1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNGNGHIỆP DƯỚI GÓC NHÌN CỦA PHÁP LUẬTCẠNH TRANH

17 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 72,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong qua trình xác lập và sử dụng thành quả sáng tạo trí tuệ cũng như bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể khi tham gia, chế đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

TRẦN THỊ THU HÀ

CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP DƯỚI GÓC NHÌN CỦA PHÁP

LUẬT CẠNH TRANH

TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

TRẦN THỊ THU HÀ

CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP DƯỚI GÓC NHÌN CỦA PHÁP

LUẬT CẠNH TRANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC

Chuyên ngành Luật kinh doanh – Mã số

Người hướng dẫn khoa học:GVC – ThS Lữ Lâm Uyên

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn đến Giảng viên trực tiếp hướng dẫn cô Lữ Lâm Uyên, người đã chỉ dẫn, giúp đỡ cũng như hỗ trợ em hoàn thành khóa luận này.

Em xin gửi lời cảm ơn tới cô Nguyễn Ngọc Duy Mỹ đã gợi ý cho em tài liệu, Luận án tham khảo để thực hiện bài viết.

Em xin chân Thành cảm ơn tới Qúy thầy, cô Khoa Luật - Trường Đại học Kinh

Tế Thành phố Hồ Chí Minh đã cống hiến hết mình cho việc giảng dạy, đào tạo kiến thức lý thuyết vững chắc cho em cũng như toàn thể sinh viên Khoa Luật có một cái nền trước khi bước vào nghề Luật.

Em rất mong nhận được sự nhận xét từ Qúy thầy cô để đề tài ngày càng được hoàn thiện.

Trân trọng.

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 Công ước Paris về Bảo hộ Sở hữu công nghiệp: Công ước Paris;

2 Hiệp định về Các khía cạnh liên quan tới Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ: Hiệp định TRIPS;

3 Tổ chức Thương mại thế giới: WTO;

4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009: Luật Sở hữu trí tuệ;

5 Luật Cạnh tranh 2004: Luật Cạnh tranh;

6 IPR: Industrial Property Rights, quyền sở hữu công nghiệp.

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời kỳ chủ yếu sản xuất nông nghiệp thuần, con người tạo ra giá trị sản lượng bằng chính sức lao động chân tay và phục vụ cho chính lợi ích của gia đình, đến lúc con người sáng tạo ra máy móc hiện đại nhằm tiết kiệm sức lao động và tạo ra nhiều giá trị sản lượng hơn là một trong những yếu tố nhen nhóm cho ngành công nghiệp phát triển, sau đó Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất xảy ra vào thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX ở châu Âu và Mỹ với phát minh tài năng của các nhà khoa học và điều kiện tự nhiên phù hợp với sản xuất công nghiệp gắn liền với bản chất tư sản của giai cấp quý tộc làm cho công nghiệp phát triển mạnh mẽ Ngày nay, hầu hết các sản phẩm dịch vụ đều do trí tuệ con người tạo ra mang lại giá trị cao hơn rất nhiều so với thời kỳ nông nghiệp Do vậy giá trị sáng tạo về công nghiệp và thương mại ngày càng được xem trọng Nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong qua trình xác lập và sử dụng thành quả sáng tạo trí tuệ cũng như bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể khi tham gia, chế định pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ công nghiệp ra đời và hiện nay quyền sở hữu trí tuệ được xem như là một trong các yếu tố xác định năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp và của một quốc gia Trong bối cảnh xu thế hội nhập kinh tế thế giới ngày càng phát triển, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới – WTO chính thức vào năm 2007

là một dấu mốc lớn trong việc tạo cơ hội phát triển kinh tế đất nước, tiếp cận thị trường của các nước thành viên với mức thuế ưu đãi, và cũng là thách thức

vì thị trường thương mại thế giới có nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh nên cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt vì lợi ích riêng Hiệp định TRIPS là một trong những Hiệp định quan trọng của Tổ chức Thương mại thế giới về quyền sở hữu trí tuệ, nhằm đưa ra các tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và các biện pháp bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả

Theo Công ước Paris, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý (chỉ dẫn nguồn gốc tên gọi và xuất xứ) và chống cạnh tranh không lành mạnh Cùng với việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì vấn đề mà các quốc gia quan tâm là chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hóa mạnh mẽ, hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu tăng cao Khi mà các quốc gia đang phát triển như Việt Nam phải đối mặt với việc

tụ hậu về lĩnh vực công nghệ với thế giới, để giải quyết vấn đề này có phải việc chuyển giao công nghệ trong nước hay nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài là quan trọng? Vingroup được coi là tập đoàn lớn và thành công tại Việt Nam hoạt động hầu hết các lĩnh vực từ nông nghiệp đến công nghiệp, vào năm 2015 tập đoàn Vingroup đã ký kết hợp tác với đối tác hàng đầu thế giới về cung ứng công nghệ cao cho sản xuất nông nghiệp là Nhật Bản và Isreal, không chỉ nhằm

