á, là mộtnước nền kinh tế đang lên và trong quá trình lịch sử từng trải qua nhiều giai đoạn cóđiều kiện tương tự Việt Nam Mô hình Hải quan Hàn Quốc tổ chức cấp Vùng Việcchống gian lận thương mại và thất thu thuế của Hải quan Hàn Quốc hầu hết đượcthực hiện thống nhất, trong đó đội ngũ cán bộ, nhân viên của Hải quan Hàn Quốcđều được đào tạo kiến thức cơ bản về chống gian lận thương mại và thất thu thuế,

do đó, công chức có kiến thức nghiệp vụ chuyên môn về kinh tế, kiểm toán Hoạtđộng nghiệp vụ về chống gian lận thương mại và thất thu thuế hàng hóa XNK đượcxác định là nhiệm vụ quan trọng của công chức Hải quan và đơn vị Hải quan khithực hiện thủ tục thông quan đối với lô hàng XNK Việc tổ chức có đơn vị chuyêntrách với các chuyên viên chuyên trách, được đào tạo cơ bản về chống gian lậnthương mại và thất thu thuế là kinh nghiệm rất tốt trong việc thực hiện nhiệm vụphân loại chính xác và thống nhất hàng hóa XNK

1.4.1.2 Kinh nghiệm của Hải quan Trung Quốc

Công tác quản lý thuế của Trung Quốc cũng phát sinh tình trạng nợ đọng

Trang 39

thuế Quy trình thu nợ thuế của Hải quan Trung Quốc gồm 4 bước: Cơ quan Hảiquan ra thông báo và yêu cầu nộp thuế; thực hiện lệnh thu thuế; bán tài sản bị tịchbiên và trả nợ thuế bằng số tiền thu được từ việc bán tài sản Quy trình 4 bước cóthể tóm tắt như sau:

Người có nghĩa vụ nộp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu phải nộp đủ khoảnthuế trong vòng 15 ngày, kể từ ngày cơ quan Hải quan ra thông báo thuế, nếu kéodài trong thời hạn nộp thuế thì cơ quan Hải quan phạt chậm nộp thuế Người cónghĩa vụ nộp thuế, người bảo lãnh nếu quá thời hạn ba tháng mà chưa giao nộp tiềnthuế sau khi được thủ trưởng cơ quan Hải quan phê duyệt thì có thể áp dụng cácbiện pháp cưỡng chế sau:

Có giấy thông báo cho ngân hàng hoặc cơ quan tín dụng giữ số tiền còn lạitrên tài khoản của chủ hàng để nộp thuế Bán hóa giá những hàng hóa chưa nộpthuế theo qui định, hàng hóa hoặc tài sản khác có giá trị tương đương số tiền thuếphải nộp, bước này cho phép cơ quan Hải quan được bán hợp pháp các tài sản tịchbiên để trả nợ hoặc số tiền thu được đem nộp thuế Đồng thời tạo áp lực cho đốitượng nợ thuế phải nộp thuế sớm hơn để tránh việc tài sản tịch biên bị bán với giátương đối thấp

Khi cơ quan Hải quan thực hiện các biện pháp cưỡng chế đối với nhữngngười có nghĩa vụ nộp thuế hoặc người bảo lãnh mà vẫn chưa nộp thì người cónghĩa vụ nộp thuế phải nộp xong các khoản nợ thuế, nợ tiền phạt trước khi hàng hóađược thông quan Nếu thuế quá hạn không được nộp đầy đủ thậm chí sau khi cóthông báo, cơ quan Hải quan chuyển sang bước bán tài sản tịch thu thông qua việcđăng thông báo về tài sản chờ bán trên báo địa phương hoặc tờ rơi và đợi một thờigian nhất định trước khi bán Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả, việc bán tài sản tịchbiên này thường do một công ty công cộng chuyên hoạt động bán các tài sản tịchbiên thực hiện

Mô hình kiểm tra sau thông quan của Trung Quốc được áp dụng từ năm 1994bao gồm bộ phận kiểm toán và bộ phận điều tra thương mại Trong thời hạn 3 năm

kể từ ngày hàng hóa nhập khẩu được thông quan hoặc trong thời hạn giám sát Hải

Trang 40

quan của hàng hóa ở kho bảo thuế, hàng hóa được miễn thuế, giảm thuế nhập khẩu,

cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ kế toán, báo cáo tàichính và các tài liệu khác có liên quan cùng với hàng hóa xuất nhập khẩu của người

bị kiểm tra để kiểm tra tính hợp pháp, tính chân thực của hoạt động xuất, nhập khẩuhàng hóa Đồng thời nhằm tăng cường giám sát Hải quan và kiểm soát Hải quan đốivới hàng hóa xuất, nhập khẩu, duy trì các quyền và lợi ích hợp pháp của nhữngngười có liên quan, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, hạn chế thất thu thuế và thúc đẩyhoạt động thương mại phát triển

Nhận xét: “Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia có nhiều điểm tươngđồng trong bối cảnh hai nước đều phát triển một nền kinh tế thị trường theo địnhhướng XHCN Điều kiện kinh tế xã hội của hai nước có nhiều điểm khá giống nhau.Với đặc điểm Trung Quốc là nước đi trước nên Việt Nam có thể học hỏi được nhiềuđiều như Hải quan Trung Quốc rất chú trọng công tác đào tạo kiến thức chung vềchống gian lận thương mại và thất thu thuế không chỉ đảm đương nhiệm vụ cho Hảiquan Trung Quốc, mà còn cung cấp chuyên gia có trình độ cao làm việc tại WCO vàcác khu vực khác Hải quan Trung Quốc thường xuyên tổ chức đào tạo cho cácdoanh nghiệp đại lý Hải quan về các chính sách thuế, cách phân loại áp mã; chútrọng công tác trao đổi thông tin về các chính sách mặt hàng mới nhất Những kinhnghiệm của Hải quan Trung Quốc trong vấn đề chống gian lận thương mại và thấtthu thuế và hội nhập kinh tế quốc tế sẽ góp phần quan trọng bổ sung cho các nghiêncứu của Hải quan Việt Nam trong quá trình hoàn thiện phương pháp quản lý Hảiquan hiện đại Phương pháp chống gian lận thương mại và thất thu thuế của Hảiquan Trung Quốc trong thời gian vừa qua đã thực hiện khá hiệu quả, đáp ứng yêucầu hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo thực hiện thuận lợi hóa thương mại, giúpthương mại Trung Quốc có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế”[16]

1.4.1.3 Kinh nghiệm của Hải quan Malaysia

Hải quan Malaysia rất coi trọng công tác chống gian lận thương mại và thấtthu thuế và xác định khâu công việc được ưu tiên đầu tư nhân lực và phương tiện đểlàm việc Hải quan Malaysia chú trọng công tác trao đổi thông tin về thủ tục hải

Ngày đăng: 24/04/2020, 09:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w