Trang 6

phát triển mục tiêu kinh tế mà còn hướng tới sức khỏe cộng đồng trong tương lai Nếu công nghệ là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bảo hộ, việc chuyển giao công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ theo Luật sở hữu trí tuệ

Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp có điều kiện bắt buộc và không bắt buộc Như vậy ở mặt tiêu cực tổ chức cá nhân có thể từ chối chuyển giao quyền

sở hữu công nghiệp trong trường hợp pháp luật quy định không bắt buộc, nhằm mục đích tạo dựng và duy trì vị trí độc quyền trên thị trường liên quan Hoặc tổ chức cá nhân mua lại sáng chế, kiểu dáng công nghiệp của chủ thể khác nhưng không sử dụng hoặc tiêu hủy nhằm ngăn chặn khả năng thừa kế thành tựu khoa học, công nghệ cho thế hệ sau làm hạn chế sự phát triển kỹ thuật, công nghệ làm thiệt hại cho khách hàng và giảm khả năng phát triển về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Nghị định 74/2014/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh có quy định chế tài đối với hành vi nêu trên Nhưng đối với hành vi từ chối chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp thay vì pháp luật quy định thì được nó xem xét bởi Tòa án, Cục sở hữu trí tuệ và Cơ quan quản

lý cạnh tranh Vì vậy, cơ quan quản lý nhà nước phải ngày càng thắt chặt chính sách pháp lý và linh hoạt trong việc xem xét hành vi vi phạm của các chủ thể trong môi trường cạnh tranh Việc xem xét hành vi từ chối chuyển giao quyền

sở hữu công nghiệp dựa trên yếu tố nào để xác định đó là hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh là chưa rõ ràng Vì lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài

“Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp dưới góc nhìn pháp luật cạnh

tranh” để làm khóa luận tốt nghiệp.

2 Tình hình nghiên cứu

Tại Việt Nam, có một số nghiên cứu liên quan đến chuyển giao quyền sở

hữu công nghiệp như: Hoàng Lan Phương (2011), “Pháp luật Việt Nam về

thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ”, Luận văn Thạc sĩ Đại học Quốc gia Hà

Nội; Nguyễn Thanh Tùng (2013), “Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo

pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Khánh

Ly (2015), “Chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng quyền sở hữu công

nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Đại học Quốc

gia Hà Nội Những nghiên cứu này chủ yếu phân tích và tìm hiểu thực trạng một khía cạnh của chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và chưa có một cái nhìn tổng quan về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, cũng vì lý do khách quan là tại Việt Nam tài liệu để nghiên cứu về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp là không nhiều

Tại nước ngoài, về quyền sở hữu công nghiệp, đặc biệt là chuyển giao công nghệ được giới chuyên gia về kinh tế và luật pháp quan tâm và nghiên

cứu, như: Keith E Maskus (1998), The role of intellectual property right in

encouraging foreign direct investment and technology transfer, Professor of

Trang 7

Economics, University of Colorado, Boulder; Alireza Naghavi (2005),

Strategic Intellectual Property Rights Policy and North-South Technology Transfer, University College Dublin and CERAS

3 Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu sẽ tập trung vào Luật cạnh tranh và chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo Hiệp định TRIPS với hai mục đích chính Thứ nhất, tìm hiểu quy định về luật cạnh tranh và chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam và Hiệp định TRIPS Thứ hai, chính là

hệ quả của mục đích đầu tiên, tìm ra các mặt tích cực cũng như hạn chế và khó khăn của việc áp dụng Luật cạnh tranh về việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp

4 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện bài viết tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, được sử dụng nhiều nhất là phương pháp nghiên cứu lý thuyết,

có sự kết hợp giữa phương pháp phân tích và tổng hợp, dẫn chứng điều luật, tổng hợp các bài viết và công trình nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu cùng các tài liệu liên quan để hoàn thành luận văn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu những lý luận chung về đặc điểm và khái niệm của chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp liên hệ với pháp luật cạnh tranh và những quy định trong hiệp ước quốc tế đa phương mà nước Việt Nam là thành viên về việc điều chỉnh vấn đề chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, tìm hiểu nguyên do và thực trạng của việc vận dụng Hiệp định TRIPS để giải quyết vấn đề chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến chuyển giao chống cạnh tranh

5 Kết cấu đề tài

Dựa trên cơ sở nghiên cứu chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp dưới góc nhìn pháp luật cạnh tranh, ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục bài viết gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và Luật cạnh tranh Việt Nam

Chương 2: Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, quy tắc cạnh tranh theo TRIPS, hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ và Châu Âu

Chương 3: Thực tiễn chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và phương hướng hoàn thiện

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ, CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ

HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM

Trang 8

Nền kinh tế ở thời hiện đại luôn gắn với sự phát triển công nghệ một chóng mặt, nhờ vào sự sáng tạo không ngừng của con người đã đặt ra thách thức cho pháp luật và chính sách của chính phủ Luật cạnh tranh và Luật sở hữu trí tuệ là hai lĩnh vực pháp luật có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh thị trường và thúc đẩy hiệu quả kinh tế, phúc lợi người tiêu dùng, cạnh tranh đổi mới và chuyển giao công nghệ.1 Do đó hai hệ thống pháp luật này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, có thể giao thoa với nhau, có thể xung đột với nhau và cũng có thể đồng thời bổ sung cho nhau Sự giao thoa giữa pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh thường phát sinh từ các nhóm quan hệ: (i) thiết lập quyền

sở hữu trí tuệ (trong tiếng Anh là “acquisition of IPRs”) như thông qua hợp nhất các pháp nhân; (ii) thỏa thuận chuyển giao công nghệ; (iii) thỏa thuận hợp tác giữa các doanh nghiệp; (iv) từ chối chuyển giao quyền sử dụng đối tượng

sở hữu trí tuệ; và (v) chấm dứt quyền sở hữu trí tuệ.2

Luật và chính sách cạnh tranh là phương thức can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế Luật cạnh tranh loại bỏ các rào cản gia nhập thị trường của các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng cách ngăn chặn sự độc quyền của nhóm doanh nghiệp đang có vai trò thống trị; nghiêm cấm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Với vai trò thiết lập môi trường cạnh tranh và kinh doanh bình đẳng, tự do; bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Mặc dù vậy, nhưng tính cạnh tranh của nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều tác động khác nên để đánh giá hiệu quả khả năng của một nền kinh tế cần xem xét lĩnh vực quan trọng khác trong nền kinh tế và tác động của chúng đối với thị trường cạnh tranh

Mặt khác, quyền sở hữu trí tuệ là sản phẩm sáng tạo của trí tuệ con người, đã được công nhận quyền sở hữu tài sản hữu hình tư nhân như bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, Nhằm chống lại các hành vi sao chép trộm cắp bất hợp pháp, cùng với đó quyền sở hữu trí tuệ thúc đẩy sự sáng tạo làm nên sản phẩm khác biệt, tăng điều kiện chọn lựa của người tiêu dùng từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Còn đối với các doanh nghiệp không có sản phẩm sáng tạo, họ có thể nhận chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp từ các doanh nghiệp khác dưới sức ép của thị trường cạnh tranh và tốn chi phí cho việc phát triển độc lập không hiệu quả

1.1 Lý luận chung về quyền sở hữu công nghiệp

1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp

1 Nguyen Thanh Tu (2009), Competition law, Technology Transfer and the TRIPS Agreement: Implications for

Developing Countries, doctoral dissertation, Lund University, Sweden, tr Xiii.

2 Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ (2013), Bàn về cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong

thương mại quốc tế

<https://www.most.gov.vn/thanhtra/Pages/ChiTietTin.aspx?

groupID=5&IDNews=237&tieude=ChiTietHoiDap.aspx&chID=7> truy cập ngày 10/09/2019.

Trang 9

Sở hữu trí tuệ, hiểu một cách tổng quát có nghĩa là kết quả sáng tạo vô hình nhưng được ứng dụng vào việc tạo ra các sản phẩm hữu hình Đó là những sản phẩm sáng tạo khoa học, công nghệ, văn học và nghệ thuật Thuật ngữ sở hữu trí tuệ được sử dụng khi tri thức phát triển cùng với cuộc sống công nghệ ngày càng đổi mới và sáng tạo

Công ước thành lập tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tại Stockholm năm 1967 sửa đổi năm 1979 đã định nghĩa quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền liên quan tới:

(i) Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học;

(ii) Buổi biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi âm và chương trình

phát sóng (iii) Phát minh trong tất cả lĩnh vực nỗ lực của con người;

(iv) Những khám phá khoa học;

(v) Kiểu dáng công nghiệp;

(vi) Nhãn hiệu, nhãn hiệu dịch vụ, và tên thương mại và chỉ định;

(vii) Bảo vệ chống cạnh tranh không lành mạnh;

Và tất cả các quyền khác do hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật 3

Các lĩnh vực thuộc điểm (i) và (ii) là nhánh quyền tác giả, trong đó điểm (ii) được gọi là quyền liên quan, các điểm còn lại là nhánh quyền sở hữu công

nghiệp.

Từ việc chia nhánh như trên ta có thể hiểu quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền

sở hữu công nghiệp và quyền tác giả.

Quyền tác giả đề cập đến kết quả sáng tạo của con người mang giá trị tinh thần trên lĩnh vực sáng tác nghệ thuật, văn học được gọi là tác phẩm Khi tác phẩm được công bố phổ biến sử dụng rộng rãi Để đảm bảo quyền lợi cho người sáng tạo ra tác phẩm và chống lại các hành vi sao chép không xin phép, pháp luật đã quy định điều chỉnh quan hệ xã hội về đối tượng của quyền tác giả, bao gồm: tác phẩm văn học, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh, kiến trúc, phát thanh, truyền hình, chương trình máy tính, Tuy nhiên, luật chỉ bảo hộ hình thức của tác phẩm chứ không bảo hộ nội dung tác phẩm

Mặt khác, kết quả sáng tạo của con người trên lĩnh vực khoa học, công nghệ và thương mại như kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại thuộc đối tượng sở hữu công nghiệp Trên cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ của chủ thể sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ, của các chủ thể khác trong việc chuyển giao sử

3 Điều 2 Công ước thành lập tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới năm 1967 và được sửa đổi năm 1979.

Trang 10

dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp cũng là đối tượng điều chỉnh của pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp

Trên thực tế quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng phần lớn đều chịu ảnh hưởng của sự phát triển khoa học và công nghệ Các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia về quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt Hiệp định TRIPS là thỏa thuận đa phương toàn diện nhất về sở hữu trí tuệ cho đến nay4, đã bổ sung những đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp: chương trình máy tính, bộ sưu tập dữ liệu, chỉ dẫn địa lý5 Nội hàm khái niệm quyền sở hữu công nghiệp vẫn đang ngày càng được mở rộng bao trùm các đối tượng mới cùng với sự phát triển của công nghiệp Phân loại theo nhóm đối tượng quyền sở hữu công nghiệp, có hai nhóm đối tượng đó là nhóm các thành quả sáng tạo khoa học bao gồm sáng chế, chương trình máy tính, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công nghiệp; nhóm các dấu hiệu đặc trưng để phân biệt bao gồm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, tên thương mại, những đối tượng này hàm chứa yếu tố sáng tạo không mấy nổi trội nhưng được sở hữu trí tuệ bảo hộ vì chứa đựng thông tin lưu hành trên thị trường nhằm bảo vệ người tiêu dùng và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh

Quyền sở hữu công nghiệp được thừa nhận và bảo hộ những thành quả sáng tạo của con người, có thể nói quyền sở hữu công nghiệp hiện nay có thể là một quyền tài sản lớn đối với chủ sở hữu

Dưới góc độ pháp lý, quyền sở hữu công nghiệp được hiểu là chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt các đối tượng sở hữu công nghiệp mà pháp luật bảo

vệ

Theo quy định của Bộ Luật dân sự 1995: “quyền sở hữu công nghiệp là quyền

sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, quyền sử dụng đối với xuất xứ hàng hóa và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định.” 6 Luật dân sự

2005 cũng chỉ liệt kê các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp chứ không đưa

ra định nghĩa quyền sở hữu công nghiệp

Với tư cách là luật chuyên ngành điều chỉnh sở hữu trí tuệ, Luật sở hữu trí tuệ quy định phù hợp với sự tiến hóa của nền công nghiệp vì vậy các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp cũng được mở rộng hơn so với Luật dân sự trước

đây “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng

chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu,

4 Word trade oganization, Overview: the TRIPS Agreement,

<https://www.wto.org/english/tratop_E/trips_e/trips_e.htm>, truy cập ngày 10/09/2019

5 Điều 10 và Điều 22 Hiệp định TRIPS ký ngày 15/04/1994.

6 Điều 780 Bộ Luật dân sự 1995

Ngày đăng: 24/04/2020, 08:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w